Tìm hiểu về Nho giáo và sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với hệ thống tư tưởng phong kiến Việt Nam, từ đó thấy được những mặt tích cực và tiêu cực trong việc xây dựng các mối quan hệ gia đình ở Việt Nam, phát huy và lưu giữ những nét đẹp của hệ thống tư tưởng triết học này đồng thời cũng phê phán những tư duy lạc hậu của nó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN: VĂN HÓA XÃ HỘI TRUNG QUỐC
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Quỳnh Chi Sinh viên: Tô Phương Uyên
MSSV: 1856110148
Lớp: Trung Quốc học K18
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 01 năm 2021
Đề tài:
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
7 Bố cục 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT TRƯỜNG PHÁI NHO GIÁO VÀ KHÁI QUÁT SỰ DU NHẬP CỦA TRƯỜNG PHÁI HỌC THUYẾT NÀY VÀO XÃ HỘI VIỆT NAM 8
I Khái quát về nho giáo 8
II Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam 10
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG XÂY DỰNG CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH 13
I Gia đình trong quan niệm các nước phương Đông 13
II Gia đình trong quan niệm của Nho giáo 14
III Ảnh hưởng của Nho giáo đến việc xây dựng các mối quan hệ gia đình qua tư tưởng của một số trí thức Nho sĩ Việt Nam 16
1.1 Quan hệ cha – con 17
1.2 Mối quan hệ anh – em 20
1.3 Mối quan hệ chồng – vợ 23
1.4 Những bài học từ quan niệm của các nhà Nho Việt Nam trong quan hệ gia đình 26
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ VIỆC KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NHO GIÁO TRONG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 29
KẾT LUẬN 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á nằm trong vùng tiếp xúc và chịu ảnh
hưởng sâu rộng của văn minh Trung Hoa (Văn hóa Hán) và chịu ảnh hưởng lâu dài của Nho giáo trong lịch sử Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ hơn 2000 năm trước và đã thực sự bám rễ, phát triển tại Việt Nam hàng trăm năm nay Cùng với Phật giáo và Đạo giáo, Nho giáo là một trong những hệ tư tưởng có ảnh hưởng rộng lớn và đậm nét tới mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam trong quá khứ Ngoài việc đóng vai trò là ý thức hệ chính thống của triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo còn là một trong những nền tảng để xây dựng đường lối trị nước, cách thức đào tạo nhân tài, xác lập các quy phạm đạo đức, nuôi dưỡng đời sống nghệ thuật và tinh thần,… có không ít các nhà chính trị, văn hóa, nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam, các nhân vật lích sử lớn của Việt Nam là những nhà Nho chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo
Nho giáo từ khi ra đời đến nay, có lúc thịnh, lúc suy, có lúc ngự trị trên đỉnh cao của hệ tư tưởng thống trị và ngược lại cũng có lúc bị phê phán không thương tiếc và bị coi là thứ “rác bẩn” cần phải loại bỏ Nhưng dù bị phê phán, một số tư tưởng của Nho giáo vẫn còn tồn tại tới ngày nay Sự tồn tại
đó đã chứng tỏ, ở Nho giáo có những yếu tố hợp lí nhất là nó được xây dựng trên cơ sở của nhận thức: đời sống của mỗi cá nhân không thể tách rời các mối quan hệ xã hội Có thể khẳng định rằng, Nho giáo vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực Vấn đề là ở chỗ, phải biết hạn chế tác hại do mặt tiêu cực của Nho giáo gây ra, đồng thời phải biết kế thừa và phát huy mặt tiêu cực của nó
Nho giáo tuy xuất phát từ Trung Quốc sau đó truyền bá tới Việt Nam, song Nho giáo của Việt Nam có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt so với tôn giáo bản địa của nó Làm rõ những điểm tương đồng này, chúng ta càng có thêm cơ sở để chia sẻ những nét văn hóa chung của nhau Hơn nữa đây còn là cơ hội để khám phá những nét đặc thù dân tộc, bản sắc văn hóa của mỗi nước Nho giáo không chỉ có vai trò trong quá khứ của Việt Nam, mà hiện nay nó còn có nhiều ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức, đời sống tinh thần, phong tục tập quán, lối sống, nếp nghĩ của người dân Đề tài này sẽ phân tích sự ảnh hưởng và tác động của Nho giáo Trung Quốc thông qua tư tưởng của một số Nho sĩ nổi tiếng Việt Nam, cụ thể là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Ngô Thì Nhậm – những nhà Nho tiêu biểu thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Nho giáo Hơn nữa đề tài làm rõ được những mặt tích cực của Nho giáo để phát huy và tiếp thu cũng như tìm ra những hạn chế của nó để khắc phục cho các vấn đề bức thiết của xã hội hiện nay Chúng ta
Trang 4tin tưởng rằng, Nho giáo nói riêng và truyền thống văn hóa Việt Nam nói chung không chỉ là những bài học lịch sử, mà còn là sự gợi mở mang tính trí tuệ cho chúng ta soi sáng và con đường phía trước
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khai thác các nội dung liên quan đến việc xây dựng gia đình theo kiểu cũ và các mối quan hệ chính trong gia đình như cha – con, chồng – vợ, anh – em trong quan niệm của Nho giáo chính thống, từ đó phân tích các mối quan hệ trên trong tư tưởng của các Nho sĩ Việt Nam Từ đề tài,
có thể thấy đối tượng nghiên cứu bao gồm chủ thể là ba mối quan hệ chính trong gia đình là cha - con, chồng – vợ, anh – em và khách thể là tư tưởng Nho giáo trong văn hóa nhận thức của người Trung Hoa
và văn hóa nhận thức của người Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Trung Hoa, Việt Nam và thời gian nghiên cứu của đề tài là thời Lê – Nguyễn và thời hiện đại
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm mục đích đưa đến cho người đọc một cái nhìn chi tiết, rõ ràng và đúng đắn hơn
về những ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo đến việc xây dựng các mối quan hệ gia đình trong tư tưởng của một số nhà Nho Việt Nam Từ đó xem xét vai trò ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng và hoàn thiện các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, phương pháp tổng hợp tài liệu là phương pháp chính được sử dụng Tôi
đã tham khảo tài liệu, sách vở, các công trình nghiên cứu tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam và Nho giáo ở Trung Hoa của các tác giả đi trước, trên cơ sở đó kế thừa và trích dẫn nội dung cần thiết, từ đó hình thành
cơ sở luận làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu Ngoài ra, đề tài còn được thực hiện dựa trên phương pháp lịch sử: tìm hiểu, xem xét vấn đề một cách cụ thể, các sự kiện diễn ra trong một bối cảnh, cụ thể là bối cảnh xã hội Việt Nam thời kì phong kiến và phương pháp phân tích logic: đi sâu phân tích, tổng hợp
để tìm ra bản chất, quy luật nằm nằm ẩn giấu trong hiện tượng đó để đưa ra những tác động của nó đến
xã hội thời hiện đại các phương pháp được dùng chủ yếu trong phần nội dung
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
*Về ý nghĩa khoa học
Trang 5Đề tài tìm hiểu về những tác động của hệ thống học thuyết Nho giáo đến tư tưởng của con người Việt Nam, trước tiên là tầng lớp trí thức Nho sĩ thời phong kiến, sau là quần chúng nhân dân trong xã hội, lưu giữ và phát huy những nét văn hóa độc đáo, góp phần giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa nhận thức của hệ thống học thuyết này
* Về ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả của đề tài này, tôi hy vọng có thể làm rõ được mặt tích cực và mặt hạn chế của hệ thống học thuyết Nho giáo trong vấn đề xây dựng các mối quan hệ gia đình trong xã hội, đưa đến cho người đọc một cá nhìn đúng đắn và tổng quan hơn về những nét văn hóa nhận thức này, đồng thời đề tài này có thể góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo Trung Hoa cho các ngành văn học và ngôn ngữ, văn hóa và xã hội
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hệ thống học thuyết xã hội của Nho giáo nói chung và quan niệm của Nho giáo trong việc xây dựng các mối quan hệ gia đình cũng như trách nhiệm cá nhân đối với gia đình – xã hội nói riêng, đã được khá nhiều học giả, nhà khoa học xã hội đề cập nghiên cứu Trong quá trình tìm hiểu, tôi đã tham khảo một số công trình sau:
- Phạm Văn Đức – Hwang Eui Dong – Kim Sea Jeong (Đồng chủ biên), Trách nhiệm xã hội của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam và Hàn Quốc, NXB Khoa học Xã hội, năm 2015
Tài liệu đã đưa ra một cách chi tiết và sâu sắc những vấn đề trách nhiệm xã hội và một số vấn đề
lý luận chung của Nho giáo Việt Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo bản địa Trung Hoa đến tư tưởng của các học giả thời kì phong kiến và một vài suy nghĩ về ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay
- Quang Đạm, Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hóa, năm 1994
Tài liệu đã phân tích khá chi tiết những tư tưởng cơ bản của trường phái triết học Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới Việt Nam
- Nguyễn Tài Thư, Nho học và Nho học ở Việt Nam, NXb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1977
Trang 6Tài liệu đã khái quát những nội dung cơ bản của Nho học, vai trò của nó trong lịch sử và hiện tại
ở Trung Quốc và Việt Nam Tác giả nêu rõ cần phải phát huy truyền thống Nho học để xây dựng con người trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
- Phan Đại Doãn, Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 1998.Tài liệu đã phân tích rõ sự tồn tại và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỉ XV tới thế kỉ XIX đồng thời đưa ra những yếu tối hợp lí của nó cần được khai thác, phát huy trong quá trình đổi mới
- Vũ Khiêu (chủ nhiệm), Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước, năm 1995
Tài liệu đã đưa ra những vấn đề như Nho giáo trong lịch sử hình thành và phát triển, ý kiến chủ quan của tác giả về việc đánh giá lại Khổng Tử và việc vận dụng Nho giáo vào xã hội hiện đại ngày nay cùng với đó là Nho giáo trong sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam ngày nay Trong
đó tác giả đưa ra các vấn đề để phát triển và xây dựng gia đình, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng đất nước
- Lý Tùng Hiếu, Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt
Nam (số 4 - 2015)
Tài liệu đã đưa ra một cách khái quát các vấn đề ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa tới các mặt chính trị, xã hội, tư tưởng, phong tục tập quán, kinh tế, giáo dục,… đồng thời chỉ ra những mặt tích cực
và tiêu cực của nó trong việc phát triển xã hội Việt Nam thời kì phong kiến và hiện đại
- PGS.TS Doãn Chính (chủ biên), Tư tưởng Việt Nam từ TK XV đến thế kỉ XIX, NXB Chính trị Quốc gia
Tài liệu đã đưa ra ý kiến của tác giả thông qua việc phân tích các học thuyết triết lý Nho, Đạo, Phật đã làm nên cả một thời "Đại Việt" Các thế hệ tiếp theo, sau một thời gian độc tôn Nho giáo, góp phần làm nên tư tưởng Việt Nam về ý thức độc lập dân tộc, trách nhiệm công dân trước quốc gia, hoài bão lập công, ý chí tu thân, lập nghiệp của Nho sĩ trở nên rõ ràng, sâu sắc, cụ thể hơn
Có thể nói những tác phẩm này là nguồn dữ liệu quý giá cho bài nghiên cứu về dấu ấn của học thuyết Nho giáo trong việc xây dựng các mối quan hệ gia đình ở Việt Nam thời kì Lê – Nguyễn và thời
Trang 7hiện đại Mỗi tác phẩm cho người đọc một góc nhìn khác nhau về văn hóa nhận thức, văn hóa tư tưởng trong Nho giáo Trung Hoa Các tác phẩm đã có đóng góp không nhỏ trong công trình nghiên cứu chung về văn hóa nhận thức Trung Hoa và sự ảnh hưởng đến văn hóa nhận thức Việt Nam
7 Bố cục
Bố cục đề tài được chia làm ba phần:
- Chương 1: Khái quát về học thuyết trường phái Nho giáo và khái quát sự du nhập của trường phái học thuyết này vào xã hội Việt Nam
Trong chương 1, đề tài tập trung khai thác các vấn đề lịch sử như sự ra đời của Nho giáo ở Trung Hoa, khái quát cơ bản các tư tưởng của học thuyết Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỉ XV, đặc biệt là sự cực thịnh của tư tưởng này vào thời nhà Lê – Nguyễn
- Chương 2: Dấu ấn của tư tưởng Nho giáo trong xây dựng các mối quan hệ gia đình
Chương 2 là chương có nội dung chính, làm rõ và phân tích sự ảnh hưởng và tác động của học thuyết trường phái Nho giáo Trung Hoa đến tư tưởng của các trí thức Nho sĩ Việt Nam tiêu biểu thời
Lê và thời Nguyễn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm Thông qua việc phân tích
ấy có thể tìm ra những điểm giống và khác giữa Nho giáo Việt Nam so với Nho giáo bản địa, đồng thời
là những bài học tích cực mà Nho giáo để lại để có thể áp dụng vào việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Quan điểm cá nhân về việc kế thừa và phát huy Nho giáo trong giá trị đạo đức gia đình xã hội Việt Nam hiện nay
Với phần này, tôi sẽ trình bày quan điểm của mình về những mặt tích cực của Nho giáo, thông qua đó kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của một gia đình theo kiểu Nho giáo Đồng thời chỉ ra những mặt hạn chế của tư tưởng Nho giáo bản địa để từ đó có thể khắc phục, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT TRƯỜNG PHÁI NHO GIÁO VÀ KHÁI QUÁT
SỰ DU NHẬP CỦA TRƯỜNG PHÁI HỌC THUYẾT NÀY VÀO XÃ HỘI VIỆT NAM
I Khái quát về nho giáo
Nho giáo là một học thuyết triết học và chính trị - xã hội, tôn giáo Vào xã hội thời Đông Chu (thế
kỷ thứ VI TCN), lúc này sự thống trị của nhà Chu đã suy yếu, các nước chư hầu đua nhau tranh bá đồ vương, chiến tranh xảy ra liên miên, người dân bị lâm vào cảnh chết chóc, khốn cùng Tình hình đó khiến các nhà tư tưởng đương thời đề ra các đường lối trị quốc khác nhau, mong lặp lại trật tự xã hội Mỗi nhà tư tưởng do đó tiếp cận vấn đề xã hội khác nhau, họ có lập trường chính trị khác nhau và đề ra các hệ thống quan điểm khác nhau hình thành nên các hệ thống học thuyết khác nhau như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm dương gia,… Các học thuyết đó đấu tranh với nhau, nhằm phủ định đối phương và khẳng định mình Sử học gọi cục diện đó là hiện tượng “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”
Đạo Nho là do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập Tiền đề tư tưởng của ông là tư tưởng của Chu Công Đán (? – 1095 TCN) Chu Công Đán là nhà chính trị, nhà tư tưởng đầu đời Chu, đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng gồm ba bộ phận kết hợp chặt chẽ với nhau đó là tôn giáo, chính trị, đạo đức Chu Công Đán tin rằng có một ông trời chi phối việc người, việc xã hội, có thể thưởng thiện phạt ác, tùy theo con người đó, xã hội đó là có đức hay không có đức, có đức thì được thưởng không có đức thì phải phạt Chính tư tưởng có tính chất tôn giáo này đã ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng của Khổng Tử sau này So với Chu Công Đán thì Khổng Tử đã có một bước tiến về mặt thế giới quan Ông coi trời là giới tự nhiên, ông chỉ chú ý việc của người sống, việc của thế giới trần gian, không đề cập tới việc của người chết, việc của thế giới bên kia Ông chủ trương xa lánh quỷ thần, cho rằng “Tế như tại, tế thần như thần tại”, đối với quỷ thần cần phải xa lánh Ông vẫn còn tin ở mệnh trời như là một lực lượng siêu nhiên thần bí chi phối con người và xã hội Khổng Tử cảm thấy đau lòng trước sự suy thoái của xã hội đương thời Suốt đời ông đã phấn đấu để ngăn chặn những cảnh xấu xa tàn bạo đang diễn ra trước mắt và mong làm thế nào để xã hội trở lại cuộc sống thanh bình như trước Ông hết lời ca ngợi các triều đại Hạ, Thương, Chu Trước tình hình nội bộ các nước chư hầu chém giết lẫn nhau, Khổng Tử muốn nêu lên những tấm gương của thời xưa để răn dạy người đời bằng cách dành nhiều công phu thu thập tài liệu lịch
sử và di sản tư tưởng của người xưa Ông đã chép lại và soạn lại Kinh thi, Kinh thư, Kinh dịch, Kinh lễ,
Trang 9Kinh Xuân thu Dựa vào những tư liệu ấy tạo nên học thuyết Nho giáo Học thuyết của ông hướng vào việc làm như thế nào chấm dứt được tình trạng hỗn loạn của xã hội, sự suy thoái về đạo đức, sự khốn khổ của nhân dân trong chiến tranh và đói rét Từ thời nhà Hán, Nho giáo được tái sinh và phát triển và sau đó là nhà Đường làm cho học thuyết trở nên phát triển và tạo ra sự bền vững trên nhiều mặt của xã hội Trung Hoa Qua thời gian học thuyết Nho giáo vừa được hồi sức, vừa được bổ sung nhiều nhân tố của đạo Phật và đạo Lão Xã hội phong kiến vẫn tiếp tục kéo dài qua nhà Minh, Thanh với một ông Khổng Tử già cỗi Đến thời kì này, học thuyết Nho giáo chia sẻ sự suy tàn của xã hội phong kiến Trung Hoa ngày càng trở nên lỗi thời và phản động Thế kỷ XIX nổi lên với sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc vào các nước phương Đông Trước tình hình đế quốc bị đe dọa, các học giả Trung Quốc lại đặt lại vấn
đề Khổng Tử và học thuyết của ông Tiếp đó là phong trào ngũ tứ đã mở ra cuộc cách mạng văn hóa, phê phán chủ nghĩa bảo thủ, đòi hỏi sự đổi mới về mặt nhận thức và tư tưởng Lỗ Tấn – người chủ soái trên mặt trận tư tưởng này đã phê phán Khổng Tử một cách mạnh mẽ và sâu cay Ông chỉ trích tư tưởng phục cổ của Khổng Tử, sự nô dịch tư tưởng đối với nhân dân, sự khinh rẻ lao động và phụ nữ Trận đánh cuối cùng đối với Khổng Tử là “phê Lâm phê Khổng” của Mao Trạch Đông, gắn Khổng Tử với một vị tướng (Lâm Bưu) được coi như phản động Gần đây việc đánh giá lại Khổng Tử ở Trung Quốc và việc nghiên cứu lại Khổng Tử ở nhiều nước đã mở ra một thời kì mới để xem xét lại công lao của Khổng Tử một cách công bằng và khoa học
Khổng Tử (551 – 479 TCN) - người sáng lập Đạo Nho
Trang 10Trong giai đoạn đầu, giai đoạn của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Nho chưa mang tính chất tôn giáo Nó chỉ mang tính chất tôn giáo khi chế độ phong kiến trung ương tập quyền Trung Quốc xác lập, khi nhà Hán phải dựa vào thần quyền để củng cố địa vị thống trị của mình Đổng Trọng Thư (197 – 104 TCN), nhà tư tưởng của thời Hán Vũ Đế, đã đưa lại cho đạo Nho tính chất tôn giáo, thần học Ông đề xướng thuyết “Thiên nhân cảm ứng”, cho rằng trời là “ông tổ của vạn vật”, là “vua của trăm vị thần”, trời căn cứ vào hình dáng của mình và sinh ra loài người Hình thần của một con người và phẩm chất đạo đức của họ đều là bản phụ của trời, cho rằng quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, nói chung là cương thường của người đều là theo ý của trời Từ thời Hán về sau, Nho giáo ở Trung Quốc ngoài tính chất triết học và chính trị xã hội ra còn mang tính chất tôn giáo
II Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Trung Quốc là quê hương của Nho học, nhưng các nước láng giềng của Trung Quốc cũng tiếp nhận Nho học Học thuyết này đã chi phối đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa và tôn giáo của một số nước Viễn Đông Xã hội của các nước trên có những nét giống xã hội của Trung Quốc nên dễ dàng du nhập và bản địa hóa Nho học Ở đó cũng có hiện tượng tôn giáo hóa Nho học Nho học cũng được gọi
là Nho giáo
Nho học truyền vào Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt Người Hán xâm lược Việt Nam và đưa Nho học vào Lúc đầu Nho học là cái xa lạ với tư tưởng tập tục truyền thống Việt Nam, về sau nó được bản địa hóa và trở thành nhu cầu tinh thần của người Việt Nam Dưới thời kì Bắc thuộc, Nho học
ở Việt Nam mới là hiện tượng có mặt ở các trị sở của người phương Bắc Về sau khi giành được độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam ý thức được vai trò quan trọng của đạo Nho nên đã ra sức truyền bá đạo này Ngay từ đầu giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam nhìn nhận Nho học với hai tính chất: Học thuyết chính trị - đạo đức và tôn giáo
Nho học – Nho giáo truyền nhập vào Việt Nam khoảng hai ngàn năm nhưng nó có vị trí chi phối cao nhất là từ giữa thế kỉ XV về sau Chúng ta đều biết rằng: Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ lâu và đã có vai trò đáng kể trong hoạt động tư tưởng và văn hóa của nhân dân Thời Bắc thuộc, Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo Trong khi Nho giáo chỉ dừng lại ở những tầng lớp trên thì Phật giáo đã thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân Qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần (Từ thế
kỉ X đến thế kỉ XIV) các vua chúa Việt Nam là những người sùng đạo Phật Trước đó vào thời Trần, ảnh hưởng của Nho giáo chưa sâu đậm Có thể có một bộ phận quan chức cao cấp còn áp dụng ít nhiều lễ
Trang 11giáo Nho giáo, còn trong dân gian và kể cả quan chức cấp thấp thì ảnh hưởng của Nho giáo chưa đáng
kể Tuy nhiên trong quá trình củng cố trật tự và phát triển đất nước, tầng lớp thống trị Việt Nam cảm thấy không thể chỉ dựa riêng vào Phật giáo mà còn phải có một học thuyết tích cực hơn, do đó Nho giáo
đã đáp ứng được yêu cầu đó từ thời nhà Lê, cho đến nhà Nguyễn thì phát triển rất mạnh mẽ
Ảnh hưởng của Nho giáo đến xã hội Việt Nam – Nguồn Tạp chí KHXH
Sang đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Nho học và Nho giáo được đẩy lên cực thịnh về các mặt như tổ chức nhà nước, pháp luật và các chính sách, giáo dục khoa cử Nho học Và cũng từ đấy về sau, Nho giáo mới qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính quyền mà thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục tập quán… Cho đến đầu thế kỉ XX, năm
1919 khoa cử Nho học mới bị bãi bỏ, nhưng giáo dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo dài đến đầu thập kỉ bốn mươi Như vậy trong thời Lê Nguyễn liên tục gần sáu trăm năm Nho học – Nho giáo không thể không thấm vào các tầng lớp xã hội Giai cấp phong kiến Việt Nam thượng tôn Nho giáo bởi
sự thần bí hóa vương quyền, sự thiêng liêng hóa quan hệ quân thần, những chuẩn mực và nội dung đào tạo quan lại thích hợp để nối dài cánh tay quyền lực của nhà vua Thời Hậu Lê, Nho giáo vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung đình, đẩy Phật giáo và Đạo giáo xuống hàng tôn giáo dân gian Nhưng Nho giáo có vị trí hàng “Quốc giáo” thật sự ở triều Nguyễn, một triều đại tập quyền tuyệt đối và triệt để khai thác đạo lý tam cương, ngũ luân của Nho giáo để bảo vệ tôn ti quân thần và quyền thống trị vĩnh viễn của tông tộc nhà vua Trên đỉnh cao quyền lực, Nho giáo đã phát tác tối đa sức mạnh kìm hãm của
nó, trở thành nguyên nhân sâu xa của tình trạng loạn lạc và trì trệ kéo dài suốt thế kỷ XIX cho đến khi
Trang 12mất nước về tay Pháp Nó được thường xuyên tái lập và trở thành một trong những yếu tố văn hóa truyền thống Việt Nam khá sâu đậm Các nhà Nho Việt Nam thời Lê - Nguyễn cho đến đầu thế kỉ này chỉ lấy các sách của Khổng Mạnh, Trình Chu làm kinh điển Trong xã hội tiểu nông tự cấp tự túc truyền thống thời Lê – Nguyễn với hai giai cấp chủ yếu là nông dân và địa chủ mà nông dân là tuyệt đại bộ phận trong nhân dân, trên địa bàn là nông thôn thì sự tiếp nhận những ảnh hưởng của Nho giáo dưới những lý thuyết triết lý phức tạp thật không dễ dàng Người nông dân không hiểu nhiều những khái niệm “Thiên mệnh”,
“Tính lý” nhưng họ tiếp nhận ảnh hưởng Nho giáo qua những quan niệm “hiếu, trung”, “lễ, nghĩa”, ý thức về củng cố gia đình, họ tộc và cộng đồng qua những hoạt động có tính tôn giáo
Từ chỗ không được ưa thích các tầng lớp nhân dân, Nho giáo dần dần giữ một vị trí ngày càng tăng trong việc đề cao uy quyền của nhà vua, xây dựng một hệ thống quan liêu từ trên xuống dưới, bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và nhân dân Nho giáo được du nhập vào Việt Nam không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa Nó đã được Việt Nam hóa vì lợi ích bảo vệ và xây dựng tổ quốc, đã khai thác những quan điểm tích cực của Nho giáo để khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc Với Nho giáo được Việt Nam hóa, trí thức Nho giáo đã có những đóng góp đáng kể vào việc củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng nó lên thành những tư tưởng ổn định, thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc lập và chiến thắng của dân tộc Đối với văn hóa tinh thần, Nho giáo góp phần làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống, bên cạnh dòng văn hóa dân gian gắn với ý thức tộc người, làm nên cốt lõi của văn hóa tộc người Nhưng tấm huân chương cũng có mặt trái của nó, Nho giáo dù được Việt Nam hóa và đưa vào những nhân tố tích cực nhưng mặt tiêu cực của nó cũng rất trầm trọng Nho giáo làm cho văn hóa tinh thần của Việt Nam thời trung đại bị Hán hóa một phần đáng kể, đồng thời kìm hãm, gây hại cho nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, cả trong lĩnh vực văn hóa tinh thần lẫn văn hóa vật chất Nho giáo càng đạt tới tột đỉnh quyền uy thì đất nước Việt Nam càng suy yếu, văn hóa Việt Nam càng suy thoái
Và cuối cùng, trước nạn vong quốc cuối thế kỷ XIX, Nho giáo đã bất lực và tàn lụi Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự suy tàn của nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến, Nho giáo đã không còn là ý thức
hệ chính thống và cũng không còn đóng vai trò một tôn giáo chính thống điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa Sự đột khởi của phong trào Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào Nho giáo ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG XÂY DỰNG CÁC MỐI QUAN
HỆ GIA ĐÌNH
I Gia đình trong quan niệm các nước phương Đông
Ở một số nước phương Đông, công nghiệp hóa và hiện đại hóa lại diễn ra với nhiều nét khác biệt
so với phương Tây Nếu các nhà khoa học phương Tây đã nhấn mạnh tính chất nông nghiệp của gia đình kiểu cũ thì ở phương Đông tính chất nông nghiệp này lại còn sâu sắc hơn và kéo dài suốt mấy ngàn năm của phương thức sản xuất châu Á Giai cấp phong kiến ở phương Đông đã lợi dụng những mối quan hệ giữa uy quyền tuyệt đối của người gia trưởng với sự phục tùng tuyệt đối từ phía vợ con của họ Người gia trưởng là chủ gia đình và ông vua là chủ đất nước Nếu như con cái phục tùng tuyệt đối người gia trưởng thì toàn thể nhân dân phải phục tùng tuyệt đối nhà vua Vì lợi ích của bản thân mình các vua chúa phong kiến cố gắng đồng nhất mối quan hệ trong gia đình với mối quan hệ trong nước Họ biết rằng: Khi quan hệ giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị thống trị trong xã hội cũng chặt chẽ như quan hệ tình cảm giữa người gia trưởng với vợ con của họ thì vị trí của một ông vua trong nước cũng vững vàng như vị trí của người gia trưởng trong gia đình Chính vì thế mà Nho giáo – hệ tư tưởng thống trị ở nhiều nước châu Á đã gắn liền với chữ Hiếu và chữ Trung Người con
có hiếu phải phục tùng tuyệt đối người đứng đầu trong gia đình, phải sẵn sàng hi sinh cả bản thân mình để phục vụ cha mẹ Nếu ông vua là người chủ trong đại gia đình là tổ quốc, thì mọi người trong nước không chỉ phục tùng nhà vua mà phải hết lòng yêu quý vua như yêu quý cha của họ Chữ Trung tóm lại là chữ Hiếu trong gia đình được chuyển ra xã hội, trở thành quan hệ giữa nhân dân với nhà vua Vì lợi ích của bản thân và của chế độ phong kiến, nhà vua luôn luôn củng cố những quan hệ gia đình, luôn luôn giáo dục chữ Hiếu trong mọi người Làm như thế không phải vì lợi ích gia đình mà chính là vì lợi ích của nhà vua, chính là điều kiện hàng đầu để bảo vệ chế độ phong kiến
Trang 14Gia đình Việt Nam – nguồn trithuctre.com.vn
Ở nhiều nước phương Đông, cuộc cách mạng tư sản đã không diễn ra từ dưới lên mà diễn ra từ trên xuống Nghĩa là giai cấp phong kiến được tư sản hóa, nên họ đã không gặp khó khăn khi duy trì gia đình kiểu gia trưởng và sử dụng hình thức ấy trong xí nghiệp, trong nông trang cũng như trong mọi quan hệ xã hội Người chủ xí nghiệp, chủ nông trang cũng như những người đứng đầu nhà nước đòi hỏi sự phục tùng có tính chất quan hệ gia đình của mọi người đối với họ Nho giáo thường tuyệt đối hóa uy quyền của nhà vua và của người cha, nên chỉ thường nhắc tới bổn phận đơn phương của
bề tôi đối với vua, của người con đối với cha mà thôi, từ đó tạo nên những thái độ trung hiếu một cách mù quáng và vô lý Cha có thể là không Từ nhưng con không thể không Hiếu Vua có thể bất nhân nhưng bề tôi không thể không Trung Nho giáo ngày càng tuyệt đối hóa đạo trung hiếu đến mức
quá đáng: “Vua khiến bề tôi chết mà bề tôi không chết là bề tôi bất trung, cha khiến con chết mà con
không chết là bất hiếu” (Hậu Nho)
II Gia đình trong quan niệm của Nho giáo
Trong học thuyết Nho giáo, gia đình là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa có ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống con người Theo Khổng
Tử thì tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng và vợ là tình cảm tự nhiên trong bản tính của con
người Khổng Tử coi gia đình là cơ sở của xã hội, cho rằng “Thiên hạ chi bản quốc, quốc chi bản tại
gia” (gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là nhà) Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong việc xây dựng
những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những quan hệ trong toàn xã hội, trong việc xây dựng tình cảm và đức tính tốt trong gia đình từ đó vun đắp chúng trở thành những tình cảm và
Trang 15đức tính tốt trong việc thờ vua trị nước Nho giáo vì thế rất coi trọng việc giáo dục trong gia đình vì đó
là trường học đầu tiên giáo dục con người đi vào xã hội “Thân thân nhi nhân dân” (Thân yêu cha mẹ mình, kể từ đó mà đối xử có nhân với người đời, Mạnh Tử - Tận tâm, Thượng, 45) “Lão ngô lão dĩ cập
nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu” (Kính cha anh của mình từ đó kính cha anh của người, yêu
con trẻ của mình từ đó yêu con trẻ của người, Mạnh Tử - Lương Huệ Vương, Thượng, 7)
Tam cương, nền tảng của tư tưởng đạo đức Nho giáo Người ta thường nói đến Đạo đức Nho giáo trong việc xây dựng các mối quan hệ gia đình Đạo chính là năm mối quan hệ cơ bản của con người gọi là Ngũ luân: Vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn Trong năm mối quan hệ đó thì vua tôi, cha con, chồng vợ là quan trọng nhất được gọi là Tam cương Đó là ba sợi dây ràng buộc con người vào trách nhiệm lớn nhất của họ Đức là Trí, Nhân, Dũng, là ba phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần phải có để thực hiện tốt hết năm mối quan hệ cơ bản nói trên, được mở rộng thành Ngũ thường bao gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín kết hợp Tam cương với Ngũ thường gọi là Cương Thường Nho giáo tập trung mọi quan hệ xã hội của con người vào Tam cương mở rộng ra là Ngũ luân Ngoài
ra các mối quan hệ khác là thứ yếu và không đáng kể Vượt ra khỏi những quan hệ ấy để yêu thương mọi người như Mặc Địch hoặc không quan tâm đến những quan hệ đó chỉ biết cho bản thân mình như
Dương Chu thì đều bị Nho giáo lên án là “vô quân vô phụ” (Không có vua, không có cha), Mạnh Tử
coi họ như cầm thú
Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ trong gia đình rất chặt chẽ: “Cha ra cha, con ra con, anh
ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là Nho gia đạo chính” (Kinh dịch) Trong ba mối quan
hệ cha con, chồng vợ, anh em làm nên cái gọi là “Gia đạo chính” thì quan hệ cha con, anh em tiêu biểu bằng chữ Hiếu và chữ Đễ, đã được Nho giáo tôn lên rất cao, đặt vào một vị trí đặc biệt quan trọng, trở thành cốt lõi của các quan hệ trong toàn xã hội
Cũng từ quan điểm huyết thống, Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa những thành viên trong gia đình, dòng họ Nho giáo kêu gọi họ yêu thương đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn danh
dự và phát huy truyền thống của gia đình Những nghi thức ứng xử hằng ngày và những lời răn dạy của cha ông, gia ngữ được lưu truyền đến đời con cháu Coi trọng việc thờ cúng ông bà tổ tiên, xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả,… Đã góp phần làm khăng khít thêm mối quan hệ trong gia đình Đã có nhiều biểu hiện tốt đẹp của tình người được nảy sinh từ đó Tuy nhiên trên một bình diện khác, khi những quan hệ trên bị chi phối bởi những quan điểm lệch lạc về huyết thống, bởi lòng tham
Trang 16lam và ích kỉ và nhất là bởi sự tranh giành về lợi ích kinh tế, về địa vị chính trị xã hội, về vai vế trong làng xã,… thì đã có không ít những tiêu cực xảy ra Sự yêu thương đùm bọc trong gia đình biến dạng
thành tính vị kỉ gia đình, bao che vum vén, bênh vực lẫn nhau bất chấp công lý: “Phụ vị tử ẩn, tử vị phụ
ẩn, trực tại trung hỹ” (Một người con thấy cha ăn trộm con dê, đã đứng ra làm chứng khai thật, Khổng
Tử không cho đấy là ngay thẳng mà là ngược lại, Luận Ngữ - Tử Lộ, 8)
Do cách cầm quyền ở những nước như Việt Nam và Hàn Quốc, Nhật Bản đã biết khai thác học thuyết Nho giáo nhằm củng cố trật tự gia đình và xã hội Từ đó, họ đã đạo đức hóa những quan hệ cố hữu giữa bốc lột và bị bốc lột, giữa chủ đất và nông dân, giữa xí nghiệp và công nhân
III Ảnh hưởng của Nho giáo đến việc xây dựng các mối quan hệ gia đình qua tư tưởng của một
số trí thức Nho sĩ Việt Nam
Trong các học thuyết có ảnh hưởng đến tư tưởng và văn hóa nhận thức của người Việt Nam, Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội quan tâm đến trách nhiệm và trách nhiệm xã hội Nhà Nho bao giờ cũng đặt cho mình yêu cầu “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” Thực hiện những yêu cầu đó, thực chất trách nhiệm đó thể hiện trong các mối quan hệ giữa người với người, đó là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân nói chung (kỷ - nhân: bản thân – người khác); quan hệ giữa cá nhân và các nhân trong gia đình (phụ- tử: cha – con, phu – phụ: chồng – vợ, huynh - đệ: anh – em); quan hệ giữa cá nhân với các nhân trong xã hội (quân – thần: vua – tôi, trưởng – thiếu: người lớn – người nhỏ, bằng hữu: bạn bè,
sư phụ - đệ tử: thầy – trò); quan hệ giữa cá nhân và xã hội (thân- gia- quốc- thiên hạ: bản thân – nhà – nước – thiên hạ);… Trong từng mối quan hệ nói trên, Nho giáo đều đưa ra những nguyên tắc đối xử nhất định, mỗi đối tượng đều phải tuân theo, thể hiện trách nhiệm của bản thân trong từng mối quan hệ Khi Nho giáo truyền vào nước ta, theo thời gian, những nguyên tắc đối xử và trách nhiệm giữa người với người trên quan điểm Nho giáo cũng dần dần tác động vào xã hội, trước hết được các nhà Nho tiếp nhận
và vận dụng Tuy nhiên tùy vào mỗi thời đại, dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị- xã hội nhất định, quan niệm về từng mối quan hệ xã hội cũng có những điểm khác biệt
Đề tài đề cập chủ yếu đến các vấn đề quan niệm của Nho giáo trong xây dựng quan hệ gia đình (tập trung vào quan hệ cha - con, chồng – vợ, anh – em) qua việc tìm hiểu vấn đề trách nhiệm xã hội trong Nho giáo, thể hiện qua tư tưởng của một số nhà Nho tiểu biểu của Việt Nam thời Lê – Nguyễn Nho giáo vào gia đoạn nhà Lê và nhà Nguyễn đã đạt đến sự phát triển cực thịnh, chiếm vị trí thượng tôn trong tư tưởng các nho sĩ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Ngô Thì Nhậm
Trang 171.1 Quan hệ cha – con
Đối với Nho gia, quan hệ cha con là một trong những quan hệ cơ bản của xã hội, thuộc “Tam cương” hay “Ngũ luân” Từ cơ sở kinh tế của nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cần có sức khỏe lao động nên người đàn ông trong gia đình được xác định là trụ cột Nếu như ở trong một nước, uy quyền tuyệt đối
của nhà vua được xác lập bởi lẽ “Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ” (dưới gầm trời không có chỗ nào
không phải đất của vua) thì ở trong một nhà, uy quyền tuyệt đối thuộc về người cha, là người sở hữu toàn bộ ruộng đất tài sản của gia đình Ưu thế tuyệt đối về kinh tế qui định một cách khách quan vị trí đứng đầu trong một nước hay trong một nhà Vị trí ấy càng được Nho giáo suy tôn và củng cố bền vững bằng những thuyết giáo về mặt tình cảm, huyết thống và bằng sự nối liền hai chữ Hiếu Trung Nho gia
cổ vũ vai trò đó của người cha và dần dần quan hệ gia trưởng được hình thành, duy trì trong xã hội phong kiến Người cha trong xã hội phong kiến có vai trò và trách nhiệm to lớn trong việc xác định chí hướng
và tạo dựng sự nghiệp cho người con Nho giáo có lúc đề ra “Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra
con” với ngụ ý: vua có nên vua thì mới có thể đòi hỏi tôi phải ra tôi, cha có ra cha thì mới có thể đòi hỏi
con phải ra con
Các nhà Nho Việt Nam cũng tiếp nhận những tư tưởng của Nho giáo Khổng – Mạnh để xác định trách nhiệm trong quan hệ cha – con Đối với người cha, phẩm chất quan trọng cần có là mẫu mực, hiền
từ, luôn có tinh thần tu dưỡng đạo đức, nhân cách để làm gương cho con cháu Về trách nhiệm của người
cha đối với con, Nguyễn Trãi nêu “Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn,/Tích đức cho con hơn tích
của/…Nhi tôn đã có phúc nhi tôn” (Quốc âm thi tập, “Tự thán”, bài 41) Nguyễn Bỉnh Khiêm xác định
cha – con là tình thân tột độ (phụ tử thân chi chí) và cho rằng cha mẹ phải có trách nhiệm “trồng cây đức
để con ăn”, phải “tích đức cho con” Ngô Thì Nhậm quan niệm các bậc cha mẹ phải làm gương cho con cháu, điều cốt yếu là “đức hạnh để lại cho con cháu” Những quan niệm đó của các ông rất gần với quan niệm truyền thống về trách nhiệm của cha mẹ: “phúc đức tại mẫu”, “tu nhân tích đức”,…Ngô Thì Nhậm còn có một cách nhìn khác so với Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về vai trò trách nhiệm của người cha Ông cho rằng, trách nhiệm của người làm cha phải có sự hiểu biết để định hướng cho con Ông cũng
lý giải điều đó: “người làm cha làm anh, không hiểu biết ý nghĩa của việc ứng xử trong lúc biến, tất cả
sẽ đưa con em mình đến chỗ lỗi lầm” Theo ông tình cảm, trách nhiệm mà cha mẹ dành cho con phải là mãi mãi chứ không chỉ chăm lo cho đến độ trưởng thành Điều này càng chỉ rõ trách nhiệm định hướng
ý chí, phương cách hành xử, sự miệt mài tạo dựng và chăm lo của các bậc cha mẹ đối với đời sống của
Trang 18con cái Đối với Nhà Nho, trách nhiệm xây dựng và đường hướng cho con được xác định là mục đích tự thân, bởi chỉ có như vậy Nho gia mới thực hiện được quan niệm cha truyền con nối, kế nghiệp thi thư
Xuất phát từ quan hệ tự nhiên, Ngô Thì Nhậm còn lý giải quan hệ tình cảm và phương cách ứng xử của người cha, đồng thời cảnh báo hậu quả của người thiếu sáng suốt trong việc thực thi trách nhiệm làm
cha Ông viết : “Cha con là quan hệ thân mật theo tính thiên nhiên Nhưng rồi vì thiên lệch mà mất sáng
suốt, mất sáng suốt sinh ra nghi ngờ Nghi ngờ sinh ra ghét bỏ Ghét bỏ sinh ra tàn nhẫn” Nếu “Người
làm cha nghe lời gièm pha mà không suy xét, cố nhiên có thể tổn thương đến ân tình Những nghe người khác nói lời li gián mà không biết phân tích nhận xét, bị những lời khen ngợi che lấp mà không biết rõ mặt xấu, sẽ xảy ra những biến cố từ nơi khủy nách trong gia đình” Ông đi đến quan niệm rằng, chính những biến cố gây tổn thương trong gia đình là: “ Điều đáng lo ngại nhất của việc đứng đầu nhà nước”
Bởi vì theo nguyên lý Nho giáo: “Tiên tề gia, hậu trị quốc” Ông chủ trương cần phải ngăn cấm bạo
loạn từ trong gia đình thì mới ngăn chặn sâu xa bạo loạn xã hội Coi đạo nhà là gốc của đạo nước Ông
cũng tán thành quan điểm của Kinh Dịch khi nói về nghĩa cha con: “Cha phải đạo cha, con phải đạo
con, … Đạo trong nhà ngay thẳng thì thiên hạ bình trị.”
Như thế các nhà Nho Việt Nam đã nhấn mạnh đến hai phương diện trách nhiệm của người cha với
con Thứ nhất người cha có trách nhiệm phải là tấm gương mẫu mực về nhân cách và đối xử với con
theo nghĩa “phụ tử tình thâm” Sự gương mẫu trong cuộc sống của người cha chính là tinh thần và là
nguồn sống nuôi dưỡng ý chí và nghị lực của người con Bởi thế quan niệm tích đức, trồng phúc có ý
nghĩa tạo dựng đời sống tinh thần và tạo dựng những giá trị cao đẹp trong tình cha con Thứ hai, người
cha còn có trách nhiệm đường hướng, nâng đỡ và dẫn dắt cho con trong từng bước trưởng thành Quan
điểm tiến bộ có giá trị sâu sắc của Ngô Thì Nhậm là ở chỗ: người cha có trách nhiệm đối với con trên cơ
sở của sự hiểu biết chứ không dựa trên tình cảm tự nhiên thuần khiết, không xuất phát từ ý muốn chủ quan mù quáng Sự hiểu biết sáng suốt và cách ứng xử khôn ngoan của người cha chẳng những là sự mở đường tiến bộ mà còn giúp cho người con tránh được những sai lầm trong cuộc sống Trong gia đình Nho giáo ở nước ta trước đây, vai trò của người cha có tính chất quyết định mọi bước đường của người con và chi phối tất cả các mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của các thành viên Sự suy sụp về
cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần của gia đình, gia tộc hầu hết bắt nguồn từ việc đánh mất vị trí trụ cột của người cha Trong xã hội Việt Nam ngày nay, vai trò làm cha mẹ thể hiện ở trách nhiệm nuôi dạy con cái và đường hướng, dẫn dắt cho con cái vẫn được coi là cơ sở, nền tảng thành công của mỗi cá nhân trong cộng đồng