Bài viết trình bày mô tả đặc điểm hình ảnh của nhồi máu não cấp trên cộng hưởng từ thường quy và chụp mạch máu bằng kỹ thuật TOF 3D và khảo sát sự thay đổi giá trị khuếch tán biểu kiến theo thời gian nhồi máu.
Trang 1Nguyễn Viết Lợi*, Võ Thị Thúy Hằng**, Lê Quang Khang**, Nguyễn Thị Phương Loan**, Phan Công Chiến***,
Phạm Ngọc Hoa****
* BV Quân y 175 – Bộ Quốc
Phòng, TP HCM.
** Đại học Y Dược, TP HCM
*** BV ĐHYD, TP HCM.
**** Hội chẩn đoán hình ảnh
TP HCM
SUMMARY Objective To describe the characteristics of acute ischemic stroke
on conventional magnetic resonance imaging (MRI) and angiography using TOF 3D technique and to evaluate the time course of the apparent diffusion coefficient after cerebral infarction
Materials and Methods We conducted a retrospective study
in 221 patients with acute ischemic stroke who were performed MRI
at the University Medical Center Hospital between January 2018 and December 2020 A radiologist who had more than 5 years of experience
of MRI evaluates the changes of signal intensity on these sequences: T1- weighted, T2-weighted, FLAIR, DWI/ADC, Susceptibility weighted imaging (SWI) and TOF3D
Results: The study was composed of 221 patients (136 males, 85
females) The mean age of patients was 64.5 ± 13.7 years (range,
28-96 years) 60 - 79 age group accounts for the majority with 105 people (47.5%) Anterior cerebral artery territory infarcts and cerebral peduncular infarction were the least common (1.1%) The rate of brain parenchymal signal abnormalities on the T1W, T2W, FLAIR, DWI / ADC sequences respectively was 85.5%, 87.3%, 90.0%, and 97.3% The rate of a significant decrease in vascular signaling on TOF3D was 35.7% The rate
of susceptibility vessel sign and prominent vessel sign on SWI was 21.8% và 9.1% respectively Immediately following a cerebral infarction, the relative ADC (rADC) value begins to decrease gradually and reaches its lowest level between day 2 and 4 Thereafter the rADC value increases gradually and reaches a pseudonormalization around day 7
Conclusion: Magnetic resonance imaging is of high value in the
diagnosis of acute ischemic stroke Diffusion imaging has the highest sensitivity in lesion detection TOF3S and SWI were helpful in depiction the vascular signaling, the susceptibility vessel sign and prominent vessel sign Immediately following a cerebral infarction, the relative ADC (rADC) value begins to decrease gradually and reaches its lowest level between day 2 and 4 Thereafter the rADC value increases gradually and reaches a pseudonormalization around day 7
Keywords: acute ischemic stroke, magnetic resonance imaging.
Trang 2I MỞ ĐẦU
Đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong đứng
hàng thứ tư ở Anh, thứ 5 tại Mỹ và là nguyên nhân gây
tử vong lớn thứ hai trên toàn cầu Đột quỵ gây ra 20%
tử vong trong năm đầu tiên với 50% số người sống sót
bị thương tật đáng kể Tỷ suất mới mắc ở Anh dao động
từ 115 đến 150/ 100.000 dân số 1-3
Đột quỵ thiếu máu não cấp chiếm khoảng 80 – 85%
đột quỵ não Chẩn đoán nhồi máu não cấp nhanh chóng
có vai trò rất quan trọng trong định hướng chiến lược điều
trị 4 Chẩn đoán dựa vào các dấu hiệu lâm sàng khiếm
khuyết thần kinh đột ngột và được đánh giá dựa trên
thang điểm đột quỵ NIHSS (National Institute of Health
Stroke Scale), chụp cắt lớp vi tính được thực hiện ngay
để loại trừ đột quỵ xuất huyết não để xem xét chỉ định
hướng điều trị Vai trò của cộng hưởng từ (CHT) ngày
càng được khẳng định, đặc biệt trong các trường hợp
đột quỵ não không rõ giờ, đột quỵ tuần hoàn sau hoặc
khi chẩn đoán phân biệt CHT với chuỗi xung khuếch
tán có độ nhạy cao trong phát hiện sớm tổn thương nhồi
máu não sớm, tốt hơn so với chụp cắt lớp vi tính 4 Nhiều
nghiên cứu báo cáo độ nhạy của cộng hưởng từ từ 88 –
100% trong chẩn đoán nhồi máu não sớm 5,6 Vài tác giả
đã dựa vào các hình FLAIR, hình khuếch tán, tưới máu
để dự đoán thời gian nhồi máu não bằng khảo sát các
bất tương hợp giữa FLAIR-hình khuếch tán, hình khuếch
tán – hình tưới máu và khảo sát sự thay đổi theo thời gian
của giá trị khuếch tán biểu kiến (ADC) 7
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu
mô tả đặc điểm hình ảnh của nhồi máu não cấp trên
cộng hưởng từ thường quy và chụp mạch máu bằng kỹ
thuật TOF 3D và khảo sát sự thay đổi giá trị khuếch tán
biểu kiến theo thời gian nhồi máu
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu hồi cứu 221 bệnh nhân (BN) nhồi
máu não cấp (trong nghiên cứu này chúng tôi chọn các
BN ngay từ thời điểm đột quỵ đến ngày thứ 7) có chụp
cộng hưởng từ tại bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM
từ tháng 1/2018 – 12/2020
Tất cả các BN được chụp bằng máy CHT 1,5 và
3 Tesla, Magnetom, hãng Siemens của Đức, tại BV Đại
học Y Dược Mỗi bệnh nhân được khảo sát CHT với các chuỗi xung: T1 MPRAGE, T2W, FLAIR, DWI, SWI, TOF3D Hình T1 MPRAGE: quét từ lỗ chẩm đến vòm sọ, TR = 2000ms, TE = 2,3ms, độ dày lát cắt: 1mm, ma trận ảnh: 256 x 256 Hình cắt ngang T2W: TR = 4000,
TE = 102, độ dày lát cắt: 5mm, khoảng cách 1,5mm, trường khảo sát: 24 x 24 và ma trận ảnh: 256 x 256 Hình cắt ngang T2W: TR = 5000-6000, TE = 100, độ dày lát cắt: 5mm, khoảng cách 1,5mm, trường khảo sát: 24 x 24 và ma trận ảnh: 256 x 256 Hình cắt ngang FLAIR: TR = 4000, TE = 102, TF = 20 – 24, độ dày lát cắt: 5mm, khoảng cách 1,5mm, trường khảo sát: 24 x
24 và ma trận ảnh: 448 x 448 Hình cắt ngang DWI: TR: 5000-6000, TE: 90-100, độ dày lát cắt: 5mm, khoảng cách 1,5mm, trường khảo sát: 24 x 24 và ma trận ảnh:
192 x 192 Hình DWI thu được ở các giá trị b = 0, 500,
1000 giây/mm2 bằng chuỗi xung EPI Hình bản đồ ADC được tính toán theo phần mềm của máy và hiển thị đồng thời sau khi nhận các hình DWI Xung MRA TOF 3D: quét từ lỗ chẩm đến trần não thất, 21 ms; TE: 3.53 ms; độ dày lát cắt: 0,7 mm; khoảng cách lát cắt 0,7 mm; ma trận ảnh 320 x 200-260 Xung SWI: TR = 28
ms, TE = 20 ms, Flip angle 15, độ dày lát cắt: 2mm, và
ma trận ảnh: 384 x 268-300
Các đặc điểm trên cộng hưởng từ được thực hiện bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh có kinh nghiệm trên 5 năm gồm: sự thay đổi tín hiệu nhu mô não trên các hình trọng T1, T2, FLAIR, khuếch tán, tín hiệu mạch máu trên xung SWI và chụp mạch bằng kỹ thuật TOF 3D
Mô tả tần số, tỉ lệ phần trăm đối với biến định tính
Mô tả giá trị trung bình và độ lệch chuẩn đối với biến định lượng có phân phối bình thường và mô tả giá trị trung vị, khoảng tứ vị đối với biến định lượng có phân phối không bình thường
Dùng các phép kiểm định chi bình phương, Fisher
để kiểm các tỉ lệ
So sánh các số trung bình có phân phối không bình thường dùng phép kiểm Mann-Whitney
Vẽ đường cong ROC để chọn ngưỡng cắt và tính các giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, tiên đoán dương và độ chính xác tương ứng với các điểm cắt
Trang 3Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm STATA
14.1, Stata Corp, USA Các phép kiểm định được xem
là khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
III KẾT QUẢ
Nghiên cứu gồm 221 BN (136 nam, 85 nữ). Tuổi
trung bình là 64,5 ± 13,7, tuổi nhỏ nhất là 28, lớn nhất
là 96 Nhóm tuổi 60 – 79 chiếm đa số với 105 người
(47,5%) (Biểu đồ 1)
Biểu đồ 1 Phân bố mẫu nghiên cứu
theo nhóm tuổi
Nhồi máu vùng phân bố động mạch não giữa
chiếm chủ yếu (58,5%), nhồi máu vùng phân bố động
mạch não trước và cuống não đơn thuần ít gặp nhất
(1,1%) (Bảng 1)
Tỉ lệ bất thường tín hiệu nhu mô não trên các hình
T1W, T2W, FLAIR, DWI/ADC lần lượt là 85,5%; 87,3%;
90,0%; 97,3% Tỉ lệ có giảm tín hiệu mạch máu đáng kể
trên TOF3D là 35,7% Tỉ lệ có dấu hiệu tín hiệu thấp lòng
mạch và tín hiệu mạch máu thấp bất đối xứng hai bán
cầu trên xung SWI lần lượt là 21,8% và 9,1% (Bảng 2)
Bảng 1 Vùng phân bố nhồi máu
Vùng phân bố nhồi máu lượng Số Tỉ lệ (%)
Động
mạch não
giữa
Vỏ não, chất
Động mạch mạch mạc
Bảng 2 Tỉ lệ có bất thường tín hiệu
trên các chuỗi xung Hình lượng Số Tỉ lệ (%)
Hình SWI*
Dấu hiệu tín hiệu thấp lòng mạch
Dấu hiệu tín hiệu mạch máu thấp bất đối xứng hai bán cầu
36
* Có 165 bệnh nhân được chụp chuỗi xung SWI Ngay sau khi nhồi máu não, giá trị khuếch tán biểu kiến tương đối (rADC) bắt đầu giảm dần và đạt thấp nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ
4 Sau đó giá trị rADC tăng dần và đạt mức giả bình thường vào khoảng ngày thứ 7 (Biểu đồ 2)
Biểu đồ 2 Giá trị ADC tương đối theo thời gian nhồi máu não
Trang 4IV BÀN LUẬN
Cộng hưởng từ với các chuỗi xung T1W, T2W có
độ nhạy và độ đặc hiệu không cao trong chẩn đoán nhồi
máu não cấp Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ có
bất thường tín hiệu trên các chuỗi xung T1W và T2W
lần lượt là 85,5% và 87,3% Tuy nhiên, các vùng bất
thường tín hiệu này có thể chồng lấp với tổn thương
cũ Maeda báo cáo T1W không nhạy, ở thời điểm 14
giờ, độ nhạy T1W chỉ khoảng 50% 8 Trong nghiên cứu
của Kim độ nhạy T2W phát hiện nhồi máu trước 6 giờ
là 18% và âm tính giả lên đến 30 - 50% 9
Hình FLAIR nhạy hơn trong phát hiện tổn thương
Nghiên cứu của chúng tôi, không thấy bất thường tín hiệu
trên FLAIR có 22 (10%) trường hợp Tỉ lệ xuất hiện tín
hiệu bất thường trên FLAIR tăng theo thời gian, dưới 4,5
giờ tỉ lệ là 27,3%, sau 6 giờ tỉ lệ này là 93,7% Thomalla
năm 2011 nghiên cứu bất tương hợp giữa DWI-FLAIR
ở 543 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp trong vòng
4,5 giờ Tác giả cũng cho kết quả tương tự tỉ lệ xuất
hiện tín hiệu bất thường trên FLAIR tăng theo thời gian,
dưới 4,5 giờ tỉ lệ là 38,0%, sau 6 giờ tỉ lệ này là 86,7%
10 Tỉ lệ bất thường tín hiệu trên FLAIR sau 6 giờ của tác
giả thấp hơn so với chúng tôi, điều này có thể lý giải do
trong nghiên cứu của tác giả Thomalla số bệnh nhân
được khảo sát CHT trong khoảng thời gian từ 6 đến 7,5
giờ chiếm tỉ lệ cao nên có một tỉ lệ đáng kể các BN âm
tính trên FLAIR (9/32 trường hợp) Nếu xét tỉ lệ sau 7,5
giờ thì tỉ lệ bất thường trên FLAIR của tác giả là 92,2%
tương đồng với kết quả của chúng tôi (93,7%) Dựa vào
đường cong ROC chúng tôi chọn điểm cắt 4,5 giờ thì có
các độ nhạy 72,7%, độ đặc hiệu 93,3%, giá trị tiên đoán
dương 36,4% và giá trị tiên đoán âm: 98,5% (Hình 1)
Sự ra đời của chuỗi xung khuếch tán trong chẩn
đoán nhồi máu não là một bước tiến vượt bậc của hình
ảnh học thần kinh do khả năng phát hiện sớm hơn vùng
nhồi máu so với các kỹ thuật hình ảnh khác 11 Một số
nghiên cứu báo cáo độ nhạy của cộng hưởng từ từ 88
– 100% trong chẩn đoán nhồi máu não sớm 5,6 Trong
nghiên cứu của chúng tôi, chuỗi xung khuếch tán có độ
nhạy 97,3% trong chẩn đoán nhồi máu não cấp Trong
6 trường hợp CHT âm tính, có 4 trường hợp nhồi máu
tuần hoàn sau và 2 trường hợp nhồi máu tuần hoàn
trước Edlow năm 2017 thực hiện phân tích gộp từ các nghiên cứu đột quỵ thiếu máu não cấp không có bất thường tín hiệu trên xung khuếch tán từ năm 1992 đến năm 2016 Nghiên cứu chọn được 12 bài báo thỏa tiêu chuẩn bao gồm 3236 bệnh nhân và kết quả cho tỉ lệ xung khuếch tán âm tính là 6,8% (khoảng tin cậy 95%: 4,9 – 9,3%) Tỉ số số chênh giữa xung khuếch tán âm tính tuần hoàn sau so với tuần hoàn trước là 5,1, 95%
CI 2,3–11,6, p < 0,0005 Vì vậy, những bệnh nhân có triệu chứng khiếm khuyết thần kinh liên quan với tuần hoàn sau có tỉ số số chênh gấp 5 lần xung khuếch tán
âm tính hơn những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu tuần hoàn trước 4 Nghiên cứu của tác giả báo cáo tỉ lệ cao hơn chúng tôi Điều này có thể lý giải do một số nguyên nhân Thứ nhất, trong 12 nghiên cứu trong phân tích gộp có 8 nghiên cứu được thực hiện trước năm 2005 và nghiên cứu có tỉ lệ cao nhất 17,4% được thực hiện năm 2007 Xung khuếch tán ngày càng được cải thiện
về độ phân giải không gian, từ lực, làm tăng độ nhạy trong phát hiện những tổn thương nhỏ Thứ hai, nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu hồi cứu, chọn vào các bệnh nhân được chẩn đoán ra viện là đột quỵ não cấp nên có thể các bệnh nhân đột quỵ thật sự có CHT âm tính nhưng không được chẩn đoán là đột quỵ lúc ra viện Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giá trị khuếch tán biểu kiến tương đối bắt đầu giảm dần và đạt thấp nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 Sau đó giá trị rADC tăng dần và đạt mức giả bình thường vào khoảng ngày thứ 7 (Hình 2) Copen năm 2001 nghiên cứu sự ảnh hưởng thời gian đột quỵ đến giá trị ADC trên 147 bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu não cấp ở các thời điểm khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị ADC tương đối giảm đến mức thấp nhất ở khoảng thời điểm sau 18,5 giờ, sau đó có khuynh hướng tăng dần đạt đến giai đoạn giả bình thường sau 9 ngày Tác giả cho ra phương trình sử dụng để dự đoán giá trị rADC Mô hình kết hợp giai đoạn đầu của rADC giảm tuyến tính và giai đoạn thứ hai của rADC tăng theo lôgarit Mô hình có thể được sử dụng để dự đoán giá trị rADC như một hàm của thời gian từ lúc khởi phát đột quỵ, giá trị t, với ba tham số sau: tt, thời gian chuyển đổi giữa rADC giảm và tăng; rADCt, rADC được tính toán tại thời điểm đó; và s, độ dốc của sự gia tăng rADC sau đó 7
Trang 5Trong nghiên cứu của chúng tôi, dấu hiệu tín hiệu
thấp lòng mạch trên xung SWI hiện diện trong 36/165
(21,8%) trường hợp Tương tự, Liang năm 2018 nghiên
cứu vai trò của chuỗi xung SWI ở những bệnh nhân
nhồi máu não cấp Nghiên cứu được thực hiện trên 37
bệnh nhân Kết quả cho thấy dấu hiệu tín hiệu thấp
lòng mạch hiện diện trong 20% trường hợp 12 Đây là
một trong những dấu hiệu hữu ích giúp phát hiện và
đo chiều dài cục huyết khối (Hình 3) Nghiên cứu của
chúng tôi dấu hiệu tĩnh mạch tín hiệu thấp bất đối xứng
trên SWI hiện diện trong 46,4% (13/28) các trường hợp
có giảm tín hiệu đáng kể động mạch não giữa trên 3D
TOF MRA Park năm 2015 nghiên cứu dấu hiệu nhiều
tĩnh mạch tín hiệu thấp trên SWI trên các bệnh nhân
đột quỵ thiếu máu não cấp Kết quả cho thấy mối liên
quan giữa các bệnh nhân có dấu hiệu nhiều tĩnh mạch
thấp trên SWI với điểm NIHSS thấp, thể tích vùng nhồi
máu thấp, tuần hoàn bàng hệ tốt hơn và có vùng tranh
tối tranh sáng rộng hơn Tác giả kết luận dấu hiệu này
có thể được xem là dấu ấn của dự đoán tăng phân suất
trao đổi oxy và bất tương hợp giữa hình khuếch tán –
tưới máu ở bán cầu bị thiếu máu13
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 35,7% trường
hợp có giảm tín hiệu đáng kể mạch máu trên kỹ thuật
chụp TOF3D Đây là một kỹ thuật hữu ích có thể phát
hiện hẹp nặng hoặc tắc mạch máu mà không sử dụng
chất tương phản Tuy nhiên, điểm hạn chế của kỹ thuật
này là một số vị trí mạch máu dễ tạo ảnh giả, đánh giá
quá mức độ hẹp và một số trường hợp xác định không
chính xác vị trí mạch máu tắc Boujan năm 2018 nghiên
cứu giá trị của kỹ thuật chụp khảo sát hệ động mạch
não có thuốc tương phản với kỹ thuật không có thuốc
3D TOF-MRA trên 123 bệnh nhân nhồi máu não, đối
chiếu với kỹ thuật chụp mạch máu số hóa chọn lọc Kết
quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể về vị
trí tắc mạch trên 3D TOF-MRA so với chụp mạch máu
số hóa chọn lọc (p <0,001), trong khi đó không có sự
khác biệt đáng kể giữa chụp mạch máu số hóa chọn
lọc với kỹ thuật chụp MRA có tiêm thuốc tương phản
Ngoài ra, MRA có tiêm thuốc tương phản tốt hơn hẳn
so với 3D TOF-MRA trong đánh giá bàng hệ 14
Hình 1 Bất tương hợp giữa FLAIR-DWI BN nữ
84 tuổi đột quỵ đồi thị trái giờ 2 A và B Hình khuếch tán và bản đồ khuếch tán biểu kiến cho thấy nhồi máu đồi thị trái với tín hiệu cao trên DWI và thấp trên bản
đồ ADC (mũi tên đỏ) C Hình FLAIR không thấy bất thường tín hiệu đồi thị chứng tỏ có bất tương hợp D Hình MRA với Gadolinium tái tạo MIP cho thấy mất tín hiệu động mạch đỉnh thân nền (mũi tên xanh)
Hình 2 Sự biến đổi giá trị khuếch tán biểu kiến qua các thời điểm nhồi máu ở các bệnh nhân nhồi máu não A BN nhồi máu cấp giờ thứ 9 giá trị rADC
là 0,89, B BN nhồi máu cấp giờ thứ 24 giá trị rADC là 0,56 BN nhồi máu ngày thứ 3 giá trị rADC là 0,50 BN nhồi máu ngày thứ 7giá trị rADC là 1,1
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Guzik, A & Bushnell, C Stroke Epidemiology and Risk Factor Management Continuum (Minneap Minn) 23,
15-39, doi:10.1212/con.0000000000000416 (2017)
2 Mozaffarian, D et al Heart Disease and Stroke Statistics-2016 Update: A Report From the American Heart Association Circulation 133, e38-360, doi:10.1161/cir.0000000000000350 (2016).
3 Aubrey George Smith & Chris Rowland Hill Imaging assessment of acute ischaemic stroke: a review of
radiological methods The British Journal of Radiology 91, 20170573, doi:10.1259/bjr.20170573 (2018).
4 Edlow, B L., Hurwitz, S & Edlow, J A Diagnosis of DWI-negative acute ischemic stroke: A meta-analysis
Neurology 89, 256-262, doi:10.1212/WNL.0000000000004120 (2017).
5 Jauch, E C et al Guidelines for the early management of patients with acute ischemic stroke: a guideline for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association Stroke 44,
870-947, doi:10.1161/STR.0b013e318284056a (2013)
Hình 3 Dấu hiệu tín hiệu thấp lòng động mạch trên SWI BN nam 60 tuổi đột quỵ đồi thị phải A và
B Hình khuếch tán và bản đồ khuếch tán biểu kiến cho thấy nhồi máu đồi thị phải cấp với tín hiệu cao trên DWI và thấp rõ trên bản đồ ADC (mũi tên đỏ) C và D Hình phase SWI tín hiệu lòng mạch cao và SWI cho thấy dấu hiệu tín hiệu lòng mạch thấp (mũi tên xanh) E Hình 3D MRA TOF mất tín hiệu dòng chảy động mạch đốt sống phải tương ứng F Trên hình độ phân giải cao T1W space 3D cho thấy rõ cục huyết khối tín hiệu cao
V KẾT LUẬN
Cộng hưởng từ có giá trị cao trong chẩn đoán
nhồi máu não cấp Xung khuếch tán có độ nhạy cao
nhất trong phát hiện tổn thương Xung TOF3D và SWI
hữu ích trong phát hiện tín hiệu dòng chảy, dấu hiệu
tín hiệu thấp lòng mạch và tín hiệu mạch máu thấp bất
đối xứng hai bán cầu Ngay sau khi nhồi máu não, giá trị khuếch tán biểu kiến tương đối bắt đầu giảm dần và đạt thấp nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 Sau đó giá trị rADC tăng dần và đạt mức giả bình thường vào khoảng ngày thứ 7
Trang 76 Simonsen, C Z et al Sensitivity of diffusion- and perfusion-weighted imaging for diagnosing acute ischemic stroke is 97.5% Stroke 46, 98-101, doi:10.1161/strokeaha.114.007107 (2015).
7 Copen, W A et al Ischemic Stroke: Effects of Etiology and Patient Age on the Time Course of the Core Apparent Diffusion Coefficient Radiology 221, 27-34, doi:10.1148/radiol.2211001397 (2001).
8 Maeda, M., Yamamoto, T., Daimon, S., Sakuma, H & Takeda, K Arterial Hyperintensity on Fast Fluid-attenuated Inversion Recovery Images: A Subtle Finding for Hyperacute Stroke Undetected by Diffusion-weighted MR
Imaging American Journal of Neuroradiology 22, 632-636 (2001).
9 Kim, B J et al Magnetic resonance imaging in acute ischemic stroke treatment Journal of stroke 16, 131-145,
doi:10.5853/jos.2014.16.3.131 (2014)
10 Thomalla, G et al DWI-FLAIR mismatch for the identification of patients with acute ischaemic stroke within 4·5 h of symptom onset (PRE-FLAIR): a multicentre observational study The Lancet Neurology 10, 978-986,
doi:10.1016/s1474-4422(11)70192-2 (2011)
11 Axer, H et al Time course of diffusion imaging in acute brainstem infarcts Journal of Magnetic Resonance
Imaging 26, 905-912, doi:https://doi.org/10.1002/jmri.21088 (2007).
12 Liang, J et al Susceptibility-weighted imaging in post-treatment evaluation in the early stage in patients with acute ischemic stroke Journal of International Medical Research 47, 196-205, doi:10.1177/0300060518799019
(2018)
13 Park, M G., Yoon, C H., Baik, S K & Park, K P Susceptibility Vessel Sign for Intra-arterial Thrombus
in Acute Posterior Cerebral Artery Infarction J Stroke Cerebrovasc Dis 24, 1229-1234, doi:10.1016/j.
jstrokecerebrovasdis.2015.01.021 (2015)
14 Boujan, T et al Value of Contrast-Enhanced MRA versus Time-of-Flight MRA in Acute Ischemic Stroke MRI
AJNR Am J Neuroradiol 39, 1710-1716, doi:10.3174/ajnr.A5771 (2018).
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh của nhồi máu não cấp trên cộng hưởng từ thường quy và chụp mạch máu bằng kỹ
thuật TOF 3D và khảo sát sự thay đổi giá trị khuếch tán biểu kiến theo thời gian nhồi máu
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu 221 bệnh nhân (BN) nhồi máu não cấp có chụp cộng hưởng từ tại bệnh viện Đại học
Y dược TP.HCM từ tháng 1/2018 – 12/2020 Các đặc điểm trên cộng hưởng từ được khảo sát bởi một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh có kinh nghiệm trên 5 năm gồm: sự thay đổi tín hiệu nhu mô não trên các hình trọng T1, T2, FLAIR, khuếch tán, tín hiệu mạch máu trên xung siêu nhạy từ (SWI) và chụp mạch bằng kỹ thuật TOF 3D
Kết quả: Nghiên cứu gồm 221 BN (136 nam, 85 nữ) Tuổi trung bình là 64,5 ± 13,7, tuổi nhỏ nhất là 28, lớn nhất là 96
Nhóm tuổi 60 – 79 chiếm đa số với 105 người (47,5%) Nhồi máu vùng phân bố động mạch não giữa chiếm chủ yếu (58,5%), nhồi máu vùng phân bố động mạch não trước và cuống não đơn thuần ít gặp nhất (1,1%) Tỉ lệ bất thường tín hiệu nhu mô não trên các hình T1W, T2W, FLAIR, DWI/ADC lần lượt là 85,5%; 87,3%; 90,0%; 97,3% Tỉ lệ có giảm tín hiệu dòng chảy mạch máu đáng kể trên TOF3D là 35,7% Tỉ lệ có dấu hiệu tín hiệu thấp lòng mạch và tín hiệu mạch máu thấp bất đối xứng hai bán cầu trên xung SWI lần lượt là 21,8% và 9,1% Ngay sau khi nhồi máu não, giá trị khuếch tán biểu kiến tương đối (rADC) bắt đầu giảm dần và đạt thấp nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 Sau đó giá trị rADC tăng dần và đạt mức giả bình thường vào khoảng ngày thứ 7
Trang 8Kết luận: Cộng hưởng từ có giá trị cao trong chẩn đoán nhồi máu não cấp Xung khuếch tán có độ nhạy cao nhất trong
phát hiện tổn thương Xung TOF3D và SWI hữu ích trong phát hiện tín hiệu dòng chảy, dấu hiệu tín hiệu thấp lòng mạch và tín hiệu mạch máu thấp bất đối xứng hai bán cầu Ngay sau khi nhồi máu não, giá trị khuếch tán biểu kiến tương đối bắt đầu giảm dần và đạt thấp nhất trong khoảng thời gian từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 4 Sau đó giá trị rADC tăng dần và đạt mức giả bình thường vào khoảng ngày thứ 7
Từ khóa: nhồi máu não cấp, cộng hưởng từ.
Người liên hệ: Nguyễn Viết Lợi, Email: vietloi175@gmail.com
Ngày nhận bài: 24/92020 Ngày chấp nhận đăng: 25/10/2020