Trong những năm gần đây, GIS đã được nhiều cơ quan, tổ chức đã ứng dụng trong việc nghiên cứu nông nghiệp và đặc biệt là trong đánh giá đất đai, trong đó sử dụng công cụ GIS để chồng xếp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Mã số : 60.62.15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HỒ QUANG ĐỨC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Somphanh PHENGSIDA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn của tôi là PGS TS Hồ Quang Đức đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Đồng thời tôi cũng vô cùng biết ơn các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong quá trình học tập Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường, Viện đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và các cán bộ thuộc Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa - CHXHCN Việt Nam); Ban Giám đốc và toàn thể cán bộ Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Sayaboury, Phòng Nông Lâm nghiệp huyện Ngeun - CHDCND Lào, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp gần xa, những người đã luôn giúp đỡ, khích lệ, động viên tôi trong công việc nghiên cứu Tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân đã luôn chia sẻ những khó khăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập và làm luận văn Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và
dự án hợp tác giữa Viện Thổ nhưỡng Nông hóa - CHXHCN Việt Nam và Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Sayaboury - CHDCND Lào đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và ủng hộ kinh phí để cho tôi đã được học tập tại Việt Nam
và hoàn thành bản luận văn của tôi
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2012
Tác giả
Somphanh PHENGSIDA
Trang 42 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5 2.1 Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất ở nước ngoài 5
2.1.2 Các nghiên cứu ngoài nước về đánh giá đất đai 6
2.1.3 Phương pháp đánh giá đất theo chỉ dẫn của FAO 13
2.1.5 Yêu cầu đạt được trong đánh giá đất đai theo FAO 15
2.1.8 Các phương pháp thực hiện quy trình đánh giá đất đai theo FAO 17
2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất đai theo FAO 20
2.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 21
2.3 Tình hình nghiên cứu phân hạng đất ở Việt Nam 23
Trang 53.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 31
3.3.1 Điều tra, thu thập, xử lý các tài liệu số liệu đã có 32
3.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 33
4.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ngeun 45
4.5 Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Ngeun 50
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASL Above Sea Level - Độ cao so với mặt nước biển
BS Độ no bazơ
CNNN Công nghiệp ngắn ngày
CEC Dung tích hấp thu
DEM Digital Elevation Model
DTĐT Diện tích điều tra
LUT Land use type - Loại hình sử dụng đất
OC Cacbon hữu cơ
SXNN Sản xuất nông nghiệp
UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
WRB World Reference Base for Soil Resources (Tham chiếu Tài
nguyên đất Thế giới)
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn phân loại đánh giá đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ 11
Bảng 4.4 Phân chia các cấp thành phần cơ giới theo FAO 52
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu phân cấp và đánh giá độ phì nhiêu tầng mặt 53
Bảng 4.6 Các loại đất dùng trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 56
Bảng 4.9 Diện tích các cấp thành phần cơ giới huyện Ngeun 62
Bảng 4.11 Diện tích các cấp độ phì nhiêu tự nhiên 66
Bảng 4.13 Thống kê diện tích và các thuộc tính đơn vị đất đai 71
Bảng 4.13 (tiếp theo) Thống kê diện tích và các thuộc tính đơn vị đất đai 72
Bảng 4.14 Các kiểu sử dụng đất trên các đơn vị đất đai 80
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Quy trình đất giá đất đai của FAO 18
Sơ đồ 2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 21
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Địa hình huyện Ngeun thể hiện dạng 3 chiều 35Hình 4.1 Bản đồ hiện trạng huyện Ngeun 2011 49Hình 4.2 Bản đồ đất huyện Ngeun 57Hình 4.3 Bản đồ độ dốc huyện Ngeun 59Hình 4.4 Bản đồ độ dày tầng đất mịn huyện Ngeun 61Hình 4.5 Bản đồ thành phần cơ giới huyện Ngeun 64Hình 4.6 Bản đồ mức độ đá lẫn huyện Ngeun 65Hình 4.7 Bản đồ độ phì nhiêu tự nhiên huyện Ngeun 68Hình 4.8 Bản đồ khả năng cung cấp nước tưới huyện Ngeun 69Hình 4.9 Bản đồ đơn vị đất đai huyện Ngeun 73
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Khác với tài nguyên khác, đất trồng là một loại tài nguyên đặc biệt quý hiếm trong sản xuất nông nghiệp đối với hầu hết các nước trên thế giới Sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng cho đời sống nhân loại không những đối với hiện tại mà còn cả trong tương lai Đất đai còn là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất đai đóng vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên và là tiền
đề cho mọi quá trình sản xuất
Để sử dụng, bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên đất đai một cách có hiệu quả thì đánh giá đất đai là một công tác có vai trò rất quan trọng Đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc phát huy tối đa tiềm năng của đất đai, đồng thời cải tạo hạn chế, sử dụng có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này Tuy có nhiều trường phái, quan điểm và phương pháp nghiên cứu khác nhau, song nhìn chung, công tác nghiên cứu và đánh giá đất đai đã đạt được nhiều kết quả to lớn góp phần tích cực trong việc sử dụng, quản lý cũng như bảo vệ một cách hệ thống nguồn tài nguyên đất ở các cấp hành chính khác nhau
Để xây dựng một nền nông nghiệp ổn định và bền vững (theo quan điểm
sinh thái và phát triển bền vững) thì công tác đánh giá đất đai là công việc mở
đầu mang tính chất nền tảng Trong đánh giá đất đai, việc xây dựng các đơn vị đất đai (Land unit) và bản đồ đơn vị đất đai là một bước vô cùng quan trọng
Để hòa nhập với sự phát triển của ngành khoa học đất trên thế giới và khu vực cũng như hợp tác và phát triển kỹ thuật phục vụ cho các chiến lược phát triển ngắn, trung và dài hạn trong sản xuất nông, lâm nghiệp Từ những năm
Trang 111990 trở lại đây các nhà khoa học đất ở nước ta đã và đang nghiên cứu, ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện riêng của Việt Nam Trong quản lý tài nguyên, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới
đã ứng dụng công nghệ thông tin như là một công cụ lưu trữ, quản lý, phân tích và hỗ trợ giải pháp có hiệu quả cao Hệ thống thông tin địa lý
(Geographic Information System - GIS) là một công nghệ máy tính tổng hợp
tuy mới chỉ ra đời vào thập niên 70 nhưng cho tới nay đã được ứng dụng rộng khắp trên toàn thế giới trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong những năm gần đây, GIS đã được nhiều cơ quan, tổ chức đã ứng dụng trong việc nghiên cứu nông nghiệp và đặc biệt là trong đánh giá đất đai, trong đó sử dụng công cụ GIS để chồng xếp, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là một khâu quan trọng trong quy trình này
Huyện Ngeun là một trong 11 huyện của tỉnh Sayaboury, huyện Ngeun cách thị xã của tỉnh khoảng 139 km, là huyện miền núi với địa hình đa dạng
từ thấp đến cao, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sayaboury, có nhiều tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp với tổng diện tích tự nhiên (DTTN) là 75.840 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp có 5.238,53 ha, chiếm 6,91 % của DTTN Khí hậu, đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp, khả năng khai thác đất đai còn khá lớn là ưu thế cho phát triển nghề rừng, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả Huyện Ngeun đã hình thành vùng nguyên liệu sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cây ăn quả nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trường trong nước và một số xuất khẩu ra nước ngoài Nhân dân các dân tộc huyện Ngeun có truyền thống lao động cần cù, chịu khó Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc sử dụng đất đai trong nông lâm nghiệp còn thiếu quy hoạch, bố trí cơ cấu cây trồng còn manh mún, đầu
tư chăm sóc còn chưa hợp lý Mặt khác, cho đến nay, huyện vẫn chưa có cơ
sở dữ liệu khoa học về đánh giá tài nguyên đất, mức độ thích hợp đất đai và quy hoạch sử dụng đất đai theo phương pháp của FAO để làm cơ sở cho việc
Trang 12hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, nhất là phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái, giúp cho việc khai thác tối đa nguồn nội lực về tài nguyên và gọi vốn đầu tư nước ngoài trong hợp tác quốc tế
Chính vì vậy, việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai nhằm đánh giá chính xác quỹ đất cả về số lượng lẫn chất lượng, làm cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và làm cho việc đánh giá chất lượng đất đai cho huyện Ngeun là rất cấp thiết
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, làm
cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý cho huyện Ngeun, Tỉnh Sayaboury, CHDCND Lào” đã được lựa chọn để thực hiện
1.2 Mục đích của đề tài
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1:50.000 cho huyện Ngeun
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên các đơn vị đất đai
1.3 Yêu cầu của đề tài
Trong điều kiện và khả năng cho phép, yêu cầu đạt được của đề tài như sau:
- Điều tra, tổng hợp các điều kiện sinh thái và đặc điểm, tính chất đất có liên quan tới việc xác định các đơn vị bản đồ đất đai của huyện Ngeun
- Xác định các chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Xây dựng các bản đồ đơn tính
- Chồng xếp, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở tỷ lệ 1:50.000 cho huyện Ngeun theo chỉ dẫn của FAO
- Thống kê, mô tả các đơn vị đất đai theo nhóm các yếu tố
- Từ kết quả xác định bản đồ đơn vị đất đai huyện Ngeun, đưa ra một số định hướng, làm cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp cho huyện Ngeun
Trang 131.4 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
- Đánh giá đất đai, góp phần làm rõ về cơ sở khoa học việc sử dụng đất đai hợp lý của huyện
- Các đơn vị đất đai là cơ sở khoa học tin cậy cho việc định hướng bố trí
cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu các tiểu vùng trong huyện
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ở địa phương trong kế hoạch
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai ở địa phương
- Mang lại hiệu quả cao trong sử dụng đất, tăng thu nhập cho người dân, góp phần tăng trưởng kinh tế của địa phương, đồng thời cải tạo, sử dụng hợp lý
và bảo vệ tài nguyên đất đai
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất trên thế giới
2.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá đất đai
Đất đai luôn gắn chặt chẽ với con người trong hoạt động kinh tế xã hội Dân số ngày càng tăng đã gây sức ép lớn đến việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai rất quý hiếm của nhân loại Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Một mặt, đất đai phải dành cho sản xuất nông nghiệp, đủ bảo đảm nhu cầu lương thực
và thực phẩm nuôi sống con người Mặt khác, khi dân số tăng, nhu cầu về đất ở
và các hạ tầng cơ sở phục vụ sinh hoạt cũng phải tăng theo nên làm giảm diện tích đất canh tác Đánh giá đất đai theo quan điểm sinh thái xuất phát từ quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững là một hệ thống sản xuất có chọn lọc, đa dạng những cân bằng về sinh thái một cách tự nhiên, trong đó các yếu tố tác động một cách tương hỗ cùng tồn tại và phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao, môi trường trong lành [5, 15]
Đến nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha; còn lại đa phần là đất xấu, đất sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn [2] Mặt khác hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do thoái hóa và xói mòn Để giải quyết được nhu cầu về lương thực không ngừng gia tăng, con người phải tiến hành thâm canh tăng
vụ, nâng cao năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [15] Bên cạnh đó, việc ngăn chặn những suy thoái về tài nguyên đất do sự thiếu hiểu biết của con người gây ra và hướng tới việc sử dụng đất có hiệu quả trong tương lai thì công tác nghiên cứu về đánh giá đất là rất cần thiết
Thuật ngữ “đánh giá đất đai” được sử dụng từ năm 1950 tại Hội nghị Khoa học đất thế giới ở Amsterdam (kể từ đây, tên địa danh và tên người
Trang 15nước ngoài xin được phiên Âm theo tiếng Anh)
Theo A Young: đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số loại sử dụng đất đai được đưa ra để lựa chọn (FAO, 1976) [35]
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology), đất đai được coi là vật mang (Carrier) của hệ sinh thái (Eco-System) Trong đánh giá
phân hạng đất đai được định nghĩa như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa
lý là một diện tích bề mặt trái đất với những thuộc tính ổn định hoặc thay đổi
có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong
và bên dưới nó như là: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật
và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai” (Brinkman R and
Smyth A J Land, 1973) [33]
Hiện nay công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia
và trở thành một khâu quan trọng trong việc quản lý tài nguyên đất và quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1994) Đánh giá đất đai là nội dung nghiên cứu không thể thiếu cho hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững [40]
2.1.2 Một số nghiên cứu trên thế giới về đánh giá đất đai
Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Xuất phát từ những nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) được nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm Do vậy đã trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và người sử dụng (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995) [24]
Trang 16Mấy chục năm gần đây đánh giá đất đai đã được nhiều nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới quan tâm, tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra những
cơ sở khoa học cho công tác ĐGĐĐ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác ĐGĐĐ trong việc quản lý, sử dụng, cải tạo và bảo vệ được nguồn tài nguyên đất, từ những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu nhằm xây dựng một phương pháp ĐGĐĐ chung, có tính khoa học cao, đồng thời khắc phục được tình trạng chưa thống nhất trên thế giới về công tác đánh giá đất đai Năm
1972, đề cương ĐGĐĐ đã được phác thảo và được công bố vào năm 1973 Sau đó, năm 1975 tại Hội nghị ở Rome đề cương ĐGĐĐ năm 1973 đã được các chuyên gia hàng đầu về ĐGĐĐ bổ sung, biên soạn lại và hình thành nội dung phương pháp ĐGĐĐ đầu tiên của FAO được công bố năm 1976 và sau
đó liên tục được bổ sung, chỉnh sửa và từng bước hoàn thiện
Nhìn chung công tác ĐGĐĐ trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng ngoài thực tế sản xuất nông, lâm nghiệp Hiện nay, những kết quả và thành tựu về ĐGĐĐ đã được tổng kết trong phạm vi hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc và coi
đó như tài sản trí thức chung của nhân loại Có thể khái quát một số phương pháp ĐGĐĐ của một số nước trên thế giới như sau:
2.1.2.1 Tình hình đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ):
Ở Liên Xô cũ việc phân hạng và đánh giá đất đai đã bắt đầu xuất hiện từ trước thế kỷ 19, tuy nhiên đến những năm 60 của thế kỷ 20, việc phân hạng
và đánh giá đất đai mới được quan tâm và triển khai trên cả nước theo quan điểm đánh giá đất đai của Docuchaev (1846 - 1903) Quy trình đánh giá đất đai này bao gồm: đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng, khả năng sản xuất của đất đai
và kinh tế sử dụng đất Phương pháp ĐGĐĐ của Liên Xô (cũ) được ứng dụng theo 2 hướng là đánh giá chung và riêng Đơn vị ĐGĐĐ là các chủng, loại
Trang 17đất Quy định đánh giá đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ thâm canh và cỏ chăn thả [19]
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp
- Nhóm đất thích hợp được phân chia theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tự nhiên trên phạm vi vùng rộng lớn
- Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hình thổ nhưỡng như: điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới và chế
độ nước Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất
Quy trình ĐGĐĐ này bao gồm 3 bước: đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng, khả năng sản xuất của đất đai và kinh tế sử dụng đất
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất (yếu tố được xem xét kết hợp với yếu tố khí hậu, độ ẩm, địa hình)
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu là đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất)
Phương pháp này quan tâm nhiều đến khía cạnh tự nhiên của đất đai, chưa xem xét kỹ các khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất
Quan điểm ĐGĐĐ của Dokuchaev là áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố, đánh giá trên cơ sở thang điểm đã được xây dựng thống nhất Ngoài những ưu điểm trên, phương pháp ĐGĐĐ của Dokuchaev vẫn còn một
số hạn chế như: quá đề cao khả năng tự nhiên của đất, hay đánh giá không dung hòa quy luật tối thiểu với phương pháp tổng hợp các yếu tố riêng biệt Mặt khác, phương pháp cho điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất hiện tại mà không đánh giá được trong tương lai, tính linh động kém vì chỉ tiêu ĐGĐĐ ở
Trang 18các vùng cây trồng khác nhau là khác nhau, do đó không thể chuyển đổi việc ĐGĐĐ giữa các vùng khác nhau (Nguyễn Văn Thân, 1995) [20]
2.1.2.2 Tình hình đánh giá đất đai ở Bungari:
Bungari tiến hành đánh giá đất đai theo từng loại cây trồng (lúa mỳ, khoai tây…) Đối với mỗi loại cây trồng, các tính chất có ảnh hưởng đến
năng suất cây trồng được xác định (thành phần cơ giới đất, mức độ mùn và
độ dày tầng mùn, độ dày tầng đất, tính chất lý, hoá học của đất…), trên cơ sở
đó xác định các yêu cầu thích hợp cho từng loại cây trồng thông qua các thang điểm đánh giá (tối đa là 100 điểm) thuộc 5 nhóm: rất tốt; tốt; trung bình; xấu và không sử dụng được
2.1.2.3 Tình hình đánh giá đất đai ở Anh:
Ở Anh có 2 phương pháp đánh giá đất đai là: dựa vào sức sản xuất thực
tế của đất đai và dựa vào sức sản xuất tiềm tàng của đất
+ Đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất: cơ sở của phương pháp này là dựa vào năng suất bình quân nhiều năm so với năng suất thực tế trên đất được lấy làm chuẩn Việc xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của đất phụ thuộc vào 3 nhóm yếu tố chính đó là: nhóm các yếu tố tự nhiên của đất; nhóm các yếu tố đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục được; nhóm các yếu tố đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường như cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng để khắc phục đất
+ Đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm năng của đất: phương pháp này chia đất thành các hạng, mỗi hạng được mô tả trong quan hệ và tác động giữa các yếu tố hạn chế của đất với sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp
Trang 192.1.2.4 Tình hình đánh giá đất đai ở Mỹ:
Ở Mỹ, ngay từ đầu thế kỷ XX đã chú ý tới công tác phân hạng đất, nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất Bộ Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng được
một phương pháp đánh giá phân hạng đất đai có tên là “Đánh giá tiềm năng đất
đai” Đánh giá tiềm năng đất đai dựa trên các yếu tố hạn chế khá phổ biến như:
độ dốc, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, xói mòn, tính thấm, khí hậu và các yếu tố khác để phân chia đất đai thành các cấp, cấp phụ và đơn vị
Ở Mỹ sử dụng hai phương pháp đánh giá đất đai:
+ Phương pháp đánh giá đất đai tổng hợp: phương pháp này chia lãnh
thổ thành các tổ hợp đất (đơn vị đất đai) và tiến hành đánh giá đất theo năng suất bình quân của cây trồng trong nhiều năm (thường lớn hơn 10 năm) và chú ý đánh giá đất cho từng loại cây trồng (thường chọn lúa mỳ là đối tượng
chính), qua đó xác định mối tương quan giữa đất và các giống lúa mỳ và đề ra
các biện pháp tăng năng suất
+ Phương pháp đánh giá đất đai từng yếu tố: cách tiến hành là thống kê
các yếu tố tự nhiên của đất (thành phần cơ giới, dinh dưỡng, địa hình…) để
xác định tính chất và phương pháp cải tạo đất, qua đó xác định hạng đất đồng thời cũng thống kê các yếu tố kinh tế chi phối tới sản xuất (chi phí sản xuất, tổng lợi nhuận, lợi nhuận thuần tuý…) lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc so sánh lợi nhuận ở các loại đất khác nhau
Chính vì vậy, việc phân hạng đất đai của Hoa Kỳ mới chỉ tập trung vào các loại cây trồng chính mà chưa đưa ra được những yêu cầu của các loại hình sử dụng đất cụ thể nào đang được ứng dụng trong sản xuất Tuy nhiên phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế trong quản lý và sử dụng đất có tính đến vấn đề môi trường Đây chính là điểm mạnh của phương pháp nhằm mục đích duy trì và sử dụng đất bền vững
Trang 20Hệ thống phân loại đánh giá đất đai theo tiềm năng đất đai của Hoa Kỳ đã được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đề xuất vào những năm 1961 Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá đất đai được trình bày ở Bảng 1.1
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn phân loại đánh giá đất đai của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
Loại sử dụng đất Thích hợp đối với trồng
trọt
Không thích hợp cho trồng trọt
+ + + + +
+ + + + +
+ + + + +
+ + + +
+ + + +
+ +
(Nguồn: Klingebiel & Mongomery, 1961.)
Cơ sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất dựa vào các yếu tố hạn chế trong
sử dụng đất, chúng được phân ra thành hai nhóm sau:
- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ dàng thay đổi và cải tạo được như: độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp cải tạo trong quản lý đất đai như: độ phì, thành phần dinh dưỡng và những trở ngại về tưới, tiêu
Đánh giá phân loại về mức độ khả năng sử dụng đất đai chủ yếu được xác định dựa trên cơ sở những yếu tố hạn chế vĩnh viễn Nguyên tắc chung của phương pháp là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong đất Đánh giá
Trang 21khả năng sử dụng đất đã chia đất đai trong lãnh thổ Hoa Kỳ ra thành 8 nhóm khác nhau, trong đó:
- Bốn nhóm đầu (từ I đến IV) là thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
- Bốn nhóm sau (từ V đến VIII) là những nhóm không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác
2.1.2.5 Tình hình đánh giá đất đai ở Ấn Độ và một số nước nhiệt đới ẩm châu Phi:
Ấn Độ và một số nước nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một số tính chất đất đối với sức sản xuất Các tác giả đi sâu phân tích về các đặc trưng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến sức sản xuất của đất Các mối quan hệ trong đánh giá đất được thể hiện bằng phương trình toán học Kết quả phân hạng đánh giá đất thể hiện ở dạng cho điểm, hoặc phần trăm (%) điểm (dẫn theo Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
* Nhận xét về đánh giá đất đai ở một số nước trên thế giới
ĐGĐĐ làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và bền vững Mỗi phương pháp ĐGĐĐ ở nước ngoài đều có sự khác nhau về mức độ chi tiết, phương thức và hệ thống phân vị Tuy nhiên các phương pháp ĐGĐĐ của các nước đều có những điểm giống nhau như sau:
- Đều nhằm mục đích chung là hướng tới quản lý và sử dụng đất đai hợp
lý, hiệu quả và lâu bền
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép ĐGĐĐ từ khái quát đến chi tiết, trên quy mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất [2]
- Mỗi phương pháp đánh giá đều có những thích ứng linh hoạt trong việc xác định các đặc tính và các yếu tố hạn chế có liên quan trong quá trình ĐGĐĐ Do đó có thể điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương [8]
Trang 22- Đối tượng ĐGĐĐ là toàn bộ quỹ đất với các mục đích sử dụng khác nhau Các phương pháp đánh giá đều coi đất đai là một vật thể tự nhiên gồm các yếu tố: thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu và động, thực vật
Việc nhấn mạnh những yếu tố bất lợi của đất và xác định các biện pháp bảo vệ đất theo phương pháp đánh giá đất của Hoa Kỳ là rất có ý nghĩa trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng đất bền vững
2.1.3 Phương pháp đánh giá đất theo chỉ dẫn của FAO
Theo FAO, đánh giá đất đai (Land Evaluation) là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạn vật, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có Khi tiến hành đánh giá đất đai cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tuỳ thuộc vào yêu cầu, điều kiện của vùng, khu vực nghiên cứu để lựa chọn mức
độ đánh giá đất đai sơ lược, bán chi tiết hoặc chi tiết
Trước tình hình suy thoái đất diễn ra mạnh mẽ và ngày một tăng, tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp Quốc (FAO) đã có quá trình thử nghiệm ĐGĐĐ tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới và đã thu được kết quả nhất định Từ những năm 70, nhiều quốc gia trên thế giới đã cố gắng phát triển hệ thống ĐGĐĐ của họ nhằm có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất trên phạm vi toàn cầu Kết quả là Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO được thành lập tại Rome (Ý) đã phác thảo về đánh giá đất đai lần đầu tiên vào năm 1972
Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá và phân hạng đất, tổ chức FAO với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp kinh
nghiệm ở nhiều nước để xây dựng lên bản “Đề cương đánh giá đất đai”
(FAO 1976) [35]
Qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đất đã nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa
Trang 23các phương pháp Nhận thức rõ vai trò quan trọng của ĐGĐĐ làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, FAO đã tổng hợp các kết quả và tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước, đề ra phương pháp ĐGĐĐ dựa trên cơ sở
Phân loại Thích hợp Đất đai (Land Suitability Classification) Cơ sở của
phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu Đó chính là đề cương đánh giá đất đai được công bố năm 1976 [35]
Tài liệu này được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và đã được chấp nhận và công nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai Tiếp theo đó, FAO đã xuất bản hàng loạt các tài liệu hướng dẫn về ĐGĐĐ trên từng đối tượng cụ thể:
- ĐGĐĐ cho nông nghiệp nhờ nước trời (FAO - 1983) [36]
- ĐGĐĐ cho vùng nông nghiệp được tưới (FAO - 1985) [37]
Trang 24các mức sơ lược, bán chi tiết và chi tiết
2.1.3.1 Mục đích của đánh giá đất đai theo FAO
Đánh giá đất đai nhằm tăng cường nhận thức và hiểu biết về phương pháp ĐGĐĐ trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên Thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hóa, sử dụng đất được lâu bền (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
2.1.3.2 Yêu cầu đạt được trong đánh giá đất đai theo FAO
+ Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội của khu vực nghiên cứu
+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục tiêu và nhu cầu của con người
+ Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch là toàn quốc, tỉnh, huyện hay cơ sở sản xuất
+ Mức độ thực hiện đánh giá đất đai phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ
(Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
2.1.3.3 Nguyên tắc đánh giá đất đai theo FAO
+ Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại
sử dụng đất cụ thể
+ Việc đánh giá khả năng thích hợp đất đai yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận với đầu tư cần thiết trên các loại đất khác
+ Yêu cầu có một quan điểm tổng hợp, có sự phối hợp và tham gia đầy
đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế - xã hội học
+ Việc ĐGĐĐ phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng
+ Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở sử dụng đất
Trang 25Cấu trúc phân loại khả năng thích hợp đất đai theo FAO dùng 4 cấp
phân vị trong ĐGĐĐ, gồm: Bộ (Order), Lớp (Class), Lớp phụ (Subclass) và Đơn vị (Unit) thể hiện trong bảng cấu trúc (sơ đồ 2.1)
* Bộ thích hợp - gồm 3 lớp thích hợp
S1- Thích hợp cao (Highly Suitable): đặc tính đất đai không thể hiện
những yếu tố hạn chế hoặc chỉ thể hiện ở mức độ nhẹ, rất dễ khắc phục và không ảnh hưởng đến năng suất của các loại sử dụng đất Sản xuất trên các hạng đất này dễ dàng, thuận lợi và cho năng suất cao
S2- Thích hợp trung bình (Moderately Suitable): đặc tính đất đai có thể
hiện một số yếu tố hạn chế ở mức độ trung bình, có thể khắc phục được bằng các biện pháp kỹ thuật hoặc tăng mức đầu tư Sản xuất trên các hạng đất này khó khăn hơn hoặc đầu tư tốn kém hơn S1 nhưng vẫn có thể cho năng suất khá
S3- Ít thích hợp (Marginally Suitable): đặc tính đất đai đã thể hiện nhiều
yếu tố hạn chế hoặc một yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục Sản xuất trên các hạng đất này khó khăn hơn hoặc đầu tư tốn kém hơn S2 nhưng vẫn có thể cho năng suất và có lãi
* Bộ không thích hợp - gồm 2 lớp
N1- Không thích hợp hiện tại (Currently not Suitable): đặc tính đất
Trang 26đai không thích hợp với các loại sử dụng đất hiện tại vì có yếu tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiên yếu tố hạn chế đó có thể khắc phục được bằng các biện pháp cải tạo đất đồng bộ, đầu tư lớn trong tương lai để nâng lên hạng thích hợp
N2- Không thích hợp vĩnh viễn (Permanently not Suitable): đặc tính đất
đai thể hiện nhiều yếu tố hạn chế nghiêm trọng, hiện tại không thể khắc phục được và cũng không nên đưa vào sử dụng trong tương lai vì không có hiệu quả (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
2.1.3.5 Các phương pháp thực hiện quy trình đánh giá đất đai theo FAO
Sự liên hệ giữa những khảo sát tài nguyên và phân tích kinh tế - xã hội cũng như đối chiếu với cách thức mà các loại hình sử dụng đất được xây dựng có thể tiến hành theo phương pháp 2 bước (Two Stages) hoặc phương pháp song hành (Paralell)
- Phương pháp 2 bước: bao gồm bước thứ nhất chủ yếu là đánh giá
điều kiện tự nhiên, sau đó là bước thứ 2 bao gồm những phân tích về kinh tế - xã hội
- Phương pháp song hành: trong phương pháp này, sự phân tích mối
liên hệ giữa đất đai và loại hình sử dụng đất được tiến hành đồng thời với phân tích kinh tế - xã hội
Phương pháp hai bước thường được dùng trong các cuộc thống kê tài nguyên cho mục tiêu quy hoạch rộng lớn và các nghiên cứu để đánh giá tiềm năng sản xuất sinh học Phân hạng thích hợp đất đai ở bước đầu tiên được dựa vào khả năng thích hợp của đất đai đối với các loại hình sử dụng đất đã được chọn ngay từ đầu cuộc khảo sát Sự đóng góp của phân tích kinh tế - xã hội ở bước này chỉ nhằm kiểm tra sự thích ứng của các loại hình sử dụng đất Sau khi giai đoạn một đã hoàn tất, kết quả sẽ được trình bày dưới dạng bản
đồ và báo cáo Những kết quả này có thể sau đó tùy thuộc vào bước thứ hai
Trang 278 Quy hoạch
sử dụng đất 4
Xác định Đơn vị đất đai
liệu
3 Xác định loại hình sử dụng đất Đánh giá 5
khả năng thích hợp
6 Xác định hiện trạng KT-XH
và môi trường
7 Xác định loại hình
sử dụng đất thích hợp nhất
9
áp dụng của việc đánh giá đất
(bước phân tích chi tiết các hiệu quả kinh tế - xã hội)
Trong phương pháp song hành việc phân tích kinh tế - xã hội các loại hình sử dụng đất được tiến hành song song với khảo sát và đánh giá các yếu tố tự nhiên, các yêu cầu về số liệu và cách phân tích thay đổi khác nhau theo từng kiểu sử dụng Phương pháp song hành thích hợp cho các đề xuất rõ ràng trong các dự án phát triển ở mức độ chi tiết và bán chi tiết, đòi hỏi thời gian ngắn hơn so với phương pháp hai bước và thích hợp với quy hoạch sử dụng đất đai
2.1.3.6 Quy trình của đánh giá đất đai theo FAO
+ Xác định các loại hình sử dụng đất
+ Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
+ Xây dựng hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai
+ Phân hạng thích hợp đất đai
Về nội dung phương pháp đánh giá đất đai của FAO biên soạn gắn liền ĐGĐĐ và quy hoạch sử dụng đất, coi ĐGĐĐ là một phần của quá trình quy hoạch
sử dụng đất Tiến trình ĐGĐĐ và quy hoạch sử dụng đất gồm các bước sau:
Sơ đồ 2.1 Quy trình đánh giá đất đai của FAO
Trang 28Bước 1: Xác định mục tiêu của việc ĐGĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của các cấp hành chính
Bước 2: Thu thập các tài liệu của vùng nghiên cứu nhằm hiểu rõ các đặc
thù về tài nguyên thiên nhiên cũng như kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu Đồng thời kế thừa và tham khảo các tài liệu sẵn có phục vụ công tác ĐGĐĐ
Bước 3: Xác định loại hình sử dụng đất Lựa chọn và mô tả các loại hình
sử dụng đất phù hợp với chính sách, mục tiêu phát triển, các điều kiện sinh thái về tự nhiên, điều kiện chung về kinh tế - xã hội, tập quán đất đai của khu vực nghiên cứu (đặc biệt là các hạn chế sử dụng đất) Xác định yêu cầu của mỗi loại hình sử dụng đất đã lựa chọn
Bước 4: Xác định các đơn vị đất đai dựa vào các yếu tố tác động và
các chỉ tiêu phân cấp
Bước 5: Đánh giá khả năng thích hợp đất đai thông qua việc so sánh, đối
chiếu giữa các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất đã lựa chọn với các đặc tính đất đai của vùng nghiên cứu, qua đó phân loại khả năng thích hợp của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại sử dụng đất, gồm có:
- Khả năng thích hợp trong điều kiện hiện tại
- Khả năng thích hợp trong điều kiện đất đai sẽ được cải tạo
Bước 6: Phân tích những tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội và môi
trường tới tính thích hợp của các loại hình sử dụng đất đai được đánh giá
Bước 7: Dựa trên phân tích tính thích hợp của các loại hình sử dụng đất
trên từng đơn vị đất đai, xác định và đề xuất loại hình sử dụng đất thích hợp nhất trong hiện tại và tương lai
Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất Trên cơ sở đánh giá tính thích hợp của cây trồng, các mục tiêu phát triển để bố trí sử dụng đất thích hợp
Bước 9: Áp dụng kết quả đánh giá đất đai vào thực tế sản xuất
Đề cương hướng dẫn của FAO khái quát toàn bộ những nội dung, các bước tiến hành, những gợi ý và các ví dụ nêu ra để minh họa, tham khảo
Trang 29Trên cơ sở đó, tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng, từng quốc gia mà vận dụng cho thích hợp (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
Trong nghiên cứu này, chỉ đề cập chi tiết việc xác định các đơn vị đất đai và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (từ bước 1 đến bước 4)
* Ưu điểm của phương pháp ĐGĐĐ theo FAO
- Phương pháp ĐGĐĐ theo FAO là sự kết hợp hài hòa giữa hai trường phái đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và đánh giá đất của Mỹ Phương pháp ĐGĐĐ theo FAO khắc phục được những nhược điểm chủ quan trong ĐGĐĐ, vì nó đưa ra các chỉ dẫn thích hợp về đất đai cho từng loại hình sử dụng đất cụ thể
- ĐGĐ theo FAO nhấn mạnh các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất, có tính đến các vấn đề môi trường và đánh giá chi tiết đối với từng loại hình sử dụng đất Phương pháp ĐGĐ theo FAO đánh giá được các yếu tố rõ ràng hơn, kết quả thu được khách quan hơn và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường sinh thái trên những vùng đất dễ bị suy thoái [8]
- ĐGĐ theo FAO ngoài việc đề cập đến các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên đối với đất đai, còn đề cập tới các chỉ tiêu kinh tế xã hội có liên quan tới khả năng sử dụng đất Đặc biệt ĐGĐ theo FAO rất coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai, nhằm tập trung giải quyết cho mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trên phạm vi toàn thế giới
Tóm lại, phương pháp đánh giá đất theo FAO là sự so sánh giữa yêu cầu
sử dụng đất với chất lượng của đất, gắn với việc phân tích các khía cạnh kinh
tế - xã hội và môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất
2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất đai theo FAO
2.2.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai
Bản đồ đơn vị đất đai (Land Unit Map) được định nghĩa là một vạt hay một
Trang 30Chồng ghép, xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Thống kê, mô tả các ĐVĐĐ
Xây dựng các bản đồ đơn tính
Xác định và phân cấp chỉ tiêu các yếu tố
khoanh đất được xác định cụ thể, được thể hiện trên bản đồ, có những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng đủ để tạo nên một sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác nhằm đảm bảo sự thích hợp của chúng với các loại sử dụng đất khác nhau
Các đơn vị bản đồ đất đai được xác định cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính đồng nhất tối đa, các chỉ tiêu phân cấp phải được xác định rõ
- Có ý nghĩa thực tiễn trong đánh giá thích hợp cho các loại hình sử dụng đất được lựa chọn
- Các đơn vị bản đồ đất đai phải thể hiện được trên bản đồ
- Các đơn vị bản đồ đất đai phải được xác định một cách đơn giản dựa trên các đặc điểm của nó
- Các đặc tính và tính chất của các đơn vị bản đồ đất đai phải là các đặc tính, tính chất khá ổn định
2.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (ĐVĐĐ) gồm 4 bước:
Trang 31Bước 1: Xác định và phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
+ Lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Xác định các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ ĐVĐĐ có ý nghĩa đảm bảo tính chính xác của bản đồ ĐVĐĐ và phản ánh đúng điều kiện đất đai đối với nhu cầu của các loại hình sử dụng đất Cơ sở lựa chọn chỉ tiêu xây dựng bản
đồ ĐVĐĐ phụ thuộc vào phạm vi chương trình ĐGĐĐ như: phạm vi vùng lãnh thổ, tỉnh, huyện và phụ thuộc vào mối quan hệ giữa yêu cầu đánh giá đất (chi tiết, bán chi tiết, tổng thể ) với tỷ lệ bản đồ cần thể hiện Ví dụ: để ĐGĐĐ cho một vùng với mức độ chi tiết trên bản đồ 1:25.000 thì các yếu tố cần thiết cho việc xây dựng bản đồ ĐVĐĐ gồm: đất, độ dốc, địa hình tương đối, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu ở các tỷ lệ bản đồ 1/5.000 hay lớn hơn thì ngoài các yếu tố xây dựng bản đồ ĐVĐĐ kể trên còn
có thêm các yếu tố thể hiện mức độ chi tiết hơn của quá trình ĐGĐĐ như: Độ dày tầng canh tác, điều kiện sản xuất, chế độ mặn, phèn
+ Phân cấp chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Dựa vào yêu cầu, mục đích của chương trình đánh giá đất, kết hợp với các nguồn tài liệu sẵn có hoặc bổ sung thêm để lựa chọn được chỉ tiêu phân cấp phù hợp với mục đích, yêu cầu sử dụng đất và mức độ thích hợp đất đai Bước 2: Xây dựng các bản đồ đơn tính
Bản đồ đơn tính là bản đồ chỉ thể hiện duy nhất một yếu tố đơn lẻ, mỗi yếu tố đó là một chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ đã được lựa chọn (loại đất,
độ dày tầng đất, địa hình, độ dốc, lượng mưa, điều kiện tưới, tiêu ) Trong xây dựng bản đồ ĐVĐĐ, ở các mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau, chủ đề thể hiện của các bản đồ đơn tính cũng khác nhau
Bước 3: Xây dựng bản đồ ĐVĐĐ
Các bản đồ đơn tính được biên soạn trên cùng một phép chiếu
(Projection), được chồng ghép để tạo thành bản đồ ĐVĐĐ Kỹ thuật GIS là
Trang 32một công cụ đắc lực trong việc xây dựng bản đồ ĐVĐĐ GIS thực hiện phép chồng ghép nhanh chóng, có độ chính xác cao đồng thời hỗ trợ nhiều phép xử
lý, phân tích không gian (Spatial Analysis) phức tạp nhưng lại rất thuận tiện
Phần mềm GIS quản lý các ĐVĐĐ đã tạo bằng các đơn vị không gian
(Polygons trong kỹ thuật Vector và Grid Cells trong kỹ thuật Raster) và mô tả chúng bằng các trường dữ liệu thuộc tính (Attribute Data Fields)
Bước 4: Mô tả bản đồ ĐVĐĐ
Theo “Sổ tay điều tra, phân loại đánh giá đất” của các tác giả Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt, Nguyễn Khang và Nguyễn Văn Tân (1999) [10], các ĐVĐĐ được mô tả theo các chỉ tiêu thể hiện các đặc điểm (đặc tính, tính chất) của đơn vị đất đai đó Nội dung và mức độ chi tiết mô tả các ĐVĐĐ tùy thuộc vào các chỉ tiêu lựa chọn và phân cấp của mỗi loại ĐVĐĐ
Trong mô tả bản đồ ĐVĐĐ, phải chỉ rõ được:
+ Số ĐVĐĐ, diện tích từng đơn vị
+ Số khoanh, diện tích, mức độ phân tán của từng ĐVĐĐ
+ Mô tả các đặc điểm (đặc tính, tính chất) của từng ĐVĐĐ (Đặc điểm khí hậu, địa hình, sử dụng đất và đặc điểm đất)
Xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là bước đầu tiên, không thể thiếu trong quy trình đánh giá đất đai theo FAO Bản đồ ĐVĐĐ là cơ sở, xuất phát điểm cho toàn bộ quá trình đánh giá đất đai
2.3 Tình hình nghiên cứu phân hạng đất ở Việt Nam
Từ xa xưa, trong quá trình sản xuất người dân đã đánh giá đất đai với
cách thức hết sức đơn giản như đất “tốt”, đất “xấu” Dưới thời phong kiến,
đất được đánh giá theo kinh nghiệm để quản lý, đánh thuế, mua bán Đến thời phong kiến thực dân đã có một số công trình nghiên cứu về đất do một
số nhà khoa học người Pháp chủ trì với ý đồ lập đồn điền, trang trại
Trang 33Sau năm 1954, ở miền Bắc, Vụ Quản lý Ruộng đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã nghiên cứu, phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp (áp dụng phương pháp ĐGĐĐ của Dokuchaev) Các chỉ tiêu chính để phân hạng là tính chất và điều kiện sinh thái của vùng sản
xuất nông nghiệp Kết quả đã phân chia đất thành 4 đến 7 hạng (Theo yêu cầu sử
dụng đất) bằng cách phân hạng đất theo giá trị tương đối của đất
Từ sau năm 1975, việc đánh giá tài nguyên đất đai trở thành yêu cầu bức thiết của các nhà khoa học đất và quản lý đất đai Bản đồ đất toàn quốc tỷ lệ 1:1.000.000 đã được xây dựng cùng với một hệ thống phân loại đất có thuyết minh chi tiết kèm theo Bên cạnh đó, nhiều công trình khoa học về nghiên cứu đơn vị đất đai cũng đã được công bố
2.3.1 Ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai theo FAO, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở Việt Nam
Năm 1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo “Phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất lúa nước được chia làm 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng là chính, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như: độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới [23]
Từ những năm 1990 trở lại đây, các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu, áp dụng phương pháp ĐGĐĐ của FAO vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của nước ta Các kết quả thu được từ những nghiên cứu này đã cho thấy tính khả thi cao của phương pháp ĐGĐĐ của FAO và khẳng định việc vận dụng phương pháp này như là một tiến bộ kỹ thuật cần được áp dụng rộng rãi vào Việt Nam Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu,
áp dụng phương pháp ĐGĐĐ của FAO để đánh giá tài nguyên đất đai ở các phạm vi khác nhau:
Trang 34Cấp quốc gia:
Theo công trình ĐGĐĐ toàn quốc ở tỷ lệ 1:500.000 của Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp (1993 - 1994), có 7 chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai được dựa vào, gồm: thổ nhưỡng (13 nhóm đất); tầng dày của đất (3 cấp); độ dốc (3 cấp); lượng mưa năm (3 cấp); thuỷ văn nước mặt (trong đó có 4 cấp chế độ ngập và 4 cấp xâm nhập mặn); tưới tiêu (2 cấp); tổng tích ôn (3 cấp) Các tác giả xây dựng bản đồ đất đai riêng cho từng vùng sinh thái ở tỷ lệ 1:250.000, sau đó tổng hợp lên cấp miền và cấp toàn quốc ở tỷ lệ 1:500.000 Kết quả đã xác định được 270 ĐVĐĐ ở miền Bắc và 196 ĐVĐĐ ở miền Nam, nhưng khi tổ hợp lên cấp toàn quốc thì chỉ còn 373 ĐVĐĐ do tính đồng nhất của một số yếu tố tự nhiên như lượng mưa, chế độ thủy văn, độ dốc (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [19]
Cấp vùng lãnh thổ:
Chương trình đánh giá và đề xuất sử dụng đất đai vùng Tây Bắc đã xây dựng được 230 ĐVĐĐ Các tác giả thống kê được 157 ĐVĐĐ trên đất trống đồi trọc chưa sử dụng với diện tích 3.246.395 ha ĐVĐĐ có diện tích nhỏ nhất là 164 ha, lớn nhất là 264.068 ha Các ĐVĐĐ cũng được thống kê theo cấp độ dốc và tầng dày của đất (Lê Thái Bạt, 1995) [1]
Theo Phạm Dương Ưng, Nguyễn Khang, Đỗ Đình Đài [12] vùng Tây Nguyên có 195 ĐVĐĐ, trong đó những đơn vị có tiềm năng NN lớn gồm 45 ĐVĐĐ thuộc nhóm đất đỏ bazan, 32 ĐVĐĐ thuộc nhóm đất bồi tụ và đất đen vùng đồng bằng và thung lũng, 35 ĐVĐĐ có độ dốc từ 0 - 15O, tầng dầy trên
100 cm Bản đồ ĐVĐĐ vùng Tây Nguyên tỷ lệ 1:250.000 được xây dựng từ 7 chỉ tiêu, gồm: đất và địa chất, địa mạo, độ dốc, độ dày tầng đất, khả năng tưới tiêu, lượng mưa trung bình năm, tổng nhiệt độ (Lê Quang Vịnh, 1998) [28]
Trang 35Cấp tỉnh:
Vũ Cao Thái và tập thể các nhà khoa học đất đã ĐGĐĐ và quy hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai (1996) [18], xây dựng bản đồ ĐVĐĐ ở tỷ lệ 1:50.000 gồm 66 đơn vị bản đồ đất đai dựa trên 6 chỉ tiêu (loại hình thổ nhưỡng, khả năng tưới, độ dày tầng đất hữu hiệu, độ dốc, xâm nhập mặn, lượng mưa) Các tác giả đã mô tả chi tiết đặc tính của các ĐVĐĐ theo 15 nhóm đất và thống
kê diện tích của chúng theo các đơn vị hành chính
Nguyễn Đình Bồng (1995) [2] đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho đất trồng đồi núi trọc ở Tuyên Quang ở tỷ lệ 1:50.000 Kết quả đánh giá đã xác định và đề xuất 153.172 ha đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai đối với đất trống, đồi núi trọc của tỉnh được phân thành 125 ĐVĐĐ trên cơ sở xác định 5 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là: tổ hợp đất, địa hình, độ dốc, độ dày tầng đất, tổng lượng mưa và tổng nhiệt độ/năm Trong 125 ĐVĐĐ được đưa
ra, thì có 70 đơn vị có nhiều hạn chế đối với sản xuất nông, lâm nghiệp về độ dốc và tầng dày, còn lại 55 đơn vị là ít bị hạn chế Việc khai thác diện tích đất trống đồi núi trọc có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường
Cấp huyện:
Các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ ĐVĐĐ huyện Ô Môn - Cần Thơ
ở tỷ lệ 1:25.000 được Đặng Kim Sơn và nhóm tác giả (1995) [17] xác định gồm: độ sâu tầng phèn (4 cấp), độ dày tầng mùn (2 cấp), độ sâu ngập nước lũ (3 cấp), thời gian ngập lụt (5 cấp), thời gian kênh nước nhiễm chua (2 cấp) Bản đồ ĐVĐĐ huyện Gia Lâm tỷ lệ 1:25.000 của Vũ Thị Bình (1995) [3]
có 20 ĐVĐĐ với gần 200 khoanh đất được xác định với 6 chỉ tiêu phân cấp gồm: loại đất (G), thành phần cơ giới (T), điều kiện tưới (I), điều kiện tiêu (F), ngập úng (L), độ phì (P) (Lê Quang Vịnh, 1998) [28]
Trang 36Theo nghiên cứu của Đoàn Công Quỳ, 2000) [16], tổng diện tích đất điều tra của huyện Đại Từ - Thái Nguyên là 48.801,20 ha bao gồm 680 khoanh và
52 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 8 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bao gồm: nhóm đất, thành phần cơ giới, địa hình tương đối, độ dốc, độ cao, độ dày tầng đất, chế độ tưới tiêu
Đỗ Nguyên Hải, 2000 [8] đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Bắc Ninh” Nghiên cứu này đã xác định được 25 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định
6 chỉ tiêu phân cấp, đó là: loại đất, thành phần cơ giới, địa hình, độ phì, chế độ tưới và ngập úng
Từ năm 1998 đến 2008, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã tiến hành xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở tỷ lệ 1:10.000 hoặc 1:25.000 cho nhiều huyện thuộc các tiểu vùng khác trong chương trình ĐGĐĐ và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, đã xác định một số chỉ tiêu như sau: loại hình thổ nhưỡng;
độ dốc (đối với vùng đồi núi); địa hình tương đối; độ sâu xuất hiện tầng glây (đối với vùng đồng bằng); thành phần cơ giới; khả năng tưới, tiêu; độ phì nhiêu của đất, v.v [25], [26], [27]
Các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả tiến hành trên nhiều đối tượng
và phạm vi nghiên cứu khác nhau đã chứng tỏ việc xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng vùng Các vùng khác nhau có số lượng cũng như loại chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ cũng khác nhau Các chỉ tiêu được lựa chọn phản ánh đặc thù của vùng nghiên cứu đồng thời cũng phản ánh mức độ và phạm vi nghiên cứu
2.3.2 Xác định các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Việc lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là rất quan trọng, yêu cầu phản ánh được ở mức cao nhất các yếu tố liên quan đến chất lượng đất đai nhằm trả lời các đòi hỏi về yêu cầu của các loại hình sử dụng đất,
Trang 37Cơ sở lựa chọn các chỉ tiêu và phân cấp tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu
và phạm vi sử dụng của chương trình đánh giá đất đai, song phải đảm bảo được các nguyên tắc chung trong xác định các ĐVĐĐ mà FAO đã đề ra Theo chỉ dẫn của FAO, để đánh giá các đặc tính đất đai ở phạm vi vùng
có diện tích không lớn lắm và có các đặc điểm khí hậu tương đồng, có thể đi sâu lựa chọn các yếu tố thổ nhưỡng như: tính chất của đất (loại đất, các tính chất vật lý, hóa học của đất), các đặc tính về địa hình (độ dốc, dáng đất, địa hình tương đối, độ cao), các tính chất về nước (tình hình tưới, tiêu, úng ngập), tính chất phân bố của thực vật và động vật Các yếu tố trên có ý nghĩa ảnh hưởng quyết định đến sức sản xuất và khả năng sử dụng đất Trong đó có những yếu tố ảnh hưởng rất mạnh (yếu tố trội), và cũng có những yếu tố ảnh hưởng yếu (yếu tố thường) tới khả năng và hiệu quả sử dụng đất Nếu sử dụng được nhiều yếu tố để xác định các ĐVĐĐ thì kết quả thu được có độ chính xác cao hơn và sẽ có nhiều đơn vị bản đồ đất đai Tuy nhiên, cũng sẽ rất khó khăn trong việc đánh giá và phân hạng thích hợp, vì có quá nhiều đơn
vị bản đồ đất đai mặc dù sự sai khác về tính chất đất giữa chúng là không đáng kể và điều này không mang ý nghĩa lớn cho thực tiễn sử dụng đất
2.4 Tình hình nghiên cứu đất đai ở CHDCND Lào
Ở CHDCND Lào, việc nghiên cứu về đất cũng đã có từ lâu nhưng chỉ dừng lại ở những nghiên cứu đơn giản và nhằm vào các mục đích riêng rẽ, phục vụ cho từng ngành, từng cơ quan, chưa nghiên cứu một cách có hệ thống Những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về đất cho vùng sản xuất lúa nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết, các công trình nghiên cứu ở CHDCND Lào chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài đảm nhiệm
Những năm đầu thế kỷ XX một số ít về đất được tiến hành bởi một vài nhà nghiên cứư người Pháp (Henry, 1931; Gourou ,1940; Saurin, 1937 )
Trang 38Năm 1970, dưới sự giúp đỡ của ông Ceruse và các chuyên gia thuộc Uỷ ban sông Mêkông đã tiến hành điều tra vùng hạ lưu sông Mêkông (bao gồm Lào, Campuchia và Việt Nam) và xây dựng được bản đồ đất - địa mạo tỷ lệ 1:1.000.000
Năm 1983-1989, dưới sự giúp đỡ của các nhà khoa học đất Việt Nam thuộc Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp cùng với Bộ Nông - Lâm nghiệp Lào đã xây dựng bản đồ đất 1:25.000 cho vùng đồng bằng Vientiane
và huyện Nhommalat tỉnh Khammuon, huyện Viêngthông, huyện Khamkot tỉnh Bolikhamxay tỷ lệ 1:50.000
Năm 1987 - 1989, dưới sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô (cũ) đã điều tra và lập bản đồ cho huyện Khanthabouly (tỉnh Savannakhet), huyện Pakxong (tỉnh Champasack) tỷ lệ 1:50.000
Năm 1988-1989, dưới sự giúp đỡ của Uỷ ban sông Mêkông cùng với Bộ Nông - Lâm nghiệp Lào, đã tiến hành điều tra và lập bản đồ sinh thái cho 4 tỉnh phía Nam của Lào (Saravane, Champasack, Attapu và Sekong) tỷ lệ 1:250.000
Năm 1996, Trung tâm Điều tra và Phân loại Đất thuộc Bộ Nông Lâm nghiệp Lào đã tiến hành điều tra lập bản đồ cho tỉnh Bokeo theo hệ thống phân loại của FAO-UNESCO tỷ lệ 1:250.000 [30]
Năm 2000-2006, các nhà khoa học đất Việt Nam thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa cùng với Viện Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Quốc gia Lào đã tiến hành điều tra xây dựng bản đồ đất cho các huyện Sanxay (tỉnh Attapu); Vapi, Lakhonpheng, Tumlan, Taoy (tỉnh Saravane); Namtha, Sing (tỉnh Luang Namtha); Nambak (tỉnh Luang Prabang) tỷ lệ 1:25.000…; Quy hoạch sử dụng đất đai và xây dựng các loại bản đồ ở tỷ lệ 1:100.000 cho tỉnh Sayaboury [32]
Trang 39* Một số nghiên cứu về đất đai của huyện Ngeun trước đây:
Trong quá trình chỉ đạo sản xuất nông lâm nghiệp, huyện Ngeun chưa
có nhiều tài liệu nghiên cứu về đất Nguồn tài liệu về đất đã có của huyện là Bản đồ Thổ nhưỡng tỉnh Sayaboury tỷ lệ 1:100.000, do Viện Thổ nhưỡng Nông hóa Việt Nam xây dựng từ năm 2003 đến năm 2007 Theo tài liệu này, đất đai huyện Ngeun được chia thành 8 nhóm với 18 loại đất chính Nhìn chung, các tính chất vật lý và các đặc tính hình thái đều khá phù hợp với các yêu cầu của đất trồng trọt Tuy nhiên, từ trước đến nay, huyện Ngeun chưa có tài liều về ĐGĐĐ và các bản đồ đơn vị đất đai Chính vì vậy, thực hiện đề tài nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, làm cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý cho huyện là rất cần thiết để làm cơ sở cho việc đề xuất, bố trí
cơ cấu cây trồng, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, nhất là để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững và khai thác được tối
đa các nguồn tài nguyên và tiềm năng của đất đai
Trang 403 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài được thực hiện giới hạn trên các loại đất đang sản xuất nông nghiệp và các loại đất có tiềm năng khai thác, mở rộng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hàng năm của huyện với tổng diện tích được xác định thông qua bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 39.139 ha
- Địa điểm nghiên cứu: đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Ngeun, tỉnh Sayaboury, CHDCND Lào
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội Các bản đồ và các nghiên cứu từ trước đến nay về đất huyện Ngeun
- Nghiên cứu đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các loại hình sử dụng đất (LUT) phục vụ xác định các chỉ tiêu đưa vào xây dựng bản