Do đó, tác giả lựa chọn Đề tài “Nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong pháp luật hình sự” nhằm nghiên cứu, đánh giá mức độ tương thíc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HÒA
NỘI LUẬT HÓA CÁC NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HÒA
NỘI LUẬT HÓA CÁC NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN DŨNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hòa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA VÀ CÁC NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA 10
1.1 Nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế 10
1.1.1 Nghĩa vụ quốc tế và nghĩa vụ tuân thủ điều ước quốc tế 10
1.1.2 Nội luật hóa điều ước quốc tế 13
1.1.3 Bảo lưu điều ước quốc tế 15
1.2 Các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 16
1.2.1 Bối cảnh 16
1.2.2 Các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 18
Kết luận Chương 1 30
Chương 2: YÊU CẦU VỀ NỘI LUẬT HÓA TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ NỘI LUẬT HÓA NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ 31
2.1 Yêu cầu về nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế trong pháp luật Việt Nam 31
2.2.1 Bối cảnh và việc gia nhập Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Việt Nam 35
Trang 52.2.2 Thực tiễn công tác nội luật hóa quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong quá trình xây dựng, hoàn thiện
Luật hình sự của Việt Nam 38
2.2.3 Nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về hình sự hóa và các chính sách hình sự liên quan để bảo đảm xử lý các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 41
Kết luận Chương 2 61
Chương 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG THÍCH; QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NỘI LUẬT HÓA NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 62
3.1 Đánh giá tính tương thích của Luật hình sự của Việt Nam với các quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 62
3.1.1 Ưu điểm 62
3.1.2 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân 66
3.1.2.1 Hạn chế, bất cập 66
3.2 Quan điểm tiếp tục nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 72
3.2.1 Việc nội luật hóa phải bảo đảm phù hợp với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan 72
3.2.2 Việc nội luật hóa phải bảo đảm phù hợp và tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tạo điều kiện cho hợp tác quốc tế 75
3.2.3 Việc tiếp tục nội luật hóa phải phù hợp với thực tiễn 76
3.3 Các giải pháp tiếp tục nội luật hóa các quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về hình sự hóa và chính sách hình sự hỗ trợ việc xử lý các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 78
3.3.1 Về một số thuật ngữ pháp lý 78
Trang 63.3.2 Về hình sự hóa hành vi thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm
có tổ chức 80
3.3.3 Mở rộng phạm vi trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đối với các tội phạm nghiêm trọng khác theo yêu cầu của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 82
3.3.4 Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về tội phạm cụ thể để bảo đảm phù hợp với quy định của Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 83
3.4 Biện pháp bảo đảm nội luật hóa 87
Kết luận Chương 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Công ước UNTOC Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương Luật BHVBQPPL Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luật ĐƯQT Luật Điều ước quốc tế
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc UNODC Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của
Liên Hợp Quốc VKSND Viện Kiểm sát nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong những thập niên vừa qua, chính sách mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta đã đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam để phát triển đất nước về mọi mặt, kinh tế ngày càng tăng trưởng, xã hội phát triển, đời sống của Nhân dân được cải thiện, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Tuy nhiên, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, mở rộng giao thương, quan hệ với các nước trên thế giới đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia khi mà dòng người, tài sản dịch chuyển xuyên biên giới giữa các quốc gia ngày càng lớn khiến việc kiểm soát, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trở nên khó khăn hơn
Vì vậy, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên các lĩnh vực, để tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia, Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn đa phương, tổ chức liên chính phủ, các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia Việc tham gia các tổ chức, diễn đàn
đa phương, điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia đặt
ra các nghĩa vụ quốc tế cho Việt Nam trong việc áp dụng các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Trong phạm vi Luận văn này, tác giả tập trung vào nghĩa vụ quốc tế về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia phát sinh từ điều ước quốc tế
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp mà Đảng ta xác định là:
Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc
Trang 9tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp Chú trọng việc nội luật hoá những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội [4]
Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia; tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực
và các nước có quan hệ truyền thống Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế [5]
Nhận thức được tầm quan trọng của việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế đóng vai trò quan trọng, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã tích cực và chủ động tham gia các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm như: Công ước phòng, chống tham nhũng; các Công ước về phòng chống ma túy; các Công ước về phòng, chống khủng bố, Công ước Chống tra tấn… cũng như nhiều điều ước quốc tế khu vực, song phương liên quan đến phòng, chống tội phạm như Công ước ASEAN về Phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước ASEAN về Phòng, chống khủng bố; 40 Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm về tài trợ và chống khủng bố; Đặc biệt, ngày 29 tháng 12 năm 2011, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa sau đây viết tắt là C X CN Việt Nam đã ký quyết định phê chu n Công ước Phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia sau đây viết tắt là Công ước UNTOC) là khung khổ pháp lý toàn cầu về phòng, chống tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia; đồng thời phê chu n Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Việc phê chu n các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, Công ước UNTOC nói riêng, đặt ra yêu cầu cho Việt Nam cần phải tiến hành rà
Trang 10soát, đánh giá toàn bộ hệ thống pháp luật có liên quan, trong đó có Luật hình
sự để sửa đổi, bổ sung bảo đảm nội luật hóa các nghĩa vụ của quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi điều ước quốc tế Trong phạm vi của Luận văn, để bảo đảm hiệu quả, tập trung, tác giả lựa chọn các nghĩa vụ quốc
tế về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia theo Công ước UNTOC với các quy định liên quan trực tiếp đến Luật hình sự Việt Nam
Để thực hiện Công ước UNTOC, ngày 18/04/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 605/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Mục đích của Kế hoạch là xác định nội dung, lộ trình nội luật hóa các quy định của Công ước UNTOC, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Công ước phù hợp với các nguyên tắc của iến pháp, pháp luật và điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam Trong thời gian qua, pháp luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung, tạo cơ
sở pháp lý hiệu lực, hiệu quả cho đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nói riêng Tuy nhiên, qua thực tiễn phòng, chống tội phạm cho thấy còn có nhiều rào cản, thách thức cho hợp tác quốc tế có liên quan tới mức độ phù hợp của pháp luật hình sự với quy định của Công ước UNTOC; còn khoảng trống và sự chưa tương thích của pháp luật với quy định của Công ước gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm Điều này không chỉ không bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia một cách hiệu quả mà còn tạo ra những quan ngại của quốc tế về mức độ tuân thủ nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách thành viên Công ước, gây khó khăn cho việc hợp tác quốc tế Để giải quyết các vấn đề nêu trên, đòi hỏi cần nghiên cứu, đánh giá để đề xuất hướng tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả Công ước, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho công tác đấu tranh
Trang 11chống tội phạm xuyên quốc gia và thúc đ y hợp tác quốc tế
Do đó, tác giả lựa chọn Đề tài “Nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong pháp luật hình sự”
nhằm nghiên cứu, đánh giá mức độ tương thích của pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam với yêu cầu của Công ước UNTOC, tập trung vào vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hình sự như hình sự hóa và một số chính sách hình sự liên quan để bảo đảm xử lý hiệu quả tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia để từ đó thấy được những hạn chế, bất cập của pháp luật hình sự hiện hành và đề xuất giải pháp khắc phục
2 Tình hình nghiên cứu Đề tài
Nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nói riêng, là vấn đề phức tạp đã được nhiều nhà nghiên cứu, các luật gia quan tâm, đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình dưới nhiều góc độ khác nhau iện nay đã có một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, các bài đăng trên tạp chí, cổng thông tin điện tử ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, xu hướng chung của các nghiên cứu này là tập trung chủ yếu vấn đề nội luật hóa các điều ước quốc tế nói chung hoặc đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam về từng nhóm tội hoặc nhóm hành vi cụ thể với các yêu cầu của Công ước và pháp luật một số nước để kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự của Việt Nam, như
sách chuyên khảo của tác giả Nguyễn Thị Quế Thu “Điều ước quốc tế: lý luận
và thực tiễn áp dụng điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm tại Việt Nam” (NXB Công an nhân dân, năm 2017); bài viết “Kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam trong việc nội luật hóa quy định của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về tội phạm hóa hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công” của Ths Vũ Thị Thúy đăng tại tạp chí Khoa học pháp lý, số 06/2016; bài viết “Vấn đề hình sự hóa quy định của Công ước của
Trang 12Liên hợp quốc về chống tham nhũng ở Việt Nam” của Ts Nguyễn Văn ương đăng trên cổng thông tin của Trường Đại học kiểm sát à Nội; báo cáo “Hình
sự hóa hành vi tham nhũng: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam” của giáo sư Alain Doig, Ts Đào Lệ Thu và Ts oàng Xuân Châu
đăng trên trang web của Chương trình phát triển của Liên ợp quốc UNDP ;
“Báo cáo đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam với Công ước chống tội phạm xuyên quốc gia” năm 2004 của Bộ Tư pháp mặc dù đánh giá
toàn diện pháp luật Việt Nam trên cơ sở quy định của Công ước nhưng lại chưa đề cập đề trách nhiệm nội luật hóa nói chung, đồng thời báo cáo này được xây dựng từ năm 2004 và chưa được cập nhật theo pháp luật hiện hành;
Luận văn thạc sỹ “Tội phạm có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam” trên cơ
sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắc Lắc của tác giả Trương Công Bình có nội dung nghiên cứu cơ sở pháp lý quốc tế về vấn đề tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia để đề xuất, hoàn thiện pháp luật Việt Nam; “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tổ chức tội phạm, phạm tội có tổ chức” của TS Trần Quang iệp tại Tạp chí Kiểm sát số tháng 07/2003; Đề tài “Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2007 của Bộ Tư pháp tập trung vào nội dung nội luật hóa các điều ước quốc tế về thương mại; “Bàn về khái niệm nội luật hóa và cách thức nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm”
của tác giả Nguyễn Quyết Thắng và Bùi Trương Ngọc Quỳnh đăng trên tạp chí Khoa học Quốc tế AGU số ISSN 0866-8086, năm 2020 ;…
Các đề tài, công trình nghiên cứu, bài viết đã đề cập vấn đề nội luật hóa điều ước quốc tế nói chung hoặc các góc độ khác nhau về nghĩa vụ nội luật hóa các quy định của Công ước UNTOC và các văn kiện pháp lý có liên quan
về chính sách xử lý hình sự và phần lớn tập trung vào từng nhóm hành vi cụ thể, mà chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện cả về vấn đề nội
Trang 13luật hóa và các quy định của pháp luật hình sự nhằm bảo đảm thực thi Công ước UNTOC Bên cạnh đó, hầu hết các công trình nghiên cứu đều được thực hiện trước thời điểm BL S năm 2015 và BLTT S năm 2015 được sửa đổi,
bổ sung, do đó chưa có tính cập nhật với hệ thống pháp luật hiện hành Do đó, tác giả lựa chọn Đề tài “Nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong Luật hình sự của Việt Nam” nhằm tiếp tục đánh giá tính tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam, tập trung vào các quy định của BL S sau giai đoạn sửa đổi, bổ sung toàn diện năm 2015, trên cơ sở đó để thấy được những khoảng trống, thiếu hụt và đề xuất giải pháp hoàn thiện BL S nhằm bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tăng cường hợp tác quốc tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ các nghĩa vụ phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia với trọng tâm là các quy định của Công ước UNTOC về hình sự hóa và một số chính sách hình sự liên quan hỗ
để bảo đảm xử lý hiệu quả tội phạm có tổ chức xuyên quốc giá; phân tích, đánh giá tính tương thích của Luật hình sự hiện hành của Việt Nam, qua đó thấy được những hạn chế, bất cập của Luật hình sự và đề xuất các giải pháp tiếp tục nội luật hóa bảo đảm phù hợp với yêu cầu của Công ước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, Luận văn nghiên cứu các công trình, luận án, luận văn liên quan đến đề tài; phân tích, so sánh, đánh giá quy định của Công ước UNTOC, quy định của Luật ĐƯQT sau đây viết tắt là Luật ĐƯQT , Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau đây viết tắt là Luật B VBQPPL ,
BL S và pháp luật liên quan Trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài sẽ tập
Trang 14trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá:
- Một số vấn đề lý luận về nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế, đặc biệt là các quy định của Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế
- Những nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia mà Công ước UNTOC đặt ra cho quốc gia thành viên, tập trung vào các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hình sự như các yêu cầu về hình sự hóa và một số chính sách hình sự liên quan để bảo đảm xử lý tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như hình phạt, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, quyền tài phán, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
- Yêu cầu về nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật của Việt Nam; quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các tội phạm thuộc phạm
vi điều chỉnh của Công ước UNTOC cũng như một số chính sách hình sự liên quan như hình phạt, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, quyền tài phán, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Đánh giá mức độ tương thích của Luật hình sự Việt Nam với các quy định của Công ước UNTOC, những hạn chế, bất cập và quan điểm giải pháp tiếp tục nội luật hóa quy định của Công ước trong Luật hình sự Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là các quy định của pháp luật quốc tế
và pháp luật hiện hành của Việt Nam về trách nhiệm bảo đảm thực thi các nghĩa vụ quốc tế theo điều ước quốc tế nói chung, Công ước UNTOC nói riêng, với nội dung tập trung vào vấn đề nội luật hóa các quy định về hình sự hóa và các chính sách hình sự liên quan để bảo đảm xử lý hiệu quả tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá tính tương thích của Luật hình
Trang 15sự với các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia được xác định tại Công ước UNTOC, tập trung vào các quy định về hình
sự hóa các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia theo yêu cầu của Công ước (thành lập, tham gia thành lập tổ chức tội phạm; rửa tiền; cản trở công lý; tham nhũng và các chính sách hình sự liên quan như vấn đề trách nhiệm pháp
lý của pháp nhân, miễn giảm hình phạt, quyền tài phán và thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng ồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới đất nước, tinh thần cải cách tư pháp, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, hội nhập và hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa để giải quyết những vấn đề đặt ra
Trong các phương pháp nghiên cứu nêu trên, hai phương pháp phân tích và so sánh được sử dụng chủ yếu, xuyên suốt trong toàn bộ Luận văn Tác giả sử dụng các phương pháp này để làm rõ một số vấn đề lý luận về nội luật hóa và yêu cầu nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia Chương 1), phân tích, đánh giá yêu cầu nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế theo pháp luật Việt Nam và các quy định của pháp luật
Trang 16hình sự về hình sự hóa và một số chính sách hình sự liên quan Chương 2 và đánh giá tính tương thích, hạn chế, bất cập cũng như đưa ra quan điểm, biện pháp, giải pháp tiếp tục nội luật hóa Chương 3)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Luận văn nghiên cứu, tiếp cận, phân tích các quy định của Công ước UNTOC về hình sự hóa và chính sách hình sự để bảo đảm xử lý hiệu quả tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia cũng như các quy định tương ứng của pháp luật hình sự Việt Nam, từ đó đánh giá tính tương thích của pháp luật Việt Nam với từng quy định cụ thể của Công ước, chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết của Việt Nam, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm của Việt Nam Do đó, Đề tài có ý nghĩa tham khảo phục vụ cho công tác lập pháp hình sự, công tác nghiên cứu của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia, nhà khoa học, các sinh viên, học viên chuyên ngành tư pháp hình sự
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về nội luật hóa và các nghĩa vụ quốc
tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Chương 2 Yêu cầu về nội luật hóa trong pháp luật Việt Nam và nội
luật hóa nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong Luật hình sự
Chương 3 Đánh giá tính tương thích; quan điểm, giải pháp tiếp tục nội
luật hóa nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc
gia trong Luật hình sự Việt Nam
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA VÀ CÁC NGHĨA
VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC
XUYÊN QUỐC GIA
1.1 Nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế
1.1.1 Nghĩa vụ quốc tế và nghĩa vụ tuân thủ điều ước quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu hướng các quốc gia ngày càng chủ động và tích cực mở rộng hợp tác trên mọi lĩnh vực, bao gồm lĩnh vực phòng, chống tội phạm trở thành xu thế tất yếu, thông qua việc
ký kết, gia nhập điều ước quốc tế hoặc tham gia các diễn đàn, tổ chức quốc tế Đây là các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ quốc tế của quốc gia thành viên của điều ước quốc tế hoặc của tổ chức quốc tế- tức là các trách nhiệm hoặc nhiệm
vụ được xác lập bởi điều ước quốc tế hoặc xác định bởi tổ chức quốc tế mà quốc gia thành niên phải thực hiện trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp Tuy nhiên, để có cơ sở cho việc hợp tác, giải pháp chung mà các nước thường lựa chọn là cùng nhau soạn thảo, xây dựng, thông qua, ký kết, gia nhập
và thực hiện các điều ước quốc tế - là nguồn cơ bản, quan trọng nhất làm phát sinh nghĩa vụ quốc tế của các quốc gia thành viên- tức là những quy tắc xử sự chung dưới dạng quy phạm pháp luật có tính chất ràng buộc, bắt buộc quốc gia thành viên phải tuân thủ, bảo đảm thực hiện
Trong phạm vi Luận văn này, nghĩa vụ quốc tế được giới hạn và hiểu là các quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc đối với quốc gia thành viên được ghi nhận, phát sinh, hình thành từ các quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Trong đó, theo Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 sau đây gọi tắt là Công ước Viên “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong
Trang 18hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó
là gì điểm a, khoản 1, Điều 1 [16] Như vậy, điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa
họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước Điều ước quốc tế có thể ở phạm vi toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương Qua quy định của Công ước Viên về khái niệm điều ước quốc tế có thể thấy Công ước đã pháp điển hóa và phát triển hàng loạt các quy phạm vốn
là tập quán quốc tế trong lĩnh vực điều ước quốc tế [14]
Trên cơ sở Công ước Viên, phù hợp với thực tiễn lập pháp, bối cảnh của Việt Nam, Luật ĐƯQT năm 2016 quy định:
Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước C X CN Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ của nước C X CN Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác Điều ước quốc tế mà nước C X CN Việt Nam là thành viên là điều ước quốc tế đang có hiệu lực đối với nước C X CN Việt Nam
Việc tham gia điều ước quốc tế của một quốc gia là tự nguyện, tự quyết, tuy nhiên, khi tham gia điều ước quốc tế đồng nghĩa rằng quốc gia đó chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đó và có nghĩa vụ phải bảo đảm thực hiện Cơ sở pháp lý cho việc làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của quốc gia khi tham gia điều ước được xác định thông qua các hình thức thể hiện rằng quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước đó là việc ký, trao đổi các văn kiện của điều ước phê chu n, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập
Trang 19hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận [16] Trong đó, phê chu n điều ước quốc tế được hiểu là việc cơ quan có th m quyền của quốc gia thành viên thông qua điều ước, biểu hiện sự đồng ý của nhà nước đối với quyền và nghĩa
vụ ghi trong điều ước; gia nhập điều ước là việc chủ thể của pháp luật quốc tế thể hiện sự đồng ý ràng buộc mình với các quyền và nghĩa vụ của một điều ước quốc tế đa phương
Việc tham gia các điều ước quốc tế đặt ra nghĩa vụ cho quốc gia thành niên phải thực hiện điều ước quốc tế một cách nghiêm túc và có thiện chí; Công ước quy định một số nguyên tắc trong thực hiện Điều ước quốc tế mà các nước thành viên Công ước phải tuân thủ, đó là:
i Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thực hiện với thiện chí nguyên tắc Pacta sunt servanda Điều 26) [16] hay còn gọi là nguyên tắc tận tâm thực hiện điều ước quốc tế- đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm trong lý luận về thực hiện điều ước quốc tế, là nguyên tắc nền tảng của pháp luật quốc tế hiện đại và là nguyên tắc bảo đảm cho điều ước quốc tế được thực hiện
ii Các quốc gia không được viện dẫn pháp luật trong nước để không thực hiện điều ước quốc tế Điều 27 [16] Điều này đồng nghĩa rằng, trong quá trình thực thi điều ước quốc tế, khi có xung đột giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong nước, thì các quốc gia thành viên phải lựa chọn pháp luật quốc tế- bởi quốc gia đã lựa chọn và chấp nhận sự ràng buộc ngay từ khi ký kết, phê chu n, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế đó
Công ước Viên không quy định cách thức, biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên có thể áp dụng nhằm bảo đảm tuân thủ nghĩa vụ thực thi điều ước quốc tế mà các quốc gia đó là thành viên, như vậy, các quốc gia thành viên có thể tự quyết định việc lựa chọn cách thức thực hiện điều ước quốc tế trên cơ sở nguyên tắc Pacta sunt servanda Để tạo thuận lợi cho các
Trang 20quốc gia có cơ hội lựa chọn việc tham gia điều ước quốc tế, Công ước Viên cũng quy định về vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế - được hiểu là việc tuyên
bố không bị ràng buộc bởi một quy định nào đó của điều ước quốc tế- trong trường hợp điều ước quốc tế cho phép như vậy [16]
1.1.2 Nội luật hóa điều ước quốc tế
Do điều ước quốc tế đa phương được hình thành từ truyền thống, quan điểm phòng, chống tội phạm, tư duy lập pháp hình sự, xuất phát điểm của nhiều nước khác nhau, nên sẽ khó có sự tương đồng hoàn toàn với hệ thống pháp luật quốc gia và sự không tương đồng này sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng cũng như hợp tác giữa các quốc gia thành viên của điều ước quốc tế đó Tuy nhiên, việc chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng nghĩa với việc các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp để thực thi các nghĩa
vụ đặt ra trong điều ước quốc tế và trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên quy định khác nhau
về cùng một vấn đề thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định trong hệ thống pháp luật của mình nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế Trong những trường hợp như vậy, có quốc gia lựa chọn việc áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế mà không sửa đổi pháp luật trong nước, có quốc gia lựa chọn chuyển hóa quy định của điều ước quốc tế vào quy định của pháp luật trong nước để thi hành- cách thức này còn gọi là nội luật hóa Mục đích của nội luật hóa là nhằm bảo đảm sự hài hòa hóa, bảo đảm sự tương thích của pháp luật trong nước với các quy định của điều ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho việc áp dụng, thực thi pháp luật, thực hiện hợp tác quốc tế, tránh được các xung đột trong pháp luật và áp dụng pháp luật
Nội luật hóa là cách thức truyền thống và được nhiều quốc gia lựa chọn, với cách hiểu thông dụng nhất là việc chuyển hóa các quy phạm điều ước vào hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực thi các cam kết quốc tế, tuy
Trang 21nhiên còn các quan điểm, cách hiểu khác nhau về khái niệm này và vẫn mang tính ước lệ cao vì hiện nay chưa có định nghĩa pháp lý chính thức về “nội luật hóa” [41], Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 cũng không quy định vấn đề nội luật hóa
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, nội luật hóa chính là chuyển hóa nhưng bao gồm cả sự chuyển hóa về tư cách tạo ra giá trị áp dụng của bản thân quy phạm điều ước trong môi trường luật quốc gia trong trường hợp giá trị đó không mặc nhiên phát sinh lẫn sự chuyển hóa thực chất tạo ra những quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia , do đó, từ góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, nội luật hóa điều ước quốc tế nên được hiểu “là việc làm xuất hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia những nguyên tắc, chế định hoặc quy phạm pháp luật có nội dung tương thích với nội dung của các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên cũng như tạo ra giá trị áp dụng cho các quy phạm điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia thông qua một hoặc một số thao tác mang tính
cá biệt của chủ thể trong nước có th m quyền” [41]
- Quan điểm thứ hai cho rằng, nội luật hóa là quá trình pháp lý do cơ quan nhà nước có th m quyền tiến hành nhằm chấp nhận hiệu lực ràng buộc của điều ước quốc tế đồng nghĩa với việc quốc gia chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước [14] tương tự như quy trình tham gia, ký kết, phê chu n, gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế, trao đổi văn kiện quy định tại Luật ĐƯQT
để chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đã ký đối với Việt Nam, tức
là hành vi pháp lý do cơ quan nhà nước có th m quyền, người có th m quyền hoặc người được ủy quyền thực hiện nhằm thể hiện cam kết chính thức của Việt Nam đối với điều ước quốc tế, bao gồm ký điều ước quốc tế không phải phê chu n hoặc phê duyệt, phê chu n điều ước quốc tế, phê duyệt điều ước quốc tế, trao đổi văn kiện tạo thành điều ước quốc tế, gia nhập điều ước quốc
Trang 22tế hoặc hành vi khác theo thỏa thuận với bên ký kết nước ngoài
- Quan điểm thứ ba cho rằng, nội luật hóa là việc “chuyển hóa quy định trong điều ước quốc thành quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện đối với tổ chức, cá nhân ở một quốc gia” [39] và việc nội luật hóa được tiến hành sau khi cơ quan có th m quyền của quốc gia chính thức xác nhận quy định trong điều ước quốc tế ràng buộc đối với quốc gia đó
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba và Luận văn này tiếp cận vấn
đề nội luật hóa theo quan điểm này Từ sự phân tích các khái niệm, các vấn đề liên quan đến nội luật hóa, nghĩa vụ quốc tế, điều ước quốc tế nêu trên, quan điểm của tác giả về vấn đề nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tại Luận văn này được giới hạn và hiểu là sự chuyển hóa các quy định có tính ràng buộc đối với quốc gia thành viên của Công ước UNTOC thành các quy phạm pháp luật trong nước để thi hành
1.1.3 Bảo lưu điều ước quốc tế
Bên cạnh việc đặt ra nghĩa vụ cho quốc gia thành niên phải thực hiện
điều ước quốc tế một cách nghiêm túc và có thiện chí, để bảo đảm các quốc gia có sự lựa chọn phù hợp với hệ thống của mình các nước có thể bảo lưu điều ước quốc tế- tức là một tuyên bố đơn phương của một quốc gia, bất kể cách viết hay tên gọi như thế nào, đưa ra khi ký, phê chu n, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế, qua đó nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số điều khoản của điều ước trong việc áp dụng đối với quốc gia đó điểm a, khoản 1 Điều 2) [16] Mục đích chính của bảo lưu là giúp bên ký kết tạm thời không có nghĩa vụ thực thi một số điều khoản mà điều ước đặt ra, từ đó tạo điều kiện tối đa để các quốc gia tham gia vào các điều ước quốc tế
Công ước Viên quy định khi ký, phê chu n, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, một quốc gia có thể bảo lưu, trừ khi điều ước đó ngăn
Trang 23cấm việc bảo lưu hoặc điều ước đó quy định rằng chỉ có thể có những bảo lưu
cụ thể, trong số đó không có bảo lưu đã đề cập nói trên hoặc việc bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước, ngoài những trường hợp nêu trên Công ước cũng quy định rằng, các thành viên của điều ước quốc
tế có quyền phản đối bảo lưu, chủ thể luật quốc tế có quyền tuyên bố rút bảo lưu vào bất cứ thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết [16]
Bảo lưu trong thực tiễn đã nâng cao đáng kể tính linh hoạt trong việc áp dụng điều ước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng số lượng các thành viên điều ước trong trường hợp việc đạt được sự đồng thuận chung về toàn bộ các vấn đề của điều ước khó đạt được
1.2 Các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
1.2.1 Bối cảnh
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học công nghệ những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
có chiều hướng gia tăng và ngày càng nghiêm trọng, đe dọa đến tình hình trật
tự và an ninh của các quốc gia trên thế giới Các nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tiến hành nhiều loại hoạt động tội phạm khác nhau với nhiều hình thức tinh vi và phức tạp, trong đó, đáng chú ý là các hoạt động buôn bán
ma tuý và các chất hướng thần, buôn bán người, rửa tiền- tài trợ khủng bố, buôn bán vũ khí, động vật hoang dã quý hiếm, buôn lậu v.v [8] Tình hình nêu trên đã đặt ra thách thức lớn cho các quốc gia trên thế giới trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, nhất là trong phối hợp, hợp tác xử lý tội phạm khi mà giữa các nước có sự khác biệt về thể chế, thiết chế, cũng như thiếu cơ chế hợp tác song phương, đa phương
Để tạo cơ sở pháp lý cho sự hợp tác và cũng nhằm tạo phản ứng sâu rộng toàn cầu chống lại các loại tội phạm, cộng đồng quốc tế đã cùng nhau
Trang 24xây dựng nhiều điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung, phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nói riêng ở các cấp độ khác nhau: i) ở phạm vi toàn cầu có các Công ước như Công ước phòng, chống tham nhũng, 03 Công ước về phòng chống ma túy, 13 Điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố, Công ước Chống tra tấn, các công ước về phòng chống khủng bố,… ii ở cấp khu vực như Công ước ASEAN về Phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước ASEAN về Phòng, chống khủng bố; 40 Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm về tài trợ và chống khủng bố; Công ước của Liên minh Châu Âu về phòng, chống tham nhũng;… iii ở cấp quốc gia, các nước cũng tích cực ký kết với nhau các hiệp định song phương về đấu tranh phòng, chống tội phạm, tương trợ tư pháp, dẫn độ,…
Đặc biệt, để phòng ngừa, ứng phó với loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cộng đồng quốc tế đã cùng nhau thảo luận, xây dựng và thông qua một văn kiện hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vô cùng quan trọng Từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2000 tại Palermo, Italia dưới sự chủ trì của Liên ợp quốc, đại diện của 124 nước thành viên, trong đó có Việt Nam đã ký Công ước mang tính lịch sử vào thời điểm chuyển giao thế kỷ - Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia sau đây viết tắt là Công ước UNTOC), mở đầu cho sự hợp tác cao hơn, toàn diện hơn - ợp tác toàn cầu chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong thiên niên kỷ mới Cùng với Công ước UNTOC còn có 03 Nghị định thư bổ sung, bao gồm: i Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; ii Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và hàng không; iii Nghị định thư về chống sản xuất, buôn bán trái phép vũ khí, các bộ phận và thành phần của chúng Công ước UNTOC có hiệu lực vào ngày 29/9/2003 sau
Trang 25UNTOC đã được 147 quốc gia ký và có 190 quốc gia thành viên
1.2.2 Các nghĩa vụ quốc tế về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Liên quan đến tội phạm, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, như trên
đã nêu hiện nay có nhiều điều ước quốc tế điều chỉnh dưới nhiều góc độ khác nhau và thông thường là theo các nhóm tội cụ thể như các công ước về kiểm soát ma túy, phòng chống tham nhũng, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố, Riêng Công ước UNTOC tập trung quy định những vấn đề có tính khái quát của loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và một số tội phạm phổ biến của loại tội phạm này như rửa tiền, tham nhũng, Do đó, trong phạm vi Luận văn, tác giả lựa chọn Công ước này cho việc đánh giá về yêu cầu nội luật hóa
Bên cạnh đó, qua nghiên cứu cho thấy, Công ước UNTOC đặt ra nhiều nghĩa
vụ cho quốc gia thành viên trong việc tuân thủ các quy định về xử lý tội phạm, bảo vệ nạn nhân, tương trợ tư pháp hình sự,…và để tập trung, bảo đảm hiệu quả, chất lượng nghiên cứu, tác giả lựa chọn các quy định về nghĩa vụ hình sự hóa và các chính sách hình sự hỗ trợ việc xử lý các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như hình phạt, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, thời hiệu, quyền tài phán, miễn giảm hình phạt đặt ra tại Công ước
1.2.2.1 Khái niệm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Công ước UNTOC không đưa ra một khái niệm toàn diện về tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia, tuy nhiên các cấu thành của khái niệm này được quy định tại Điều 2 và Điều 3 Công ước, theo đó:
Điểm a Điều 2 quy định:
“Nhóm tội phạm có tổ chức” được hiểu là một nhóm có cơ cấu gồm từ ba người trở lên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp để thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm
Trang 26trọng hoặc các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm giành được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác
Điểm c Điều 2 quy định:
“Nhóm có cơ cấu” được hiểu là một nhóm không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên để thực hiện một hành vi phạm tội tức thời và không nhất thiết là vai trò của các thành viên trong nhóm phải được xác định rõ ràng, quan hệ giữa các thành viên phải duy trì hoặc cơ cấu của nhóm phải được phát triển
Điều 3 Công ước quy định hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia nếu:
a Nó được thực hiện ở nhiều quốc gia; b Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng phần chủ yếu của việc chu n bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác; (c) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động tội phạm ở nhiều quốc gia; hoặc d Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn
ở một quốc gia khác
Từ các quy định nêu trên, có thể khái quát, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là tội phạm do nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện ở nhiều quốc gia hoặc được thực hiện ở một quốc gia, nhưng phần chủ yếu của việc chu n bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hay điều khiển việc thực hiện tội phạm diễn ra ở một quốc gia khác, hoặc là hành vi tội phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng
có liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia thực hiện các hoạt động tội phạm ở nhiều quốc gia, hoặc tội phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến một quốc gia khác
Trang 271.2.2.2 Hình sự hóa hành vi tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức
Để bảo đảm xử lý, ngăn chặn sớm hành vi phạm tội do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện, Công ước UNTOC yêu cầu các quốc gia thành viên cần thiết phải hình sự hóa hành vi tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức, theo đó, Điều 5 Công ước quy định các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp lập pháp hoặc biện pháp cần thiết khác để xem các hành
vi sau đây là tội phạm (khoản 1 Điều 5, ):
(1) Một hoặc cả hai hành vi sau, phân biệt với hành vi dự mưu hoặc
thực hiện tội phạm:
i Thoả thuận với một hoặc nhiều người để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng nhằm trực tiếp hay gián tiếp hưởng một lợi ích tài chính hay lợi ích vật chất khác, và trong trường hợp nội luật yêu cầu, liên quan đến hành vi do một hoặc nhiều thành viên tiến hành khi thực hiện một thoả thuận hoặc liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức
Theo quy định nêu trên, Công ước yêu cầu các Quốc gia thành viên hình sự hoá hành vi thoả thuận đơn thuần hành vi thực tế chưa được thực hiện việc thực hiện tội phạm nghiêm trọng để trực tiếp hoặc gián tiếp đạt được một lợi ích tài chính hay lợi ích vật chất khác
ii ành vi của một người, biết rõ mục đích và hoạt động phạm tội chung của một nhóm tội phạm có tổ chức hoặc biết rõ ý định phạm tội của một nhóm tội phạm có tổ chức về việc thực hiện tội phạm đang bị điều tra, mà tham gia vào: a) các hành vi phạm tội của nhóm tội phạm có tổ chức đó; b) các hành vi khác của nhóm tội phạm có tổ chức đó mà biết rằng sự tham gia của mình sẽ góp phần đạt được mục đích phạm tội nói trên
(2) Tổ chức, chỉ đạo, hỗ trợ, xúi giục, tạo điều kiện hoặc tư vấn cho
Trang 28việc thực hiện một tội phạm nghiêm trọng của một nhóm tội phạm có tổ chức
Với những quy định nêu trên, Điều 5 của Công ước đã đặt ra cho các Quốc gia Thành viên các nghĩa vụ bắt buộc hình sự hoá một hoặc cả hai loại hành vi quy định tại các điểm (i) và (ii) nêu trên
Bên cạnh đó, các thuật ngữ được Công ước giải thích như sau khoản 1 Điều 2 : i "Nhóm tội phạm có tổ chức" nghĩa là một nhóm có cơ cấu gồm từ
ba người trở lên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp để thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm giành được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác; ii "tội phạm nghiêm trọng" nghĩa là một hành vi vi phạm có thể bị trừng phạt theo khung hình phạt tù ít nhất là 4 năm hoặc một hình phạt nặng hơn; iii "nhóm có cơ cấu" nghĩa là một nhóm không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên để thực hiện một hành vi phạm tội tức thời và không nhất thiết là vai trò của các thành viên trong nhóm phải được xác định rõ ràng, quan hệ giữa các thành viên phải duy trì hoặc cơ cấu của nhóm phải được phát triển
1.2.2.3 Hình sự hóa hành vi rửa tiền
Khi các nỗ lực của quốc gia và quốc tế nhằm thu hồi các khoản lợi bất chính của tội phạm càng được tăng cường thì các nhóm tội phạm có tổ chức cũng tìm cách để hợp pháp tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua việc đưa các tài sản đó vào hệ thống tài chính, thực hiện các giao dịch, đưa tiền, tài sản vào nền kinh tế hợp pháp, nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu và sự phát triển của kinh tế số với ưu điểm là sự dễ dàng trong luân chuyển vốn, hàng hoá và con người, cũng như sự khác biệt đáng kể giữa pháp luật, sự phát triển về hệ thống tiền tệ của các quốc gia khác nhau đã tạo điều kiện cho việc rửa tiền trở nên thuận lợi và kết quả là, tiền, tài sản do phạm tội mà có, dễ dàng khoác vẻ ngoài hợp pháp và được chuyển
Trang 29giao khắp nơi trên thế giới Tác hại mà tội phạm rửa tiền gây ra vô cùng lớn,
nó có thể làm xói mòn sự liêm chính của các hệ thống chính trị và tư pháp cũng như làm giảm sút sự ổn định của các khu vực tài chính quốc gia hoặc quốc tế, can thiệp vào chính sách kinh tế, làm rối loạn thị trường và cuối cùng
sẽ gây ra những nguy cơ mang tính hệ thống nghiêm trọng Chính vì vậy, đấu
tranh chống rửa tiền là một phần quan trọng của cuộc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Để bảo đảm hài hòa, tạo thuận lợi cho các quốc gia có thiết chế phòng chống rửa tiền còn yếu kém, Công ước thiết lập chu n mực tối thiểu để tất cả các quốc gia đều tuân theo trong quá trình nỗ lực thu hồi các tài sản do phạm tội mà có Việc hình sự hoá hành vi rửa tiền không chỉ cho phép các cơ quan
có th m quyền của quốc gia phát hiện, truy tố và trấn áp tội phạm mà còn tạo
cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế giữa các cơ quan cảnh sát, tư pháp và hành chính, bao gồm cả việc tương trợ tư pháp và dẫn độ
(1) Về các hành vi phạm tội, Điều 6 của Công ước quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ ban hành pháp luật hoặc biện pháp cần thiết khác
để coi các hành vi sau là tội phạm khi chúng được thực hiện một cách cố ý:
(i) Chuyển đổi hay chuyển nhượng tài sản, dù biết rằng tài sản này
là do phạm tội mà có, nhằm che giấu hoặc nguỵ trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản hoặc nhằm giúp đỡ bất kỳ người nào liên quan đến việc thực hiện một tội phạm nguồn l n tránh những hậu quả pháp lý do hành vi của người đó gây ra;
(ii) Che giấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm, việc chuyển nhượng, vận chuyển hoặc quyền sở hữu hay những quyền đối với tài sản, dù biết rằng tài sản này do phạm tội
mà có
(iii) Tùy theo pháp luật mỗi quốc gia: giành được, sở hữu hoặc sử dụng tài sản, dù tại thời điểm nhận tài sản, biết rằng đó là tài sản do
Trang 30phạm tội mà có;
(iv) Tùy theo pháp luật mỗi quốc gia: tham gia, phối hợp hay thông đồng, âm mưu, và hỗ trợ, xúi giục, tạo điều kiện và hướng dẫn thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nêu trên
(2) Công ước định nghĩa một số thuật ngữ liên quan như sau:
- Tài sản do phạm tội mà có là “bất cứ tài sản nào bắt nguồn hoặc có được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc phạm tội” điều 2 điểm e)[17] Tài sản có nghĩa là mọi loại của cải, cụ thể hay không cụ thể, dịch chuyển được hay không dịch chuyển được, hữu hình hay vô hình, và các giấy tờ pháp
lý hoặc những thứ là bằng chứng về quyền sở hữu hoặc lợi ích trên tài sản đó điều 2 điểm d [17]
- Tội phạm nguồn là bất cứ tội phạm nào mà tài sản có được từ tội phạm đó có thể trở thành đối tượng của” bất cứ tội phạm rửa tiền nào được quy định theo điều 6 điều 2 điểm h , [17] Điều 6 khoản 2 a yêu cầu rằng các tội phạm rửa tiền sẽ được áp dụng với “phạm vi tội phạm nguồn rộng nhất.” Khoản 2 b đòi hỏi rằng các tội phạm nguồn phải bao gồm cả các tội phạm được quy định theo điều 5, 8 và 23 của Công ước và Điều 1 khoản 3 của mỗi Nghị định thư bổ sung mà Quốc gia đó là hoặc đang xem xét để trở thành thành viên, cũng như tất cả các “tội phạm nghiêm trọng” Điều 6 khoản
2 b ; “tội phạm nghiêm trọng” tại Điều 2 điểm b
1.2.2.4 Hình sự hóa hành vi tham nhũng
Điều 8 Công ước UNTOC quy định trách nhiệm của Quốc gia thành viên trong việc ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để coi các hành vi sau là tội phạm khi được thực hiện một cách cố ý:
- ứa hẹn, đề nghị hay mang đến một cách trực tiếp hay gián tiếp cho viên chức nhà nước một mối lợi không chính đáng dành
Trang 31cho người đó hay người hoặc thực thể khác để viên chức đó hành động hoặc không hành động trong khi thực hiện các phận sự chính thức của mình;
- Gợi ý hoặc chấp nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp của viên chức nhà nước đối với một mối lợi không chính đáng dành cho người đó hay người hoặc thực thể khác để viên chức đó hành động hoặc không hành động trong khi thực hiện các phận sự chính thức của mình
Khoản 2 Điều 8 Công ước cũng quy định mỗi Quốc gia thành viên sẽ xem xét ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để xác định trách nhiệm hình sự đối với việc thực hiện những hành vi nêu trên liên quan đến một viên chức nhà nước nước ngoài hoặc một viên chức dân sự quốc tế, đồng thời xem xét việc quy định trách nhiệm hình sự đối với những hình thức tham nhũng khác Mỗi Quốc gia thành viên cũng phải ban hành những biện pháp cần thiết để coi sự tham gia với tư cách là đồng phạm trong việc thực hiện một hành vi phạm tội nêu trên là tội phạm
1.2.2.5 Hình sự hóa hành vi cản trở công lý
Các nhóm tội phạm có tổ chức có thể duy trì hoặc khuyếch trương tài sản, quyền lực và ảnh hưởng của mình để làm suy yếu hệ thống tư pháp và công lý không thể thực thi nếu th m phán, bồi th m, nhân chứng hoặc nạn nhân bị đe doạ hoặc hối lộ Tính hợp pháp của toàn thể bộ máy thi hành pháp luật, dù là ở từng quốc gia hay trên phạm vi toàn cầu có thể bị đe doạ và cần được bảo vệ trước ảnh hưởng của những hành vi mua chuộc của các nhóm tội phạm có tổ chức Cuộc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
có thể bị giảm hiệu lực nếu như hoạt động tư pháp bị thao túng Để bảo đảm tính toàn vẹn của hoạt động tư pháp, Điều 23 của Công ước yêu cầu hình sự
hóa hành vi cản trở công lý, theo đó Quốc gia thành viên phải áp dụng các
Trang 32biện pháp lập pháp hoặc biện pháp cần thiết khác để coi các hành vi sau là tội phạm, khi được thực hiện với lỗi cố ý:
i Dùng vũ lực, đe doạ, hăm doạ hoặc hứa hẹn, đề nghị hoặc cung cấp một mối lợi không chính đáng để người bị th m vấn khai sai sự thật hoặc để can thiệp vào việc khai báo hay cung cấp chứng cứ trong một vụ kiện liên quan đến các hành vi phạm tội được điều chỉnh bởi Công ước này Việc dùng vũ lực, đe doạ hoặc hăm dọa để người bị th m vấn khai sai sự thật có thể được thực hiện vào bất cứ lúc giai đoạn nào, kể cả giai đoạn tiền tố tụng
ii Dùng vũ lực, đe doạ hoặc hăm doạ nhằm can thiệp vào việc thực hiện công vụ của một nhân viên tư pháp hoặc hành pháp liên quan đến các hành vi phạm tội được điều chỉnh bởi Công ước này
1.2.2.6 Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân
Các tội phạm nghiêm trọng và tinh vi thường được thực hiện dưới vỏ bọc của các pháp nhân vì hệ thống tổ chức phức tạp của công ty có thể che giấu một cách hiệu quả các thông tin thực sự về sở hữu chủ, khách hàng hoặc các giao dịch cụ thể có liên quan đến những tội phạm, từ buôn lậu cho đến rửa tiền và tham nhũng Bên cạnh đó, với tính chất xuyên quốc gia, những cá nhân ở vị trí điều hành có thể không cư trú ở quốc gia nơi tội phạm được thực hiện và việc chứng minh trách nhiệm của một cá nhân cụ thể có thể rất khó khăn Chính vì vậy, nhiều quan điểm cho rằng cách duy nhất để có thể loại trừ công cụ và lá chắn này của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức Ngoài ra, trách nhiệm hình sự đối với tổ chức còn có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm khi gây ảnh hưởng đến thanh danh của pháp nhân, qua đó thúc đ y việc xây dựng một hệ thống quản lý, giám sát hiệu quả trong nội bộ pháp nhân nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật
Khoản 1 Điều 10 Công ước yêu cầu tất cả các Quốc gia Thành viên
Trang 33phải ban hành những biện pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc pháp
lý của họ, để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia các nhóm tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức và trong việc thực hiện những hành vi phạm tội được xác định tại điều 5, 6, 8 và
23 của Công ước Như vậy, nghĩa vụ quy trách nhiệm cho pháp nhân là một
nghĩa vụ bắt buộc, trong chừng mực là nó phù hợp với nguyên tắc pháp lý của mỗi Quốc gia, trong ba loại trường hợp sau: tham gia thực hiện các tội phạm nghiêm trọng có liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức; các tội phạm
do các Quốc gia thành viên quy định theo yêu cầu của các điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước; và các tội phạm được quy định theo bất cứ Nghị định thư bổ sung nào mà Quốc gia đó là thành viên hoặc dự định trở thành thành viên
Khoản 2 Điều 10 Công ước UNTOC cũng quy định rằng, tuỳ theo những nguyên tắc pháp lý của Quốc gia thành viên, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân có thể là hình sự, dân sự hay hành chính Như vậy, Quốc gia có thể lựa chọn một trong các hình thức trách nhiệm pháp lý của pháp nhân phù hợp với hệ thống của mình mà không bị trói buộc phải xử lý hình sự Tuy nhiên,
dù là chế tài nào thì mỗi Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng các pháp nhân chịu trách nhiệm pháp lý theo điều này phải chịu các hình phạt hình sự hay phi hình sự có tính hiệu quả, tương xứng và có tác dụng ngăn ngừa, bao gồm cả những hình phạt bằng tiền (khoản 4 Điều 10) [17]
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 10 quy định các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng, trách nhiệm của pháp nhân không làm ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của thể nhân đã thực hiện tội phạm Do vậy, trách nhiệm của thể nhân là người thực hiện tội phạm là nằm ngoài, bổ sung cho trách nhiệm của pháp nhân và trách nhiệm của pháp nhân hoàn toàn không ảnh hưởng đến trách nhiệm của thể nhân Khi một cá nhân phạm tội nhân danh pháp nhân thì
cả cá nhân lẫn pháp nhân đều có thể bị truy tố và bị áp dụng chế tài
Trang 34Cuối cùng, Công ước yêu cầu rằng các Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng các pháp nhân chịu trách nhiệm pháp lý theo Điều 10 phải chịu các hình phạt hình sự hay phi hình sự có tính hiệu quả, tương xứng và có tác dụng ngăn ngừa, bao gồm cả những hình phạt bằng tiền Điều 10 khoản 4)
1.2.2.7 Hình phạt
Khoản 1 Điều 11 Công ước quy định: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ bảo
đảm việc thực hiện hành vi phạm tội được xác định theo điều 5, 6, 8, 23 của Công ước này phải bị trừng phạt, có tính đến mức độ nghiêm trọng của hành
vi phạm tội đó”
Điều khoản này của Công ước đòi hỏi Quốc gia thành viên phải cân nhắc đầy đủ để quy định những hình phạt tương xứng với tính chất nghiêm trọng của các loại tội phạm được đề cập trong Công ước Việc quy định hình phạt tương xứng đối với người thực hiện tội nghiêm trọng là công việc của mỗi quốc gia, nhưng hình phạt này theo quy định tại Công ước thì mức thấp nhất là 4 năm tù đối với thể nhân
1.2.2.8 Giảm thời hạn chấp hành hình phạt
Khoản 4 Điều 11 của Công ước quy định: "Mỗi Quốc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng các toà hay cơ quan có th m quyền của họ nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh khi cân nhắc việc cho phép tạm tha sớm hay phóng thích người bị kết án về tội này”
Công ước khuyến khích áp dụng một cơ chế chặt chẽ sau khi xét xử thông qua việc yêu cầu mỗi quốc gia phải bảo đảm rằng tòa án hoặc cơ quan
có th m quyền của mình luôn lưu ý về tính chất nghiêm trọng của các tội phạm được quy định trong Công ước khi xem xét, cân nhắc việc tha tù trước thời hạn đối với người bị kết án khoản 4 Điều 11
1.2.2.9 Quyền tài phán
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, người phạm tội dễ dàng trốn tránh
Trang 35việc trừng phạt bằng cách di chuyển sang các quốc gia hoặc thực hiện các hành vi phạm tội trên lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia Để có thể xử lý tội phạm cho dù hành vi phạm tội được thực tại quốc gia nào, yêu cầu đặt ra
là cần phải xác lập quyền tài phán đối với hành vi của một nhóm tội phạm hoạt động trên lãnh thổ của nhiều quốc gia
- Khoản 1 Điều 15 của Công ước yêu cầu các quốc gia phải xác lập quyền tài phán dựa trên nguyên tắc lãnh thổ Mỗi Quốc gia thành viên phải xác lập quyền tài phán đối với các tội phạm quy định tại các Điều 5, 6, 8 và
23 của Công ước UNTOC, khi các tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ của mình, trên tàu bay được đăng ký theo pháp luật của nước mình, trên tàu biển mang quốc kỳ nước mình Các quốc gia có quy định về quyền tài phán hình sự nhưng chưa bao quát tất cả các hành vi tội phạm quy định tại các điều
5, 6, 8 và 23 của Công ước được thực hiện trên lãnh thổ của mình, trên tàu bay được đăng ký theo pháp luật của nước mình, trên tàu biển mang quốc kỳ nước mình cần phải bổ sung quy định về quyền tài phán hiện hành
- Khoản 10 Điều 16 Công ước cũng yêu cầu các quốc gia xác lập quyền tài phán đối với các tội phạm được quy định trong Công ước do công dân mình thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia trong trường hợp từ chối dẫn độ người phạm tội vì lý do quốc tịch
- Ngoài quyền tài phán bắt buộc nêu trên, Công ước UNTOC khuyến khích các quốc gia thành viên cân nhắc việc xác lập quyền tài phán trong trường hợp lợi ích quốc gia bị xâm phạm Khoản 2 Điều 15 Công ước UNTOC quy định một loạt các cơ sở của quyền tài phán mà các quốc gia thành viên có thể thừa nhận khi: a tội phạm được thực hiện nhằm chống lại một công dân của quốc gia thành viên đó hoặc chống lại một người không quốc tịch thường trú trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó; b tội phạm do công dân của quốc gia thành viên đó hoặc do người không quốc tịch thường trú tại quốc gia thành viên đó thực hiện; c tội phạm liên quan đến các hoạt
Trang 36động của một nhóm tội phạm có tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ quốc gia đó nhằm thực hiện một tội phạm nghiêm trọng trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó; d tội tham gia rửa tiền hoặc rửa tiền chưa đạt được thực hiện ngoài lãnh thổ của quốc gia thành viên đó nhằm thực hiện việc rửa tiền trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó
1.2.2.10 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do luật định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa Việc các quốc gia quy định trong luật hình sự của nước mình thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là đã khẳng định quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan có th m quyền đối với người phạm tội không phải là vô thời hạn Khi đã hết thời hạn nhất định, cơ quan có th m quyền không được truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội được miễn truy cứu Do vậy, các quốc gia quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dài, ngắn khác nhau căn cứ vào tính chất, mức độ của tội phạm, để bảo đảm có đủ thời gian cần thiết để có thể truy cứu được những tội phạm có tính chất nghiêm trọng, phức
tạp, gây hậu quả lớn Khoản 5 Điều 11 Công ước quy định:
Mỗi Quốc gia thành viên, nếu thích hợp, sẽ quy định trong pháp luật trong nước một khung thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dài để truy cứu bất cứ hành vi phạm tội nào được Công ước này điều chỉnh và một thời hạn
lâu hơn nếu người bị tình nghi phạm tội l n tránh việc thực thi công lý
Như vậy, theo quy định của điều luật, thời hạn dài ngắn là do pháp luật trong nước của các quốc gia quy định nhưng phải bảo đảm để truy cứu bất kỳ hành vi phạm tội nào, và trong trường hợp người phạm tội bỏ trốn thì thời hiệu phải dài hơn Quy định này không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc xét xử nhanh chóng để bảo vệ quyền của bị cáo và bảo vệ lợi ích công cộng
Trang 37Kết luận Chương 1
Chương 1 của Luận văn tập trung phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ quốc tế, tập trung vào nghĩa vụ quốc tế được hình thành từ điều ước quốc tế, đồng xác định rõ nội hàm và phạm vi nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là nội luật hóa quy định của Công ước UNTOC về các vấn đề hình sự hóa và một số chính sách hình sự Để làm rõ các vấn đề nêu trên, Chương I của Luận văn phân tích nghĩa vụ bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế của quốc gia thành viên, đặc biệt là các quy định của Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế, trong đó nhấn mạnh hai nguyên tắc cơ bản: i) mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên thực hiện với thiện chí nguyên tắc Pacta sunt servanda); ii) các quốc gia không được viện dẫn pháp luật trong nước để không thực hiện điều ước quốc tế Điều 27 Để bảo đảm hai nguyên tắc này, trong quá trình thực hiện các nghĩa vụ quốc tế được thiết lập bởi điều ước quốc tế nói chung, một số quốc gia lựa chọn nội luật hóa - tức là chuyển hóa quy định của điều ước vào pháp luật trong nước để thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên
Đặc biệt trong chương này, các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước UNTOC liên quan đến vấn đề hình sự hóa và các chính sách hình sự liên quan bảo đảm cho việc truy tố các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia được phân tích làm rõ, bao gồm các quy định về hình sự hóa hành vi tham gia nhóm tội phạm có tổ chức, rửa tiền, tham nhũng, cản trở công lý, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và quyền tài phán
Trang 38Chương 2 YÊU CẦU VỀ NỘI LUẬT HÓA TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ NỘI LUẬT HÓA NGHĨA VỤ QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC XUYÊN QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ
2.1 Yêu cầu về nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế trong pháp luật Việt Nam
Trong phạm vi của Luận văn này, như đã đề cập tại Chương 1, nghĩa vụ quốc tế được giới hạn trọng phạm vi các nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế, do đó, nội dung của phần này cũng chỉ tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về yêu cầu nội luật hóa nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, mà ngắn gọn là nội luật hóa điều ước quốc tế
Là Quốc gia thành viên Công ước Viên, nhà nước Việt Nam đã cam kết thực hiện các điều ước quốc tế nói chung, Công ước UNTOC nói riêng qua việc khẳng định tại Điều 12 iến pháp năm 2013 “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… tuân thủ iến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” [19] Phù hợp với quy định của iến pháp, Luật ĐƯQT năm 2016 khẳng định Nhà nước Việt Nam bảo đảm “tuân thủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” khoản 4 Điều 3 và “cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuân thủ điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên” khoản 2 Điều 80 [26] Đồng thời, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên điều ước quốc tế, nguyên tắc nêu trên của iến pháp và Luật ĐƯQT đã được cụ thể hóa thành các yêu cầu trong hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật nói chung, pháp luật về phòng, chống tội phạm nói riêng, trong đó có yêu cầu về nội luật hóa, cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam quy định vấn đề nội luật hóa thông qua
các quy định về sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện
Trang 39điều ước quốc tế Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật ĐƯQT năm 2016, căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó Trong công tác xây dựng pháp luật, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà C X CN Việt Nam là thành viên khoản 5 Điều 5 [23] Bên cạnh đó, ngay từ khâu đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định cũng quy định căn cứ đề nghị xây dựng phải dựa trên cam kết quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên Đối với quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của ội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ nghiên cứu điều ước quốc tế có liên quan mà C X CN Việt Nam là thành viên hay đối với dự thảo thông tư, trong quá trình th m định, một trong các nội dung mà cơ quan chủ trì th m định phải tập trung th m định là tính tương thích với điều ước quốc tế mà C X CN Việt Nam là thành viên Đây cũng là một biện pháp để bảo đảm rằng việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế phát sinh
từ điều ước quốc tế được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc tại Việt Nam
Thứ hai, Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế
mà C X CN Việt Nam là một bên ký kết Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hóa thành pháp luật, tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước
Thứ ba, một trong những nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế được
Trang 40Luật ĐƯQT ghi nhận là trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước C X CN Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ iến pháp khoản 1 Điều 6 Đồng thời, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà C X CN Việt Nam là thành viên; trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước
và điều ước quốc tế mà C X CN Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ iến pháp khoản 5 Điều 156 [23] Như vậy, trong trường hợp có xung đột giữa quy định trong nước trừ iến pháp với quy định của điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên thì có thể áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế Căn
cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc
tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện khoản 2 Điều 6 [26]
Phù hợp với nguyên tắc nêu trên của Luật ĐƯQT, các vấn đề có liên quan đến hợp tác quốc tế trong một số lĩnh vực quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật, ví dụ: hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, theo quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ
tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan khoản 3 Điều 491)[21]; Nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống tham nhũng mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Điều 89 [25]
Tuy nhiên, trong lĩnh vực hình sự, theo quy định tại Điều 2 của BL S