Quy trình tiếp nhận chỉ định và trả kết quả xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ
NGHIỆM CHỌC HÚT TẾ BÀO BẰNG KIM NHỎ
I NHẬN GIẤY CHỈ ĐỊNH, GỌI TÊN BỆNH NHÂN VÀO LÀM THỦ THUẬT
1 Nhân viên nhận giấy chỉ định xét nghiệm của bệnh nhân , hướng dẫn bệnh nhân ngồi chờ tới lượt
2 Gọi bệnh nhân tới lượt vào làm thủ thuật
Sau khi hoàn thành thủ thuật, người bệnh cần đè chặt bông băng tại vị trí chọc hút trong 10 phút để tránh chảy máu Sau đó, người bệnh có thể ra ngoài và ngồi chờ để nhận kết quả.
II TRẢ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM
1 Trả kết quả xét nghiệm bệnh nhân nội trú
Kết quả xét nghiệm sẽ được trả về khoa lâm sàng theo đúng chỉ định của bác sĩ, giúp bệnh nhân không phải chờ đợi lâu sau khi thực hiện thủ thuật.
2 Trả kết quả xét nghiệm bệnh nhân ngoại trú:
Trả kết quả sau 45 - 90 phút kể từ khi thực hiện xong thủ thuật (Tùy vào số lượng bệnh nhân thực hiện thủ thuật)
III TRONG TRƯỜNG HỢP XẢY RA LỖI
Nếu khoa Giải phẫu bệnh không thể cung cấp kết quả đúng hạn, nhân viên sẽ có trách nhiệm thông báo và giải thích cho bệnh nhân, đồng thời hẹn thời gian trả kết quả sau.
Quy trình giao nhận bệnh phẩm giải phẫu bệnh
Giao nhận đủ mẫu bệnh phẩm, không bị thất lạc, nhầm lẫn mẫu bệnh phẩm, đảm bảo chất lượng mẫu xét nghiệm
1 Chỉ định: Tất cả mẫu bệnh phẩm sau mổ có phiếu chỉ định yêu cầu xét nghiệm giải phẫu bệnh
1 Dụng cụ: Sổ giao nhận bệnh phẩm
Bệnh phẩm cần được bảo quản trong hộp nhựa ngâm trong dung dịch formol 10%, đảm bảo lượng formol ngập hoàn toàn bệnh phẩm Ngoài ra, cần ghi rõ thông tin bệnh nhân bao gồm họ tên, tuổi, giới tính, ngày lấy mẫu và vị trí lấy mẫu bệnh phẩm.
III THỰC HIỆN QUY TRÌNH
1 Tại phòng phẫu tích bệnh phẩm khoa giải phẫu bệnh, bệnh phẩm được đưa đến bởi nhân viên giao bệnh phẩm
Nhân viên khoa giải phẫu bệnh có trách nhiệm nhận mẫu và kiểm tra kỹ lưỡng từng mẫu bệnh phẩm để đảm bảo chúng phù hợp với thông tin trên phiếu chỉ định xét nghiệm Việc này bao gồm việc xác minh số lượng mẫu và độ chính xác của thông tin bệnh nhân ghi trên phiếu chỉ định.
Nhân viên khoa giải phẫu bệnh đã xác nhận việc nhận đủ mẫu bệnh phẩm bằng cách ký vào sổ giao nhận bệnh phẩm do nhân viên giao mẫu cung cấp.
Nhân viên khoa giải phẫu bệnh thực hiện tổng kết số lượng mẫu và phiếu chỉ định xét nghiệm, đồng thời ghi vào sổ giao nhận bệnh phẩm và ký xác nhận việc hoàn thành giao nhận bệnh phẩm.
Tất cả phiếu chỉ định xét nghiệm giải phẫu bệnh và mẫu bệnh phẩm cần phải được gửi đến phòng phẫu tích bệnh phẩm của khoa giải phẫu bệnh trong giờ hành chính vào các ngày trong tuần.
- Bệnh phẩm sẽ được tiếp nhận, phẫu tích và làm xét nghiệm, trả kết quả sau tối thiểu 04 ngày (không tính ngày nghỉ, ngày lễ) về khoa lâm sàng.
Quy trình chọc hút bằng kim nhỏ (fna) tuyến giáp
Tất cả các tổn thương tuyến giáp có thể được sờ nắn và chẩn đoán thông qua phương pháp hút tế bào Bằng cách sử dụng bơm tiêm gắn kim tiêm, kim sẽ được đưa vào vùng tổn thương với áp lực âm để thu thập tế bào Sau đó, chất dịch được lấy ra và đưa lên phiến kính để cố định, nhuộm màu và phân tích hình thái, sự sắp xếp tế bào cũng như nền phiến đồ dưới kính hiển vi quang học nhằm xác định bệnh lý của tuyến giáp.
Các trường hợp u giáp đã được chẩn đoán trên lâm sàng và siêu âm ( nang giáp, bướu nhân, ung thư tuyến giáp ), viêm giáp
- Bệnh nhân đang có tình trạng cường gíap
- Rối loạn đông máu ( TC< 50 G/L, PT100 lần/phút, huyết áp >140/90mmHg: không tiến hành thực hiện thủ thuật
Đội ngũ nhân lực bao gồm 01 bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học hoặc bác sĩ lâm sàng có chuyên môn về chọc hút kim nhỏ và 01 kỹ thuật viên giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học.
- Phòng để thực hiện kỹ thuật từ 15-20 m 2 , đủ ánh sáng, thoáng, có vòi nước, chậu rửa và bàn để dụng cụ nhuộm
- Bàn để dụng cụ, ghế ngồi cho BN (1), giường BN nằm (1), gối kê gáy bệnh nhân(1)
- Bông sạch, cồn iod, găng tay sạch, khẩu trang, băng dính y tế
- Hộp đựng bông cắt nhỏ vô trùng (1), hộp đựng bông cồn để sát trùng vùng chọc
(1), các dung dịch sát khuẩn
- Bơm tiêm 10ml hoặc 20ml, kim các cỡ từ 25G đến 20G
-Lam kính sạch, một đầu mài mờ để ghi mã số BN
- Giá để đựng lam kính đã dàn bệnh phẩm (phiến đồ)
- Bút chì mềm ghi mã số bệnh nhân, vị trí chọc hút trên phiến kính
- Dung dịch cố định bệnh phẩm (cồn tuyệt đối )
- Phẩm nhuộm phiến đồ (Giemsa/Diff - Quyk/HE/ PAP…)
- Các dụng cụ để nhuộm: khay, giá, cốc pha thuốc nhuộm, ống hút
- Nước cất, nước sạch để rửa thuốc nhuộm trên phiến kính
- Kính hiển vi quang học, bàn có mặt phẳng, đủ rộng để đặt kính hiển vi và để viết(1)
- Phiếu xét nghiệm ghi rõ họ và tên BN, người thực hiện kỹ thuật, vị trí chọc hút, dịch chọc và kết quả chẩn đoán
- Sổ và máy tính ghi lại thông tin của từng BN, đặc điểm tổn thương, vị trí chọc hút, dịch chọc và kết quả chẩn đoán
- Hộp thuốc chống sốc, ống nghe, máy đo huyết áp
- Các sọt rác đựng rác thải y tế, rác thải thường, hộp đựng kim đã dùng và vật sắc nhọn
3 Chuẩn bị bệnh nhân:(với các BN tỉnh táo, giao tiếp được với thầy thuốc)
Giải thích cho bệnh nhân và người nhà về quy trình thực hiện xét nghiệm là rất quan trọng, giúp họ hiểu rõ mục đích, nguy cơ và lợi ích của thủ thuật Điều này không chỉ tạo sự yên tâm mà còn khuyến khích bệnh nhân hợp tác tốt hơn trong quá trình thực hiện Việc cam kết thực hiện thủ thuật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
- Khai thác tiền sử bệnh và các triệu chứng lâm sàng, siêu âm, các xét nghiệm đánh giá tình trạng hóc môn tuyến giáp
- Mạch nhanh >100 lần/phút: không tiến hành thực hiện thủ thuật
- Khám bệnh nhân xác định vị trí tổn thương cần chọc hút, màu sắc, số lượng, mật độ, kích thước, sự di động
III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
- BN nằm thẳng trên gường, có thể kê gối mỏng dưới đầu
- Bộc lộ vị trí sát trùng vùng cần chọc hút bằng cồn iod
- Chọc hút để lấy bệnh phẩm:
+ BN không được nói, không được nuốt khi đang được làm thủ thuật
Để thực hiện chọc hút tổn thương, hãy cố định vị trí tổn thương bằng hai ngón tay trái, trong khi tay phải cầm kim gắn bơm tiêm Sau đó, đâm kim qua da vào tổn thương và sử dụng áp lực âm để hút dịch vào lòng kim.
+ Cố định mũi kim trong khi hút để tránh chảy máu và làm đau BN
Độ sâu của kim được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ nông hay sâu của tổn thương Có thể xoay mũi kim theo nhiều hướng hoặc chọc hút từ nhiều vị trí trên tổn thương để thu thập đủ mẫu bệnh phẩm, đặc biệt là khi tổn thương có kích thước lớn hơn 1,5cm.
+ Trước khi rút mũi kim ra khỏi mô, cần giải phóng áp lực âm, rút nhanh kim qua da
+ Nếu tổn thương là u nang, có nhiều dịch: nên hút hết dịch Khi rút kim không cần giải phóng áp lực âm
+ Sát trùng lại vị trí đã chọc hút, băng lại (nếu cần)
+ Tháo kim ra khỏi bơm tiêm
+ Kéo pittông xuống để lấy không khí vào bơm tiêm tạo áp lực
+ Lắp kim vào bơm tiêm
+ Nhanh chóng phụt dịch chọc ra các lam kính đã ghi sẵn mã số BN
+ Dùng một lam kính khác dàn bệnh phẩm trên các lam kính có bệnh phẩm để bệnh phẩm được dàn mỏng, đều
3 Cố định phiến đồ: bằng cồn tuyệt đối và để khô tự nhiên trong không khí
4 Nhuộm các phiến đồ: theo phương pháp nhuộm: Giemsa, Papanicolaou, Diff
- Quyck hay May Grunwanld Giemsa hoặc HE
5 Nhận định kết quả: trên kính hiển vi quang học bởi bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học
- Phiến đồ chọc hút phải lấy được trúng, đủ các tế bào của mô tổn thương, có đủ thành phần của tổn thương để chẩn đoán
- Các phiến đồ được dàn mỏng, đều, không chồng chất lên nhau
- Các tế bào được bảo tồn tốt đúng với hình thái của tổn thương
- Các tế bào bắt màu rõ ràng, phân biệt được rõ hình thái của nhân và bào tương
V NHỮNG SAI SÓT VÀ HƯỚNG XỬ TRÍ
- Phiến đồ không thỏa đáng:
+ Quá nghèo tế bào hoặc không lấy được tế bào của tổn thương:
Để đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình chọc, cần chú ý đến độ sâu của mũi kim, đảm bảo nó chạm đúng vào tổn thương mà không quá nông hoặc quá sâu Đồng thời, việc cố định vùng cần chọc là rất quan trọng; hãy dùng ngón tay ấn giữ chặt để tránh làm tổn thương di động trong quá trình hút.
Khi gặp tình trạng quá nhiều hồng cầu, nên sử dụng kim nhỏ và chỉ kéo pittông từ 3-5 lần Không nên chuyển hướng kim trong quá trình hút, và nếu thấy nhiều máu, cần chọc thêm một mũi ở vị trí khác (đối với khối lớn hơn 1,5cm), trừ trường hợp u nang chảy máu mới.
Khi sử dụng phiến đồ, cần tránh việc dàn quá dày hoặc kéo quá mạnh, vì điều này có thể dẫn đến tình trạng tế bào bị chồng chất, kéo dài hoặc nát Do đó, hãy đảm bảo phụt một lượng vừa đủ và dàn đều tay, nhẹ nhàng để đạt được hiệu quả tốt nhất.
Cố định kém có thể dẫn đến sự thoái hóa tế bào, làm khó khăn trong việc nhận định hình thái nhân và bào tương Do đó, cần lặp lại xét nghiệm và thực hiện cố định ngay sau khi dàn phiến đồ để đảm bảo độ chính xác.
+ Các tế bào bắt màu quá kém: cần nhuộm đủ thời gian và cố định tốt hoặc kiểm tra thuốc nhuộm
- BN không hợp tác: thuyết phục giải thích
- Chảy máu nhỏ tại nơi chọc hút: chỉ cần băng ép lại
Dịch chọc cần được xử lý nhanh chóng bằng cách hút và phụt ra phiến kính đã chuẩn bị trước, hoặc bơm nước muối sinh lý để rửa kim và thu thập dịch làm phiến đồ.
Chọc hút vào vị trí ngoài tổn thương như mạch máu, thần kinh hay khí quản cần thực hiện cẩn thận Ngay sau khi rút kim ra, hãy cố định chắc chắn vị trí cần chọc hút và tiến hành chọc hút lại để đảm bảo hiệu quả điều trị.
Trước khi tiến hành thủ thuật, cần yêu cầu bệnh nhân không nhịn ăn và giải thích để họ cảm thấy yên tâm Nếu bệnh nhân có dấu hiệu choáng trong hoặc sau khi chọc, hãy nhanh chóng cho họ nằm xuống giường và thực hiện các biện pháp xử trí chống choáng.
Quy trình chọc hút bằng kim nhỏ (fna) tuyến giáp dưới hướng dẫn của siêu âm
HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM
Chọc hút kim nhỏ tuyến giáp là phương pháp quan trọng trong việc chẩn đoán và phân loại bệnh lý tuyến giáp, giúp định hướng điều trị hiệu quả Tuy nhiên, việc chọc vào các u nhỏ (140/90mmHg: không tiến hành thực hiện thủ thuật
1 Nhân lực: 01 bác sỹ, 01 điều dưỡng ( KTV)
- Phòng thủ thuật vô trùng
- Giường thủ thuật, gối kê
Trong quá trình tiêm chủng, cần chuẩn bị đầy đủ các vật dụng như bông, cồn, dung dịch sát khuẩn tay nhanh, găng tay sạch và găng tay vô khuẩn Ngoài ra, cũng cần có mũ và khẩu trang y tế để đảm bảo an toàn Các hộp chống sock và hộp đựng kim tiêm bẩn là không thể thiếu, cùng với túi đựng rác thải lây nhiễm và không lây nhiễm để đảm bảo vệ sinh và an toàn cho quy trình tiêm.
- Bơm tiêm 10ml, kim tiêm 22-25G
- Lam kính mài một đầu, bút chì 2B, giá đựng tiêu bản
- Máy siêu âm có đầu dò linear tần số 7,5 - 10 MHz
Bệnh nhân sẽ đồng ý thực hiện thủ thuật sau khi được giải thích rõ ràng về tầm quan trọng của thủ thuật cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong và sau quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo họ cảm thấy an tâm và hợp tác tốt hơn trong quá trình chọc hút.
- Người bệnh được nghỉ ngơi, kiểm tra dấu hiệu sinh tồn trước khi thực hiện thủ thuật
- BN nằm thẳng trên giường, có thể kê gối mỏng dưới vai
- Bộc lộ vị trí cần chọc hút, sát trùng vùng cần chọc hút (Đã được xác định trên lâm sàng và trên siêu âm)
- Chọc hút để lấy bệnh phẩm:
+ BN không được nói, không được nuốt khi đang được làm thủ thuật
+ Xác định vị trí u giáp trên siêu âm, chọc kim qua da và theo dõi đường kim trên màn hình siêu âm
+ Cố định mũi kim trong khi hút để tránh chảy máu và làm đau BN
Tùy thuộc vào độ nông hoặc sâu của tổn thương, cần điều chỉnh độ sâu của kim để lấy mẫu Việc xoay mũi kim theo nhiều hướng hoặc chọc hút ở nhiều vị trí trên tổn thương sẽ giúp thu thập đủ bệnh phẩm cần thiết.
+ Trước khi rút mũi kim ra khỏi nhân giáp, cần giải phóng áp lực âm, rút nhanh kim qua da
+ Nếu tổn thương là u nang, có nhiều dịch: nên hút hết dịch Khi rút kim không cần giải phóng áp lực âm
+ Sát trùng lại vị trí đã chọc hút, băng lại
+ Tháo kim ra khỏi bơm tiêm
+ Kéo pittông xuống để lấy không khí vào bơm tiêm tạo áp lực
+ Lắp kim vào bơm tiêm
+ Nhanh chóng phụt bệnh phẩm chọc ra các phiến kính đã ghi sẵn mã số bệnh nhân
+ Dùng một phiến kính khác dàn bệnh phẩm trên các phiến kính có bệnh phẩm để bệnh phẩm được dàn mỏng, đều
3 Cố định phiến đồ: Để khô tự nhiên trong không khí, sau đó cố định bằng cồn tuyệt đối
4 Nhuộm các phiến đồ: theo phương pháp nhuộm: Giemsa, Papanicolaou, Diff -
Quyck hay May Grunwanld Giemsa hoặc HE
5 Nhận định kết quả: trên kính hiển vi quang học bởi bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào học
- Phiến đồ chọc hút phải lấy được trúng, đủ các tế bào của mô tổn thương, có đủ thành phần của tổn thương để chẩn đoán
- Các phiến đồ được dàn mỏng, đều, không chồng chất lên nhau
- Các tế bào được bảo tồn tốt đúng với hình thái của tổn thương
- Các tế bào bắt màu rõ ràng, phân biệt được rõ hình thái của nhân và bào tương.
Quy trình chọc hút bằng kim nhỏ (fna) các hạch lympho ngoại vi
Tất cả các hạch có thể sờ nắn trên bề mặt cơ thể Quá trình chẩn đoán bệnh hạch bắt đầu bằng cách sử dụng bơm tiêm gắn kim để đưa kim qua da vào vùng tổn thương Sau đó, áp dụng áp lực âm để hút các tế bào từ mô hạch vào trong kim Chất dịch thu được sẽ được phun lên phiến kính, cố định và nhuộm, nhằm phân tích hình thái tế bào, sự sắp xếp tế bào và nền phiến đồ dưới kính hiển vi quang học.
Tất cả các hạch sờ nắn được chẩn đoán trên lâm sàng, siêu âm
- Bệnh nhân không đồng ý và phối hợp thực hiện thủ thuật
- Rối loạn đông máu ( TC< 50 G/L, PT140/90mmHg: không tiến hành thực hiện thủ thuật
- Khám bệnh nhân xác định vị trí tổn thương cần chọc hút, màu sắc, số lượng, mật độ, kích thước, sự di động
IV CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
+ Bộc lộ vị trí cần chọc hút
+ Sát trùng vùng cần chọc hút bằng cồn iod
Chọc hút lấy bệnh phẩm là quy trình quan trọng, trong đó cần cố định vị trí tổn thương bằng hai ngón tay trái, trong khi tay phải cầm kim gắn bơm tiêm đâm vào tổn thương Sau đó, tiến hành hút dưới áp lực âm để dịch được chọc vào lòng kim Trước khi rút mũi kim ra khỏi mô, cần giải phóng áp lực âm và rút nhanh kim qua da để đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Tổn thương da có thể được điều trị bằng cách gây tê tại chỗ hoặc sử dụng kim nhỏ hơn (25G) Khi chọc, vị trí kim nên song song với bề mặt da, với đỉnh mũi kim đâm vào mô cần chọc tạo một góc nhọn, không đặt vuông góc với da.
Khi thực hiện hút mẫu mô, có thể lựa chọn nhiều vị trí trên tổn thương nếu kích thước tổn thương lớn hơn 1,5cm Đối với tổn thương mô mềm, chiều dài kim và độ sâu đâm kim qua da sẽ được lựa chọn dựa trên độ sâu của tổn thương để đảm bảo tới đúng vùng tổn thương.
+ Sát trùng lại vị trí đã chọc hút, băng lại (nếu cần)
+ Tháo kim ra khỏi bơm tiêm
+ Kéo pittông xuống để lấy không khí vào bơm tiêm tạo áp lực
+ Lắp kim vào bơm tiêm
+ Nhanh chóng phụt dịch chọc ra các phiến kính đã ghi sẵn mã số BN
+ Dùng một phiến kính khác dàn bệnh phẩm trên các phiến kính có bệnh phẩm để bệnh phẩm được dàn mỏng, đều
3 Cố định phiến đồ: bằng cồn tuyệt đối và để khô tự nhiên trong không khí
4 Nhuộm các phiến đồ: theo phương pháp nhuộm: Giemsa, Papanicolaou, Diff - Quyck hay May Grunwanld Giemsa hoặc HE
5 Nhận định kết quả: trên kính hiển vi quang học bởi bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học
- Phiến đồ chọc hút phải lấy được trúng, đủ các tế bào của mô tổn thương, có đủ thành phần tổn thương để chẩn đoán
- Các phiến đồ được dàn mỏng, đều, không chồng chất lên nhau
- Các tế bào được bảo tồn tốt đúng với hình thái tế bào của tổn thương
- Các tế bào bắt màu rõ ràng, phân biệt được rõ hình thái của nhân và bào tương.
Chọc hút bằng kim nhỏ các tổn thương vú sờ thấy được
Tất cả các tổn thương vú có thể sờ nắn được và được chẩn đoán thông qua một quy trình sử dụng bơm tiêm gắn kim Kim được đưa qua da vào vùng tổn thương và hút với áp lực âm để lấy các tế bào Sau đó, chất dịch thu được được phụt lên phiến kính, cố định và nhuộm để phân tích hình thái tế bào, sự sắp xếp tế bào và nền phiến đồ dưới kính hiển vi quang học, từ đó giúp chẩn đoán bệnh lý liên quan đến vú.
- Bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học hoặc bác sĩ lâm sàng đã được đào tạo về chọc hút kim nhỏ: 01
- Kỹ thuật viên giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 01
- Phòng để thực hiện kỹ thuật từ 15-20 m 2 , đủ ánh sáng, thoáng, có vòi nước, chậu rửa và bàn để dụng cụ nhuộm
- Bàn để dụng cụ (1), ghế ngồi cho bác sĩ và kỹ thuật viên (2) và ghế ngồi cho BN
(1), giường BN nằm (1), gối kê gáy bệnh nhân (1)
- Bông sạch, cồn iod, găng tay vô trùng, khẩu trang, băng dính y tế
- Hộp đựng bông cắt nhỏ vô trùng (1), hộp đựng bông cồn để sát trùng vùng chọc
- Bơm tiêm 10ml hoặc 20ml, kim các cỡ từ 25G đến 21G
- Dụng cụ gắn bơm tiêm để chọc hút (1)
- Hộp bằng thép không rỉ đựng bơm, kim tiêm sạch
- Hộp đựng kim đã dùng, dụng cụ đựng bơm đã sử dụng, dụng cụ đựng bông đã dùng
- Phiến kính sạch, một đầu mài mờ để ghi mã số BN
- Giá để đựng phiến kính đã dàn bệnh phẩm (phiến đồ)
- Bút chì mềm ghi mã số bệnh nhân, vị trí chọc hút trên phiến kính
- Dung dịch cố định bệnh phẩm (cồn tuyệt đối hoặc cồn/ete tỷ lệ 1/1)
- Phẩm nhuộm phiến đồ (Giemsa/Diff - Quyk/HE/ PAP…)
- Các dụng cụ để nhuộm: khay, giá, cốc pha thuốc nhuộm, ống hút
- Nước cất, nước sạch để rửa thuốc nhuộm trên phiến kính
- Các dung dịch sát khuẩn
- Kính hiển vi quang học, bàn có mặt phẳng, đủ rộng để đặt kính hiển vi và để viết
- Phiếu xét nghiệm ghi rõ họ và tên BN, người thực hiện kỹ thuật, vị trí chọc hút, dịch chọc và kết quả chẩn đoán
- Sổ hoặc máy tính ghi lại thông tin của từng BN, đặc điểm tổn thương, vị trí chọc hút, dịch chọc và kết quả chẩn đoán
- Hộp thuốc chống sốc, ống nghe, máy đo huyết áp
- Các sọt rác đựng rác thải y tế, rác thải thường
3 Chuẩn bị bệnh nhân (với các BN tỉnh táo, giao tiếp được với thầy thuốc)
Quy trình thực hiện xét nghiệm sẽ được giải thích rõ ràng cho bệnh nhân hoặc người nhà của họ, bao gồm mục đích của xét nghiệm, các nguy cơ có thể xảy ra và lợi ích mà xét nghiệm mang lại Việc này nhằm giúp bệnh nhân yên tâm hơn và sẵn sàng hợp tác trong quá trình thực hiện xét nghiệm.
- Khai thác tiền sử bệnh và các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng
- Khám bệnh nhân, xác định vị trí tổn thương trên vú cần chọc hút, màu sắc, số lượng, mật độ, kích thước, sự di động
- Khám kiểm tra hạch nách (nếu có hạch, tiến hành chọc hút như đã nêu trong phần chọc hút hạch limphô ngoại vi)
III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
+ Bộc lộ vú cần chọc hút
+ Sát trùng vùng cần chọc hút bằng cồn iod
Chọc hút lấy bệnh phẩm là quy trình quan trọng trong y tế, trong đó cần cố định vị trí tổn thương bằng hai ngón tay trái Tay phải sẽ cầm kim gắn bơm tiêm, xuyên qua da vào tổn thương và hút dịch dưới áp lực âm để dịch chảy vào lòng kim Trước khi rút kim ra khỏi mô, cần giải phóng áp lực âm và rút nhanh kim qua da để đảm bảo an toàn và hiệu quả.
Có thể hút nhiều vị trí trên tổn thương nếu u >1,5cm
Có nhiều dịch trong tổn thương (nang) nên hút hết dịch
Tránh da núm vú và quầng vú
Nếu tổn thương ở quầng hoặc núm vú nên gây tê tại chỗ trước khi chọc
+ Sát trùng lại vị trí đã chọc hút, băng lại (nếu cần)
+ Tháo kim ra khỏi bơm tiêm
+ Kéo pittông xuống để lấy không khí vào bơm tiêm tạo áp lực
+ Lắp kim vào bơm tiêm
+ Nhanh chóng phụt dịch chọc ra các phiến kính đã ghi sẵn mã số BN
+ Dùng một phiến kính khác dàn bệnh phẩm trên các phiến kính có bệnh phẩm để bệnh phẩm được dàn mỏng, đều
3 Cố định phiến đồ: bằng một trong các phương pháp cố định phiến đồ tế bào học (đã nêu ở phần cố định phiến đồ)
4 Nhuộm các phiến đồ: theo một trong các phương pháp nhuộm: Giemsa,
Papanicolaou, Diff - Quyck hay May Grunwanld Giemsa hoặc HE (như đã nêu ở mục nhuộm phiến đồ tế bào học)
5 Nhận định kết quả: trên kính hiển vi quang học bởi bác sĩ giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học
- Phiến đồ chọc hút phải lấy được trúng, đủ các tế bào của mô tổn thương, có đủ thành phần tổn thương để chẩn đoán
- Các phiến đồ được dàn mỏng, đều, không chồng chất lên nhau
- Các tế bào được bảo tồn tốt đúng với hình thái của tổn thương
- Các tế bào bắt màu rõ ràng, phân biệt được rõ hình thái của nhân và bào tương
V NHỮNG SAI SÓT VÀ HƯỚNG XỬ TRÍ
- Phiến đồ không thỏa đáng:
+ Quá nghèo tế bào hoặc không lấy được tế bào của tổn thương:
Khi thực hiện thủ thuật chọc, cần chú ý đến độ sâu của mũi kim; nếu chọc quá nông hoặc quá sâu sẽ không đạt hiệu quả Để đảm bảo chính xác, cần đâm mũi kim trúng vào tổn thương Ngoài ra, việc cố định vùng cần chọc là rất quan trọng; nếu không giữ chặt, khối di động sẽ gây khó khăn trong quá trình hút Do đó, hãy ấn ngón tay để giữ vững khối cần chọc.
Khi gặp tình trạng quá nhiều hồng cầu, cần lưu ý không thay đổi hướng mũi kim sau khi đã đâm vào mô để tránh chảy máu trong quá trình chọc Nếu thấy có nhiều máu, hãy thực hiện thêm một mũi chọc ở vị trí khác, đặc biệt là khi khối u có kích thước lớn hơn 1,5cm.
Phiến đồ dàn quá dày hoặc bị kéo quá mạnh có thể khiến các tế bào bị chồng chất, kéo dài hoặc nát Do đó, cần phải phụt một lượng vừa đủ và dàn đều tay, nhẹ nhàng để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Cố định kém có thể dẫn đến sự thoái hóa của tế bào, khiến việc nhận diện hình thái nhân và bào tương trở nên khó khăn Do đó, cần lặp lại xét nghiệm và thực hiện cố định ngay sau khi dàn phiến đồ để đảm bảo độ chính xác của kết quả.
+ Các tế bào bắt màu quá kém: cần nhuộm đủ thời gian và cố định tốt hoặc kiểm tra thuốc nhuộm
- BN không hợp tác: thuyết phục giải thích
- Chảy máu nhỏ tại nơi chọc hút: chỉ cần băng ép lại
Dịch chọc cần được xử lý nhanh chóng bằng cách hút và phun ra phiến kính đã chuẩn bị sẵn Nếu dịch bị khô trong lòng kim hoặc trên phiến kính, hãy sử dụng nước muối sinh lý để rửa kim, giúp lấy dịch và tạo phiến đồ hiệu quả.
- Chọc hút vào vị trí ngoài tổn thương (mạch máu, thần kinh, …): rút ngay kim ra, cố định tốt vị trí cần chọc hút và chọc hút lại
Tràn khí thành ngực là tình trạng hiếm gặp, thường xảy ra khi kim chọc qua phổi Để tránh rủi ro, cần điều chỉnh góc kim chếch và không đâm thẳng vào khối cần chọc mà nên đặt nó nằm trên xương sườn.
Trước khi tiến hành thủ thuật, nên yêu cầu bệnh nhân không nhịn ăn và giải thích để họ yên tâm Nếu bệnh nhân cảm thấy choáng khi chọc hoặc sau khi chọc, cần nhanh chóng cho họ nằm xuống giường và xử trí chống choáng kịp thời.
Phẫu tích bệnh phẩm tuyến giáp
Số mảnh bệnh phẩm và vị trí lấy tùy thuộc vào loại tổn thương, loại phẫu thuật Bệnh phẩm cần được cố định ngay trong formol đệm trung tính 10%
+ Bác sĩ giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 01
+ Kỹ thuật viên giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 02
+ Bàn pha bệnh phẩm: Phải đủ rộng, chiều cao thích hợp cho tư thế đứng pha bệnh phẩm
+ Dao sắc, kẹp, thớt nhựa sạch, phẳng
+ Các lọ đựng dung dịch cố định bệnh phẩm (formol đệm trung tính 10%), thể tích dung dịch cố định lớn hơn 20-30 lần thể tích bệnh phẩm cần cố định
+ Khuôn nhựa đựng bệnh phẩm
+ Bút chì mềm, nhãn giấy ghi tên, tuổi bệnh nhân, mã số xét nghiệm, mô xét nghiệm…
+ Găng tay, khẩu trang, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo hộ
+ Vòi nước chảy, các dụng cụ và thuốc tẩy trùng để làm sạch dụng cụ
+ Bình có chứa dung dịch cố định để lưu bệnh phẩm
+ Dụng cụ có nắp kín để đựng các bệnh phẩm đã pha còn dư để đem huỷ
Bệnh phẩm cần được cố định trong vòng 30 phút sau khi lấy ra khỏi cơ thể bằng dung dịch formol 10%, theo quy định từ các khoa, phòng lâm sàng gửi tới.
+ Có đầy đủ thông tin về bệnh nhân (họ tên, tuổi, giới, địa chỉ, điện thoại), khoa phòng yêu cầu xét nghiệm
Bài viết cần ghi chép đầy đủ chẩn đoán lâm sàng, bao gồm các triệu chứng lâm sàng, kết quả cận lâm sàng, phương pháp lấy bệnh phẩm, vị trí và số lượng bệnh phẩm.
+ Có ghi rõ yêu cầu xét nghiệm, tên bác sĩ yêu cầu xét nghiệm
Ghi lại ngày và giờ lấy bệnh phẩm cũng như thời gian chuyển đến khoa giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học Cần xác định rõ có hay không việc cố định bệnh phẩm sơ bộ và loại dung dịch cố định được sử dụng.
+ Có phần mô tả đại thể, số lượng bệnh phẩm lấy xét nghiệm, vùng lấy bệnh phẩm, loại mô xét nghiệm…
III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Phẫu thuật tuyến giáp gồm: Bóc nhân giáp, cắt thùy, cắt giáp gần toàn bộ và cắt toàn bộ
Quy trình chuẩn bị bệnh phẩm bao gồm các bước quan trọng như cân và đo kích thước mẫu Tiếp theo, cần định hướng bệnh phẩm và cắt thành những lát dày 5mm, thực hiện khi mẫu còn tươi hoặc đã được cố định bằng formol đệm trung tính 10% Cuối cùng, xác định vị trí tuyến cận giáp trong mô mỡ xung quanh để đảm bảo độ chính xác trong quá trình phân tích.
Phẫu thuật tuyến giáp có nhiều loại, bao gồm cắt thùy, cắt eo, cắt gần toàn bộ và cắt toàn bộ Khi mô tả bệnh phẩm, cần chú ý đến trọng lượng, hình dạng, màu sắc và mật độ Mặt cắt của bệnh phẩm có thể nhẵn hoặc có nhân; nếu có nhân giáp, cần ghi nhận số lượng, kích thước và hình dạng của các nhân, đồng thời xác định xem có hiện tượng nang hóa, vôi hóa, chảy máu hay hoại tử hay không Ngoài ra, cần xem xét sự hiện diện của vỏ bao, tình trạng xâm nhập vào vỏ và khoảng cách đến diện cắt.
Khi cắt lọc bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh học, cần lưu ý một số điểm quan trọng: Đối với tổn thương lan tỏa hoặc viêm, lấy 3 lát cắt từ 2 thùy và eo giáp Với nhân giáp đơn độc có đường kính dưới 5cm, thực hiện 1 lát cắt mỗi cm qua nhân, bao gồm cả vỏ và mô giáp xung quanh nếu có Đối với bướu đa nhân, mỗi nhân giáp cần 1 lát cắt, và nếu nhân lớn, có thể cắt thêm, đảm bảo lát cắt có bờ nhân giáp và mô giáp xung quanh Trong trường hợp ung thư hoặc nghi ngờ ung thư tuyến giáp dạng nhú, cần cắt toàn bộ, bao gồm cả diện cắt Đối với các loại ung thư tuyến giáp khác, lấy 3 lát cắt cho u, 3 lát cắt cho mô giáp quanh u và 1 lát cắt cho diện cắt Ngoài ra, cũng cần chú ý đến tuyến cận giáp nếu có.
- Bệnh phẩm chứa toàn bộ tổn thương, bờ diện cắt, vỏ bao tuyến giáp, cố định đúng quy định
V NHỮNG SAI SÓT VÀ HƯỚNG XỬ TRÍ
Cần lưu ý rằng việc cố định bệnh phẩm ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể là rất quan trọng; nếu không thực hiện đúng cách, bệnh phẩm sẽ bị hoại tử và không thể khắc phục.
- Bệnh phẩm nhỏ, mềm: tránh dùng kẹp có mấu kẹp chặt làm nát bệnh phẩm
Để đảm bảo chất lượng bệnh phẩm, cần rửa sạch thớt và dụng cụ pha trước khi thực hiện từng lần pha Việc này giúp tránh tình trạng bệnh phẩm của lần pha trước dính lại và ảnh hưởng đến kết quả của bệnh phẩm sau.
Phẫu tích bệnh phẩm tuyến cận giáp
Cân bệnh phẩm chính xác trước khi pha Bệnh phẩm cần được cố định ngay trong formol đệm trung tính 10%
+ Bác sĩ giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 01
+ Kỹ thuật viên giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 02
+ Bàn phẫu tích bệnh phẩm: Kích thước 150cm x 120cm x 80cm, chiều cao có thể thay đổi để thích hợp cho tư thế đứng pha bệnh phẩm
Giá đựng bệnh phẩm lưu trữ nhiều tầng có kích thước 200cm x 60cm x 200cm, có thể điều chỉnh kích thước để phù hợp với diện tích phòng phẫu tích Chiều cao mỗi ngăn nên được thiết kế từ 40cm đến 50cm để tối ưu hóa khả năng lưu trữ.
+ Dao sắc có chuôi cầm: 02 cái, dao lưỡi mỏng: 02 cái
+ Kẹp phẫu tích có mấu và không mấu: Mỗi loại 02 cái có chiều dài khác nhau
Để thu thập bệnh phẩm, cần sử dụng các lọ chứa dung dịch formol đệm trung tính 10%, với số lượng lọ tương ứng với số mẫu cần lấy (mỗi mẫu sử dụng 01 lọ) Lượng dung dịch cố định phải gấp hơn 20 lần thể tích của bệnh phẩm để đảm bảo hiệu quả cố định.
+ Bút chì mềm, nhãn giấy ghi tên, tuổi bệnh nhân, mã số xét nghiệm, mô xét nghiệm…
+ Khuôn nhựa đựng bệnh phẩm
+ Găng tay, khẩu trang, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo hộ: 03 bộ
+ Vòi nước chảy, các dụng cụ và thuốc tẩy trùng để làm sạch dụng cụ
+ Bình có chứa dung dịch cố định để lưu bệnh phẩm xét nghiệm thêm
+ Dụng cụ có nắp kín để đựng các bệnh phẩm đã pha còn dư lại để đem huỷ
Bệnh phẩm cần được cố định trong vòng 30 phút sau khi lấy ra khỏi cơ thể, sử dụng dung dịch formol trung đệm 10% do các khoa, phòng lâm sàng gửi tới.
+ Có đầy đủ thông tin về bệnh nhân (họ tên, tuổi, giới, địa chỉ, điện thoại), khoa phòng yêu cầu xét nghiệm
Bài viết cần ghi chép đầy đủ các thông tin về chẩn đoán lâm sàng, bao gồm triệu chứng lâm sàng, kết quả từ các xét nghiệm cận lâm sàng, phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm, cũng như vị trí và số lượng mẫu bệnh phẩm đã thu thập.
+ Có ghi rõ yêu cầu xét nghiệm, tên bác sĩ yêu cầu xét nghiệm
Ghi lại ngày giờ lấy bệnh phẩm và ngày giờ chuyển đến khoa giải phẫu bệnh - tế bào bệnh học, đồng thời xác định xem có thực hiện cố định bệnh phẩm sơ bộ hay không, cùng với loại dung dịch cố định được sử dụng.
+ Có phần mô tả đại thể, số lượng bệnh phẩm lấy xét nghiệm, vùng lấy bệnh phẩm, loại mô xét nghiệm…
III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Quy trình chuẩn bị bao gồm việc sử dụng cân chính xác để xác định trọng lượng của từng tuyến cận giáp sau khi đã loại bỏ mô mỡ xung quanh Sau đó, cần đánh dấu vị trí của mỗi tuyến cận giáp theo bên phải và bên trái để đảm bảo tính chính xác trong quá trình xử lý tiếp theo.
Cân nặng, màu sắc, mật độ và vẻ ngoài của mỗi tuyến
Cắt lọc bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh học yêu cầu đánh dấu vị trí của tất cả các tuyến cận giáp Đối với những trường hợp tuyến quá lớn, cần phải cắt ít nhất 3 lát để đảm bảo độ chính xác trong quá trình phân tích.
- Bệnh phẩm chứa toàn bộ tổn thương, cố định đúng quy định
V NHỮNG SAI SÓT VÀ HƯỚNG XỬ TRÍ
Cần lưu ý rằng nếu bệnh phẩm không được cố định ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể hoặc nếu việc cố định không thực hiện đúng cách, sẽ dẫn đến tình trạng hoại tử không thể khắc phục.
- Bệnh phẩm nhỏ, mềm: tránh dùng kẹp có mấu kẹp chặt làm nát bệnh phẩm
- Bệnh phẩm của lần pha trước dính lại trên dụng cụ và dính vào bệnh phẩm sau:
Thớt pha bệnh phẩm, dụng cụ pha phải rửa sạch trước khi pha từng bệnh phẩm.
Phẫu tích bệnh phẩm hạch nạo vét
Cần thu thập toàn bộ các hạch đã nạo vét và phân loại theo nhóm, đồng thời lấy cả mô kề cận nếu có Bệnh phẩm sau khi pha chế cần được cố định ngay lập tức trong dung dịch formol đệm trung tính 10%.
+ Bác sĩ giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 01
+ Kỹ thuật viên giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học: 02
+ Bàn pha bệnh phẩm: Phải đủ rộng, chiều cao thích hợp cho tư thế đứng pha bệnh phẩm
+ Dao sắc, kẹp, thớt nhựa sạch, phẳng
+ Các lọ đựng dung dịch cố định bệnh phẩm (formol đệm trung tính 10%), thể tích dung dịch cố định lớn hơn 20-30 lần thể tích bệnh phẩm cần cố định
+ Khuôn nhựa đựng bệnh phẩm
+ Bút chì mềm, nhãn giấy ghi tên, tuổi bệnh nhân, mã số xét nghiệm, mô xét nghiệm…
+ Găng tay, khẩu trang, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo hộ
+ Vòi nước chảy, các dụng cụ và thuốc tẩy trùng để làm sạch dụng cụ
+ Bình có chứa dung dịch cố định để lưu bệnh phẩm
+ Dụng cụ có nắp kín để đựng các bệnh phẩm đã pha còn dư để đem huỷ
Bệnh phẩm cần được cố định trong formol trung đệm 10% ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể, không quá 30 phút, theo quy định từ các khoa và phòng lâm sàng gửi tới.
+ Có đầy đủ thông tin về bệnh nhân (họ tên, tuổi, giới, địa chỉ, điện thoại), khoa phòng yêu cầu xét nghiệm
Bài viết cần ghi chép đầy đủ chẩn đoán lâm sàng, bao gồm các triệu chứng lâm sàng, kết quả từ các xét nghiệm cận lâm sàng, phương pháp lấy bệnh phẩm, cũng như vị trí và số lượng bệnh phẩm được thu thập.
+ Có ghi rõ yêu cầu xét nghiệm, tên bác sĩ yêu cầu xét nghiệm
Ghi chú đầy đủ ngày giờ lấy bệnh phẩm và thời gian chuyển đến khoa giải phẫu bệnh – tế bào bệnh học là rất quan trọng Cần xác định rõ liệu có thực hiện cố định bệnh phẩm sơ bộ hay không, cùng với loại dung dịch cố định được sử dụng.
+ Có phần mô tả đại thể, số lượng bệnh phẩm lấy xét nghiệm, vùng lấy bệnh phẩm, loại mô xét nghiệm…
III CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Quy trình chuẩn bị phẫu thuật hạch lympho bao gồm việc phẫu tích hạch có mô mỡ tươi bằng kẹp và kéo sắc, đồng thời kiểm tra kỹ lưỡng vùng xung quanh cơ quan phẫu tích để đảm bảo lấy được toàn bộ hạch và phân chia chúng theo từng nhóm Có hai phương pháp thực hiện quy trình này.
+ Bệnh phẩm còn tươi: phẫu tích kỹ dưới ánh sáng đủ bằng kéo, kẹp Tránh làm nát mô hạch (do bóp mạnh tay)
+ Cố định qua đêm trong formol đệm trung tính 10% hoặc dung dịch Carnoy, sau đó tiến hành phẫu tích hạch thật kỹ
2 Mô tả đại thể a Số lượng hạch trong mỗi nhóm hạch b Kích thước hạch lớn nhất trong mỗi nhóm hạch c Hình dạng, màu sắc, nghi có di căn?
Trong quá trình cắt lọc bệnh phẩm để làm xét nghiệm mô bệnh học, tất cả các hạch cần được kiểm tra Đối với hạch nhỏ (dày