1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý di sản văn hóa dân tộc sán dìu ở huyện đảo vân đồn, tỉnh quảng ninh

252 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan, luận án tiến sĩ Quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là công trình nghiên cứu của riêng tôi, cáckết quả nghiên cứu được trình bày

Trang 1

Trần Quốc Hùng

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội - 2021

Trang 2

Trần Quốc Hùng

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Chuyên ngành: Quản lý văn hoá

Mã số: 9229042

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Bùi Văn Tiến

Hà Nội - 2021

Trang 3

Tôi xin cam đoan, luận án tiến sĩ Quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưatừng bảo vệ ở bất kỳ học vị nào

Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa nhiều nguồn tài liệu và cótrích dẫn rõ ràng, đầy đủ

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 19 tháng 7 năm 2021

Tác giả luận án

Trần Quốc Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi

DANH MỤC HỘP vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 12

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 12

1.2 Cơ sở lý luận 29

1.3 Mối quan hệ hữu cơ giữa quản lý Nhà nước, quản lý của cộng đồng và các bên liên quan khác 45

Tiểu kết 49

Chương 2: DI SẢN VĂN HÓA VÀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 51

2.1 Di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn 51

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về di sản văn hóa ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 56

2.3 Thực trạng quản lý của cộng đồng đối với di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 76

2.4 Sự tham gia của các bên liên quan khác trong quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 94

2.5 Thực trạng cơ chế phối hợp trong quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 97

2.6 Thực trạng các nguồn lực trong quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 101

2.7 Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước, quản lý của cộng đồng và các bên liên quan trong quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 103

2.8 Một số yếu tố tác động 109

Tiểu kết 114

Chương 3: BÀN LUẬN VỀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 116

3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý di sản văn hóa 116

3.2 Bàn luận về quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu 124

Trang 5

đảo Vân Đồn 129

3.4 Giải pháp quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn 133

3.5 Đề xuất mô hình quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu gắn với phát triển du lịch 147

Tiểu kết 152

KẾT LUẬN 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 171

Trang 6

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Di sản văn hóaDân tộc thiểu sốHội đồng nhân dân

Kế hoạchKhoa học và công nghệKhu Kinh tế

Kinh tế - xã hộiNghiên cứu sinhNghệ nhân dân gianNghệ nhân nhân dânNghệ nhân ưu túNhà xuất bảnPhụ lụcPhỏng vấn sâuQuốc hộiQuản lýQuản lý Nhà nướcThành phố

TrangThủ tướng Chính phủ

Ủy ban nhân dânUnited Nations Educational, Scientific and CulturalOrganization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóaLiên Hiệp quốc)

Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 7

Bảng 1: Mẫu nghiên cứu định lượng dựa theo chỉ tiêu về giới tính và độ tuổi của

chủ hộ người dân tộc Sán Dìu ở huyện Vân Đồn 8

Bảng 2: Tổng số mẫu nghiên cứu định lượng của dân tộc Sán Dìu ở xã Bình Dân, huyện Vân Đồn 9

Bảng 1.1: Hai phương diện để xây dựng cộng đồng và sự khác biệt giữa chúng 47

Bảng 2.1: Nguồn kinh phí thực hiện Quy hoạch bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 63

Bảng 2.2 Tổng hợp từ Danh mục kiểm kê DSVH phi vật thể tỉnh Quảng Ninh của Sở Văn hóa và Thể thao ngày 22/9/2016 67

Bảng 2.3 Nhận diện các nguồn lực trong hoạt động QL DSVH người Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn thông qua khung phân tích SWOT 103

Bảng 3.1 Mục tiêu trong QL DSVH dân tộc Sán Dìu huyện đảo Vân Đồn 148

Bảng 3.2 Nguyên tắc QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn gắn với phát triển du lịch 150

Bảng 3.3 Sự tham gia của các bên liên quan trong QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn 152

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ 2.4 Sơ đồ 1 Sơ đồ 2.1 vi DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang Hiểu biết về lễ hội Đại phan 81

Hiểu biết về dân ca 82

Giá trị văn hóa của dân tộc Sán Dìu còn lưu giữ hiện nay 89

Mong muốn tham gia hoạt động du lịch 95

Phân bổ chọn mẫu quả bóng tuyết 7

Khung lý thuyết nghiên cứu QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn 50

Trang 8

Hộp 2.1 Lý giải về việc chậm trễ triển khai dự án bảo tồn và phát triển văn hóa dân

tộc Sán Dìu ở xã Bình Dân, huyện Vân Đồn 63

Hộp 2.2 Hoạt động của cộng đồng dân tộc Sán Dìu 79

Hộp 2.3 Sự khác biết biệt trong môi trường sinh hoạt văn hóa Sán Dìu 81

Hộp 2.4 Các phẩm chất và kỹ năng cần có để làm thầy cúng và thầy thuốc 81

Hộp 2.5 Người tham gia thực hiện Dự án bảo tồn chữ viết Sán Dìu 82

Hộp 2.6 Sự tham gia của người trong thực hiện chính sách 86

Hộp 2.7 Hoạt động của CLB Soọng cô 87

Hộp 2.8 Quá trình thực hành lễ Đại phan 87

Hộp 2.9 Vai trò người có uy tín trong cộng đồng 87

Hộp 2.10 Trao truyền Soọng cô 89

Hộp 2.11 Cơ hội được giao lưu 91

Hộp 2.12 Hoạt động lễ hội Tây Thiên gắn với văn hóa Sán Dìu 92

Hộp 2.13 Hạn chế trong QLNN về DSVH tại huyện Vân Đồn 99

Hộp 2.14 Ý kiến trái chiều về BV&PH giá trị DSVH Sán Dìu 99

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Huyện Vân Đồn là huyện vùng DTTS, miền núi và hải đảo, nơi đây khôngnhững thiên nhiên ban tặng danh thắng vịnh Bái Tử Long, mà còn có nhiều giá trịvăn hóa lịch sử độc đáo như: thương cảng Vân Đồn phát triển cực thịnh dưới thời

Lý - Trần, chứng tích lịch sử các trận đánh chống giặc Nguyên Mông, đình QuanLạn… Đặc biệt, Vân Đồn là nơi sinh sống của cộng đồng DTTS: Sán Dìu, Dao,Tày,… trong đó, dân tộc Sán Dìu là DTTS chiếm tỷ lệ đông nhất (trên 10% dân sốtoàn huyện) Giá trị DSVH các DTTS nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng rấtđộc đáo được thể hiện qua khối óc và bàn tay đầy sáng tạo của lớp lớp người đitrước tạo nên những giá trị văn hóa đặc trưng riêng có và được trao truyền quanhiều thế hệ tạo nên kho tàng DSVH vật thể, phi vật thể phong phú và đặc sắc như:

ẩm thực, trang phục, nhà cửa, nông cụ sản xuất, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễhội, dân ca, trò chơi, tri thức dân gian…

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quyết định, quy hoạch, chương trình, dự

án, kế hoạch phát triển KT-XH của huyện đảo Vân Đồn vẫn chưa đề cập rõ ràng, chitiết về vấn đề QL DSVH các DTTS, trong đó có dân tộc Sán Dìu Các văn bản nêutrên chỉ đề cập chung chung “cần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS” vàthực tiễn công tác QLNN về DSVH trên địa bàn huyện chưa được quan tâm đúngmức

Vân Đồn đang chuyển mình trở thành KKT biển đa ngành, đa lĩnh vực, trungtâm công nghiệp giải trí, du lịch biển - đảo cao cấp, dịch vụ thương mại quốc tế.Đây là cơ hội, cũng là thách thức lớn đối với người Sán Dìu trong quá trìnhBV&PH giá trị DSVH trong đời sống cộng đồng Các vấn đề đặt ra như: QL DSVHdựa vào cộng đồng và vì lợi ích của cộng đồng; khai thác giá trị DSVH trở thànhnguồn lực sinh kế mới; QL DSVH về chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền;trách nhiệm và quyền lợi của các bên liên quan… là những vấn đề lớn cần đặt ratrong quá trình QL, BV&PH giá trị DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồntrong giai đoạn hiện nay

Trang 10

Đặc biệt, UBND tỉnh Quảng Ninh chọn xã Bình Dân nơi có dân tộc Sán Dìumật cư là địa điểm xây dựng Làng DTTS nhằm bảo tồn giá trị văn hóa truyền thốnggắn với phát triển du lịch Trong khi đó, những giá trị văn hóa truyền thống đang bịmai một và thất truyền Vai trò cộng đồng bị giảm sút, thậm chí một bộ phận khôngnhỏ thờ ơ, quay lưng lại với DSVH của chính dân tộc mình Vì thế, có nhiều vấn đềđặt ra đối với chức năng QLNN về DSVH, vai trò cộng đồng và các bên liên quankhác trong giải quyết hài hòa bài toán phát triển KT-XH với việc BV&PH giá trịDSVH của dân tộc Sán Dìu nơi đây.

Trong bối cảnh hiện nay, nhằm hạn chế tình trạng mai một, thất truyền cácgiá trị DSVH và tạo khả năng khôi phục, phục dựng các nét đẹp văn hóa vốn có củadân tộc Sán Dìu trong đời sống cộng đồng là vô cùng quan trọng Đây là mộtkhoảng trống cần được nghiên cứu một cách đầy đủ Vì vậy, có thể nói, việc phântích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN cũng như phát huy vaitrò chủ động, tích cực của cộng đồng và các bên liên quan khác trong QL DSVHdân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn là một việc làm cấp thiết hiện nay

Nghiên cứu về DSVH dân tộc Sán Dìu đã có nhiều công trình khoa học sưutầm, nghiên cứu dưới cách tiếp cận của nhiều chuyên ngành: Văn hóa học, Dân tộchọc, Sử học, Văn học… Tuy nhiên, với cách tiếp cận của chuyên ngành Quản lý vănhóa về QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là vấn

đề chưa được nghiên cứu giải quyết triệt để Vì vậy, NCS dựa trên những cơ sở lýluận, các quan điểm, văn bản pháp lý của UNESCO, Đảng, Nhà nước và thực tiễnhoạt động QL DSVH dân tộc Sán Dìu, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh nhằmphân tích, đánh giá thực tiễn và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN vềDSVH, phát huy vai trò cộng đồng và tăng cường sự tham gia, phối hợp, hỗ trợ củacác bên liên quan khác trong quá trình QL, chỉ đạo, điều hành và thực hành DSVH

Với những lý do nêu trên, NCS đã chọn và thực hiện đề tài luận án về: Quản

lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh với

Trang 11

mong muốn góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác QL DSVH dân tộc Sán Dìu trong giai đoạn hiện nay.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là áp dụng lý luận, các quan điểm và chínhsách của UNESCO, của Đảng và Nhà nước vào giải quyết các vấn đề thực tiễn hoạtđộng QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn Từ đó, luận án bàn luậngiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về DSVH, phát huy vai trò QL của cộngđồng và tăng cường hợp tác của các bên liên quan khác trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận, các quan điểm và chính sách của

UNESCO, của Đảng, Nhà nước về QL, BV&PH giá trị DSVH;

- Khảo sát và đánh giá thực trạng thông qua các hoạt động QLNN về DSVHcũng như QL của cộng đồng và các bên liên quan khác trong QL DSVH dân tộc SánDìu ở huyện đảo Vân Đồn;

- Nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới về QL DSVH và rút ra bài học kinhnghiệm Các định hướng phát triển văn hóa của UNESCO, của Đảng và Nhà nước

sẽ được sử dụng làm căn cứ để bàn luận các giải pháp QL DSVH dân tộc Sán Dìu ởtỉnh Quảng Ninh trong tìnhh hình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hoạt động QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án lựa chọn giá trị DSVH: Di tích lịch sử - văn hóa tại

xã Bình Dân, huyện đảo Vân Đồn thuộc loại hình DSVH vật thể; nghệ thuật trìnhdiễn dân gian (dân ca Soọng cô); lễ hội truyền thống (Lễ hội Đại phan) thuộc loạihình DSVH phi vật thể là những thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ nhautrong QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

- Về không gian: Luận án lựa chọn xã Bình Dân, địa phương có số dân là dân

tộc Sán Dìu đông nhất huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Bên cạnh đó, luận án

so sánh một số địa phương có đông người Sán Dìu sinh sống ở trong và ngoài tỉnh

để thấy rõ thực trạng QL DSVH dân tộc Sán Dìu trong giai đoạn hiện nay

- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở

huyện

đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 đến năm 2020 (thời điểm UBND tỉnhQuảng Ninh ban hành Quyết định số 4071/QĐ-UBND ngày 01/11/2007) Nhữngnội dung rút ra từ nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp QL DSVH dân tộc SánDìu ở huyện đảo Vân Đồn, có thể được áp dụng cho các năm tiếp theo

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Hoạt động QLNN về DSVH, vai trò QL của cộng

đồng và các bên liên quan khác trong các hoạt động QL DSVH dân tộc Sán Dìu ởhuyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu 1: QLNN về DSVH, vai trò QL của cộng đồng và các

bên liên quan khác trong các hoạt động QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảoVân Đồn hiện nay có những thuận lợi, cơ hội đồng thời phải đối diện với những khókhăn, thách thức nhất định

Câu hỏi nghiên cứu 2: Những yếu tố nào tác động đến các hoạt động QL

DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu 2: Ngoài những yếu tố chung về phát triển KT-XH của

địa phương, đời sống văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnhQuảng Ninh có những yếu tố riêng giữa các địa bàn, vùng miền trong cộng đồngdân tộc Sán Dìu trong và ngoài tỉnh; giữa dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn vớicác DTTS khác trong tỉnh Quảng Ninh cần được nghiên cứu làm rõ

Câu hỏi nghiên cứu 3: Làm thế nào để nâng cao hiệu quả QLNN về DSVH,

vai trò QL của cộng đồng và các bên liên quan khác trong QL DSVH dân tộc SánDìu ở huyện đảo Vân Đồn trong giai đoạn hiện nay?

Trang 13

Giả thuyết nghiên cứu 3: Giải pháp được tiếp cận theo hai hướng: QL DSVH

dân tộc Sán Dìu phải gắn liền với sự phát triển hài hòa KT-XH, trong đó nền tảngphát triển bền vững là DSVH và cộng đồng nắm giữ DSVH

6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cách tiếp cận

Tiếp cận liên ngành giúp NCS phát hiện những vấn đề nghiên cứu Vì vậy,NCS vận dụng cách tiếp cận liên ngành/đa ngành của các ngành khoa học như:Khoa học quản lý, Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học,… Bên cạnh đó, luận án sửdụng lý thuyết về QL DSVH, lý thuyết các bên liên quan là những lý thuyết giúpcho vấn đề nghiên cứu được giải quyết hiệu quả và đúng hướng

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu và chứng minh giả thuyết nghiên cứu, NCS sửdụng các kỹ thuật của phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tínhthuộc phương pháp liên ngành/đa ngành khác như: Văn hóa học; Nhân học, Xã hộihọc,… cụ thể, như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Nghiên cứu các văn bản pháp quy của quốc tế, Việt Nam và địa phương như:công ước, hiến chương, luật, nghị định, quyết định… có liên quan đến quản lýDSVH Phương pháp này giúp NCS có cách tiếp cận tổng thể về các quy định được

cơ quan ban hành

Luận án tham khảo, kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã được công

bố, như: đề tài khoa học các cấp, sách, tạp chí, luận văn, luận án… có liên quan đếnnội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứu về QL DSVH dân tộc Sán Dìu

- Phương pháp nghiên cứu định tính

+ Phương pháp phỏng vấn sâu

NCS sử dụng phương pháp PVS cùng với các kỹ thuật của phương pháp nàytrong suốt quá trình nghiên cứu tại thực địa Trong đó, kỹ thuật quan sát trực tiếp,quan sát tham dự, phỏng vấn nhanh thường xuyên được sử dụng linh hoạt trong cáchoạt động nghiên cứu cụ thể Quá trình thu thập thông tin, NCS đã thực hiện 3 cùng

Trang 14

(cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc) với người dân chủ yếu ở xã Bình Dân, huyện VânĐồn tỉnh Quảng Ninh và một số gia đình tại các huyện khác trong tỉnh và ngoài tỉnhnhằm mục đích tìm hiểu sinh hoạt cũng như các thực hành văn hóa mà họ đang giữgìn và trao truyền trong gia đình và cộng đồng Để thu thập được đầy đủ thông tincần có cho việc viết luận án, NCS đã thực hiện nhiều đợt nghiên cứu điền dã trong

3 năm (từ năm 2018 đến năm 2020) Các đợt nghiên cứu tập trung diễn ra vàotháng 9/2018, tháng 5-6 năm 2019 và tháng 8 năm 2020 Trong suốt quá trìnhnghiên cứu, NCS đã thực hiện 25 cuộc PVS, trong đó 15 người Sán Dìu sinh sốngtại 05 thôn thuộc xã Bình Dân, huyện Vân Đồn Nhiều trường hợp NCS sử dụngphương pháp phỏng vấn theo “lịch sử cuộc đời” dành cho thầy cúng để hiểu hơn vềcách thức tổ chức lễ hội Đại phan hay quá trình học hỏi và đi giao lưu Soọng côtheo lề lối thủa xưa, nhưng có những trường hợp lại sử dụng phương pháp phỏngvấn lặp lại trong 3 năm tiến hành nghiên cứu

Đối tượng PVS được chọn ưu tiên là thầy cúng theo các dòng họ lớn như họ

Từ, Trương, Trần, Miêu, Tạ… những người này am hiểu cả về phong tục thờ cúngcũng như về lề lối Soọng cô, tiếp đến là các NNDG, người có uy tín, hưu trí…Trong suốt quá trình thực địa, NCS đã gặp phải không ít khó khăn khi khai thácthông tin của người được phỏng vấn, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến khônggian thiêng, vấn đề hiểu về chữ viết cổ, vấn đề nhận diện DSVH của cộng đồng vànhận thức, ý thức của chính cộng đồng về DSVH mình đang nắm giữ Qua quá trìnhthu thập thông tin tại thực địa, NCS đã phác thảo được bức tranh tương đối đầy đủ

về hoạt động QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở xã Bình Dân, huyện Vân Đồn, tỉnhQuảng Ninh Từ đó giúp NCS nhận định, phân tích, đánh giá được các yếu tố tácđộng đến hiệu quả quá trình QL DSVH của dân tộc Sán Dìu tại địa bàn nghiên cứu

Phạm vi phỏng vấn không chỉ riêng ở huyện đảo Vân Đồn mà còn được mởrộng đến các huyện, thành phố: Cẩm Phả, Hạ Long, Tiên Yên, Đầm Hà, Bình Liêuthuộc tỉnh Quảng Ninh Ngoài ra, NCS thực hiện PVS tại các tỉnh: Bắc Giang, VĩnhPhúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên Nội dung của các cuộc phỏng vấn được chuẩn bịsẵn bằng một bộ câu hỏi phù hợp với từng đối tượng nhằm thu được các thông tincần thiết phục vụ nội dung nghiên cứu của luận án Thông tin cá nhân của người

Trang 15

cung cấp thông tin được mã hóa, đảm bảo bí mật đối với người cung cấp thông tin[Phụ lục 8, tr.224].

+ Phương pháp chuyên gia

NCS đã tiến hành tham vấn ý kiến của các chuyên gia, đặc biệt là các chuyêngia nghiên cứu về Quản lý văn hóa, văn hóa học, nhân học, xã hội học Qua đó,NCS đã nhận được những tư vấn học thuật bổ ích để có thêm cái nhìn tổng thể, toàndiện hơn về đối tượng nghiên cứu NCS cũng đã kế thừa các nguồn tài liệu phongphú, đa dạng từ những tác giả đã từng thực hiện nghiên cứu về QL DSVH, điều nàyrất cần thiết để hiểu rõ hơn về hoạt động QL DSVH trong bối cảnh hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu định lượng

Điều tra bảng hỏi được tiến hành theo một quy trình khoa học từ thiết kếbảng hỏi, chọn mẫu, điều tra thử đến chỉnh sửa, hoàn thiện phiếu điều tra và tổ chứcđiều tra bảng hỏi và xử lý để ra kết quả thống kê mô tả NCS sử dụng phương phápchọn mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling) trong nghiên cứu thực địa Chọn mẫuquả bóng tuyết là phương pháp chọn một nhóm người trả lời thứ nhất được chọntheo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, nhưng những người trả lời sau là do nhómthứ nhất giới thiệu và đảm bảo tính đại diện cho các thành phần về giới tính, lứatuổi,… tiến hành điều tra với quy mô số mẫu là 213 phiếu hỏi Đối tượng điều tra làngười Sán Dìu từ 18 tuổi trở lên NCS lựa chọn xã Bình Dân là xã có đông ngườiSán Dìu cư trú nhất trên địa bàn huyện [Phụ lục 5, tr.201]

F1

F2

F3

Chú thích: F1: Trưởng thôn; F2: Trưởng dòng họ; F3: Hộ gia đình

Sơ đồ 1 Phân bổ chọn mẫu quả bóng tuyết (Nguồn: NCS tổng hợp)

Trang 16

NCS đã đến liên hệ UBND xã Bình Dân và được lãnh đạo xã cho phép tiếnhành điều tra bảng hỏi đối với các hộ dân trong xã Với cách chọn mẫu ngẫu nhiênkhông theo chủ đích mà người trả lời trước giới thiệu nhưng người phỏng vấn tiếptheo, cụ thể: Dưới sự giúp đỡ của 05 trưởng thôn của các thôn: Đồng Đá, ĐồngDọng, Đồng Cống, Đầm Tròn, Vòng Tre, sau khi hoàn thành cuộc phỏng vấn vớitrưởng thôn, tiếp theo trưởng thôn giới thiệu trong thôn có bao nhiêu dòng họ đểNCS lập danh sách các hộ gia đình trong họ để chọn trả lời phiếu hỏi.

Chọn mẫu điều tra: Tổng số hộ của xã Bình Dân có 387 hộ, trong đó: 369 hộdân tộc Sán Dìu; 15 hộ dân tộc Kinh; 03 hộ dân tộc Dao NCS chọn 213 hộ điều tranằm trong số 369 hộ dân tộc Sán Dìu sinh sống tại xã Bình Dân đạt tỷ lệ trên 1/2tổng cỡ mẫu tại địa bàn nghiên cứu NCS lập danh sách các hộ người dân tộc SánDìu sinh sống tại xã Bình Dân, sau đó tiến hành chọn ngẫu nhiên 213 hộ để phỏngvấn phân theo tỷ lệ nam/nữ và độ tuổi Như vậy, nghiên cứu đã đạt được tính đạidiện cao trong quá trình thực hiện điều tra xã hội học Qua đó nghiên cứu sinh cóđược bảng thống kê mẫu nghiên cứu với tỷ lệ giới tính và độ tuổi như sau:

Tuổi

Bảng 1: Mẫu nghiên cứu định lượng dựa theo chỉ tiêu về giới tính và độ

tuổi của chủ hộ người dân tộc Sán Dìu ở huyện Vân Đồn (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của NCS trong năm 2018) Cách thức thu thập dữ liệu:

trực tiếp xuống các hộ dân để giải thích nội dung, mục đích và ý nghĩa của cuộc

phỏng vấn Khi người dân đã hiểu và đồng ý trả lờiphỏng vấn, lúc này phỏng vấn viên bắt đầu thực hiện cuộc phỏng vấn Kết quả củacuộc điều tra xã hội học, NCS đã tổng hợp được số hộ trả lời trong 05 thôn tại xãBình Dân cụ thể như sau:

Trang 17

Địa chỉ

Số lượng (Người)

Tỷ lệ %

Bảng 2: Tổng số mẫu nghiên cứu định lượng của dân tộc Sán Dìu

ở xã Bình Dân, huyện Vân Đồn (Nguồn: Kết quả nghiên cứu của NCS trong năm 2018)

- Bố cục của bảng hỏi định lượng bao gồm ba phần:

+ Thông tin cá nhân người trả lời như: tuổi, giới tính, dân tộc, địa chỉ, trình

độ học vấn, trình độ chuyên môn

+ Đánh giá chung về sự hiểu biết, lòng tự hào và tầm quan trọng của việc QLDSVH dân tộc Sán Dìu ở xã Bình Dân, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

+ Đánh giá hiệu quả của các hoạt động

QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở xã Bình Dân, huyện Vân Đồn gắn với pháttriển du lịch tại địa phương

Cuối cùng, dựa vào phiếu điều tra xã hội học tại cơ sở, NCS nhập số liệu vàthực hiện các lệnh thống kê mô tả để biết được mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêuthông tin do 213 đại diện hộ gia đình cung cấp

- Phương pháp so sánh

Luận án sử dụng phương pháp này nhằm làm rõ những hoạt động cũng nhưkinh nghiệm QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở các địa phương trong tỉnh Quảng Ninh.NCS đã trao đổi, phỏng vấn lãnh đạo Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Tiên Yên vàthành phố Cẩm Phả về công tác QL DSVH dân tộc Sán Dìu tại địa phương Ngoài

ra, NCS còn thực hiện 08 cuộc PVS (05 cuộc PVS tại huyện Tiên Yên và 05 cuộcPVS tại thành phố Cẩm Phả) những người am hiểu về DSVH dân tộc tộc Sán Dìu.Các DTTS khác trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh như Dao, Tày, Sán Chay, Hoa tạicác địa phương thuộc tỉnh như: Cẩm Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Bình Liêu cũng

Trang 18

được NCS nghiên cứu và so sánh các kết quả đạt trong công tác QL DSVH trên địabàn toàn tỉnh.

Một cách tiếp cận so sánh khác là NCS đã tiến hành đi thực địa thu thậpthông tin và so sánh về công tác QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn,tỉnh Quảng Ninh tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc Sán Dìu sinh sốngnhư: 03 lần đi thực địa tại các xã Đại Đình, Hợp Châu, Đạo Trù thuộc huyện TamĐảo, tỉnh Vĩnh Phúc; 02 lần đi thực địa các xã Linh Sơn, Nam Hòa huyện Đồng Hỷ,tỉnh Thái Nguyên, 01 lần đi thực địa tại xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh TuyênQuang và 02 đi thực địa tại các xã Nam Dương, Thanh Hải, Giáp Sơn thuộc huyệnLục Ngạn, tỉnh Bắc Giang NCS tiến hành đi thực địa các địa phương nêu trên,nhằm so sánh những kết quả đạt được trong công tác QL DSVH dân tộc Sán Dìu, đểrút ra những học hỏi kinh nghiệm quý có thể tham khảo trong quá trình đánh giá,phân tích cũng như đưa ra những bàn luận về giải pháp QL DSVH cho dân tộc SánDìu tại huyện đảo Vân Đồn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về QL DSVH dân tộc Sán Dìu ởhuyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh từ góc độ tiếp cận của chuyên ngành quản lývăn hóa

Luận án góp phần hệ thống hóa lý luận về vấn đề QLNN về DSVH, lý thuyết

QL DSVH, lý thuyết các bên liên quan và mối quan hệ hữu cơ giữa QLNN vềDSVH, QL của cộng đồng và các bên liên quan khác trong QL DSVH là có tínhmới, không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó

Kết quả của luận án góp phần giải quyết vấn đề thực trạng và đề xuất giảipháp QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong bốicảnh hiện nay

Trang 19

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên chuyênngành: Quản lý văn hóa, Xã hội học, Công tác xã hội, Nhân học… Không nhữngthế, luận án còn là tài liệu hữu dụng cho chính quyền và cộng đồng dân tộc Sán Dìu

ở huyện đảo Vân Đồn trong hoạch định chính sách và xây dựng mô hình quản lýDSVH tại địa phương

8 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm có Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nộidung của luận án được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (40 trang)

Chương 2: Di sản văn hóa và quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ở huyệnđảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (65 trang)

Chương 3: Bàn luận về giải pháp quản lý di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu ởhuyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (36 trang)

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý di sản văn hóa

DSVH đã được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ rất sớm, bắt đầu vào khoảng

cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Với công trình Di sản: quản lý, diễn giải và bản

sắc, Peter Howard cho rằng vấn đề quản lý di sản được đặt ra vào khoảng đầu thế

kỷ XIX, xuất phát từ những cá nhân có tình yêu và sự say mê đối với di sản nhằmmục đích bảo tồn di sản để gìn giữ những thứ vì lợi ích của công chúng Tác giả đãphân di sản theo các lĩnh vực: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồtạo tác, các hoạt động và con người Peter Howard nhận định việc bảo vệ và quản lý

di sản cần phải trả lời các câu hỏi như: bảo tồn như thế nào? Vì sao cần phải bảo tồn

và bảo tồn nhằm mục đích gì? Việc bảo tồn cần phải giữ lại các giá trị gốc củaDSVH và đây cũng là cơ sở để phát huy và khai thác các DSVH phục vụ trong đờisống đương đại [145] Đến thế kỷ XX, sự ra đời của các Hiệp hội Di sản ở châu Âu

đã diễn đạt ngắn gọn bằng khái niệm “quản lý di sản”, khái niệm này phát triểnmạnh vào nửa sau thế kỷ XX và quản lý di sản đã trở thành vấn đề được quan tâmsâu rộng, được phát triển mạnh mẽ bởi nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu

Theo nghiên cứu về QL DSVH các tác giả Brian Garrod và Alan Fayall nhậnđịnh rằng sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác là điều rất quan trọng, có mối quan

hệ hữu cơ, nếu không bảo vệ các DSVH, giữ gìn thì DSVH sẽ thất truyền và tài sản

đó vĩnh viễn không tồn tại và các thế hệ mai sau không thể biết DSVH đó đã từng

tồn tại hay biểu đạt như thế nào [138] Trong Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các

nhà quản lý khu di sản thế giới của tác giả Arthur Perdersen [135] cho rằng phát

triển du lịch một mặt góp phần giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và thu nhập.Song bên cạnh đó, việc tăng lượng khách tham quan DSVH sẽ có những tác độngtiêu cực làm nguy hại đến DSVH

Trang 21

Trong giáo trình Quản lý công nghiệp văn hóa của tác giả Zhan Chang Yuan

[148], đề cập việc quản lý DSVH như một ngành công nghiệp với những vấn đề vềchính sách, nguồn tài nguyên, nhân lực thực hiện Trong những nghiên cứu củamình, tác giả đều đề cập tới hai vấn đề của công tác quản lý đó là bảo tồn và pháthuy giá trị di sản Các nhà quản lý luôn phải đối mặt với việc phải giải quyết hài hòamối quan hệ giữa hai lĩnh vực bảo tồn và phát triển, giữa nhà nước và nhân dân,giữa di sản và cộng đồng

Ở Việt Nam, những vấn đề lí luận về DSVH như vai trò, chức năng củaDSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa dân tộc và chính sách QLDSVH dân tộc của nước ta được nhắc đến trong các kỳ Đại hội của Đảng và một sốbài học kinh nghiệm QL DSVH tại Nhật Bản được tác giả Hoàng Vinh đề cập đến

trong công trình Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc

[132] Tác giả Hoàng Vinh đã nghiên cứu giá trị DSVH nói chung, còn vấn đềnghiên cứu về DSVH DTTS chưa được đề cập đến Những nội dung giữ gìn và pháthuy DSVH dân tộc ở Việt Nam được nhắc đến đều trên phương diện vĩ mô, tác giảchưa đưa ra một cách cụ thể gắn liền với một loại hình DSVH nào NCS xem đây làmột công trình khoa học hữu ích để kế thừa, tiếp thu khi nghiên cứu luận án

Tác giả Nguyễn Chí Bền đã làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn kinh nghiệm bảo

tồn, phát huy DSVH qua cuốn Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể

Thăng Long - Hà Nội [12] Từ thực trạng DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tác

giả đã làm rõ giá trị của DSVH trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Tácgiả nhận định những khó khăn, thách thức trong công tác bảo tồn và phát huyDSVH, từ đó tác giả đưa ra giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả cácgiá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội Đồng thời, nêu lên kinh nghiệm củamột số nước với quan điểm: “bảo tồn cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trịDSVH trong đời sống… bảo tồn cần phải quan tâm đến đặc điểm xã hội trong từngthời điểm cụ thể để có những điều chỉnh phù hợp với thời đại” [12, tr.237] Từ kếtquả nghiên cứu của tác giả, NCS có thể chọn lọc, kế thừa và phát triển trong quátrình nghiên cứu luận án, như các khái niệm: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể,

Trang 22

BV&PH giá trị DSVH, quan điểm của UNESCO, của Đảng và Nhà nước về côngtác văn hóa và QL DSVH.

Tác giả Phạm Thanh Hà đã công bố cuốn sách Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt

Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay [35], trong đó bàn luận nhiều về vấn đề

bản sắc dân tộc BV&PH DSVH không chỉ là mối quan tâm của từng quốc gia màcòn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế Bởi vì, một trong những thách thức đặt

ra đối với sự phát triển của các quốc gia là sự mai một bản sắc dân tộc Điều này đòihỏi mỗi quốc gia phải có những phương thức giải quyết hiệu quả để không nhữngđưa đất nước phát triển mà còn phải phát huy sức mạnh nguồn lực DSVH trở thànhđộng lực nội sinh thúc đẩy dân tộc phát triển Tác giả khẳng định: “dân tộc ViệtNam phải giữ gìnbản sắc dân tộc một cách sáng tạo, linh hoạt; phải kết tinh lại vànâng lên tầm cao mới mọi đặc điểm tích cực của dân tộc và những đặc điểm tíchcực mới của thế giới” [35, tr.69] Tiếp thu tinh thần này, NCS cho rằng công tác QLDSVH người Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh chính là gìn giữ vàphát triển DSVH một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng vẫn giữ được cốt lõi bản sắcvăn hóa trong đời sống đương đại

Năm 2005, Viện Văn hóa - Thông tin (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia

Việt Nam) xuất bản cuốn sách Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt

Nam [78] Đây là công trình tuyển chọn các vấn đề nghiên cứu lý luận và thực tiễn

về DSVH phi vật thể của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Với cách tiếpcận của chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý Văn hóa và vận dụng quan điểm củaUNESCO, công trình tập trung vào phân tích những trường hợp cụ thể ở Việt Namnhư: thực trạng, nguy cơ mai một đối với các loại hình di sản và đề ra những biệnpháp cấp bách cần làm để bảo vệ loại hình di sản này

Một số bài viết khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành về vấn đề DSVH như:Bài “Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể” [109] đã khẳng định văn hóa phi vật thể

là văn hóa trải dài trong không gian và thời gian, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.Trong bối cảnh hiện nay, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc, vùng miền vàphạm vị khu vực, quốc tế thì văn hóa phi vật thể dễ bị tổn thương Bài “Giữ

Trang 23

gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc” [105], tác giả cho rằng: bản sắc văn hóa làcội nguồn làm lên bản lĩnh dân tộc Việt Nam, điều đó đã chứng minh qua hàng ngànnăm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Vấn đề QL DSVH trở thành mối quan tâm lớn của các nhà quản lý, nhà khoahọc, bởi từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, DSVH chịu sự tác động củakinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Do vậy, chủ đềnghiên cứu về QL DSVH được các tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn công

bố công trình sách Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập

quốc tế [30] Các tác giả đã đề cập khá toàn diện đến vấn đề về quản lý văn hóa từ

lý luận đến thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới(1986) đến nay; nghiên cứu một số kinh nghiệm quản lý văn hóa một số quốc gianhư: Anh, Mỹ, Ôxtrâylia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan Thông qua đó, nhiềubài học kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam Qua quá trình đánh giá thực trạng vànghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, các tác giả đã đưa ra quanđiểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL văn hóa ở Việt Nam trong giai đoạnhiện nay Hai công trình sách nêu trên, đã có khối lượng kiến thức lí luận và thựctiễn lớn về QL DSVH ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình chỉ đề cập chung vềDSVH và QL DSVH ở cấp vĩ mô, chưa nghiên cứu về QL DSVH DTTS

Trong công trình Quản lý di sản văn hóa [68] của tác giả Nguyễn Thị Kim

Loan và Nguyễn Trường Tân đã trình bày những vấn đề thực tiễn về hệ thốngDSVH vật thể, phi vật thể ở Việt Nam và QLNN về DSVH thông qua quan điểmcủa Đảng và Nhà nước; nội dung cơ bản của QLNN về văn hóa và nghiệp vụ quản

lý DSVH như: kiểm kê DSVH, tổ chức bảo vệ DSVH, tổ chức khai thác, phát huyDSVH cũng như yêu cầu, nhiệm vụ của cán bộ QL DSVH

QL DSVH trong bối cảnh hiện nay phải gắn với phát triển du lịch Điều đó

thể rõ trong cuốn sách Bảo tồn và phát huy giá trị di sản lịch sử - văn hóa phục vụ

phát triển du lịch của Hội Khoa học Lịnh sử Việt Nam Công trình nghiên cứu này

khẳng định mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa bảo tồn, phát huy giá trị di tíchlịch sử - văn hóa với phát triển du lịch chính là phương thức hữu hiệu để phát huy

Trang 24

các giá trị di sản lịch sử văn hóa, vì có bảo tồn tốt thì mới có thể phát triển tốt vàphát triển tốt chính là cơ sở cho bảo tồn tốt [44, tr.485-486] Đây là công trình cónhiều thông tin, giúp NCS tham khảo khi đề xuất giải pháp QL DSVH dân tộc SánDìu ở huyện đảo Vân Đồn.

Tác giả Nguyễn Thị Hiền đã bàn luận chuyên sâu về vấn đề này trong cuốn

Quản lý nhà nước và vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể [38] Tác giả phân tích thực trạng QLNN và vai trò cộng đồng trong

việc QL DSVH phi vật thể Các DSVH phi vật thể cần được quản lý bởi một cộngđồng tích cực, chủ động dưới sự lãnh đạo, định hướng và hỗ trợ của Nhà nước Tuynhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động bảo vệ di sản và thực hành văn hóa của địaphương chưa thống nhất, còn chồng chéo, vai trò của cộng đồng chưa thực sự pháthuy tối đa Qua đó, tác giả đưa ra định hướng nhằm nâng cao hiệu quả QLNN và vaitrò cộng đồng thông qua việc phân cấp QLNN và nâng cao vai trò cộng đồng trongBV&PH giá trị DSVH phi vật thể

Vai trò định hướng, chỉ đạo của nhà nước về quản lý DSVH đã được nhiềutác giả phân tích, đánh giá nhằm nêu lên những thuận lợi cũng như hạn chế trongcông tác QLNN, để từ đó tìm ra giải pháp phát huy giá trị DSVH Đó là những bàiviết như: Đặng Văn Bài [5], Trương Quốc Bình [13] [14], Nguyễn Thị Hiền [39][40], Nguyễn Thế Hùng [51] [52], Nguyễn Quốc Hùng [56], Các hoạt độngQLNN về DSVH được tác giả Nguyễn Thế Hùng trình bày với 11 nhiệm vụ trọngtâm và 07 giải pháp BV&PH giá trị DSVH [53] Đánh giá thực tiễn công tác QLNN

về DSVH, tác giả Đặng Thị Bích Liên cho rằng: trong thời gian tới cần nâng cao vaitrò chỉ đạo, định hướng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng thời tăng cườngkiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai các quy hoạch, triển khai có hiệu quảchương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực DSVH [66]

DSVH được coi là tài nguyên du lịch, là động lực để phát triển du lịch vàthông qua hoạt động du lịch, DSVH có cơ sở để bảo tồn và phát huy hiệu quả cácgiá trị của di sản Đây là mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ nhau trong quá trình bảo tồn

và phát triển Điều này được nhận định trong các công trình nghiên cứu: Sản phẩm

Trang 25

du lịch văn hóa và văn hóa quản lý du lịch ở Việt Nam của tác giả Trịnh Lê Anh [3]; Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa người H’Mông thông qua du lịch cộng đồng ở bản Sín Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai của tác giả Đào Ngọc Anh [4]; Sức mạnh nội sinh và yêu cầu hiện đại hóa văn hóa dân tộc thời kỳ mới của tác giả Nguyễn

Chí Bền [11]; Văn hóa du lịch nguồn lực phát triển du lịch bền vững của tác giả Nguyễn Văn Lưu [70]; Phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi - Tiền

năng, thách thức của tác giả Đinh Thị Thu Thảo [106].

Vấn đề QL DSVH là chủ đề được nhiều học giả, nhà quản lý quan tâmnghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Các công trình, bài viết đã đưa rađược cái nhìn khá đa dạng về QLNN và QL của cộng đồng trong BV&PH giá trịDSVH Những nghiên cứu đóng góp cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn QLNN,vấn đề vai trò của cộng đồng và bàn tới các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảQLNN hay việc phát huy vai trò cộng đồng Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu một cách hệ thống về QLNN về DSVH và vai trò của cộng đồng dân tộcSán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Như vậy, có thể khẳng định chođến nay vấn đề nghiên cứu QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnhQuảng Ninh là một vấn đề mới và cấp bách Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ vềKT-XH của địa phương, vấn đề QL DSVH dân tộc Sán Dìu càng trở nên cấp thiết,với nhu cầu của cộng đồng nhằm gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộcnày Đồng thời, đây cũng là nguồn lực nội sinh, nguồn vốn văn hóa nếu biết khaithác hiệu quả sẽ phục vụ đắc lực cho phát triển KT-XH của địa phương

Vấn đề QL DSVH được nhiều học viên và NCS quan tâm lựa chọn nghiêncứu trong các luận văn, luận án dưới nhiều góc tiếp cận của các chuyên ngành Nhânhọc, Triết học, Văn hóa học và Quản lý văn hóa… Trong quá trình thực hiện luận

án, NCS các khóa trước của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam cũng quantâm đến vấn đề này như: Đào Ngọc Anh [4], Đỗ Thị Thanh Hương [58], NguyễnThị Thu Hường [59], Lê Thị Thu Phượng [81],… Các đề tài luận án trên đã vậndụng ba quan điểm và tương ứng với nó là ba mô hình bảo tồn di sản: bảo tồn ynguyên; bảo tồn trên cơ sở kế thừa; bảo tồn và phát triển để giải quyết các vấn đề cụ

Trang 26

thể của từng DSVH ở Việt Nam Thông qua việc tham khảo các công trình nghiêncứu đi trước, NCS đã lựa chọn và vận dụng các quan điểm lý thuyết để giải quyếtvấn đề của luận án về QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh QuảngNinh.

QL DSVH luôn được lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm thông qua cácdiễn đàn mở nhằm kết nối các nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng trong việcđánh giá thực trạng cũng như tìm kiếm giải pháp QL DSVH Trong 06 tháng cuốinăm 2018 đã có 02 Hội thảo quan trọng được tổ chức vào tháng 7/2018 với chủ đề

Bảo vệ và phát huy giá trị DSVH Việt Nam vì sự phát triển bền vững và Hội thảo Bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa dân gian các DTTS Việt Nam tổ chức vào tháng

7/2018 Thông qua hội thảo, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “việc bảotồn các di sản, di tích là việc làm quan trọng và vô cùng cần thiết trong công cuộckiến thiết nước nhà” [181]; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiếncũng khẳng định rằng:

Văn hóa dân gian các DTTS không tự dưng mà có mà là quá trình tíchlũy qua bao đời, thấm đẫm mồ hôi, công sức của bao thế hệ Do vậy, rấtcần được đầu tư thỏa đáng ngang với giá trị vốn có của di sản này để lưutruyền, phát huy, trường tồn cùng với văn hóa dân tộc Việt Điều đó phảixuất phát tự thân của người dân tộc, có sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhà nước

và xã hội [160]

Vì vậy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bà Trịnh Thị Thủy nhậnđịnh:

Việc gắn bảo tồn, phát huy giá trị DSVH các dân tộc với phát triển

KT-XH là thách thức hiện nay do thực tế vẫn còn tình trạng khai thác chưahợp lý một số DSVH… Ngoài ra, một bộ phận lớp trẻ chưa có ý thức bảo

vệ các DSVH, giá trị văn hóa của chính dân tộc mình… Việc đánh giáthực trạng công tác bảo tồn, xác định mục tiêu định hướng, và đề xuấtgiải pháp kiến nghị về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyềnthống trong tình hình mới là hết sức cần thiết [161]

Trang 27

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về cộng đồng

Vấn đề cộng đồng được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm thông quacác chương trình dự án về phát triển cộng đồng Do vậy, để có những kiến thức cơbản về phát triển cộng đồng, các tác giả Lê Văn An [1] và Lê Thị Kim Lan [63] đãcung cấp những kiến thức cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn và các phương pháp,

kỹ năng thực hiện trong quá trình triển khai các chương trình, dự án tại cộng đồng.Đây là tài liệu hữu ích giúp NCS có cái nhìn tổng quan về khái niệm, công cụ vànhững kỹ năng cơ bản nhằm xây dựng mối quan hệ với cộng đồng, hiểu giá trị thựctrạng cũng như tiềm năng của cộng đồng để từ đó lập kế hoạch nghiên cứu đánh giávai trò cộng đồng trong quá trình QL DSVH người Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn,tỉnh Quảng Ninh

Đối với vấn đề QL DSVH, trách nhiệm trước hết là của cộng đồng, bởi cộngđồng là chủ thể sáng tạo, tích lũy và trao truyền DSVH Tác giả Lương Hồng Quangnhận định:

Năng lực tự quản cộng đồng ở nông thôn vẫn là một giá trị xã hội đượccoi trọng do ý thức về cộng đồng, về tập thể vẫn còn sâu đậm trong đờisống tâm linh cũng như trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện qua sựtrường tồn của hội làng, tâm thức hướng về ông tổ của làng, tinh thầntình làng nghĩa xóm, sự kiểm soát dư luận vẫn lànhững giá trị tác độngmạnh đến mọi thành viên trong cộng đồng [84, tr.307-329]

Năm 2018, tác giả Lương Hồng Quang công bố cuốn sách Phát triển văn

hóa dựa vào cộng đồng: các tranh luận lý thuyết và thực tiễn [83] Tác giả đã đề

cập đến nhiều vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về lý thuyết cộng đồng, phát triểncộng đồng, phát triển văn hóa dựa vào cộng đồng Đây là một nghiên cứu có hệthống, nguồn tư liệu phong phú, cách phân tích đa chiều về phát triển văn hóa dựavào cộng đồng Công trình đã có những đóng góp học thuật giá trị trong nghiên cứu

QL DSVH

Tác giả Nguyễn Thị Hiền nhắc đến cộng đồng trong bối cảnh “các cộng đồng

đã sáng tạo, thực hành và duy trì di sản của mình vì đó là một phần đời sống vănhóa, là sự kế tục giữa các thế hệ và sự thể hiện bản sắc của cộng đồng Họ không

Trang 28

chỉ là người sáng tạo, mà còn là những người thực hành trao truyền và duy trì di sảncha ông để lại” [40, tr.3-9] Từ những bài học về QLNN về DSVH và QL của cộngđồng, tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm về mối quan hệ giữa QLNN với QL cộngđồng trong BV&PH giá trị DSVH phi vật thể qua kinh nghiệm của Trung Quốc,Hàn Quốc và Nhật Bản Thông qua đó, tác giả rút ra những bài học bổ ích cho ViệtNam trong việc phân định ranh giới, chức năng chỉ đạo của nhà nước về tài chính,

về tổ chức thực hiện bảo vệ di sản tầm vĩ mô, còn cộng đồng thì được nhà nước hỗtrợ và tạo điều kiện để thực hành di sản [39, tr.53-65]

Vai trò chủ thể của cộng đồng trong QL DSVH cần phải nhận thức rõ tầmquan trọng, giá trị và chính người dân trong cộng đồng được hưởng lợi từ chínhDSVH [156] Bên cạnh đó, Nhà nước tham gia với vai trò quản lý hành chính, địnhhướng, hỗ trợ cộng đồng và tăng cường trao quyền QL DSVH cho cộng đồng [157]

Tác giả Nguyễn Quang Minh và Nguyễn Thu Trang cho rằng yếu tố tạo nêntính cố kết cộng đồng đã ít nhiều thay đổi theo thời gian và không gian Trong quákhứ, yếu tố tạo nên tính cố kết cộng đồng là yếu tố thân tộc, huyết thống; còn hiệnnay yếu tố lợi ích và sự quan tâm chung là yếu tố quyết định sự bền chặt của cộngđồng [73] Từ tính cố kết cộng đồng làng xã truyền thống đến tính cố kết cộng đồnglàng xã đương đại đã có nhiều chuyển biến Đặc biệt, quá trình xây dựng nông thônmới sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi chú trọng đến năng lực tự quản của cộng đồng làng

xã Hiểu rõ tính cố kết cộng đồng làng xã truyền thống, nhằm phát huy được tínhchủ động, tích cực Đồng thời, hạn chế những mặt tiêu cực một cách chủ động sẽgiúp cho công cuộc xây dựng nông thôn mới được hiệu quả hơn [2] Cùng quanđiểm trên, tác giả Nguyễn Hồng Hà cho rằng QL DSVH là nghĩa vụ và quyền lợithiết thực của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, cộng đồng [33]

Như vậy, các công trình sách, bài viết về cộng đồng và vai trò của cộng đồngtrong QL DSVH đều bàn luận đến những vấn đề về vai trò chủ động, tích cực củacộng đồng; vai trò tự quản, tính cố kết cộng đồng cũng như những lợi ích của cộngđồng từ việc QL DSVH Đây là những tài liệu quan trọng giúp NCS có thêm cơ sởkhoa học và thực tiễn khi giải quyết các vấn đề đặt ra về vai trò của cộng đồng trongBV&PH giá trị DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Trang 29

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu và di sản văn hóa dân tộc Sán Dìu

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, dân tộc Sán Dìu được nhiều nhà nghiên cứu quantâm như các tác giả: Bonifaxi [21], Ma Khánh Bằng [9], Diệp Trung Bình [15] [16][17] [18], Ôn Thái Trần [117] [118] [119] [120], Lâm Quang Hùng [54] [55],Nguyễn Thị Quế Loan [67], Nguyễn Ngọc Thanh [103], Nguyễn Thị Kim Thoa[114] [115], Ngô Văn Trụ [121]…; nhiều sinh viên, học viên Cao học và NCS lựachọn dân tộc Sán Dìu là đối tượng nghiên cứu trong các đề tài khoa học như:

Nguyễn Thẩm Thu Hà [34]; Nguyễn Xuân Hòa [42], Dương Thùy Linh [64], KiềuThị Thiên Trang [116] Tuy nhiên, qua tổng hợp NCS nhận thấy chưa có một côngtrình chuyên sâu nào đề cập đến vấn đề QL DSVH dân tộc Sán Dìu Những nộidung bàn luận đến vấn đề QL DSVH dân tộc Sán Dìu thường chỉ chiếm một dunglượng nhỏ trong các công trình đã công bố Chính vì vậy, tổng quan các công trìnhnghiên cứu khoa học về dân tộc Sán Dìu và DSVH dân tộc Sán Dìu cho thấy, việcnghiên cứu một cách hệ thống về QL DSVH dân tộc Sán Dìu là một yêu cầu cấpthiết không chỉ để bổ sung cho nguồn tư liệu về dân tộc Sán Dìu mà còn thể hiện cáinhìn khách quan khi nhận diện và đánh giá sự phát triển, vận động của dân tộc SánDìu trong đời sống đương đại

* Nhóm công trình nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu

Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, đây là công

trình đầu tiên viết về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam Công trình này, có nhắc tới cáctộc người ở xứ Tuyên Quang, có 07 chủng tộc người Man, trong đó chủng tộc SơnMan [26, tr.335], được lí giải rằng: “Man = Dao, và như vậy thì Sơn Man tức là SơnDao hay cũng chính là Sán Dìu (山山)” [9, tr.9] Đầu thế kỷ XX, với tư cách là chỉ huy

khu vực sứ Tuyên Quang năm 1898, Bonifaxi công bố chuyên khảo về Mán Quần

Cộc Bằng phương pháp Dân tộc chí, Bonifaxi đã mô tả đời sống văn hóa, phong tục

tập quán và so sánh văn hóa của người Sán Dìu với các dân tộc cận cư nên đã xếpSán Dìu vào nhóm Dao [21, tr.4] Nhận định của Bonifaxi trùng khớp với ý kiến củacác học giả Phạm Hồng Quý (山山山) và Lưu Chí Cường (山山山)

Trang 30

(Trung Quốc) [149] [150] [151] xếp dân tộc Sán Dìu (山山) vào dân tộc Dao (山山) Tuynhiên, vào thập niên 60 các học giả Liên Xô lại xếp Sán Dìu vào nhóm Hán, trongngữ hệ Hán - Tạng [9, tr.17] Đây là những công trình đầu tiên khá đầy đủ về dântộc Sán Dìu, là một tộc người riêng và có những nét khái quát sơ lược về văn hóadân tộc Sán Dìu.

Tác giả Bùi Đình đã viết trong Tìm hiểu đồng bào miền núi Việt Nam, như

sau: Mán Quần Cộc đến từ tỉnh Quảng Đông di cư vào Việt Nam thời nhà Minh (Trung Quốc), có tên là Sơn Dao, họ ở một dài từ Quảng Ninh,Hải Dương, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên lác đác ngoài các hải đảo trong vịnh Bắc Bộ như Kẻ Bào, Cát Bà cũng có Nhóm

ở vùng Quảng Ninh gồm Đầm Hà, Hà Cối, Tiên Yên, Vân Đồn, ĐôngTriều thời phong tục theo người Kinh Nhưng trong các vùng Phủ LạngThương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên còn giữ được một đôi tính cách Mán [9, tr.9]

Những công trình nghiên cứu khá toàn diện về dân tộc Sán Dìu của các tác

giả Ma Khánh Bằng, Người Sán Dìu ở Việt Nam [9]; Lâm Quang Hùng, Người Sán

Dìu ở Vĩnh Phúc [54]; Ngô Văn Trụ, Nguyễn Xuân Cần, Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang [121]; Nguyễn Ngọc Thanh, Văn hóa truyền thống dân tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang [103];… Đây là những công trình được các tác giả tiếp cận dưới góc độ

chuyên ngành Dân tộc học, Văn hóa dân gian với nội dung nghiên cứu chủ yếu như:tộc danh, quá trình tộc người, hoạt động kinh tế; văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần;một số phong tục trong đời sống Các công trình đã khái quát được bức tranh về đờisống văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam Tuy nhiên, về vấn đề QL DSVH dântộc Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh nóiriêng, vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu

* Nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa dân tộc Sán

Dìu - Về DSVH vật thể

Dưới góc độ nghiên cứu về DSVH vật thể, hai chủ đề về nhà cửa và trangphục ít được nghiên cứu với những công trình chuyên biệt Gần đây, tác giả Kiều

Trang 31

Thị Thiên Trang đã nghiên cứu trong luận văn Bảo tồn và phát huy giá trị trang

phục truyền thống người Sán Dìu tại xã Đạo trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

[116] Tác giả đã trình bày những giá trị tiêu biểu, đặc sắc của trang phục truyềnthống dân tộc Sán Dìu, cũng như đề cập đến thực trạng, giải pháp bảo tồn và pháthuy giá trị của trang phục của họ Công trình tập trung vào các giải pháp về cơ chếchính sách mà chưa quan tâm nhiều đến phát huy vai trò cộng đồng trong bảo tồn vàphát huy nét văn hóa về trang phục của dân tộc Sán Dìu trong đời sống hiện nay

Đối với chủ đề nhà ở, ngoài những công trình tổng hợp chung, chỉ có một sốbài viết ngắn đề cập đến nhà ở truyền thống của dân tộc Sán Dìu như tác giả Trương

Xuân Hữu bàn về Tục lệ làm nhà mới với xây dựng nếp sống văn hóa của người

Sán Dìu ở Vĩnh Phúc [61]; Nguyễn Hạnh Sơn với bài viết Người Sán Dìu làm nhà mới [96] Đây là những bài viết mang tính giới thiệu khái quát, chưa có sự phân

tích, đánh giá hay đề xuất giải pháp trong việc BV&PH di sản nhà ở của dân tộc SánDìu tại địa bàn nghiên cứu

Văn hóa ẩm thực của dân tộc Sán Dìu được khá nhiều tác giả quan tâm như:

Diệp Trung Bình với Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu [18]; Lâm Quang Hùng với

Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu ở Vĩnh phúc [55]; Nguyễn Thị Quế Loan với Bản sắc văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu ở Thái Nguyên [67],… Trong những công

trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày một cách chân thực nhất về văn hóa

ẩm thực của dân tộc Sán Dìu qua việc sử dụng nguồn lương thực, thực phẩm để tạo

ra cách thức chế món ăn phong phú mang đậm phong vị của cư dân vùng bán sơnđịa Ngoài ra, các tác giả còn nêu những nét khái quát mối quan hệ, thế ứng xử củacác thành viên trong gia đình, cộng đồng thông qua việc ăn uống Bên cạnh đó, tác

giả Nguyễn Thị Quế Loan còn phân tích Tập quán chăm sóc sản phụ, trẻ sơ sinh

trong ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên; Biến đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu tỉnh Thái Nguyên…

Nghiên cứu về các hoạt động sinh kế của dân tộc Sán Dìu có tác giả Nguyễn

Xuân Hòa trong luận án Sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm vườn quốc gia Tam

Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc [42] và luận án của tác giả Dương Thùy Linh về Sinh kế vùng

gò đồi của người Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên [64] Các NCS đã luận giải được các

Trang 32

vấn đề văn hóa trong sinh kế thông qua sự thích ứng văn hóa của dân tộc Sán Dìu từtruyền thống đến hiện đại; phân tích nguyên nhân và sự tác động đến sự chuyểndịch sinh kế cũng như biến đổi đời sống văn hóa tộc người Từ đó, những công trìnhnày đã góp phần vào quá trình hoạch định chính sách và đưa ra giải pháp nhằm pháttriển sinh kế tộc người bền vững, song song với bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa cộng đồng dân tộc Sán Dìu Cách tiếp cận của các tác giả từ chuyên ngànhNhân học và Khu vực học nên chưa đề cập đến vấn đề QL DSVH từ loại hình sinh

kế truyền thống trong giai đoạn hiện nay

- Các nghiên cứu về DSVH phi vật thể

Nghiên cứu DSVH phi vật thể của dân tộc Sán Dìu được nhiều nhà quản lý, nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu như: nghiên cứu về tiếng nói và chữ viết: tác giảNguyễn Thị Kim Thoa đã có nhiều công trình nghiên cứu từ luận văn, luận án đến các

công bố khoa học về hệ thống Ngữ âm tiếng Sán Dìu [115] Đây là công trình đầu tiên

mô tả tương đối đầy đủ và có hệ thống về ngữ âm tiếng Sán Dìu với các thành phầnnhư: thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Tác giả cũng so sánh hệ thống

ngữ âm tiếng Sán Dìu với tiếng Hán trong bài Những tương đồng ngữ âm giữa tiếng

Sán Dìu ở Việt Nam và tiếng Hán hiện đại [114] Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm

của Ma Khánh Bằng cho rằng tiếng Sán Dìu ở Việt Nam đã tiếp thu một thổ ngữ ởQuảng Đông, Trung Quốc nên tác giả đã so sánh ngữ âm tiếng Sán Dìu với ngữ âm củamột số phương ngữ Hán ở Quảng Đông và đưa ra kết luận: tiếng Sán Dìu của Việt Nam

có hệ thống ngữ âm gần gũi nhất với phương ngữ Khách Gia

Để dân tộc Sán Dìu có chữ viết riêng ghi lại tiếng nói và văn hóa của dân tộc mình,dựa trên những đặc điểm về ngữ âm đã nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa đề xuấtmột phương án chữ viết Latin đơn giản, thuận tiện trong sử dụng cho người Sán Dìu ở ViệtNam Hiện bộ chữ này đang được tác giả thử nghiệm để đưa vào sử dụng trong đời sống tạimột số địa phương như Quảng Ninh, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc…

Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đã triển khai đề tài Sưu tầm, số hóa và

nghiên cứu khai thác chữ viết cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam [133], trong

đó tập trung khai thác chữ viết cổ của người Sán Dìu Đề tài đã tổ chức lớp học và

Trang 33

nghiên cứu bảng tra chữ Sán Dìu, gồm phần bảng tra chữ và phần sách học chữ SánDìu theo sách cổ truyền của dân tộc Sán Dìu tại Bắc Giang Các công trình nghiêncứu về tiếng nói và chữ viết Sán Dìu là lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữhọc Các công trình của cá nhân hay tổ chức cũng đều đã đề cập đến vấn đề bảo tồntrong phạm vi tiếng nói và chữ viết của dân tộc Sán Dìu.

Ngữ văn dân gian là các hình thức sinh hoạt quan trọng trong đời sống văn hóatinh thần của dân tộc Sán Dìu được chính những tác giả là dân tộc Sán Dìu sưu tầm,biên soạn về dân ca Sán Dìu có tác giả Diệp Trung Bình [15]; Lê Đại Năm với tác

phẩm Các bài hát Thềnh sèn cô của dân tộc Sán Dìu ra tiếng phổ thông và sáng tác hát

giao duyên lời mới [76] Các bài hát Thềnh sèn cô được tác giả Lê Đại Năm sưu tầm,

tuyển chọn và biên dịch là chuỗi các bài hát mở đầu, hát mời, hát gọi của cuộc hát.Khách đến nhà chơi hay đến làng chơi vì giữ ý nên chủ nhà chủ động hát chuỗi bàiThềnh thèn cô để mời khách hát đối đáp; Ôn Thái Trần (bút danh Ôn Quang Thiên) làngười có công sưu tầm, biên soạn và sáng tác nhiều tác phẩm thơ ca, truyện cổ Sán Dìu

như: Kinh sách dạy con [117]; Vua Bàn cổ [118]; Hoi then dip thi [119], Người dẫn

đường (Những ca khúc Sán Dìu) [120] Tác giả đã sưu tầm và biên soạn một số truyện

kể, sách cổ dạy chữ, dạy đạo làm người của dân tộc Sán Dìu tại vùng núi Tam Đảo

Các tác phẩm trên chủ yếu là sưu tầm, biên dịch và sáng tác từ chất liệu dângian làm phong phú thêm loại hình sinh hoạt giải trí Tuy nhiên, các tác phẩm này chỉ ởdạng sưu tầm dân gian cổ truyền và sáng tác thơ ca lời mới chứ chưa phân tích, đánhgiá thực trạng ngữ văn dân gian để có phương thức BV&PH trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Diệp Trung Bình đã có một số nghiên cứu về lễ hội và lễ tục vòng

đời người Sán Dìu với các công trình: Lễ hội cổ truyền các dân tộc Hoa, Sán Dìu ở

Việt Nam [16]; Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam [17] Trong các công trình này, tác giả đã khái quát và phân tích kỹ về đời sống

văn hóa tinh thần của dân tộc Sán Dìu như: lễ hội Đại phan được xem là lễ hội tínngưỡng lớn nhất của dân tộc Sán Dìu, phong tục tập quán trong sinh đẻ, cưới xin,tang ma truyền thống được tác giả trình bày chi tiết, cụ thể qua cách tiếp cận chuyên

ngành Dân tộc học Tác giả Phạm Thị Phương Thái trong công trình Nghi lễ

Trang 34

tang ma của người Sán Dìu từ góc nhìn văn hóa [102] đã phân tích khá chi tiết về

phong tục và nghi lễ trong tang ma của dân tộc Sán Dìu dưới cách tiếp cận Văn hóahọc Tác giả chú trọng đến những nét đặc sắc trong nghi lễ tang ma của dân tộc SánDìu như tính hỗn dung tôn giáo - tín ngưỡng thông qua hệ thống tranh thờ; dấu ấnPhật giáo qua lễ giải oan, phá ngục trong tang lễ của phụ nữ Sán Dìu; hành trangcủa người chết mang về thế giới bên kia

Nghiên cứu về gia đình có công trình luận án của tác giả Hoàng Phương Mai[71].Luận án đã nêu lên sự hình thành, cơ sở phân loại cũng như cách phân tích hệthống về cấu trúc, quy mô và chức năng cơ bản của gia đình dân tộc Sán Dìu ở chânnúi Tam Đảo Bên cạnh đó, tác giả đã trình bày các nghi lễ trong gia đình của dântộc Sán Dìu, những biến đổi về cấu trúc, quy mô, mối quan hệ trong gia đình dântộc Sán Dìu hiện nay

Tác giả Nguyễn Thẩm Thu Hà trong luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài Tri

thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của người Sán Dìu tỉnh Tuyên Quang [34] Tác giả đã phân tích một cách có hệ thống tri thức địa

phương trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như: đất, nước, rừng Nhữngtri thức địa phương đó được đồng bào Sán Dìu sử dụng và bảo vệ trong đời sốnghiện nay thông qua nhận định về những biến đổi và thách thức cần giải quyết

Như vậy, có thể thấy đa số các nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu đều tập trungđến những loại hình văn hóa cụ thể, một vài lĩnh vực trong đời sống văn hóa củadân tộc Sán Dìu dưới cách tiếp cận của chuyên ngành Dân tộc học, Văn hóa dângian Từ trước đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách hệ thống về DSVHdân tộc Sán Dìu nhằm nhận diện DSVH trong đời sống hiện nay cũng như thựctrạng QL DSVH, để từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN và QL củacộng đồng trong BV&PH giá trị DSVH dân tộc Sán Dìu dưới cách tiếp cập củachuyên ngành Quản lý Văn hóa

* Các nghiên cứu về DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn

Các nghiên cứu về DSVH dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Quảng Ninh có các công

trình như: Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh, Địa chí tỉnh Quảng Ninh [98] [99] là

công trình giới thiệu đầy đủ, hệ thống về điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh Quảng

Trang 35

Ninh, trong đó có phần giới thiệu về DSVH, phong tục tập quán của dân tộc SánDìu sinh sống trên địa bản của tỉnh.

Năm 2007-2008, Sở VH,TT&DL tỉnh Quảng Ninh triển khai nhiệm vụ

KH&CN cấp tỉnh Sưu tầm, nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá

trị văn hoá dân gian cổ truyền của người Sán Dìu ở tỉnh Quảng Ninh Mục tiêu của

nhiệm vụ là sưu tầm, nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị vănhoá dân gian cổ truyền của dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Quảng Ninh Điều tra, sưu tầmDSVH phi vật thể và vật thể của dân tộc Sán Dìu ở Quảng Ninh và phục dựng bahình thức sinh hoạt văn hoá dân gian của dân tộc Sán Dìu tại xã Bình Dân, huyệnVân Đồn, tỉnh Quảng Ninh gồm: lễ hội Đại phan; Soọng cô; múa Hành quang

UBND tỉnh Quảng Ninh (2007), Quy hoạch bảo tồn và phát triển văn hóa các

DTTS tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng tới năm 2020 [125] Việc triển

khai các Quyết định, nhiệm vụ KH&CN của tỉnh Quảng Ninh khá bài bản và côngphu Tuy nhiên, các quyết định, nhiệm vụ KH&CN chỉ dừng lại ở việc đề ra các chỉtiêu và sưu tầm, nghiên cứu các giá trị văn hoá dân gian cổ truyền của dân tộc SánDìu ở tỉnh Quảng Ninh mà chưa có giải pháp phát huy hay gắn kết di sản với pháttriển du lịch của địa phương

DSVH dân tộc Sán Dìu được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoàiquan tâm nghiên cứu như: Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Chính (Trường Đại họcKhoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng 02 nhà nghiên cứungười Nhật: Masaco, Naora (Trường Đại học Tokyo) nghiên cứu về sinh kế ngườiHoa, người Sán Dìu tại huyện Vân Đồn; Giảng viên Nguyễn Thị Kim Thoa đưađoàn sinh viên khoa Ngôn ngữ học (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,Đại học Quốc gia Hà Nội) về xã Bình Dân, huyện Vân Đồn nghiên cứu về ngữ âmtiếng Sán Dìu; 02 nhà nghiên cứu Cao Tiên Cúc, Tả Hà đến từ trường Đại học Dântộc Quảng Tây nghiên cứu về văn hóa dân tộc Sán Dìu huyện Vân Đồn

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã cung cấp lượngthông tin rất lớn về dân tộc Sán Dìu và DSVH dân tộc Sán Dìu về các thành tố vănhóa như: văn hóa vật thể, phi vật thể, văn hóa tổ chức cộng đồng, hoạt động sinh kếhay các công trình chuyên sâu như: tri thức địa phương, gia đình, ngữ âm; ẩm

Trang 36

thực…, giúp cho NCS hiểu biết rõ hơn về DSVH dân tộc Sán Dìu Tuy nhiên, chưa

có công trình nghiên cứu hay công bố về vấn đề QL DSVH dân tộc Sán Dìu ởhuyện đảo Vân Đồn Đây là vấn đề mới, những vấn đề chưa được nghiên cứu trongquá trình phát triển và hội nhập hiện nay

1.1.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, NCS nhận thấy đã có khá nhiều côngtrình nghiên cứu về lĩnh vực QL DSVH nói chung và một số trường hợp quản lý cụthể Song những công trình nghiên cứu về QL DSVH DTTS, trong đó có DSVH dântộc Sán Dìu còn hạn chế cả về số lượng và nội dung Chính vì vậy, từ góc độ chuyênngành Quản lý văn hóa, NCS đã chọn đây là vấn đề nghiên cứu nhằm tìm hiểu mộtcách hệ thống, toàn diện thực tiễn công tác QL DSVH dân tộc Sán Dìu Từ đó, nhậndiện những thuận lợi, khó khăn, hạn chế, những yếu tố tác động, các vấn đề đặt ra

và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN, thực trạngquản lý của cộng đồng và các bên liên quan trong QL DSVH dân tộc Sán Dìu ởhuyện đảo Vân Đồn Đồng thời, đây cũng là vấn đề NCS có thể kế thừa từ nhiềucông trình nghiên cứu có liên quan để giải quyết vấn đề luận án đặt ra

Các nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu, DSVH dân tộc Sán Dìu đã có là rất lớn

và đa dạng từ đề án, đề tài của các tổ chức từ Trung ương đến địa phương, trong đó,nhiều công trình nghiên cứu là sách chuyên khảo, luận văn, luận án, Tuy nhiên,vấn đề QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn còn là mới mẻ và chưa cócông trình nghiên cứu chuyên sâu Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, DSVH dân tộcSán Dìu ngày càng bị mai một, thất truyền và biến đổi do nhiều tác động của xã hội.Đặc biệt, hiện nay huyện đảo Vân Đồn đang từng bước được xây dựng để trở thànhKKT mang đẳng cấp quốc tế thì việc QL DSVH dân tộc Sán Dìu càng trở nên cầnthiết và cấp bách, mà các công trình khoa học nêu trên vẫn chưa đề cập đến hoặcchưa nghiên cứu một cách hệ thống Đây là khoảng trống trong nghiên cứu mà luận

án cần lấp đầy để giải quyết những vấn đề nêu trên

Một khoảng trống nữa trong nghiên cứu là đề xuất mô hình QL DSVH trongphát triển KT-XH, đặc biệt là QL DSVH dân tộc Sán Dìu ở huyện đảo Vân Đồn gắnvới phát triển du lịch, một nguồn lực nội sinh tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng

Trang 37

Đây là một khoảng trống mà các công trình trước đó chưa đề cập đến cần được xemxét, đề xuất mang tính ứng dụng vào thực tiễn phát triển của cộng đồng và huyệnđảo Vân Đồn trong giai đoạn hiện nay.

Khái niệm di sản được chính thức hóa vào đầu những năm 1830 Về mặtpháp lý, khái niệm này được bảo vệ, đánh giá xếp hạng bởi một đạo luật ra đời vàonăm 1913 Di tích lịch sử là bằng chứng không thể phủ nhận về một quá khứ luôn

có mặt mà cộng đồng dân tộc đã công nhận và thừa nhận như những giá trị tiêu biểucho bản sắc của mình Tại Hội nghị Di sản Toàn quốc của nước Anh được tổ chứcvào năm 1983, Hội nghị đã đưa khái niệm di sản, cụ thể như sau: “Đó là những gìthuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì màmột nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế

Trang 38

công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặcbiệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học do kiến trúc, sựthống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan; cácthắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của conngười kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể

cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch

sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [122]

Năm 1989, UNESCO định nghĩa DSVH theo hướng khái quát hóa nhấnmạnh vào chủ thể sáng tạo ra văn hóa và mang những sắc thái riêng có của mỗi dântộc, vùng miền, cụ thể như sau: “DSVH là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặcbiểu hiện di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thểnhân loại, là một phần của nhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng chomỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm con người” [12, tr.14]

Ngày 29/6/2001, Quốc hội đã ban hành văn bản Luật Di sản văn hóa Tại

Điều 1 của Luật có ghi: “DSVH quy định tại Luật này bao gồm DSVH phi vật thể

và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoahọc, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [85] Sau một thời gian thực thi

Quốc hội đã được bổ sung và ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật

Di sản văn hóa số 32/2009/QH12, được ban hành ngày 18/6/2009.

+Tại khoản 2, Điều 4 của Luật Di sản văn hóa quy định về DSVH vật thể:

DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, baogồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia[85] DSVH vật thể, bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích); di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [PL 7.5, tr.217]

Trang 39

tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, cácnhóm người - trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là mộtphần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,DSVH phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừngtái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộngđồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ýthức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự

đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích củaCông ước này, chỉ xét đến những DSVH phi vật thể phù hợp với các vănkiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về

sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và

về phát triển bền vững [123, tr.3]

Tại khoản 1, Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn

hóa năm 2009 định nghĩa: “DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng

hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoahọc, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từthế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thứckhác” [86] DSVH phi vật thể, bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệthuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủcông truyền thống; tri thức dân gian [PL 7.5, tr.217]

Trong quá trình thực hiện luận án, NCS sử dụng các khái niệm thao tácDSVH, DSVH vật thể, DSVH phi vật thể trong Luật Di sản văn hóa [85] [86] vàNghị định số 98/2010/ND-CP để nghiên cứu DSVH của dân tộc Sán Dìu tại huyệnđảo Vân Đồn

1.2.1.2 Giá trị và giá trị di sản văn hóa

Nhà Xã hội học J.H Fichter đã định nghĩa: “Theo cách mô tả chúng ta có thểnói rằng, tất cả những gì ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với conngười hoặc nhóm, đều là có một giá trị” [4, tr.24]

Đối với khái niệm về giá trị, các nhà xã hội học Việt Nam đã khẳng định rõhơn yếu tố chủ thể thông qua nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể “…bất cứ

Trang 40

sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị, dù nó là vật thể hay tư tưởng, miễn là nóđược người ta thừa nhận, người ta cần đến nó như một nhu cầu, hoặc cấp cho nómột vị trí quan trọng trong đời sống của họ” [4, tr.25].

“Mỗi cá nhân có hệ thống giá trị riêng và hệ thống giá trị này tương đối ổnđịnh Giá trị của cá nhân bị ảnh hưởng bởi môi trường nuôi dưỡng, môi trường xãhội, kinh nghiệm và sự giáo dục của cá nhân” [60, tr 42]

Như vậy, mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc trong quá trình lịch sử đã sáng tạo,nuôi dưỡng các giá trị văn hóa phục vụ cho nhu cầu đời sống của họ Các giá trị vănhóa luôn được bồi đắp, duy trì và trao truyền cho thế hệ hôm nay và mai sau, ngàycàng trở nên phong phú hơn Nó giúp cho mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộckhẳng định bản sắc riêng có của mình thông qua giá trị văn hóa cốt lõi

1.2.1.3 Quản lý văn hóa

Quản lý văn hóa là hoạt động tổng hợp, có mối quan hệ hữu cơ, tương tácqua lại giữa chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý (mọi thành phần thamgia hoạt động văn hóa) nhằm đạt được các mục tiêu quản lý

Có thể làm rõ nội hàm QLNN về văn hóa với các thành tố cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ thể QLNN về văn hóa là các cơ quan hành pháp của nhà nước

được thống nhất từ trung ương đến địa phương qua 04 cấp: cấp trung ương, cấptỉnh/thành phố; cấp thành phố/quận/huyện/thị xã; cấp xã/phường/thị trấn Mỗi cấpQLNN về văn hóa chính là chủ thể quản lý và có cơ quan, cán bộ chuyên quản,chuyên trách như: Bộ VH,TT&DL; Sở VH,TT&DL; Phòng Văn hóa - Thông tin

Thứ hai, khách thể QLNN về văn hóa là các cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá

nhân có hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến các hoạt động tronglĩnh vực văn hóa

Thứ ba, mục đích QLNN về văn hóa nhằm BV&PH các giá trị văn hóa truyền

thống tốt đẹp, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; kiến tạo xã hội văn minh,cộng đồng đoàn kết, gia đình nề nếp… Đó là mục tiêu của QLNN về văn hóa nhằm xâydựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Thứ tư, QLNN về văn hóa được thực thi trên cơ sở pháp lý là hiến pháp, pháp

luật, thông tư, chương trình, quyết định… QLNN về văn hóa được hoạch định và

Ngày đăng: 24/07/2021, 06:02

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w