Kinh Tế giá trị thặng dư, so sánh giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch, liên hệ với nền kinh tế Việt Nam. Từ đó đưa ra những nhận định chung về đề tài và phương hướng phát triển cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong bài điếu văn của Ăng-ghen đọc trước mộ của Các- Mác, một trong ba cống hiến vĩ đại của Mác được Ăng-ghen nhắc tới đó là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra Phải nói rằng học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai
có thể làm được Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, để phù hợp với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư
Đề tài này nghiên cứu lý luận và thực tiễn về “ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và sự vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa của nước ta hiện nay” để từ đó tìm ra những kết luận mới phục vụ cho nhiệm vụ phát triển nền kinh tế đất nước
Bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, vậy em kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Trang 2NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của giá trị thặng dư, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối, mối quan hệ giữa hai phương pháp này.
1.1 Giá trị thặng dư.
Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong những phát kiến lớn nhất mà Mác đã đóng góp cho nhân loại Cho đến nay học thuyết giá trị thặng dư của Mác vẫn giữ nguyên giá trị Tuy nhiên nó cần được phát triển phù hợp với thực tiễn ngày nay
Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như D.Ricardo cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hoá theo đúng quy luật giá trị mà nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hoá lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động của mình Khoản lớn hơn đó, tức
là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động, C.Mác gọi là giá trị thặng
dư mà nhà tư bản chiếm đoạt
Khi nói đến tư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư liệu sản xuất, nhưng không phải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng hoá, là mối quan hệ sản xuất giữa giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân làm thuê, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê Bởi vậy, cũng dễ hiểu khi mục đích của giai cấp tư sản là giá trị thặng dư Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra hàng hoá có giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng
Trang 3là nội dung vật chất của hàng hoá, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản Trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư
Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử dụng vào những mục đích khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư liệu sản xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư hơn
1.2.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Đã có nhiều phương pháp được dùng để tạo ra giá trị thặng dư, nhưng hai phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp giá trị thặng dư tương đối Mỗi phương pháp đại diện cho một trình độ khác nhau của giai cấp tư sản, cũng như những giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội
1.2.1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ công Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư Bởi phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong
Trang 4khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là không thay đổi
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà
tư bản là 100% Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng lên đạt 150% (m’ = 150%)
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày Giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thăng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Trang 51.2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào sản xuất Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bó lột giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng
dư là 100% Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166% (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên)
Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các
Trang 6công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế
đó Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như cách mạng khoa học, do
đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh trí tuệ
Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây là cái đích hướng tới của các nhà tư bản Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ
đó đã được phổ biến rộng rãi, nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất
xã hội tăng lên nhanh chóng C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch
và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
Trang 71.2.3 Mối quan hệ giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư Thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư không hề bị tách rời nhau, mà chỉ trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay ít
mà thôi, trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị thặng
dư tuyệt đối được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng dư tương đối, còn trong thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản, bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều sức lao động làm thuê Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường
độ lao động của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ lao động tăng lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hoá cao cường độ lao động người công nhân tăng lên với hình thức mới đó là cường độ lao động thần kinh thay thế cho cường
độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm chứa nhiều chất xám có giá trị lớn Nên sản xuất tư bản chủ nghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh vi của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối
2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Việc nghiên cứu 2 phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất
là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các danh nghệp ở nước ta nhằm kích thích sản
Trang 8xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh
Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là là giải pháp
cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá của nước ta hiện nay.
Giá trị thặng dư là do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kết quả hoạt động của tư bản, của giai cấp tư sản Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của người công nhân không còn nữa, nhưng không có nghĩa là giá trị thặng dư không tồn tại, mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là cơ sở, tiền đề để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì mục đích phát triển xã hội chủ nghĩa, vì con người Không tách ra khỏi xu hướng của xã hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào trong công cuộc xây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia
Trang 9Công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế
xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động với công nghệ, phương tiện tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Thực chất công nghiệp hóa- hiện đại hóa là quá trình tạo
ra những tiền đề về vật chất, kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất cho chủ nghĩa xã hội Nội dung cốt lõi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại đạt tới năng suất lao động xã hội cao, tạo ra sự đổi mới trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực
Là một nước tiến lên xã hội chủ nghĩa chưa và không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay đúng hơn là không qua giai đoạn thống trị của giai cấp tư sản Vì vậy, chúng ta không được kế thừa tất cả những tiền
đề nảy sinh một cách tự phát như những sáng tạo của người đi trước cho dù chúng chỉ là những nhân tố vô cớ Điểm xuất phát để nhận thức tầm quan trọng của học thuyết giá trị thặng dư chính là luận điểm sản phẩm của lao động thừa vượt quá những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích luỹ quỹ sản xuất xã hội và dự trữ “Tất cả những cái đó đã và mãi mãi vẫn là
cơ sở cho mọi sự tiến bộ về xã hội, về chính trị và về tinh thần Nó sẽ là điều kiện và động cơ kích thích sự tiến bộ hơn nữa…”
Chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát
là nước tiểu nông cũng có nghĩa từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hoá mặc dù có sản xuất hàng hoá Cái thiếu của đất nước ta – theo cách nói của C.Mác – không phải là và chủ yếu là cái đó, mà cái chính là chưa trải qua sự ngự trị của cách tổ chức của kinh tế xã hội theo kiểu tư bản chủ nghĩa
Trang 10Đất nước ta đang đứng trước nhiệm vụ cháy bỏng là tạo ra tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, đó là sự phát triển của sức sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá sẽ tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư dù là chúng biểu hiện những quan hệ xã hội khác nhau Chúng ta không thể đạt được mục tiêu kinh
tế ấy ngay trong thời gian ngắn mà phải biết rút ngắn những quá trình tất yếu
mà chủ nghĩa tư bản đã phải trải qua và đang thực hiện để có một nền kinh tế thị trường cực thịnh như ngày nay Đó là một quá trình phát triển trải qua nhiều giai đoạn phân công lao động xã hội Nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa hình thành và giá trị thặng dư cũng được sản xuất ra với khối lượng lớn lao trong sự phân công lao động, đặc biệt khi khoa học công nghệ phát triển và vận dụng có ý thức, rộng rãi vào sản xuất với quy mô chưa từng có Các giai đoạn phát triển sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản đã diễn ra một cách tự phát và tuần tự Nhưng đó cũng là những giai đoạn của một quá trình lịch sử – tự nhiên mà chúng ta chỉ có thể rút ngắn chứ không thể bỏ qua Đó cũng là ý nghĩa thực tiễn rút ra từ học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay cần có phương hướng khai thác
và vận dụng những tư tưởng và các nguyên lý của học thuyết giá trị thặng dư một cách hiệu quả để đạt được những thành tựu mới đưa nền kinh tế đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Cần phải nhận thức lại hàng hoá sức lao động không phải là phạm trù riêng có của chủ nghĩa tư bản và phạm trù giá trị thặng dư xét về mặt định lượng cũng vậy Nó tồn tại như là một bước tiến của các xã hội mà ở đó năng suất lao động vượt khỏi lao động tất yếu của họ Nó là nguồn gốc của tích luỹ để mở rộng và hiện đại hoá sản xuất kinh doanh; là nguồn gốc của
sự giàu có văn minh Chính nó đòi hỏi xã hội cần phải: