Trong bối cảnh đó, việc xuất bản tác phẩm kinh điển “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Gọi tắt là “Lý thuyết tổng quát” của nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh John M
Trang 2“I can think of no single book that has sochanged the conception held by economist as
to the working of the capitalist system”
- ROBERT L HEILBRONER
Trang 3LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT VỀ VIỆC LÀM, LÃI SUẤT VÀ TIỀN TỆ
Nhà xuất bản GIÁO DỤC
Trường Đại học KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀ NỘI - 1994
Trang 4Lời nhà xuất bản
Trang 5Trong quá trình đổi mới chương trình giảng dạy các môn học kinh tế thịtrường cho sinh viên các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, chúng
ta cần rất nhiều tài liệu tham khảo, sách giáo khoa để phục vụ cho việc biênsoạn một chương trình giảng dạy thích hợp và đáp ứng nhu cầu tham khảocủa các nhà hoạch định chính sách và cơ quan nghiên cứu kinh tế
Trong bối cảnh đó, việc xuất bản tác phẩm kinh điển “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (Gọi tắt là “Lý thuyết tổng quát”) của
nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh John Maynard Keynes là một đòi hỏithiết thực Đó là một trong số các cuốn sách cơ bản góp phần xây dựng lýthuyết kinh tế học vĩ mô hiện đại
Cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1936, sau khi các nướcphát triển như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản, Pháp vừa trải qua giai đoạn gọi
là đại suy thoái, khi các biến số chính của kinh tế học vĩ mô như sản lượng,khối lượng việc làm, lãi suất và kéo theo là vốn đầu tư đã biến động theochiều hướng không thể phán đoán và giải thích được Các mô hình (lý thuyết)kinh tế đương thời không còn giải thích đầy đủ được những gì đã diễn ra tạicác nước đó trong thời kỳ nói trên
Bá tước John Maynard Keynes (1883-1946) là một nhà kinh tế nổi tiếngđầu thế kỷ 20 Ông đã giảng dạy kinh tế học ở trường Tổng hợp Cambridge,làm việc ở Bộ tài chính nước Anh và là người có công lớn trong việc thànhlập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Trong tác phẩm của mình, J M Keynes lần đầu tiên đưa ra mô hình sảnlượng và việc làm do cầu quyết định, ông đã dùng mô hình này để giải thíchmức sản lượng thấp và mức thất nghiệp cao kéo dài trong những năm 1930 ởhầu hết các nước công nghiệp phương Tây Ngày nay lý thuyết này được gọi
Trang 6là Lý thuyết trọng cầu Ông lập luận rằng con số thất nghiệp cao là đặc trưngcủa một nền kinh tế thị trường không có điều tiết, và vì vậy, để đạt được mứchữu nghiệp cao, nhà Nước phải điều tiết mức tổng cầu thông qua chính sáchtài chính và tiền tệ.
Sau khi tác phẩm được xuất bản năm 1936, hầu hết các nhà kinh tế trẻ
đã trở thành những người theo trường phái của Keynes Trong các thập niên
1950 và 1960 học thuyết này gặp sự chống đối mãnh liệt từ phía những ngườitheo phái trọng tiền mà đứng đầu là Milton Friedman, một nhà kinh tế họcHoa Kỳ Họ thừa nhận cách phân tích của Keynes giải thích được nguyênnhân gây ra đại suy thoái, nhưng cho rằng chưa đưa ra được một cách giảithích xác đáng về lạm phát Theo họ, lạm phát chủ yếu theo lượng tiền tronglưu thông gây ra Hiện nay, kinh tế học vĩ mô đã hấp thụ được tinh hoa của cảhai phương pháp này, mặc dù vẫn còn những người cực đoan đứng hẳn vềmột phía
“Lý thuyết tổng quát” đã được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ
tiếng Bản dịch này được thực hiện theo lần xuất bản năm 1991 của nhà xuấtbản Macmillan Cambridge University Press, tập VII trong các tác phẩm chọnlọc của J M Keynes
Chúng tôi chân thành cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Lương Xuân Quí; Giáo sư
Vũ Đình Bách; Phó Giáo sư, Phó tiến sĩ Nguyễn Đình Hương đã chỉ đạo việc
tổ chức dịch, hiệu đính cuốn sách này Cám ơn sự trợ giúp của tổ chức SIDAThuỵ Điển cho việc dịch, in ấn và các chuyên gia nước ngoài đã gợi ý chọnsách, cảm ơn Nhà xuất bản Macmillan Cambridge University Press đã chophép dịch ra tiếng Việt và xuất bản tác phẩm này tại Việt Nam
Đây là một cuốn sách rất khó hiểu cả về mặt ý nghĩa kinh tế, ngôn ngữ,cũng như cách lập luận Để hiểu được sâu sắc hơn, có lẽ cần phải đọc thêm
Trang 7các tập khác của bộ sách đồ sộ này Bởi vậy, công việc biên dịch, hiệu đính
và biên tập chắc còn nhiều sai sót khó tránh được Chúng tôi rất trân trọngmọi góp ý của bạn đọc, xin gửi về Nhà xuất bản giáo dục hoặc trường Đạihọc Kinh tế quốc dân Hà Nội
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Trang 8Lời giới thiệu chung
Trang 9Lần xuất bản mẫu mực mới này đối với toàn tập của John MaynardKeynes là một công trình tưởng niệm của Hội kinh tế Hoàng gia đối với ông.Ông đã dành một phần rất lớn cuộc đời sôi động của mình cho Hội Năm
1911, lúc đó mới ở tuổi 28, ông đã trở thành chủ bút tờ Economic Journal(Tạp chí kinh tế) kế nghiệp ông Edgeworth Hai năm sau ông lại được cử làmthư ký toà soạn, ông giữ những chức vụ đó liên tục hầu như cho đến hết cuộcđời Thực ra ông Edgeworth đã quay lại làm việc cùng với ông từ năm 1919đến năm 1925 để giúp ông trong công việc thu thập tư liệu và xuất bản ÔngMacGregor đã thay ông Edgeworth cho đến năm 1934 khi ông AustinRobinson kế nghiệp ông MacGregor và tiếp tục giúp Keynes cho đến năm
1945 Nhưng trong những năm đó, Keynes vẫn chịu trách nhiệm chính và đưa
ra những quyết định chủ yếu về mọi bài báo đăng trong Tạp chí kinh tế, chỉtrừ có một hoặc hai số báo mà do bị ốm nặng vào năm 1937, nên ông khôngđảm đương được Chỉ một vài tháng trước khi ông qua đời vào dịp lễ Phụcsinh năm 1946, Keynes được bầu làm chủ tịch Hội, và ông đã trao quyền chủbút cho ông Roy Harrod và chức thư ký toà soạn cho ông Austin Robinson.Với tư cách chủ bút kiêm thư ký toà soạn, Keynes giữ một vai trò chínhtrong việc hình thành mọi chủ trương chính sách của Hội kinh tế Hoàng gia.Chính phần lớn nhờ ông mà các hoạt động xuất bản quan trọng của Hội - lầnxuất bản Sraffa của Ricardo, lần xuất bản Stark về các công trình kinh tế củaBentham và lần xuất bản Guilleband của Marshall cũng như một số ấn phẩmtrước đó, trong những năm 30, đã được khởi xướng
Khi Keynes qua đời năm 1946, Hội kinh tế Hoàng gia muốn làm mộtviệc gì đó để tưởng nhớ những công lao to lớn của ông Cho nên Hội đã lựachọn việc xuất bản các tác phẩm toàn tập của ông Sinh thời, Keynes rất thíchcác ấn phẩm in đẹp, cho nên Hội đã tìm cách làm cho các tác phẩm của ông
Trang 10được lưu danh đời đời là điều hoàn toàn xứng đáng với tên tuổi của ông, việclàm này của Hội đã thành công với sự giúp đỡ của ông Macmillan với tư cách
là chủ các nhà xuất bản và nhà in trường Đại học Cambridge
Lần xuất bản này chỉ liên quan đến các tác phẩm của Keynes về lĩnh vựckinh tế học Những thư từ riêng tư của ông và gia đình đều không được đềcập đến ở đây Có thể nói, lần xuất bản này chỉ thể hiện Keynes như một nhàkinh tế học
Các tác phẩm của Keynes thuộc năm thể loại lớn Thứ nhất, đó là nhữngtác phẩm ông đã viết và xuất bản thành sách Thứ hai, những bài báo và cáccuốn sách nhỏ ông đã viết trong suốt cuộc đời Tiểu luận về sức thuyết phục
và tiểu luận và tiểu sử Thứ ba, một khối lượng lớn các bài viết của ông đãđược đăng tải nhưng chưa được thu thập như các bài đẵng lẻ tẻ trên các báochí, các bức thư gửi cho các báo, các bài viết đăng trên các tạp chí và khôngnằm trong hai tuyển tập lớn, và nhiều cuốn sách nhỏ khác nữa Thứ tư, một
số tác phẩm cho đến nay vẫn chưa được đăng Thứ năm, thư từ ông thườngtrao đổi với các nhà kinh tế và liên quan đến kinh tế học hoặc các công việc
về lợi ích công cộng
Việc công bố các thư từ về kinh tế học của Keynes cần phải được lựachọn kỹ càng Trong thời kỳ sử dụng máy chữ và tủ đựng hồ sơ, giấy tờ, vàđặc biệt đối với một người năng động và bận rộn như vậy, không thể chođăng nếu không có sự xem xét, chọn lựa những mẩu giấy mà Keynes có thể
đã đọc cho người khác viết về một số vấn đề chưa thật quan trọng hoặc cótính chất tạm thời Song, chúng tôi muốn thu thập và cho xuất bản càng nhiềucàng tốt những thư từ mà trong đó Keynes phát triển những suy tư của riêngông và những lý lẽ ông đã đưa ra để bảo vệ những ý kiến của ông trong cáccuộc tranh luận với các nhà kinh tế học, cũng như các thư từ có ý nghĩa lớn
Trang 11lao vào những thời kỳ mà Keynes bị lôi cuốn vào các công việc chung củađất nước.
Ngoài những cuốn sách đã được xuất bản rồi, những người chuẩn bị cho
bộ sách này còn có hai nguồn tư liệu chính Trước hết trong bản chúc thưKeynes đã chỉ định ông Richard Kahn làm người thi hành di chúc và chịutrách nhiệm về các tài liệu kinh tế học của ông Những tài liệu này hiện đangđược lưu trữ tại thư viện Marshall thuộc trường đại học Cambridge và có thểđược sử dụng cho lần xuất bản này Cho đến năm 1914 Keynes chưa có thư
ký riêng và những tài liệu ông ta viết trước năm đó chủ yếu là những bản thảoviết tay, những bức thư quan trọng của ông Vào thời kỳ ấy hầu hết các thư từ
mà chúng tôi có trong tay hiện giờ là những thư ông nhận được hơn là nhữngthư do ông viết gửi đi Trong những năm 1914-1918 và 1940-1946 Keyneslàm việc ở Bộ Tài chính Với việc cho phép sử dụng những sổ sách chínhthức, người ta thu thập được nhiều thư từ mà chính ông đã viết Từ năm 1919trở đi cho đến cuối đời, Keynes được sự giúp đỡ của một thư ký, bà Stevenstrong nhiều năm liên tiếp Vì vậy trong 25 năm cuối cuộc đời làm việc củaông, phần lớn chúng tôi có bản sao qua giấy carbon những bức thư của ông
đã gửi đi cũng như những chính bản thư từ ông đã nhận được
Tất nhiên trong thời kỳ này, Keynes cũng có những lần tự mình viết thư.Trong một số trường hợp, chúng tôi đã thu thập được những bức thư ông gửi
đi từ những người mà ông thường xuyên giao dịch Chúng tôi thu thập đượcnhững cuộc trao đổi quan trọng giữa đôi bên, và để đánh giá đúng mức cả đôibên, chúng tôi rất muốn xuất bản đầy đủ những thư từ trao đổi giữa hai bên.Nguồn tư liệu thứ hai là một số những quyển dán những bài báo cắt mà
mẹ ông Keynes đã giữ lại trong gia đình trong một thời gian rất lâu Đó là bàFlorence Keynes, vợ ông Neville Keynes Từ năm 1919 trở đi, những quyển
Trang 12dán các bài báo cắt này bao gồm hầu hết các bài viết có tính chất tạm thời,chưa thực sự rõ ràng về các ý kiến đề xuất của Maynard Keynes, những bứcthư mà ông đã gửi cho các tờ báo và khá nhiều tư liệu mà qua đó người ta cóthể nhận thức được không chỉ những gì ông đã viết mà cả những phản ứngcủa nhiều người khác đối với những ý kiến đề xuất của ông Nếu không cónhững quyển dán các bài báo cắt đó đã được giữ gìn rất cẩn thận, thì bất kỳngười biên tập hoặc người viết tiểu sử nào về Keynes chắc đã vấp phải không
ít khó khăn
Kế hoạch xuất bản như đã được dự tính bao gồm tổng số 25 tập Trong
số đó, 8 tập đầu là những cuốn sách của Keynes đã được xuất bản từ trước, từ
cuốn Tiền tệ và tài chính Ấn Độ năm 1913 cho tới cuốn Lý thuyết tổng quát năm 1936, cộng thêm cuốn Luận trình về xác suất Sau đó đến các tập IX và
X trong đó có những Tiểu luận về sức thuyết phục và Tiểu luận về tiểu sử lànhững bài báo do chính Keynes sưu tầm Tiểu luận về sức thuyết phục khácvới bản in ban đầu ở hai mặt: nó bao gồm trọn vẹn các bài báo hoặc các cuốnsách nhỏ chứ không giống như ở bản in ban đầu, trong đó đã được viết lạicho ngắn gọn, và nó được bổ sung thêm một hoặc hai bài báo viết về sau cótính chất hoàn toàn giống như những bài trong bộ sưu tầm ban đầu của
Keynes Trong cuốn Các tiểu luận và tiểu sử chúng tôi thêm vào một hoặc
hai bài nghiên cứu về tiểu sử mà Keynes viết sau năm 1933
Bốn tập tiếp theo, tập XI tới tập XIV, sẽ in các bài báo và thư từ về kinh
tế và một tập dành riêng cho các bài viết về xã hội, chính trị và văn học.Chúng tôi cũng sẽ đưa vào các tập này những phần thư từ kinh tế của Keynes
có liên quan mật thiết tới các bài báo đã được in trong đó
Chín tập sau, như chúng tôi ước tính hiện nay, sẽ bàn về các hoạt độngcủa Keynes trong những năm từ khi bắt đầu cuộc đời hoạt động xã hội của
Trang 13ông ta, tức là từ năm 1905 cho đến khi ông mất Ở mỗi một trong các thời kỳ
mà theo đó chúng tôi đề nghị chia nhỏ các tư liệu này, tập sách có liên quan
sẽ đăng các bài viết có tính chưa rõ ràng về mặt nhận định mà cho tới naychưa sưu tầm những thư từ nói về các hoạt động này, kể cả những tư liệu vàthư tín cần thiết khác để hiểu rõ hơn hoạt động của Keynes Những tập sáchnày đang được Elizabeth Johnson và Donald Moggridge biên tập, hai ngườinày có nhiệm vụ theo dõi và giải thích các hoạt động của Keynes một cáchđầy đủ làm cho các tập tài liệu này hoàn toàn dễ hiểu đối với thế hệ mai sau.Cho đến khi tác phẩm này được hoàn thiện chúng tôi thấy khó có thể nóiđược chắc chắn là tài liệu này sẽ chỉ được phân phối như hiện nay đăng trongphạm vi chín tập, hoặc có cần phải thêm một, hai tập nữa hay không Tấtnhiên sẽ phải có một tập cuối cùng về thư mục và bảng tra cứu
Những người chịu trách nhiệm về lần xuất bản này là Huân tước Kahn,với tư cách vừa là người thi hành chúc thư của Huân tước Keynes vừa là mộtngười bạn lâu năm và thân cận của ông Huân tước Kahn hoàn toàn có đầy đủkhả năng giải thích những điều gì còn đang có sự hiểu nhầm; ông Roy Harrod
là tác giả bản tiểu sử của Keynes; ông Austin Robinson là người cộng sự vềmặt biên tập của Keynes trong tờ Tạp chí kinh tế và là người thay thế Keyneslàm thư ký cho Hội kinh tế Hoàng gia Elizabeth Johnson là người làm nhiệm
vụ biên tập đầu tiên của tạp chí Gần đây Donald Moggridge đã cùng vớiElizabeth Johnson tham gia vào trách nhiệm này Tất cả những người nói trêntrong những thời kỳ khác nhau còn được sự giúp đỡ của Jane Thisthethwaite,tức là bà McDonald, bà này lúc đầu chịu trách nhiệm về việc sắp xếp lại mộtcách có hệ thống các hồ sơ tài liệu của Keynes; Judith Masterman, người đãnhiều năm làm việc với bà Johnson và các tài liệu này và gần đây nhất làSusan Wilsher, Margaret Butler và Barbara Lowe
Trang 14Lời dẫn của ban biên tập
Trang 15“Tôi đã rất quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, có thể nói là giữa sựphát triển tư duy của tôi từ quan điểm kinh điển đến cách nhìn nhận hiện nay,với trình tự mà theo đó vấn đề này đã phát triển trong đầu tôi Điều mà mộtvài người coi như là không cần thiết gây ra tranh luận thì thực sự bắt nguồn
từ tầm quan trọng của những gì mà tôi đã từng suy ngẫm và tin vào và củanhững giây phút chuyển biến mà đối với bản thân tôi là những giây phút đầycảm hứng… Các bạn không nói tới nhu cầu thực tế hoặc, nói một cách chínhxác hơn, đường cầu về sản lượng nói chung, trừ khi nó được ngụ ý trong sốnhân Đối với tôi, xét về mặt lịch sử, điều kỳ lạ nhất là sự hoàn toàn biến mấtcủa lý thuyết cung cầu về sản lượng nói chung, tức là lý thuyết về việc làm,sau khi nó đã được bàn luận sôi nổi nhất trong kinh tế học trong một phần tưthế kỷ Một trong những chuyển biến trọng đại nhất đối với tôi, sau khi luậntrình về tiền tệ của tôi được xuất bản, là tôi bất ngờ hiểu rõ điều này Điều đóchỉ đến với tôi sau khi đã đề ra cho bản thân một quy luật tâm lý là khi thunhập tăng, khoảng cách giữa thu nhập và tiêu dùng sẽ tăng - một kết luận cótầm quan trọng lớn lao đối với tư duy của chính bản thân tôi, nhưng không aicũng thấy được rõ ràng như vậy Sau đó khá lâu đến với tôi khái niệm lãi suấtlúc đó được coi là thước đo ưu tiên chuyển hoán Điều này đã trở thành hoàntoàn rõ ràng trong đầu óc tôi khi tôi nghĩ đến nó Và cuối cùng, sau khi đã cónhững suy nghĩ lung tung và khá lẫn lộn và đưa ra nhiều bản phác thảo, địnhnghĩa hợp lý về hiệu suất biên của vốn đã giúp tôi liên kết sự việc nọ với sựviệc kia”
Với những lời lẽ này, Keynes đã nói với R F Harrod mùa hè năm 1936
về sự phát triển những ý tưởng của mình về Lý thuyết tổng quát(1)
Nguồn gốc của Lý thuyết tổng quát là ở chỗ Keynes không hài lòng vớiLuận trình về tiền tệ của ông ta ngay ở thời điểm nó được xuất bản(2) trong
Trang 16thời kỳ khủng hoảng kinh tế kéo dài vào những năm kế tiếp sau năm 1929, vàmột nhóm các nhà kinh tế học trẻ ở Cambridge đã họp ngay sau khi cuốnsách đó được xuất bản để tranh luận và mổ xẻ Luận trình đó Chính từ cuộctranh luận tiến hành trong nhóm này mà Richard Kahn đã kể lại khá chi tiếtcho Keynes nghe, ông đã đặt cơ sở mở đầu cho việc chuyển biến từ Luậntrình về tiền tệ sang Lý thuyết tổng quát(3).
Giai đoạn này đánh dấu việc Keynes cam kết tiến hành xem xét lại các
cơ sở lý luận của luận trình về tiền tệ, mà chỉ xét đến một cách ngẫu nhiênnhững biến động về mặt sản lượng Vì vậy trong lời nói đầu của ông viết chocác độc giả Nhật Bản về luận trình này tháng 4 năm 1932, Keynes đã ghi rõ
là tốt hơn không phải xem xét lại luận trình mà ông đề nghị cho “in một cuốnsách nhỏ thuần tuý có tính chất lý luận, mở rộng và chỉnh lý cơ sở lý luận cácquan điểm của ông ta như đã đề ra trong quyển III và IV”(4) Sự cam kết củaKeynes trở nên rõ ràng hơn vào mùa thu năm 1932 khi ông thay đầu đề giáotrình của ông, từ “Lý thuyết thuần tuý về tiền tệ”, đầu đề này dùng từ mùa thu
1929, sang “Lý thuyết tiền tệ trong sản xuất”, đầu đề này được sử dụng chođến năm 1934 Những bài giảng này của Keynes nói về những biến động vềsản lượng nói chung và có những mầm mống về khái niệm ưu tiên chuyểnhoán, mặc dù cho mãi đến mùa thu 1933 các bài giảng của ông mới sử dụngđầu đề là Lý thuyết tổng quát
Hướng thay đổi tư duy của Keynes giữa Luận trình và tiền tệ và Lý thuyết tổng quát xuất hiện vào năm 1933 dưới hình thức một bản tiểu luận
“Lý thuyết tiền tệ trong sản xuất”, một cuốn sách nhỏ “Cách tiến tới phồnvinh”, một bài báo “Số nhân” và một bản tóm tắt tiểu sử của T R Malthus(5).Tất cả những bài này đều trình bày không thoả mãn với lý thuyết đã đượcchấp nhận
Trang 17Như vậy, Lý thuyết tổng quát được dần dần xây dựng một cách vữngchắc kể từ năm 1931 Vào mùa xuân năm 1934, trên thực tế mọi vấn đề đềuđược đặt vào đúng vị trí của nó trừ những ý kiến về hiệu suất biên của vốn,như thấy rõ trong các bản dự thảo từ thời kỳ đó và trong một bài thuyết trình
mà Keynes chuẩn bị trong chuyến đi thăm Mỹ tháng Năm và tháng Sáu(6).Song chỉ vào mùa hè năm 1934, bản sửa đổi cuối cùng mới hoàn thành, vàmùa thu năm đó Keynes giảng bài dưới đầu đề “Lý thuyết tổng quát về việclàm” lấy ngay từ những tờ in thử đầu tiên
Tuy nhiên, trước khi xuất bản, bản thảo còn được mang ra thảo luận,nghiên cứu và thay đổi khá nhiều trong khoảng một năm Keynes chuyển cácbản in thử cuốn sách cho R F Kahn, Joan Robinson, R F Harrod, D H.Robertson và R C Hawtrey và ghi lại cẩn thận những lời nhận xét và những
ý kiến đề nghị hoàn thiện thêm và cũng trình bày rõ ràng những điểm mà ôngkhông đồng ý với họ(7) Như vậy là sau gần năm năm chuẩn bị khá căngthẳng cuốn sách đã ra đời vào tháng Hai năm 1930, được bán với giá 5shilling để khuyến khích sinh viên mua đọc
Sau khi xuất bản vẫn còn có những cuộc tranh luận, bàn cãi kể cả đôikhi còn có cả những ý kiến trái ngược nữa Chính Keynes đã khuyến khích
mọi người phát biểu ý kiến để làm sáng tỏ thêm cuốn Lý thuyết tổng quát
này(8) Ông viết: “Tôi rất chú trọng đến những khái niệm cơ bản được trìnhbày một cách tương đối, đơn giản để làm nền tảng cho lý thuyết của tôi hơn
là những hình thức riêng biệt mà tôi đã dùng để miêu tả những khái niệm đó.Tôi không hy vọng là những khái niệm phải hoàn toàn đúng trong giai đoạnđầu của cuộc thảo luận Nếu những khái niệm cơ bản đơn giản được mọingười chấp nhận và trở nên quen thuộc, thì thời gian, kinh nghiệm và sự hợptác của nhiều người sẽ tìm được cách tốt nhất để diễn đạt chúng”
Trang 18Với tinh thần đó, Keynes bắt tay vào việc liên lạc bằng thư từ với nhiềunhà phê bình nhầm giải thích và phổ biến những tư tưởng của ông(9) Ngoài
ra, trong quá trình thảo luận, những khái niệm của ông đã thay đổi ThángTám năm 1936, ông viết thư cho R C Hawtrey(10): “Tôi có thể nói rằng tôiđang suy nghĩ để vào năm tới việc những lời chú giải cuối trang cho cuốnsách trước của tôi mà ở trong đó có ghi những lời phê bình và các điểm cầnphải làm sáng tỏ thêm Thực vậy, toàn bộ cuốn sách cần phải viết lại và bốcục lại Nhưng tôi hãy còn chưa ở trong tình trạng tâm tư đã có sự thay đổiđầy đủ để làm được việc đó Mặt khác, tôi có thể giải quyết những điểm riêngbiệt” Từ thời kỳ này, chúng tôi có một bản mục lục dự thảo cho cuốn sách
lấy tên là Những chú giải cho cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất
và tiền tệ, một đầu đề lập lại bản mục lục đầu tiên của ông sau cuốn Những hậu quả kinh tế của hoà bình(11) Keynes cũng sử dụng đầu đề này khi ôngđọc các bài giảng Cambridge mùa xuân năm 1937, trong số đó còn ghi lạiđược bản thảo của hai bài giảng(12) Trên thực tế, ông hình như đã đạt được
khá nhiều tiến bộ để nhìn nhận cuốn Lý thuyết tổng quát vào thời đó, vì ông
đã nói với Joan Robinson tháng tư năm 1937(13): “Tôi đang dần dần đứng ởphía bên ngoài để xem xét cuốn sách và tôi đang cảm nhận được đườnghướng diễn tả mới Ông có thể thấy được những điều tôi suy nghĩ qua các bàigiảng sắp tới” Nhưng đáng tiếc thay những “lời chú giải” không thể vượt rangoài các bài giảng của ông, vì Keynes bị đau tim nặng vào đầu mùa hè năm
1937 và ông chẳng thể nào đủ sức làm được việc gì cho đến khi cuộc chiếntranh nổ ra năm 1939 sau đó năng lực của ông được định hướng theo hướng
khác: làm thế nào để ông có thể duyệt lại toàn bộ cuốn Lý thuyết tổng quát
nếu như chính ông cũng không rõ tình trạng sức khoẻ thực sự của mình rasao Chỉ có một điều chắc chắn là ông rất muốn duyệt lại cuốn sách đó
Trang 19Từ khi được xuất bản ở Anh tháng hai năm 1936, cuốn Lý thuyết tổng quát được in lại ở Mỹ và được dịch sang tiếng Đức, Nhật, Pháp, Tây Ban
Nha, Tiệp Khắc, Italia, Serbia-Croatia, Hindi, Phần Lan, Hungary và Nga.Các lần xuất bản ở Đức, Pháp và Nhật đều có đăng thêm lời nói đầu, đặc biệttiếp theo sau lời tựa ban đầu trong bản tiếng Anh Những lời nói đầu viếtthêm đó được đăng tải dưới đây
Lần xuất bản này tiếp theo sau lần in lại đầu tiên của bản tiếng Anh, nókhác với bản tiếng Anh in đầu tiên ở chỗ là các dòng 23-25 của trang 123được sửa lại như đã đính chính và có những sửa đổi ở các trang 44, 113, 176,
357 Ở bản phụ lục 1, chúng tôi đã giới thiệu một danh mục các điều sửa đổinhỏ từ lần xuất bản in lại lần thứ nhất Ngoài ra, ở bản phụ lục 2 và 3, chúngtôi cho in lại các bài báo của Keynes với nhan đề “Những biến động về đầu
tư ròng ở Mỹ” và “Những biến động tương đối về tiền lương thực tế và sảnlượng” mà đề cập đến những sai lầm ở các trang 103-104 ở cuốn trước và ởcác trang 9-10 ở cuốn sau Bạn đọc cần phải xem các tập XIII và XIV nếu
muốn biết rõ nội dung cuốn Lý thuyết tổng quát và căn nguyên, nguồn gốc của nó.
Khi cho in tập này, chúng tôi có ý định chủ yếu là theo đúng sự đánh sốtrang của bản gốc Một số lớn các tài liệu phê bình và phân tích cụ thể đã nảysinh xung quanh bản chính của nhà xuất bản đầu tiên và chúng tôi cho rằngnhững chỉ dẫn về các tài liệu nói trên cũng cần phải được in lại trong lần xuấtbản này Điều này có nghĩa là chúng tôi khó có thể theo đúng cách in chuẩnnhư đối với các tập khác trong cùng bộ sách Theo quan điểm của chúng tôi,cái lợi về mặt tra cứu đó là điều chủ yếu Trong các tập khác, chúng tôi đãgiảm bớt việc in chữ hoa mà các nhà in đầu tiên rất ưa thích, nhưng thực rakhông hợp với người đọc hiện nay
Trang 20Bức thư của Keynes viết cho R P Harrod ngày 30-8-1936 Nó được đăng toàn văn ở tập XIV.
Trang 21Xem bức thư của Keynes gửi cho mẹ ông ngày 14-9-1930 trong tập V, tr xv.
Trang 22Một bản ghi chú về cuộc họp của nhóm này và những tư liệu còn sót lại trong cuộc họp
đó đăng trong tập XIV.
Trang 23John Maynard Keynes, tập V tr XXVII.
Trang 24“Lý thuyết tiền tệ trong sản xuất đăng ở tập XIII: “Cách tiến tới phồn vinh” ở tập IX (VI) I: “Robert Malthus; Người đầu tiên của các nhà kinh tế học Cambridge” ở tập X, chương 12.
Trang 25Bài thuyết trình này đăng ở tập XVI.
Trang 26Những thư từ trao đổi về bản thảo cuốn sách và văn bản cuối cùng của Lý thuyết tổng quát đăng trong tập XIII.
Trang 27Xem bài “Lý thuyết tổng quát về việc làm” của Keynes (1937) Bài này đăng trong tập XIV.
Trang 28Bức thư này đăng toàn văn ở tập XIV.
Trang 29Keynes gửi cho R G Hawtrey, 31-8-1936 Lá thư này được in toàn văn trong tập XIV.
Trang 30Xem cuốn “Sự xem xét lại bản hiệp ước” (JMK Tập III, tr XIII)
Trang 31Đăng ở tập XIV.
Trang 32Thư gửi cho Joan Robinson ngày 20-4-1937.
Trang 33Lời tựa
Trang 34Cuốn sách này chủ yếu dành cho các nhà kinh tế học, bạn đồng nghiệpvới tôi Tôi mong rằng nó cũng dễ hiểu đối với những người khác Nhưngmục đích chủ yếu của cuốn sách này là bàn về các vấn đề lý thuyết khó hiểu
mà chỉ bàn đến việc áp dụng lý thuyết đó vào thực tiễn ở diện thứ yếu Vì nếukinh tế học chính thống có sự sai sót, thì phải tìm sai lầm không phải ở kiếntrúc thượng tầng vì bộ phận này đã được xây dựng khá công phu để đảm bảotính trước sau như một, mà ở chỗ thiếu tính rõ ràng và tính tổng quát trongcác tiền đề Như vậy tôi không thể đạt được mục tiêu thuyết phục các nhàkinh tế học xem xét lại trên cơ sở phê phán một số các giả thuyết cơ bản của
họ, trừ khi đưa ra những lý lẽ hết sức trừu tượng thông qua nhiều cuộc tranhluận gay gắt Tôi mong rằng phần tranh luận sẽ giảm bớt đi Nhưng tôi nghĩviệc này là quan trọng không những để giải thích quan điểm của chính bảnthân tôi mà còn để cho thấy ở những mặt nào nó xuất phát từ lý thuyết phổbiến Những ai gắn bó chặt chẽ với điều mà tôi gọi là “Lý thuyết cổ điển” sẽgiao động giữa niềm tin rằng tôi hoàn toàn sai lầm và sự tin tưởng rằng tôicũng chẳng nói điều gì mới mẻ cả Xin hãy để cho người khác quyết địnhhoặc cái này hay cái kia hoặc cái thứ ba là đúng Các đoạn sách có tính chấttranh luận nhầm cung cấp ít nhiều tư liệu cho một câu trả lời; tôi phải xinđược tha thứ nếu như trong khi theo đuổi những điều phân biệt gây cấn, sựtranh luận của tôi tự nó thể hiện một sự gay gắt quá đáng Trong nhiều nămvới niềm tin tưởng tôi đã bám giữ các lý thuyết mà tôi hiện nay đang bàn luậnđến và tôi hoàn toàn hiểu rõ các mặt mạnh của các lý thuyết đó
Các vấn đề đang tranh luận có một tầm quan trọng mà không cần phảithổi phồng hay phóng đại Nếu như những lời giải thích của tôi là đúng, thìchính các nhà kinh tế học đang cộng tác với tôi chứ không phải quảng đạiquần chúng mà tôi cần phải thuyết phục Tại giai đoạn tranh luận này, quảng
Trang 35đại quần chúng, mặc dù được hoan nghênh tại cuộc bàn luận, vẫn chỉ lànhững người đứng ngoài để nghe ngóng một nhà kinh tế học đưa ra những sựkhác biệt ý kiến giữa những nhà kinh tế học cộng sự với tôi vì họ hầu như đãlàm mất ảnh hưởng thực tế của lý thuyết kinh tế và sẽ tiếp tục làm như vậycho đến khi những sự khác biệt ý kiến đó được giải quyết.
Quan hệ giữa cuốn sách này và cuốn Luận trình về tiền tệ của tôi (JMK
các tập V và VI) mà tôi đã có dịp cho xuất bản 5 năm trước đây chắc là rõràng hơn đối với tôi so với những người khác Những gì đập vào trí óc tôinhư là một tiến trình tự nhiên trong một chuỗi suy tư mà tôi đã theo đuổi từnhiều năm nay, có thể làm cho bạn đọc ngạc nhiên bởi sự thay đổi lộn xộn vềquan điểm Cái khó khăn này không thể giảm đi do có một số thay đổi vềthuật ngữ mà tôi buộc phải sử dụng Những thay đổi về ngôn ngữ này tôi đã
đề cập đến trong các trang tới đây của cuốn sách, nhưng mối liên hệ chunggiữa hai cuốn sách có thể được thể hiện ngắn gọn như sau Khi tôi bắt đầuviết Luận trình về tiền tệ tôi lúc đó hãy còn chịu sự tác động nặng nề củađường lối cổ truyền coi ảnh hưởng của tiền tệ như là một thứ gì đó tách rờikhỏi lý thuyết tổng quát về cung và cầu Khi tôi viết xong luận trình này, tôi
đã đạt được một vài tiến bộ là đẩy lùi lý thuyết tiền tệ trở lại để trở thành lýthuyết về sản lượng nói chung Nhưng do thiếu sự giải thoát khỏi các thànhkiến, cho nên tôi đã mắc phải một lỗi lầm nghiêm trọng trong các phần lýluận của tác phẩm đó (nói rõ hơn là quyển III và VI) mà tôi đã bỏ qua khônggiải quyết đầy đủ các hậu quả của những thay đổi về mặt sản lượng Nhữngcái gọi là những phương trình cơ bản của tôi là một hình ảnh thời lấy theo giảđịnh một sản lượng đã cho trước Các phương trình đó cho thấy, khi cho rằngmột sản lượng đã được xác định, các tác nhân gây ra sự mất cân đối về lợinhuận có thể phát triển như thế nào và như vậy đòi hỏi phải có sự thay đổi về
Trang 36mặt sản lượng Nhưng sự phát triển năng động, khác với hình ảnh tức thời, đã
bị đặt vào tình trạng không hoàn chỉnh và hết sức lộn xộn Cuốn sách này,mặt khác, đã tiến triển thành một công trình nghiên cứu sơ khởi về các tácnhân quyết định những thay đổi về mức sản lượng và về việc làm nói chung,
và trong khi người ta thấy tiền tệ đi vào kế hoạch kinh tế một cách cần thiết
và đặc biệt, thì những số liệu kỹ thuật về tiền tệ bị lùi về phía sau Một nềnkinh tế tiền tệ, như chúng ta sẽ thấy, về thực chất là nền kinh tế trong đónhững quan điểm luôn thay đổi về tương lai có khả năng ảnh hưởng tới sốlượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm mà thôi Nhưng phươngpháp phân tích hành vi kinh tế hiện nay của chúng ta, do bị ảnh hưởng của ýkiến luôn luôn thay đổi về tương lai, là phương pháp phân tích dựa trên tácđộng qua lại giữa cung và cầu, và với cách này gắn chặt với lý thuyết cơ bảncủa chúng ta về giá trị Vì thế, chúng ta đi tới một lý thuyết tổng quát hơn baogồm cả lý thuyết kinh điển rất quen thuộc với chúng ta như là một trường hợpđặc biệt
Tác giả một cuốn sách như cuốn này vì phải đi trên những con đườngkhông quen thuộc, cho nên rất mong nhận được những lời phê phán và traođổi, nếu muốn tránh được những lầm lẫn không cần thiết Thật là lạ lùng làngười ta trong một lúc nào đó có thể tin vào những việc rồ dại nếu người tasuy nghĩ một mình khá lâu về các việc đó, đặc biệt đối với kinh tế học (cùngvới các khoa học đạo đức khác) mà ở đó thường không thể nào đưa những ýkiến ra tranh luận để rút ra kết luận, dù cho chính thức hay thử nghiệm Trongcuốn sách này, so với khi viết Luận trình về Tiền tệ tôi đã luôn luôn nhờ đếncác lời khuyên và những lời phê phán mang tính xây dựng của ông R F.Kahn Rất nhiều ý kiến trong cuốn sách này được lấy từ những gợi ý của ông.Ngoài ra tôi còn được sự giúp đỡ rất nhiều của bà Joan Robinson, ông R G
Trang 37Hawtrey và ông R F Harrod; những người này đã đọc lại toàn hộ bản thảo vàcác bản in thử Bảng tra cứu ở cuối cuốn sách do ông D M Bensusan-Buttthuộc học viện King trường Đại học Cambridge biên soạn.
Việc biên soạn cuốn sách này đối với tác giả là một cuộc đấu tranh lâudài tự giải thoát khỏi những thói quen cũ trong cách suy nghĩ hiện đại Và cácbạn độc giả cũng mất không ít thời gian để đọc nó nếu như tác giả đã có một
sự thành công nào đó khi viết cuốn sách này Những ý kiến được trình bàycông phu trong cuốn sách này là hết sức đơn giản và rõ ràng Khó khănkhông phải ở những ý kiến mới lạ, mà ở cách giải thoát khỏi những ý kiến cũcòn ẩn sâu trong đầu óc vì những ý kiến đó đã được nuôi dưỡng từ lâu trongtâm trí của mọi người
13 tháng Mười hai, 1935
J M Keynes
Trang 38Lời tựa về lần xuất bản bằng tiếng Đức
Trang 39Alfred Marshall, tác giả của cuốn Những nguyên lý kinh tế học mà tất cả
các nhà kinh tế học Anh đương thời đã được học tập, đã phải cố gắng đặc biệt
để nhấn mạnh tính kế thừa trong tư duy của ông với tư duy của Ricardo Tácphẩm của ông phần lớn bao gồm việc liên kết chặt chẽ nguyên lý biên vànguyên lý thay thế với cách suy nghĩ của Ricardo, lý thuyết của ông về sảnlượng và tiêu dùng như một tổng thể khác với lý thuyết của ông về sản xuất
và phân phối một sản lượng đã xác định, chưa bao giờ được trình bày mộtcách riêng biệt cả Tôi không dám chắc liệu bản thân ông ta có cảm thấy cầnphải có một lý thuyết như vậy không Nhưng những người tiếp tục sự nghiệp
và những người theo tư tưởng triết học của ông chắc chắn đã không cần đến
lý thuyết đó và cũng chẳng cảm thấy thiếu nó Chính tôi đã được giáo dụctrong bầu không khí đó Tôi tự nghiên cứu những học thuyết này và chỉ trongvòng một thập kỷ qua tôi đã nhận thấy những học thuyết đó là chưa đủ Qua
sự suy nghĩ của chính bản thân, tôi thấy cuốn sách này là phản tác dụng, nódẫn dắt học viên xa rời truyền thống cổ điển (hoặc chính thống) của Anh Sựnhấn mạnh của tôi tới vấn đề này trong những trang sách sau đây và tớinhững điểm bất đồng của tôi đối với học thuyết tiếp thu được đã bị một vàinhóm học giả ở Anh coi như là một sự tranh cãi quá đáng, không đúng lúc.Nhưng làm sao mà một tín đồ Thiên chúa giáo trong kinh tế học Anh, thực ra
là một giáo sĩ của đạo này, lại có thể tránh né một cuộc tranh luận khi ôngnày lần đầu tiên trở thành tín đồ đạo Tin lành?
Nhưng tôi nghĩ rằng tất cả những điều trên đây có thể gây ấn tượng cómột phần nào khác nhau đối với các độc giả Đức Học thuyết chính thống khicòn thống trị vào thế kỷ 19 ở Anh, chưa bao giờ nắm chắc được tư duy củangười Đức Ở nước Đức có những trường phái kinh tế học khá quan trọng
Họ đã tranh luận sôi nổi về tính thích đáng của lý thuyết cổ điển để phân tích
Trang 40các hiện tượng đương thời Trường phái Manchester và chủ nghĩa Marx cảhai suy cho cùng đều bắt nguồn từ Ricardo, một kết luận chỉ làm cho mọingười ngạc nhiên về bề ngoài mà thôi Nhưng ở Đức đã từ lâu phần lớn dưluận không tin vào bên này mà cũng chẳng ủng hộ bên kia.
Tuy thế, cũng khó mà khẳng định rằng trường phái tư tưởng này đã xâydựng cho mình một lý thuyết đối lập, hoặc đã tìm cách làm việc đó Họ tỏ rahoài nghi, hiện thực, thoả mãn với những phương pháp và kết quả mang tínhchất lịch sử và kinh nghiệm chủ nghĩa, do đó họ từ bỏ mọi sự phân tích hìnhthức Một cuộc tranh luận phi chính thống quan trọng nhất về đường lối lýluận là cuộc tranh luận của Wicksell Các sách của ông thịnh hành ở Đức (vìkhông có bản dịch tiếng Anh cho mãi đến gần đây); thực ra cuốn quan trọngnhất trong số sách đó lại viết bằng tiếng Đức Những người theo học thuyếtcủa ông ta phần lớn là người Thuỵ Điển và người Áo Những người Áo theohọc thuyết của ông kết hợp những tư tưởng của ông với lý thuyết đặc thù của
Áo để trên thực tế đưa những tư tưởng này trở về với học thuyết kinh điển.Như vậy nước Đức, hoàn toàn trái ngược với thói quen của nó trong hầu hếtcác ngành khoa học, đã bằng lòng trong cả một thế kỷ không có bất kỳ một lýthuyết chính thức nào về kinh tế học mà lúc đó đang thịnh hành và được mọingười công nhận
Do đó, tôi có thể hy vọng có ít sự chống đối từ những độc giả Đức hơn
là từ phía các độc giả Anh, khi đưa ra một lý thuyết về việc làm và sản lượngnhư một tổng thể Về nhiều mặt quan trọng lý thuyết này khác với lý thuyếtchính thống Nhưng liệu tôi có thể hy vọng khắc phục được đối lập về kinh tếcủa Đức không? Liệu tôi có thể thuyết phục các nhà kinh tế học Đức rằng cácphương pháp phân tích chính quy có một tầm quan trọng nào đó góp phầngiải thích các sự kiện đương thời và hình thành một chính sách hiện nay