1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu quyết định số 4932005qđ NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

25 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2005
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

§Ò tµi: Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định vềphân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.I..

Trang 1

§Ò tµi: Tìm hiểu quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định vềphân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.

I Tính cấp thiết:

Trước khi quyết định 493 ra đời thì 2 quyết định 297 và 488 về trích lập dựphòng rủi ro đã được áp dụng Nhưng với sự phát triển không ngừng của nềnkinh tế và sự đa dạng của các dịch vụ tài chính, ngân hàng, thì hai quyết địnhđược ví như hai "chiếc áo" đã trở nên quá chật và lỗi mốt Vì thế, ko phải 2quyết định này có nhiều hạn chế nên mới phải thay bằng sự ra đời của quyếtđịnh 493 được mà do điều kiện phát triền của đất nước đã làm cho 2 quyếtđịnh này ko còn phù hợp nữa mà thôi Qua nghiên cứu thấy rằng việc ra đờicủa quyết định 493 phải dựa trên những tiêu chí của việc sửa đổi Quyết định297/1999/QĐ-NHNN5 về tỷ lệ đảm bảo an toàn và Quyết định488/2000/QĐ-NHNN5 về trích lập dự phòng rủi ro như sau:

- Cần có sự sửa đổi toàn diện sâu rộng đối với quy chế về các tỷ lệ bảo đảm

an toàn và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng của cácTCTD;

- Đảm bảo một sự thông thoáng hơn cho hoạt động của ngân hàng nhưng lại

an toàn hơn và nâng cao được tầm quản lý của NHNN

- Những sửa đổi cơ bản phải nâng cao tính định tính trong các quy chếnhưng vẫn xác định những định lượng cụ thể Việc này tạo ra hai lợi thế + Thứ nhất, các ngân hàng thương mại chủ động hơn trong việc xác lậpcác tỷ lệ an toàn;

Trang 2

+ Thứ hai thanh tra NHNN đóng vai trò quan trọng hơn trong việc giámsát việc trích lập dự phòng rủi ro, đồng thời tạo nên mối quan hệ hữu cơ giữathanh tra và TCTD.

Quyết định 493 ra đời được áp dụng trong khả năng có thể, phù hợp với tìnhhình quản lý và hoạt động của các Ngân hàng Việt Nam, nhằm mục đíchnâng cao tính an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới, thời kỳcủa hội nhập kinh tế quốc tế và sự đa dạng hoá các dịch vụ tài chính ngânhàng.”

Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, NHNN Việt Nam đã tiến hành thiết

kế những mẫu mới, phù hợp hơn cho các tổ chức tín dụng (TCTD)

Trước đây trong quyết định 488 chúng ta mới chỉ quy định một mức sànchung mang tính “định lượng” cho tất cả các TCTD thì trong quyết định 493này còn cho phép các tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện đượcthực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp “địnhtính” Đây là một sự thay đổi về chất, chuyển việc phân loại nợ từ định tínhsang định lượng và tiến gần hơn theo chuẩn mực quốc tế Do đó, quyết định

493 này đã đưa ra mức sàn phù hợp hơn với quy mô của mỗi TCTD Từmức sàn tối thiểu đó mà các ngân hàng sẽ tuỳ thuộc vào thực trạng của mình

mà điều chỉnh TCTD có quy mô lớn, phức tạp thì việc thiết kế cũng phứctạp Ngược lại, những TCTD nhỏ thì việc làm này đã đơn giản hơn, khôngphải anh lớn hay bé đều áp dụng chung 1 mức chung dẫn đến tăng chi phíkhông cần thiết Nếu là TCTD càng lớn thì việc phân loại nợ và trích lập dựphòng càng đa dạng và khó khăn hơn, ngược lại với các TCTD nhỏ việc làmnày sẽ giản đơn hơn, sẽ làm giảm chi phí quản lý Nhưng về mặt quản lýNhà nước, những ngân hàng chất lượng thấp hơn thì thanh tra ngân hàng sẽđánh giá xem mức sàn đó đã được chưa, nếu chưa được thì phải nâng lên

Trang 3

Đó là thay đổi cơ bản giữa việc đưa ra cùng một mức sàn với việc chỉ đưa rahướng để tự các ngân hàng áp dụng theo điều kiện của mình

II Nội dung chính:

Ngày 22/4/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyếtđịnh số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập

và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của

tổ chức tín dụng

Nội dung :

- Đưa ra hai hình thức phân loại nợ là định tính và định lượng, kèm theo làcác tiêu chí phân loại nợ, tương ứng với mỗi hình thức có 5 nhóm nợ với tỷ

lệ lập dự phòng ở cả 2 hình thức phân loại nợ là như nhau

- Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ

cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà tổchức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bịsuy giảm thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ

đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro

- Việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng khôngphải là xoá nợ cho khách hàng Tổ chức tín dụng và cá nhân có liên quankhông được phép thông báo dưới mọi hình thức cho khách hàng biết về việc

xử lý rủi ro tín dụng

- Trường hợp số tiền dự phòng không đủ để xử lý toàn bộ rủi ro tín dụngcủa các khoản nợ phải xử lý, tổ chức tín dụng hạch toán trực tiếp phần chênhlệch thiếu của số tiền dự phòng vào chi phí hoạt động Trường hợp số tiền

Trang 4

dự phòng đã trích còn lại lớn hơn số tiền dự phòng phải trích, tổ chức tíndụng phải hoàn nhập phần chênh lệch thừa theo quy định của pháp luật vềchế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng

Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo

III Chi tiết:

- Dự phòng rủi ro : là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổnthất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa

vụ theo cam kết Và dự phòng rủi ro này được tính theo dư nợ gốc và hạchtoán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng Bao gồm :

+ Dự phòng cụ thể : là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụthể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thẩt có thể xảy ra

+ Dự phòng chung : là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho nhữngtổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự

Trang 5

phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chứctín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.

- Sử dụng dự phòng : là việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro để bùđắp tổn thất đối với các khoản nợ

- Nợ : 4 nhóm

+ Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính;

+ Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giákhác;

+ Các khoản bao thanh toán;

cơ cấu lại

Trang 6

+ Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn;

+ Các khoản nợ đã được cơ cấu lại mà khách hàng trả đủ cả lãi lẫn gốc( tối thiểu trong vòng 1 năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 thángđối với khoản nợ ngắn hạn ) và được tổ chức tín dụng đánh giá là có khảnăng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn được cơ cấu

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm :

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời gian đã cơcấu lại;

+ Các khoản nợ khác theo quy định

- Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm :

+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn đã được cơ cấu lại;

+ Các khoản nợ khác theo quy định

- Nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ) bao gồm :

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngàytheo thời hạn đã cơ cấu lại

+ Các khoản nợ khác theo quy định

- Nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm :

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

Trang 7

+ Khi khách hàng có nhiều hơn 1 khoản nợ đối với tổ chức tín dụng mà

có bất kì khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tíndụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vàocác nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro

+ Khi tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ củakhách hàng bị suy giảm thì tổ chức tín dụng chủ động tự quyết định phânloại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độrủi ro

b Định tính

- Phân loại

+ Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn ) : các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

+ Nhóm 2 ( Nợ cần chú y ) : các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

giá là có khả năng thu hồi cả nợ gốc lẫn lãi nhưng có dấu hiệu khách hàngsuy giảm khả năng trả nợ

+ Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn ) : các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản

Trang 8

nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợgốc và lãi.

+ Nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ ) : các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá

là khả năng tổn thất cao

+ Nhóm 5 ( Nợ nghi ngờ ) : các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá

là không cònkhả năng thu hồi , mất vốn

- Tiêu chí đánh giá : căn cứ theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ , tốithiểu phải bao gồm :

+ Các cơ sở pháp lý liên quan đến thành lập và ngành nghề kinh doanhcủa khách hàng;

+ Các chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến tình hình kinh doanh, tài chính, tàisản, khả năng thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo cam kết;

+ Uy tín với tổ chức tín dụng đã giao dịch trước đây;

+ Các tiêu chí đánh giá khách hàng chi tiết, cụ thể, có hệ thống ( đánhgiá yếu tố ngành nghề và địa phương ) trên cơ sở đó xếp hạng cụ thể đối vớikhách hàng

è Căn cứ trên Hệ thống tín dụng nội bộ, tổ chức tín dụng trình Ngân hàngnhà nước chính sách dự phòng rủi ro và chỉ thực hiện sau khi Ngân hàngNhà nước chấp thuận bằng văn bản

- Điều kiện để Ngân hàng Nhà nước chấp thuận chính sách dự phòng rủi ro : + Hệ thống xếp hạng tín dụng đã được áp dụng thử nghiệm tối thiểu mộtnăm;

+ Kết quả xếp hạng tín dụng được Hội đồng quản trị phê duyệt;

+ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh,đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của tổ chức tín dụng;

Trang 9

+ Chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng,phương pháp xác định và đo lường rủi ro tín dụng có hiệu quả, trong đó baogồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tíndụng, các tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ và quản lý nợ của tổ chức tíndụng;

+ Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Tổnggiám đốc trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếphạng tín dụng và chính sách dự phòng của tổ chức tín dụng và tính độc lậpcủa các bộ phận quản lý rủi ro;

+ Hệ thống thông tin có hiệu quả để đưa ra các quyết định, điều hành vàquản lý đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và thích hợp với

Trang 10

Trong đó : R : số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A : giá trị của khoản nợ

C : giá trị tài sản đảm bảo

r : tỷ lệ trích lập dự phòng đảm bảo

c Tỷ lệ tối đa áp dụng xác định giá trị của tài sản đảm bảo

Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm bằng Đồng

Việt Nam tại tổ chức tín dụng

100

Tín phiếu kho bạc, vàng, số dư trên tài khoản tiền gửi,

số tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng

95

Trái phiếu Chính phủ

- Có thời hạn còn lại từ 1 năm trở xuống

- Có thời hạn còn lại từ 1 năm đến 5 năm

- Có thời hạn còn lại trên 5 năm

958580Thương phiếu, giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng

khác

75

Chứng khoán của các tổ chức tín dụng khác 70

Bất động sản ( gồm : nhà ở của dân cư có giấy tờ hợp

pháp và/hoặc bất động sản gắn liền với quyền sử dụng

đất hợp pháp)

50

5 Những nội dung cơ bản của hiệp ước Basel I

Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm cácNgân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển bao g ồmAnh, Pháp, Mỹ, Đức, Canada… đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào

Trang 11

năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này Sau khi nhóm họp, các cơ quannày đã quyết định hình thành Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BaselCommittee on Banking supervision), đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý

Năm 1988, Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệpước về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động phải nắmgiữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra.Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn củangân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theotrọng số rủi ro của ngân hàng đó Mục đích của Basel I nhằm:

- Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng

- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằmgiảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng

Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tốithiểu cần có để bù đắp cho rủi ro Thời đó, các nhà hoạch định chính sáchcủa ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìnnhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì vậy, mức rủi ro tín dụng màngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo rủi ro của ngânhàng Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi ro

Trang 12

Tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một trọng số rủi ro Theo Basel I(hiện Việt Nam đang áp dụng) trọng số rủi ro của tài sản được chia thành 4mức là 0%, 20%, 50% và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản.Basel 1 đưa ra 4 loại trọng số rủi ro (0%, 20%, 50% và 100%).

Trọng số rủi ro theo loại tài sản

0%

Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính.

20%

Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước

100%

Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh nghiệp, các khoản nợ từ các nước kém phát triển, các khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất động sản,…

Theo bảng trên, nếu một khoản vay không được bảo đảm trị giá 1.000 USDcủa một tổ chức không phải ngân hàng sẽ có trọng số rủi ro là 100% Tài sảnđược điều chỉnh theo trọng số rủi ro lúc đó sẽ được tính bằng1.000USDx100% = 1.000USD

Ví dụ tiền mặt tại quỹ hay trái phiếu chính phủ có trọng số rủi ro là 0%, cáckhoản vay cho khu vực tư nhân là 100% Nhược điểm lớn nhất của quy địnhnày là không phân biệt các loại rủi ro đặc thù Ví dụ tất cả các khoản vay củakhu vực tư nhân đều được gắn trọng số 100%, cho dù đó là khoản vay của

Trang 13

một công ty nổi tiếng như IBM hoặc của một doanh nghiệp địa phươngkhông có tên tuổi.

Basel II đã khắc phục nhược điểm này Việc xếp trọng số bao nhiêu tùythuộc mức độ tín nhiệm (xếp hạng tín dụng) của chủ nợ Điểm khác biệt nữatrong Basel II là nợ được chia thành 5 nhóm có trọng số lần lượt là 0%,

Theo đó, các trọng số rủi ro khác nhau với các loại tài sản khác nhau sẽ cho

ra những yêu cầu về vốn khác nhau như bảng sau:

Tài sản điều

chỉnh theo trọng số rủi ro

Yêu cầu

về vốn tối thiểu

1.000

Vay không bảo

1.000 USD

1.000

Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi cótính đến rủi ro thị trường Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thịtrường chung và rủi ro thị trường cụ thể Rủi ro thị trường chung đề cập đến

Trang 14

những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường.Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một loại tài sản nhấtđịnh Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãisuất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa Rủi ro thị trường có thể được tínhtheo 2 phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các

mô hình giá trị chịu rủi ro nội bộ của các ngân hàng Những mô hình nội bộnày chỉ có thể được sử dụng nếu ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn địnhtính và định lượng được quy định trong Basel

Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm

1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế đó làBasel I đã không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp

và với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro tác nghiệp

Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ướcmới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốncủa Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành Với cách tiếp cận mới dựatrên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ

Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn

để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tíndụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1) Theo đó, cách tính chiphí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thịtrường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp

Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn

Ngày đăng: 21/12/2013, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w