Các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là một mắt xích quan trọng, không thểthiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ chi trả ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng từbên sử dụng đến bên cung ứng dịc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠ Ọ
LÊ ĐĂNG HƯNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠ Ọ
LÊ ĐĂNG HƯNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH
THÁI NGUYÊN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS KIỀU THỊ THU HƯƠNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các
số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi, điều tratại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan./
XÁC NHẬN CỦA DVHD Thái Nguyên, ngày 10 tháng 05 năm 2020
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Đăng Hưng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tại Trường Đại họcNông lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, sựgiúp đỡ, góp ý hết sức quý báu từ các thầy cô, cơ quan và các bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo TS.Kiều Thị Thu Hương đã dành thời gian, công sức đôn đốc, tận tình chỉ dẫn, bồidưỡng tôi trong quá trình làm đề cương luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo cùng cán bộ Quỹ Bảo
vệ và Phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên, Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai, UBND của
05 xã và 18 cộng đồng trên địa bàn huyện Võ Nhai đã tạo điều kiện tốt nhất để giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập tại đơn vị
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện vàđộng viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm TháiNguyên, Phòng đào tạo sau đại học và các thầy, cô trong Khoa Kinh tế đã giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành đề luận văn
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nghiên cứu do trình độ và thời gian cóhạn, bước đầu được làm quen với thực tế và phương pháp nghiên cứu vì thế bảnluận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được được
sự góp ý, phê bình của quý thầy cô để được hoàn thiện tốt hơn nữa./
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 05 năm 2020
Tác giả
Lê Đăng Hưng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 4
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Vai trò, đặc điểm 13
1.1.3 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng 14
1.1.4 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng 14
1.1.5 Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR 15
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 177 1.2.1 Kinh nghiệm chi trả DVMTR của một số quốc gia 157 1.2.1.1 Các hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Mỹ 17
1.2.1.2 Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Âu 18
1.2.1.3 Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Á 19
1.2.1.4 Đánh giá chung 20
1.2.2 Hoạt động Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam thời gian qua 22
1.2.2.1 Chính sách triển khai thí điểm 22
1.2.2.2 Một số bài học kinh nghiệm 25
1.2.3 Chi trả DVMT rừng tại tỉnh Thái Nguyên 37
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 41
2.1.3 Dân số, nguồn nhân lực 43
2.2 Nội dung nghiên cứu 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Phương pháp kế thừa 45
2.3.2 Phương pháp tiếp cận 45
2.4.3 Phương pháp cụ thể cho từng nội dung nghiên cứu 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Thực trạng công tác chi trả DVMTR trên địa bàn giai đoạn 2017 - 2019 48
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ 48
3.1.2 Diện tích và tiềm năng chi trả DVMTR tại tỉnh Thái Nguyên 49
3.1.3 Đánh giá sự phù hợp của hệ số K trong quá trình áp dụng giá chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 51
3.2 Thực trạng, tiềm năng chi trả và cung ứng DVMTR tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 53
3.2.1 Công tác tuyên truyền và nhận thức của người dân về chính sách DVMTR 594 3.2.2 Kết quả thu, chi ủy thác chi trả DVMTR và phân tích số liệu 55
3.2.3 Hình thức chi trả DVMTR 59
3.3 Đánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR đến sinh kế người dân 60
3.3.1 Vai trò hưởng lợi đối với tổ chức cá nhân từ công tác chi trả DVMTR 60
3.3.2 Chính sách chi trả DVMTR tác động đến nguồn lực tài chính 60
3.3.3 Chính sách chi trả DVMTR tác động đến nguồn lực tài sản, vật chất 62
3.3.4 Chính sách chi trả DVMTR tác động đến nguồn lực xã hội 62
3.3.5 Chính sách chi trả DVMTR tác động đến nguồn lực con người 63
3.3.6 Chính sách chi trả DVMTR tác động đến nguồn lực tự nhiên 64
3.3.7 Đánh giá nội dung chính sách, pháp luật về tính cấp thiết, phù hợp, hiệu lực hiệu quả 65
Trang 73.3.8 Đánh giá chung tác động chính sách chi trả DVMTR đến năm nguồn lực
cơ bản trong nghiên cứu 67
3.4 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 68
3.4.1 Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và mối quan hệ giữa các bên liên quan 68
3.4.2 Tìm hiểu nhận thức của cán bộ và người dân về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 69
3.4.3 Công tác phối hợp thực hiện chính sách chi trả DVMTR 69
3.4.4 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức trong triển khai chính sách 72
3.5 Đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm triển khai có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 74
3.5.1 Giải pháp về tăng nguồn thu dịch vụ môi trường rừng nâng cao đời sống của người dân 74
3.5.2 Giải pháp về chi trả DVMTR 75
3.5.3 Giải pháp về phát triển kinh tế bền vững 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 1.2 Tổng hợp các tỉnh thu tiền DVMTR giai đoạn 2017-2019
Bảng 2.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện Võ Nhai
Bảng 2.2 Dân số trung bình phân theo giới tính và khu vực
Bảng 3.1 Diện tích chi trả cho chủ rừng là tổ chức Nhà nước và các cộng đồng giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.2 Mức độ hài lòng đối với hình thức chi trả tiền DVMTR
Bảng 3.3 Kết quả tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR (giai đoạn 2017 - 2019)
Bảng 3.4 Kết quả thu tiền DVMTR giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.5 Kết quả chi tiền DVMTR giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.6 Thu nhập bình quân hàng năm từ nguồn tiền DVMTR của các cộng đồng huyện Võ Nhai giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.7 Thu nhập bình quân hàng năm từ nguồn tiền DVMTR của các hộ gia đình 04 xóm trên địa bàn 02 xã Lâu Thượng và xã Phú Thượng huyện Võ Nhai giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.8 Hình thức chi trả DVMTR giai đoạn 2017 - 2019
Bảng 3.9 Thu nhập bình quân theo nhân khẩu giai đoạn 2017-2019
Bảng 3.10 Tác động của chính sách đến nguồn lực tài chính của người dân
Bảng 3.11 Tác động của chính sách PFES đến nguồn lực cơ sở tài sản vật chất
Bảng 3.12 Các mức tác động của chính sách chi trả DVMTR đến nguồn lực xã hội
Bảng 3.13 Các mức tác động của chính sách chi trả DVMTR đến nguồn lực con người
Bảng 3.14 Các mức tác động của chính sách chi trả DVMTR đến nguồn lực tự nhiên
Bảng 3.15 Mức độ ảnh hưởng của chính sách PFES đến các nguồn lực sinh kế của cộng đồng
Bảng 3.16 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững của DFID 7
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Quỹ BV&PTR Việt Nam 29
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Quỹ BV&PTR tỉnh Thái Nguyên 32
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai 39
Sơ đồ 3.1 Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng 688 Sơ đồ 3.2 Mối quan hệ giữa các bên liên quan 69
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Lê Đăng Hưng
2. Tên luận văn: “Đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường
rừng đến sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên".
3 Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 8.62.01.15
4 Cơ sở đào tạo: Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chính sách đột phá củaViệt Nam kể từ khi được áp dụng rộng rãi trên toàn quốc từ năm 2011 Chi trảDVMTR là cơ chế tài chính trong đó các bên được hưởng lợi dịch vụ rừng có tráchnhiệm chi trả cho các bên cung cấp DVMTR Mục tiêu của chính sách này là giảmgánh nặng ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ rừng, đồng thời tạo ra nguồn tàichính ổn định lâu dài nhằm bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn
Theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, số liệu củaVNFF (2019) thì: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã được thành lập ở 44 tỉnh, trong đó
có 42 đã ổn định về tổ chức và thực hiện chi trả DVMTR (Về cơ bản các tỉnh miền núiphía Bắc đều đã thành lập Quỹ BV&PTR và đi vào hoạt động khá ổn định)
Các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là một mắt xích quan trọng, không thểthiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ chi trả ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng từbên sử dụng đến bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; đến nay (2019) toàn quốchuy động từ nguồn thu ủy thác dịch vụ môi trường rừng được 12.000 tỷ đồng, bìnhquân từ năm 2017 đạt trên 2.000 tỷ đồng/năm
Tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 5triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợcho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khidừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 410 nghìn hộ gia đình,cộng đồng với 86% là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiệnsinh kế trong bối cảnh ngân sách Nhà nước đang khó khăn
Đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên sau 5 năm tổ chứchoạt động (2015-2019), đã ký kết được 04 hợp đồng huy động được 7.221.000.000đồng và chi trả cho 4 đơn vị chủ rừng Nhà nước và 18 cộng đồng bảo vệ rừng vớidiện tích được chi trả từ 5.500 ha đến 10.000ha rừng/năm
Trang 12Để đánh giá tác động của chính sách đến sinh kế của người dân trên địa bànhuyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, những hạn chế và khó khăn từ đó đề xuất nhữnggiải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả chính sách góp phần bảo vệ phát triểnrừng trên địa bàn tỉnh ngày tốt hơn.
Vì điều kiện và thời gian không cho phép trong nghiên cứu này tôi tập trungphân tích, đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến sinh kếcủa người dân của 04 cộng đồng trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và đưa
ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác này dự trên mục tiêu cụ thể của luận vănbao gồm: (1) Đánh giá thực trạng công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bànhuyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (2) Đánh giá tác động của chính sách chi trảDVMTR đến sinh kế của người dân trong việc hưởng lợi chính sách (3) Phân tíchnhững thuận lợi và khó khăn và đề xuất được những giải pháp thiết thực nhằm triểnkhai có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trong nghiên cứu này tôi sử dụng số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phântích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp thu thập tại Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng từnguồn báo cáo và các văn bản liên quan đến thu, chi trả dịch vụ môi trường rừng trênđịa bàn tỉnh Thái Nguyên và huyện Võ Nhai Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cáccông cụ điều tra bằng phiếu phỏng vấn sâu đối với cán bộ nhà máy có chi trả và ngườidân được hưởng DVMTR Sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả, so sánh đểđánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR đến sinh kế của người dân
Để nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng trước hết cần làm tốt công tác chitrả DVMTR sao cho hiệu quả, công bằng, minh bạch tạo động lực cho các chủ rừnglàm tốt công tác bảo vệ rừng Muốn làm tốt cần có sự điều chỉnh các hoạt động củacộng đồng, chính sách và ứng dụng tốt công nghệ thông tin
Qua đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đếnsinh kế của người dân trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tác giả đã đưa
ra 3 nhóm giải pháp chung và 3 nhóm giải pháp riêng về phát triển kinh tế bềnvững Các giải pháp này sẽ giúp cho huyện Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyênnói chung thực hiện tốt hơn nữa chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng có tác dụng rất lớn đối với sự tồn tại, phát triển của các sinh vật trêntrái đất, đặc biệt là con người Từ xưa đến nay, rừng không chỉ cung cấp các loạithức ăn, gỗ, củi và các lâm sản khác cho con người mà nó còn đóng vai trò quantrọng không thể thay thế trong việc bảo vệ môi trường, điều hoà khí hậu, cân bằngsinh thái và bảo tồn nguồn gen
Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta hiệnnay cũng thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên
Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành Lâm nghiệp cũngkhông nằm ngoài quy luật đó Hiện nay diện tích rừng đang được ngành Lâmnghiệp quản lý, ngoài việc bảo vệ môi trường sinh thái thì rừng nước ta đã góp phầnquan trọng vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, đồng thời cung cấp cho chúng
ta lượng lâm sản phục vụ cho nhu cầu của nhân dân Nhưng hiện nay diện tíchrừng tự nhiên của nước ta đang bị thu hẹp ở mức báo động Trước thực trạng đóĐảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khaithác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục tiến hành trồng rừng phòng hộ đầunguồn, trồng rừng sản xuất tập trung nhằm bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường
và đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, cácnhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chếbiến gỗ khác Để triển khai được hàng loạt các hoạt động đó cần xây dựng mộtnguồn Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng ngoài ngân sách Nhà nước để thực hiện
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý bảo vệ và pháttriển rừng Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày14/01/2008 về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môitrường rừng; Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 về chính sách chi trảdịch vụ môi trường rừng
Trang 14Sau 11 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng gắn với 9 nămtriển khai thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ vềchính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã thực
sự phát huy được vai trò quan trọng và là địa chỉ tin cậy trong việc huy động nguồntài chính mới, ổn định, bền vững cho bảo vệ phát triển rừng, góp phần gia tăng đónggóp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, giúp cải thiện sinh kế, ổnđịnh đời sống của người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ởcác vùng miền núi
Đến nay, toàn quốc đã có 44 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng;trong đó 42 Quỹ tỉnh đã ổn định bộ máy tổ chức Các Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng
là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong việc thực hiện nhiệm vụ chi trả ủythác tiền dịch vụ môi trường rừng từ bên sử dụng đến bên cung ứng dịch vụ môitrường rừng; huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đến nay đạthơn 10.000 tỷ đồng, bình quân thu từ năm 2019 đạt trên 2.800 tỷ đồng/năm
Tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 5triệu ha rừng, chiếm khoảng 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợcho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các Công ty Lâm nghiệp khidừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho hơn 410 nghìn hộ gia đình,cộng đồng với 86% là đồng bào dân tộc có điều kiện nâng cao đời sống, cải thiệnsinh kế trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang khó khăn
Hoạt động của Quỹ đã cơ bản đạt được 03 mục tiêu Chính phủ đề ra gồm:Huy động nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng; Nâng caonhận thức của người sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với tài nguyên phi lâmsản; Nâng cao năng lực hiệu quả quản lý sử dụng tài nguyên rừng, thực hiện tốt chủtrương đóng cửa rừng tự nhiên của nhà nước Quỹ đã tạo nguồn thu chính đáng đểcác chủ rừng tự quản lý bảo vệ lâm phần được giao
Việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được người dân đồng tìnhtình ủng hộ, tuy nhiên còn bộc lộ những khó khăn trong khi triển khai nhất là việcthu tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ các tổ chức cá nhân, công ty có sử dụngdịch vụ môi trường rừng
Trang 15Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên:356.382 ha Trong đó diện tích có rừng là: 179.000ha.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên được UBND tỉnh TháiNguyên thành lập theo Quyết định số 1067/QĐ-UBND ngày 07/6/2013; chính thức
đi vào hoạt động từ cuối năm 2014 triển khai thu và chi tiền dịch vụ môi trường
rừng (DVMTR) từ năm 2015.
Về tổ chức bộ máy: Quỹ có Hội đồng quản lý Quỹ, Ban Kiểm soát Quỹ vàBan điều hành Quỹ Ban điều hành Quỹ có: 10 người, gồm 02 lãnh đạo và 8 nhânviên thuộc 02 phòng Hành chính - Tổng hợp và phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ
Trong những năm qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã và đang triểnkhai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến các đối tượng sửdụng DVMTR và đối tượng cung ứng DVMTR theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CPngày 24/9/2010 của Chính phủ Để đánh giá tác động của chính sách đến sinh kếcủa người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, những hạn chế và khó khăn từ đó đềxuất những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả chính sách góp phần bảo vệphát triển rừng ngày tốt hơn
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏcủa bản thân trong nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trường rừng nóichung và đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến sinh kế
của người dân tại tỉnh Thái Nguyên do vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên".
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng và tác độngcủa chính sách chi trả DVMTR đến sinh kế của người trên địa bàn huyện Võ Nhai,tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong công tác thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được những giải pháp thiết thực nhằm triển khai có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 163 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn về tác động củachính sách chi chả DVMTR đến sinh kế người dân của 18 cộng đồng bảo vệ rừngtrên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
4 Phạm vi nghiên cứu
Việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa 04 cộngđồng thuộc 02 xã của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả đề tài là nguồn tư liệu khoa học, thực tiễn đềgiúp cho các đơn vị Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng định hướng trong việc xây dựng
kế hoạch và giải pháp chi trả dịch vụ môi trường rừng được hiệu quả hơn
- Ý ngĩa thực tiễn: Kết quả đề tài cũng là những tư liệu khoa học để cho sinhviên và học viên tham khảo trong lĩnh vực mới về chi trả dịch vụ môi trường rừngnói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (payments for environmental services - PES) cònđược đề cập dưới các dạng khác nhau như chi trả dịch vụ sinh thái (payments forecological services) và chi trả dịch vụ hệ sinh thái (payments for ecosystem services)được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằngcách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ hệ sinh thái
Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được đưa ra năm 2005 Chi trả dịch vụmôi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch vụ môi trường đượcxác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đangđược người mua (tối thiểu một người mua) mua của người bán (tối thiểu một ngườibán) khi và chỉ khi người cung cấp dịch vụ môi trường đảm bảo được việc cung cấpdịch vụ môi trường này [Sven Wunder, 2005]
Trong một báo cáo nghiên cứu năm 2008 có tiêu đề “Chi trả dịch vụ môitrường: kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam” PES được nêu ra với khái niệm hẹphơn Theo báo cáo này, chi trả dịch vụ môi trường là cam kết tham gia hợp đồngtrên cơ sở tự nguyện có giàng buộc về mặt pháp lý và với hợp đồng này thì một haynhiều người mua chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái xác định nhiều người bán và ngườibán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giaiđoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả thuận [Hoàng Minh Hà, Meinevan Noordwijk, Phạm Thu Thủy, 2008]
Ở Việt Nam chi trả dịch vụ môi trường (PES) được đưa ra trong quyết định380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với quy định chi tiết hơn về khái niệm chi trảdịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt động trồng rừng Theo đó, chi trả dịch vụmôi trường rừng là quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trảtiền cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sửdụng khái niệm được quy định trong quyết định này để phân tích
Trang 18Theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 thì: chi trả dịch vụ môitrường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trườngrừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Điều 6của Nghị định Cụ thể, việc chi trả được thực hiện theo hai hình thức đó là: Chi trảtrực tiếp và chi trả gián tiếp Chi trả trực tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trườngrừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Chi trả trực tiếpđược áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng có khả năng
và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừngkhông cần thông qua tổ chức trung gian Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sởhợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và cung ứng dịch vụ môi trườngrừng phù hợp với quy định của Nghị định, trong đó mức chi trả không thấp hơn mức
do Nhà nước quy định đối với cùng một loại dịch vụ môi trường rừng
Chi trả gián tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cungứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặcQuỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ củaQuỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định;
Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môitrường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch
vụ môi trường rừng mà thông qua tổ chức trung gian theo quy định tại điểm a khoản
2Điều 6 Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá dịch vụ môi trường rừng do Nhà nước quy định
Các loại rừng và loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng được quy định tại điều 4 như sau:
Rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấpmột hay nhiều dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại khoản 2 gồm: rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
Loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả bao gồm:
a) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
b) Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;
c) Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhàkính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triểnrừng bền vững;
Trang 19d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;
đ) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản
1.1.1.2 Khái niệm về dịch vụ môi trường rừng là hoạt động cung ứng các giá trị
sử dụng của môi trường rừng (Theo Luật Lâm nghiệp năm 20107):
1.1.1.3 Khung sinh kế
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàndiện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng, đặc biệt làcác cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của cộng đồng Đây là cách tiếp cậntoàn diện, nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt cộng đồng làm trung tâmtrong quá trình phân tích Mặc dù có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khungphân tích sinh kế và mỗi tổ chức có mức độ vận dụng khác nhau, nhưng nhìn chung,khung sinh kế bền vững có những thành phần cơ bản giống nhau (xem hình 1.1)
Hình 1.1 Sơ đồ khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: [DFID, 2001]
Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản),tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kếtquả của chiến lược của sinh kế đó
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất
mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ Nguồn vốnhay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốnvật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (Hình.1.1)
Trang 20Vốn nhân lực (human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến
thức làm việc và sức khỏe, giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khácnhau, nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Đối với cộngđồng địa phương sống gần rừng và được chia khoán bảo vệ rừng, nguồn vốn nhânlực biểu hiện ở khía cạnh trình độ nhận thức, hiểu biết thông tin về quản lý, bảo vệrừng và chất lượng lao động trong cộng đồng Vốn nhân lực là điều kiện cần để cóthể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác
Vốn tự nhiên (natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên
nhiên như đất, nước… mà cộng đồng có được hay có thể tiếp cận được, nhằm phục vụcho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của cộng đồng Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khảnăng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập, phục vụ cho cácmục tiêu sinh kế của họ Đây có thể là khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếnchất lượng cuộc sống của cộng đồng từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn
tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, nguồn nước, tài nguyên khoáng sản, tàinguyên thủy sản và nguồn không khí Ở nghiên cứu này, vốn tự nhiên là quy mô vàchất lượng tài nguyên rừng được đánh giá cụ thể qua việc hạn chế cháy rừng, tăng diệntích và chất lượng rừng, nâng cao các dịch vụ rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học
và từ đó có thể nâng cao mức sinh kế cho cộng đồng tại địa phương
Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản
và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốnvật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợcho sinh kế của cộng đồng, gồm hệ thống điện, đường, trường, trạm, hệ thống cấpnước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ, hệ thống phòngcháy rừng Đây là phần vốn vật chất hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả
Vốn tài chính (financial capital): Vốn tài chính là nguồn tài chính mà người
ta sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm nguồn
dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng
từ bên ngoài, như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau Nghiên cứunày coi nguồn vốn tài chính là khoản tiền được trợ cấp cho cộng đồng, quỹ bảo vệ
và phát triển rừng chi trả cho cộng đồng cung ứng các dịch vụ môi trường, nhằm hỗtrợ cho cộng đồng cải thiện sinh kế, hỗ trợ các hộ nghèo tăng thêm thu nhập, cảithiện cuộc sống, duy trì và phát triển dịch vụ môi trường rừng
Trang 21Vốn xã hội (social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, nó nằm
trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể
mà qua đó, người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thựcthi sinh kế Nguồn vốn xã hội không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại, mà còn thểhiện khả năng thay đổi trong tương lai Chính vì thế, khi xem xét vốn, con ngườikhông chỉ xem xét hiện trạng các nguồn vốn sinh kế, mà cần có sự xem xét khảnăng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó như thế nào ở trong tương lai Ở nghiêncứu này, nguồn vốn xã hội được thể hiện qua mối quan hệ giữa chính sách và thựchiện chính sách (thông qua việc các cơ quan thực hiện chính sách đào tạo tập huấncho cộng đồng địa phương), mối quan hệ giữa cộng đồng với cơ quan thực hiệnchính sách, các cơ hội được tiếp cận với các nguồn vốn trợ cấp của các quỹ PFES
Khung sinh kế cũng nhấn mạnh tiến trình và cấu trúc (structure andprocesses) Đây là các yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp xác định hayảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồnvốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Những yếu tố trên có tác độngthúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế Chính vì thế, sự hiểu biết về cáccấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kếthông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc
Thành phần quan trọng thứ ba của Khung sinh kế là kết quả của sinh kế(livelihood outcomes) Kết quả sinh kế là cải thiện phúc lợi của con người hay cộngđồng, nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên, cải thiện về mặt vật chất, tinhthần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững vàhiệu quả tài nguyên thiên nhiên Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế, mà sự nhấnmạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mụctiêu sinh kế giữa các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau
Để đạt được các mục tiêu, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọnkhác nhau, dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ Chiến lượcsinh kế là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà cộng đồng sử dụng để thựchiện mục tiêu sinh kế của họ, hay đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệuquả nhất nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục, nhưng những thời
Trang 22điểm quyết định có ảnh hưởng lớn lên sự thành công hay thất bại đối với chiến lượcsinh kế Đó có thể là lựa chọn trong việc thay đổi cách quản lý rừng cộng đồng, cảithiện các năng lực quản lý rừng và bảo vệ rừng, sự bắt đầu đối với một hoạt độngmới, thay đổi sang một hoạt động mới hay thay đổi quy mô hoạt động.
Trong khung sinh kế, yếu tố bên ngoài có tác động đến sinh kế là ngữ cảnh
dễ bị tổn thương Đó chính là những thay đổi, những xu hướng và tính mùa vụ.Những nhân tố này con người hầu như không thể điều khiển được trong ngắn hạn
Vì vậy, trong phân tích sinh kế, không chỉ nhấn mạnh hay tập trung lên khía cạnhngười dân sử dụng các tài sản như thế nào để đạt mục tiêu mà phải đề cập được ngữcảnh mà họ phải đối mặt và khả năng họ có thể chống chọi đối với những thay đổitrên hay phục hồi dưới những tác động trên
1.1.1.4 Sinh kế và khung sinh kế bền vững
a) Sinh kế: Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy
nhiên đa phần các ý kiến cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnhhưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản, các hoạtđộng sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khảnăng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan
hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng
Trong nhiều nghiên cứu của Frank Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm nhữngtài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội),những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt đượcthông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đềuthuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ [Frank Ellis, 2000]
Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế, sinh kế được hiểu là tập hợp tất cả các nguồn lực(vốn con người; vốn vật chất; vốn tự nhiên; vốn tài chính và vốn xã hội) và khả năng màcon người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm đểkiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ [DFID, 2001]
Trong khuôn khổ của đề tài này tác giả sẽ vận dụng khái niệm sinh kế củaDFID để phân tích những thay đổi các nguồn lực sinh kế dưới tác động của chínhsách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại 04 cộng đồng trên địa bàn 04 xã của huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 23b) Khung sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệmphát triển vào những năm đầu 1990 Năm 1992 có định nghĩa về sinh kế bền vữngnhư sau: sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm cólương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, vàtài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mởrộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào, và lợi ích ròng tácđộng đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịuhoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai[Chambers và Conway, 1992]
Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tácđộng, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trongtương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên [Tim Hanstad,Robin Nielsn and Jennifer Brown, 2004], [Diana Carney, 1998] Khung sinh kế bềnvững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hìnhthức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh bảo sinh kế của mình, bao gồm: vốnvật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (socialcapital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital), là nhữngloại vốn đóng cả hai vai đầu vào và đầu ra Tiếp cận sinh kế bền vững cũng thừanhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc
sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế [Paulo Filipe, 2005]
1.1.1.5 Các khái niệm liên quan
a) Cộng đồng dân cư
Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồngngười Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum,sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán [Luật Lâmnghiệp, 2017]
Theo Phạm Hồng Tung năm 2009, dựa trên các tiêu chí và bản sắc riêng củacộng đồng đã đưa ra một khái niệm chung nhất “Cộng đồng là tập hợp người có sứcbền cổ kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung
Trang 24dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó cácthành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thànhviên khác của cộng đồng” Tác giả cũng phân chia ra nhiều loại cộng đồng theo bảnchất, vị trí địa lý, cơ cấu tổ chức, văn hóa, láng giềng, nghề nghiệp và tộc người vv [Phạm Hồng Tung, 2009]
Ngoài ra còn có một số khái niệm khác được đưa ra trong một nghiên cứugần đây như: cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có nhữngđiểm tương đối giống nhau, có những mỗi quan hệ nhất định với nhau, hay cộngđồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), hoặccộng đồng là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm vàlợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên[Nguyễn Thị Hồng Mai, 2013]
Qua các khái niệm trên cho ta thấy có nhiều quan điểm khác nhau về cộngđồng Trong khuôn khổ đề tài này tác giả nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tàinguyên rừng và các đối tượng tham gia cũng là các đối tượng có ảnh hưởng tới tàinguyên rừng, do vậy tác giả sẽ sử dụng khái niệm “cộng đồng thôn” được địnhnghĩa trong luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 của Việt Nam
b) Rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm,
vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính làmột hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác địnhtheo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặctrưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [Luật Lâmnghiệp, 2017]
Trang 25ty du lịch và những người cung cấp dịch vụ nhận nguồn tiền chi trả DVMTR là chủrừng, bao gồm cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng hoặc tổ chức kinh tế Nguồn thu từDVMTR đã trở thành nguồn tài chính quan trọng cho ngành lâm nghiệp qua việcgia tăng nguồn thu cho chủ rừng, giảm nhẹ gánh nặng lên ngân sách Nhà nước, vànâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng Tóm lược chính sách này khẳng địnhvai trò và tầm quan trọng của chi trả DVMTR trong việc hỗ trợ tài chính cho ngànhlâm nghiệp ở Việt Nam; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương (VNFF) (2018)cho rằng đóng góp của chi trả DVMTR đã giúp 181 Ban quản lý rừng, 79 lâmtrường và 192 công ty khắc phục tình trạng thiếu hụt về tài chính.
Trang 261.1.3 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng
Hai nguyên tắc cơ bản gồm: Tạo ra động lực tài chính hiệu quả, thúc đẩy cánhân và cộng đồng cung cấp các dịch vụ môi trường; Chi trả các chi phí cho việccung cấp các dịch vụ của họ Việc chi trả này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiệnvật [Wunder, 2005]
Cụ thể hơn, đối với Việt Nam, chi trả cho dịch vụ môi trường rừng được quyđịnh tại Điều 6, Chương I trong Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 củaChính phủ như sau:
(i) Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả
và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận theo nguyên tắc thịtrường
(ii) Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định, được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết
(iii) Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử
dụng dịch vụ cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế chothuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật
(iv) Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môitrường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trườngrừng
1.1.4 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm: Chi trả dịch
vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng (ngườiphải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người đượcchi trả); Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch vụmôi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừngthông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định tại Điều 6, Chương I, Nghịđịnh số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch
vụ môi trường rừng
Trang 271.1.5 Nguyên tắc xây dựng cơ chế chi trả DVMTR
Van Noordwijk: Đã đưa ra bốn nguyên tắc để xây dựng cơ chế đền đáp cần đảm bảo, bao gồm:
Tính thực tế: Việc chi trả phải gắn kết với các mức thay đổi đo đếm được
của dịch vụ môi trường;
Tính điều kiện: Chi trả dựa trên hiệu quả và, nếu có thể, kết quả đầu ra ‘Tính
điều kiện’ cũng có nghĩa việc chi trả chỉ được thực hiện nếu người cung cấp dịch vụtuân thủ hợp đồng Tính điều kiện đồng thời yêu cầu các chính sách và khung thể chế
hỗ trợ cùng với sự giám sát hiệu quả và phạt vi phạm đối với các trường hợp khôngtuân thủ, điều mà rất nhiều mô hình PES khó đạt được trên thực tế
Tính tự nguyện: Chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do và được thông
tin trước của tất cả các bên với mức đền đáp phù hợp với tất cả mọi bên tham gia
Tính hướng nghèo: Tức là giảm được nghèo hoặc không làm sâu thêm sự
chênh lệch giàu nghèo tại cộng đồng tham gia cung cấp DVMT
Theo 4 nguyên tắc trên, lượng chi trả cho dịch vụ môi trường thường đượcxác định dựa trên những lựa chọn của người mua và người bán, các cân nhắc vềcung cầu, công bằng, khả năng tài chính, và tính hiệu quả
Xác định được mức chi trả/đền đáp hoặc giá hợp đồng nhằm phản ánh đượcgiá trị của việc bảo tồn đồng thời bù đắp cho những chi phí cơ hội của chủ sở hữuđất những người cung cấp dịch vụ Nếu mức chi trả quá thấp, các nhà cung cấp dịch
vụ tiềm năng có thể sẽ không tham gia bởi vì chi phí của việc chuyển đổi hình thức
sử dụng đất hoặc gìn giữ duy trì nguồn dịch vụ của họ còn nhiều hơn mức chi trảcho họ Nếu như mức chi trả quá cao thì ngân sách hoặc bên chi trả sẽ cạn kiệtnhanh chóng và sẽ không thể thực hiện cung cấp được dịch vụ ở mức phù hợp
Đấu giá và đấu giá ngược (RA) trong chi trả DVMT: Là một giải pháp tiềmnăng đối với những vấn đề trên Những nông dân mong muốn tham gia vào một dự
án chi trả DVMT thường đưa ra các mức giá theo số tiền mà họ sẵn sàng chấp nhận
để thay đổi một hình thức sử dụng đất hay gìn giữ hệ sinh thái theo khuyến nghịnhằm cung cấp dịch vụ môi trường nhất định Việc lựa chọn các nhà cung cấp vớimức giá thấp nhất đối với bên hưởng lợi từ DVMT đặt ra một mức giá cho hoạt
Trang 28động chi trả DVMT theo cách minh bạch và khách quan Trong đấu giá ngược, vaitrò của người mua và người bán được đảo ngược lại; chính những người bán haynhững nông dân sẽ cung cấp cho người mua dịch vụ một dịch vụ môi trường ở mứcgiá tối thiểu mà họ sẵn sàng chấp nhận.
Ví dụ: Chương trình Quỹ Bảo tồn của Mỹ (CRP) trả tiền hàng năm cho nông
dân để họ bảo vệ những vùng đất dễ bị tổn thương về mặt sinh thái để khỏi bị xóimòn Nông dân bỏ thầu theo một quy trình đấu giá trong đó gói thầu của họ đượccân nhắc trên cơ sở chỉ số về mặt môi trường dùng để cho điểm cho các lô đất vìnhững lợi ích mà các lô đất đó cung cấp Trên cả nước, vài triệu héc-ta đã được đăng
ký tham gia Chương trình CRP thông qua đấu giá Tương tự, Chương trình BushTender ở Úc cũng sử dụng đấu giá về bảo tồn để khuyến khích bảo vệ hệ thực vật và
đa dạng sinh học trên đất tư
* Về nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền: Khác với các cơ chế
quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơ chế người gây ô nhiễm phải trảtiền, mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường
sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu vàchỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để giữ gìn môi trường thay vì bắt họ phảichi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra [Trần Thu Thủy, 2009]
Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lý môitrường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phảitrả tiền (polluter pays) Cơ chế này yêu cầu những người gây ra các tác động có hạiđến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại môi trường Tuy nhiên,thực tế cho thấy, cơ chế này cũng có một số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễmthường không muốn trả tiền hoặc không khắc phục các thiệt hại về môi trường [LêThị Kim Oanh, 2010]
Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đãchặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họgiữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu Những người ở vùng
hạ lưu trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môitrường rừng, thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng Đây
Trang 29là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng hóa và nếunhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên phải trả tiền để được sử dụng Dựa trêncách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ môi trườngrừng sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn.
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Kinh nghiệm hoạt động chi trả của một số quốc gia
1.2.1.1.Các hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Mỹ
- Tại Hoa Kỳ: Là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình chitrả DVMTR sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thựchiện “Chương trình duy trì bảo tồn”, ở Hawai đã áp dụng chính sách mua lại đấthoặc mua nhượng quyền để bảo tồn, bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiện nguồnnước mặt, nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch, nông nghiệp
và các ngành nghề khác Ở Oregon, Portland áp dụng chính sách bảo tồn và pháttriển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng Từ việc xác định và đầu tư đúngmục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ đã phát triển du lịch sinhthái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các khu rừng bikhai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và du khách vê ýthức bảo vệ rừng v.v… Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện cácchương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ rừng đầu nguồn va nhiều chươngtrình hỗ trợ cho các chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cựchạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố Các hoạtđộng hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền nước bán cho người sửdụng nước ở thành phố, kể cả du khách Chính quyền thành phố đã lập ra công typhi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ cho các nông dân là chủ đất
đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố
- Tại Costa Rica, năm 1996, thực hiện Chi trả DVMTR thông qua Quỹ tàichính Quốc gia về rừng (FONAFIFO) đã chi trả cho các chủ rừng và các khu bảotồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng FONAFIFO hoạt động như một ngườitrung gian giữa chủ rừng và người mua các dịch vụ hệ sinh thái Nguồn tài chính thuđược từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: thuế nhiên liệu hóa thạch, bán tín chỉ
Trang 30cacbon, tài trợ nước ngoài và khoản chi trả từ các dịch vụ hệ sinh thái FONAFIFO
và nhà máy thủy điện chi trả cho các chủ rừng tư nhân cung cấp dịch vụ rừng phòng
hộ đầu nguồn khoảng 45 USD/ha/năm cho hoạt động bảo vệ rừng của mình và 116USD/ha/năm cho phục hồi rừng Một số khách sạn tham gia vào cơ chế chi trảDVMTR để bảo vệ lưu vực Cơ sở của việc chi trả này là mối tương quan chặt chẽgiữa người cung cấp DVMT nước do việc bảo vệ, duy trì cải thiện chất lượng nước
và dòng chảy với người hưởng lợi là ngành du lịch Lý do là các hoạt động ngành
du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước Vì vậy từ năm 2005 một
số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 USD cho mỗi ha đất của các chủ rừng địaphương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình DVMT Tuy nhiêncũng ở Cốt-xơ-ta Ri-ca “vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung nào dựa vàolợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từ vẻ đẹp cảnh quan và bảo tồn đa dạngsinh học”, gần đây tại Tan-za-ni-a có một nhóm công ty du lịch đã liên kết cùngnhau làm hợp đồng với một làng nằm trong khu vực đồng cỏ tại địa phương để bảo
vệ các loài hoang dã chủ yếu thông qua chi trả tài chính hàng năm
- Tại Ecuador, năm 1999 Quỹ bảo tồn quốc gia (FONAG) được thành lập cáccông ty nước đô thị ở Quito và Pimampiro xây dựng bằng cách áp phí lên nước sinhhoạt Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành 1% doanh thu đónggóp vào FONAG Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn lưu vực đầu nguồn và chitrả trực tiếp cho các chủ rừng
- Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công- nông nghiệp ởthung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản phí chi trả tự nguyệncho các chủ rừng để cải thiện dòng chảy và giảm bồi lắng 0,5 USD/m3 nước thương phẩm
1.2.1.2 Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Âu
- Tại Pháp, Công ty Perrier Vittel (hiện nay do Nestlé sở hữu) phát hiện rarằng bỏ tiền đầu tư vào bảo tồn diện tích đất chăn nuôi xung quanh khu vực đất gậpnước sẽ tiết kiệm chi phí hơn là việc xây dựng nhà máy lọc nước để giải quyết vấn
đề chất lượng nước Theo đó họ đã mua 600 mẫu đất nằm trong khu vực sinh cảnhnhạy cảm và ký hợp đồng bảo tồn dài hạn với nông dân trong vùng Nông dân vùngđầu nguồn Rhine-Meuse ở miền đông nam nước pháp được nhận tiền đền bù để
Trang 31chấp nhận giảm quy mô chăn nuôi bò sửa trên đồng cỏ, nâng cao hiệu quả quản lý chấtthải chăn nuôi và trồng rừng ở những khu vực nước thẩm thấu nhạy cảm Công tyPerrier Vittel chi trả chất lượng nước cho mỗi trang trại nuôi bò sữa ở thượng lưukhoảng 230 USD/ha/năm, trong 7 năm Công ty đã chi trả số tiền là 3,8 triệu USD [5].
- Tại Đức, Chính phủ đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các chủđất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cường hoặcduy trì dịch vụ hệ sinh thái Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sản xuất cà phê
và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn đất và cải tạo các cánhđồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh gồm Honduras, Costa Rica, Colombia,Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hòa Dominica
- Tại Chile, một số cá nhân khu vực tư nhân đã bỏ tiền đầu tư vào khu vựcbảo vệ tư nhân chỉ vì mục đích bảo tồn trên những diện tích có tính đa dạng sinhhọc cao Việc chi trả được thực hiện trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện xuất phát
từ ý nguyện muốn hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn của Chính phủ tại những sinhcảnh có nguy cơ bị đe dọa
1.2.1.3 Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Á
Trong những năm gần đây, các Chương trình chi trả DVMTR đã được pháttriển và thực hiện thí điểm tại các nước Châu Á như Indonesia, Philippines, Trungquốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập cơ chế chitrả DVMTR Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình
về chi trả DVMTR đối với việc quản lý lưu vực đầu nguồn
Năm 1998, Trung quốc đã bổ sung và sửa đổi Luật quy định hệ thống bồithường sinh thái rừng Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn 2001-
2004 Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng
Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các Chươngtrình chi trả DVMTR ở Châu Á Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế và pháttriển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông-Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai tròquan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm nâng cao nhận thức về chitrả DVMTR bằng chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao DVMT (RUPES)
ở Châu Á RUPES đang tích cực thực hiện các Chương trinh thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal
Trang 32Tại Indonesia, thiết lập cơ chế chuyển giao dịch vụ từ các chức năng rừngphòng hộ đầu nguồn Khách hàng của Công ty PDAM (40.000 hộ gia đình) ởMataram đồng ý trả 0,15-0,20 USD hàng tháng cho công tác bảo tồn chức năngphòng hộ đầu nguồn tại huyện Tây Lombok Tại Bakun (Phillipines), Chính phủcông nhận các quyền sở hữu không chính thức về đất đai do tổ tiên để lại Việc đượcgiao đất ở Bakun được xem là hoạt động chi trả cho việc quản lý bên vững Về phíacộng đồng, tất cả mọi người đều được chi trả, hưởng lợi cho việc trao đổi cung cấpdịch vụ đầu nguồn.
Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về chi trả DVMTR đã được xây dựng ởnhiều quốc gia Từ các mô hình chi trả DVMTR ở các nước cho thấy, quản lý bảo
vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đadạng sinh học nhằm tạo nguồn tài chính bền vững và chia sẻ lợi ích cho cộng đồngtrong công tác bảo vệ rừng và hướng tới giảm nghèo
1.2.1.4 Đánh giá chung
* Chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới
Chi trả DVMTR là một lĩnh vực hoàn toàn mới, trong những năm 90 của thế kỷ
XX mới được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện Với những giá trị và lợi íchbền vững của việc chi trả DVMTR đã thu hút được sự quan tâm đáng kể của nhiềuquốc gia, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới Chi trảDVMTR đã nhanh chóng trở lên phổ biến ở một số nước và được thể chế hóa bằng cácvăn bản pháp luật Hiện nay chi trả DVMTR được xem như một chiến lược dựa vào thịtrường để quản lý tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích và chia sẻ các lợi ích trongcộng đồng và xã hội Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã áp dụng và thực hiện các môhình chi trả DVMTR sớm nhất Ở Châu Âu chính phủ một số nước đã quan tâm đầu tư
và thực hiện nhiêu chương trình, mô hình DVMTR Chi trả dịch vụ rừng phòng hộ đầunguồn hiện đang được thực hiện tại các quốc gia Costa Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ,Nam Phi, Mexico và Hoa kỳ Trong hầu hết các trường hợp này, thực hiện tối đa hóacác dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn thông qua các hệ thống chi trả đều mang lại kếtquả góp phần giảm nghèo Ở Châu Úc, Australia đã lập pháp hóa quyền phát thảicacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký
Trang 33quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng Chi trả DVMTR cũng đã được phát triển vàthực hiện thí điểm ở Châu Á như Indonesia, Philippines, Trung quốc, Nepal và ViệtNam bước đầu đã xây dựng được các chương tŕnh chi trả DVMTR có quy mô lớn,chi trả cho các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cườngcung cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụcacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu được một số thành công nhất địnhtrong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùngđầu nguồn Chi trả DVMTR đang được thử nghiệm ở một số nước trên thế giới,Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Từ năm 2002, Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích cựcgiới thiệu khái niệm chi trả DVMTR vào Việt Nam Quỹ phát triển nông nghiệpquốc tế (IFAD) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho người nghèo vùng cao cho các DVMTR
mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là “xây dựng cơ chế mới để cảithiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở Châu Á” thôngqua xây dựng các cơ chế nhằm đền đáp người nghèo vùng cao về các DVMTR họcung cấp cho các cộng đồng trong nước và trên phạm vi toàn cầu
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môitrường (PES) theo các hình thức khác nhau, nhưng phần lớn đều ở tầm vĩ mô củacác quốc gia Các nước phát triển và khu vực Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hìnhPES vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùngđầu nguồn Điển hình là Dự án RUPES, được khởi xướng vào tháng 1/2002 Mụctiêu của RUPES là thử nghiệm các phương pháp về chi trả cho dịch vụ môi trường,hình thành thể chế và cơ chế cho việc hỗ trợ cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyêncho cộng đồng nghèo vùng cao ở châu Á [RUPES, 2004]
Cũng mô hình thực hiện PES nhưng tại Côtxta Rica lại là một hình thứckhác, ở đó, PES là cơ chế để bảo vệ lưu vực của một số khách sạn tham gia Cơ sởcủa việc chi trả này là nhận thức về mối tương quan chặt chẽ giữa các dịch vụ cungcấp môi trường nước do bảo vệ lưu vực và người hưởng là ngành du lịch Lý do làcác hoạt động ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước Vìvậy, từ năm 2005, một số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô la Mỹ cho mỗi hecta
Trang 34đất của các chủ đất địa phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của môhình chi trả dịch vụ môi trường Tuy nhiên, Côtxta Rica vẫn chưa có một cơ chếđược thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từcác dịch vụ và bảo tồn đa dạng sinh học của tài nguyên rừng đến cải thiện sinh kếcho những người trực tiếp bảo vệ rừng [Jindal, 2011].
Một số nghiên cứu khác tập trung vào việc phát triển thị trường cacbon như
“Cái nhìn từ tương lai: Hiện trạng của thị trường cacbon tự nguyện 2011” [ForestTrents, The Katoomba Group, 2011] Những nghiên cứu này đã đóng góp một phầnkhông nhỏ trong quá trình xây dựng hệ phương pháp luận về sinh kế và bảo tồn đadạng sinh học, thẩm tra chất lượng rừng và dịch vụ môi trường rừng, nhưng cũngchưa đề cập đến các tác động của chính chi trả này đến sinh kế của cộng đồng đangtrực tiếp bảo vệ các giá trị dịch vụ hệ sinh thái này
Tại Trung Mỹ và Mêhicô có chương trình PES lớn nhất Mỹ La Tinh về dịch
vụ môi trường thủy văn Chương trình này bảo tồn rừng tự nhiên đang bị đe dọa đểduy trì các dòng chảy và chất lượng nước phục vụ cho đời sống cộng đồng ở vùng
hạ lưu trong sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp và đã đạt được những thành côngđáng kể Song cho tới nay, vẫn chưa có cơ sở để đánh giá cái được và cái mất củachương trình này vì vẫn đang trong giai đoạn đầu
1.2.2 Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam thời gian qua
1.2.2.1 Chính sách triển khai thí điểm
Năm 2008, tỉnh Sơn La và Lâm Đồng được Chính phủ chỉ đạo triển khaichính sách thí điểm chi trả DVMTR để tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý
về chính sách chi trả DVMTR áp dụng trên phạm vi cả nước theo hướng xác định rõlợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được chi trả và phải chi trảDVMTR; thực hiện xã hội hóa nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vữngcho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nângcao chất lượng cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuấtđiện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch
Theo Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ(PES) đã được triển khai thí điểm tại 02 tỉnh Sơn La và Lâm Đồng với các loại dịch
Trang 35vụ: điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn bồi lấp và cảnh quan du lịch Sau đó,theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ việc thực hiệnchi trả DVMTR trên toàn quốc bắt đầu từ tháng 01/2011.
Luật Đa dạng sinh học được thông qua tại Kỳ hợp thứ 4, Quốc hội khóa XII
có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đề cậpđến các nguồn thu của PES
Chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP được triểnkhai trong cả nước đang trở thành nguồn thu quan trọng cho BV&PTR với nguồnthu ổn định trên 1.000 tỷ đồng/năm (năm 2016 trở về trước), từ năm 2017 - 2019mỗi năm trên 2.500 tỷ đồng tạo thêm động lực cho các chủ rừng trong việc bảo vệrừng, đặc biệt là đối với người dân được giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp Rừng
là một bể chứa và hấp thụ các bon, phục hồi rừng tự nhiên (RTN) và trồng rừng mớithông qua quản lý bảo vệ tốt sẽ tăng khả năng chứa các bon của rừng và ngược lạimất rừng và suy thoái rừng do quản lý bảo vệ yếu kém sẽ làm giảm khả năng chứa
và hấp thụ cac bon Theo đánh giá của FAO, rừng Việt Nam vào năm 2010 có sứcchứa 992 triệu tấn các-bon trong sinh khối tươi, sẽ có cơ hội tham gia thị trường cácbon, và đây có thể là một nguồn thu có triển vọng về DVMTR cho giai đoạn sau
2020, đặc biệt đối với rừng tự nhiên mới phục hồi và nghèo kiệt
Mặc dù có khá nhiều hoạt động thí điểm được hỗ trợ bởi các nhà tài trợ choloại dịch vụ thứ ba “lưu giữ carbon” (ví dụ, Lâm Đồng và Nghệ An) và dịch vụ thứ
tư “cung cấp dịch vụ bãi đẻ, con giống tự nhiên, nguồn thức ăn và nguồn nước từrừng cho nuôi trồng thủy sản” (ví dụ: Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Bến Tre và CàMau), nhưng hầu hết các hoạt động thí điểm này vẫn đang trong giai đoạn thực hiện
và các kết quả đầu ra chưa được tổng hợp Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục tiến hành các hoạt động thí điểmnày thêm 2-3 năm và sẽ tổng kết các bài học trước khi ban hành khung pháp lý vàcác hướng dẫn cho cơ chế PES đối với các dịch vụ này
Ngoài ra còn loại hình Chi trả dịch vụ môi trường lưu giữ các-bon
Đối với dịch vụ lưu giữ carbon của rừng, Chính phủ đã phê duyệt Chươngtrình Hành động Quốc gia về Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế
Trang 36mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng caotrữ lượng các bon rừng (REDD+) Việt Nam là một trong những quốc gia ủng hộtích cực cho các hoạt động của REED+ và cũng là một trong những quốc gia đầutiên thực hiện chương trình UN - REED và được Ngân hàng thế giới cam kết tài trợcho dự án REDD+.
Việt Nam đã thông qua nghị định thư Kyoto vào năm tháng 9 năm 2002 donước ta là một trong các quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu Tiếpđến là việc thiết lập cơ chế phát triển sạch quốc gia (CNA) dưới sự điều hành của
Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) Chính phủ Việt Nam đã cố gắng thúc đẩychương trình AR-CDM như một cách để phủ xanh 5,6 triệu hecta đất trống và cũngnhư một lựa chọn giải pháp về phát triển bền vững cho cộng đồng nông thôn nghèo
ở Việt Nam Dự án trồng rừng Cao Phong đã trở thành dự án CDM đầu tiên ở ViệtNam trong lĩnh vực này được Ban Điều hành CDM thông qua năm 2009 Dự ánnằm trên địa bàn 2 xã là Xuân Phong và Bắc Phong của huyện Cao Phong, tỉnh HòaBình, cách Hà Nội khoảng 100km về phía Tây Tín chỉ các-bon của dự án này được
tạo ra từ việc trồng Keo (Acacia mangium và Acacia auriculiformis) trên 365 ha
đất bạc màu theo chu kỳ 15 năm Tổng lượng các-bon do dự án tạo ra hàng năm là2.665 tấn CO2 và dự án được đăng ký dưới dạng dự án CDM trồng rừng/tái trồngrừng quy mô nhỏ Dự án được hỗ trợ tài chính bước đầu bởi Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật Bản (JICA) và được thực hiện bởi Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâmSinh thái và Môi trường rừng, và Cục Lâm nghiệp (nay là Tổng cục Lâm nghiệp)thuộc BNN&PTNT (UNFCCC, 2011)
Chính phủ Việt Nam đã cam kết ở mức độ cao đối với REDD+ và hiện đangthiết kế một hệ thống chia sẻ lợi ích tổng hợp cho REDD+ Mục tiêu của Chính phủ
là chuyển toàn bộ lượng giảm phát thải được chứng nhận thành khoản thu củaREDD+ và phân phối một cách minh bạch, công bằng và hiệu quả tới các đối tác địaphương, đặc biệt là những người hưởng lợi cuối cùng Gần đây, Việt Nam đã đượcNgân hàng Thế giới (World Bank) chấp nhận là thành viên của Quỹ đối tác các -bon ngành Lâm nghiệp (FCPF)
Trang 37Sáng kiến REDD nhằm giảm phát thải khí nhà kính từ việc bảo vệ không mấtrừng và không suy thoải rừng được nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Namtích cực và thiết thực tham gia Tiến trình thực hiện REDD+ có sự chỉ đạo quốc tế củacác tổ chức LHQ hỗ trợ tài chính và kỹ thuật là thuận lợi cơ bản để Việt Nam tích cựctham gia nhằm lợi ích lâu dài và bền vững Giai đoạn 1 đã cho kết quả nhiều kinhnghiệm, nhiều tổ chức cơ sở và kỹ thuật để áp dụng cho giai đoạn 2 Song cũng cónhiều thử thách khó khăn như về thể chế, chính sách đất đai quản lý cũng như trình độ
kỹ thuật, dân trí đã được rút kinh nghiệm và khắc phục trong giai đoạn 1 Hy vọngrằng, nỗ lực của Việt Nam, với sự hỗ trợ đầy hiệu quả của các tổ chức quốc tế và trongnước, Chương trình sẽ đạt được mục đích giảm thiểu BĐKH, cải thiện đời sống và pháthuy chức năng môi trường và phát triển bền vững của rừng
1.2.2.2 Một số bài học kinh nghiệm
Thực hiện Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hànhngày 10/4/2008 về việc thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường tại tỉnh Sơn La
và tỉnh Lâm Đồng Tỉnh Lâm Đồng nhận được sự trợ giúp của tổ chức WinrockInternational qua Chương trình Bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á (ARBCP)của tổ chức này, còn tỉnh Sơn La được sự trợ giúp của Cơ quan hợp tác kỹ thuậtĐức (GTZ) Các đối tượng hưởng lợi được xác định là các cong ty cấp nước và nhàmáy thủy điện Tổng số tiền các công ty này chi trả bằng tiền mặt trong hai năm là60,84 tỷ đồng ở tỉnh Sơn La (đã giải ngân 96,7%) và 107,81 tỷ đồng ở tỉnh LâmĐồng (đã giải ngân 74%), tính đến năm 2012 Thêm vào đó, 9 công ty du lịch đãđược xác định là đối tượng chi trả DVMTR Tại Sơn La, tổng số hộ gia đình nhậnchi trả là 52.000 hộ, với diện tích trung bình được chi trả là 7,54 ha rừng/hộ Tổngdiện tích thí điểm chi trả chiếm 66% tổng diện tích rừng của toàn tỉnh Tại LâmĐồng, ngoài các hộ gia đình còn có các ban quản lý rừng, vườn quốc gia và công tylâm nghiệp với vai trò là chủ rừng Các chủ rừng này đã lên kế hoạch giao khoán vàhợp đồng với các hộ gia đình để quản lý rừng Tổng số hộ nhận chi trả là 9.870 hộ,với diện tích trung bình 21,24 ha rừng/hộ Diện tích thí điểm chi trả chiếm 34,38%tổng diện tích rừng của tỉnh Lâm Đồng, tính đến 2012
Bên trung gian chi trả DVMTR: Cả 02 tỉnh đều thành lập Quỹ Bảo vệ và
Phát triển rừng (Quỹ BVPTR) và Ban giám sát chi trả DVMTR Nhiều Sở banngành trong tỉnh đã tham gia vào quá trình này
Trang 38Quản lý tiền chi trả DVMTR: tỉnh Lâm Đồng áp dụng cách chi trả gián tiếp.
Các đối tượng hưởng lợi từ DVMTR chuyển tiền tới Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng(BVPTR), sau đó quỹ BVPTR chuyển tiền tới các chủ rừng Các chủ rừng chuyểntiền tới các hộ gia đình có hợp đồng giao khoán Mức chi trả ở tỉnh Lâm Đồng thayđổi đối với từng lưu vực khác nhau Năm 2009, mức chi trả nằm trong khoảng từ 10đến 290 nghìn đồng/ha/năm Năm 2010, mức chi trả tăng thêm từ 40 đến 130 nghìnđồng/ha/năm Tỉnh Sơn La áp dụng hình thức chi trả trực tiếp trong năm 2009,nhưng đến năm 2010 thì chuyển sang chi trả gián tiếp: bên chi trả chuyển tiền choQuỹ BV&PTR, sau đó quỹ BV&PTR chuyển tiền cho Ngân hàng Chính sách xã hội
và cuối cùng ngân hàng chuyển tiền cho các chủ rừng
Tác động của chi trả DVMTR: Kết quả khảo sát ở thôn Liêng Bông (Lâm
Đồng) và thôn Khua (Sơn La) (do ICRAF thực hiện) cùng với quá trình thảo luậngiữa các bên liên quan đã cho thấy chi trả DVMTR giúp nâng cao đáng kể nhậnthức của người dân về rừng và các DVMTR Thu nhập từ quản lý bảo vệ rừng củacác hộ nhận giao khoán ở Lâm Đồng đã tăng thêm 3-4 lần so với trước khi áp dụngchi trả DVMTR, trong khi ở Sơn La mức tăng không đáng kể Các vụ việc vi phạmlâm luật có xu hướng giảm so với những năm trước khi áp dụng chi trả DVMTR, vàchi trả DVMTR đã đem lại nguồn tài chính mới (thay thế cho ngân sách nhà nước)
để xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng
Các vấn đề và tồn tại của chi trả DVMTR tại hai tỉnh thí điểm: tỉnh Lâm Đồng áp dụng nguyên tắc “tiền chi trả cho lưu vực A phải được chuyển cho lưu vực A” cho 3 lưu vực thí điểm là Đa Nhim, Đại Ninh và Đồng Nai Vì thế mỗi lưu
vực có mức chi trả khác nhau và các hộ dân nhận được số tiền khác nhau mặc dùcung cấp DVMTR giống nhau Ngoài ra, việc áp dụng hệ số K bằng 1, nghĩa làkhông có mức chi trả khác nhau theo loại rừng và chất lượng rừng, dẫn đến khôngkhuyến khích nâng cao chất lượng rừng Các hộ nhận khoán không có quyền chọnkhu rừng hay loại rừng để quản lý Do vậy các hộ nhận khoán bảo vệ các khu rừnggần nhất hoặc dễ tiếp cận nhất có lợi thế hơn so với các hộ phải bảo vệ rừng ở cáckhu vực xa do phải mất nhiều chi phí và công sức hơn
Trang 391.2.2.3 Những trở ngại cho việc thực thi PES ở Việt Nam
Mặc dù chi trả DVMTR đã và đang là bước tiến trong việc góp phần quản lý tàinguyên rừng bền vững, tuy nhiên việc triển khai còn có những trở ngại nhất định như:Thiếu ý thức về giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường; Khó tạo ra thị trường chobảo tồn; Khó thay đổi tập quán địa phương; Thiếu vốn và tín dụng để thành lập quỹ banđầu; Quyền tài sản không rõ ràng; Thiếu sự trợ giúp về luật pháp do đó khả năng bắtbuộc đối với người hưởng lợi thấp; Hệ thống tiền tệ của chính phủ phức tạp; Chưa tạo
ra được một thị trường cạnh tranh hoàn hảo để mua bán các giá trị dịch vụ môi trường;Mức sống của người dân còn thấp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa
Bên cạnh những thành công kể trên, vẫn còn có một số hạn chế và bất cậptrong quá trình thực hiện như sau:
Có sự khác biệt về tổng số tiền thu được từ chi trả DVMTR giữa các tỉnh; Có
sự khác nhau về mức chi trả cho mỗi ha rừng giữa các lưu vực sông trong một tỉnh
và giữa các lưu vực sông của các tỉnh liền kề, dẫn đến thắc mắc trong các cộng đồngdân cư Không có sự kết nối giữa thực hiện chính sách chi trả DVMTR với các hoạtđộng bảo vệ rừng nằm trong Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng đến năm 2020
Thiếu sự phối hợp và liên kết giữa thực thi chính sách chi trả DVMTR và Kếhoạch Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, trong khi cả hai đều có chungmục tiêu là bảo vệ rừng
Công tác rà soát tiến độ và xác định các khu rừng và chủ rừng phục vụ chi trảDVMTR còn chậm: Sau 10 năm, việc xác định rừng và chủ rừng vẫn còn là một hạnchế trong thực thi chính sách chi trả DVMTR Mục đích là nhằm xác định vị trí, ranhgiới, diện tích và hiện trạng của các khu rừng cung ứng DVMTR cần phải bảo vệ màchủ rừng là các tổ chức, hộ gia đình và các hộ nhận khoán rừng Tuy nhiên, số liệu hiện
có không chính xác và có sự khác biệt lớn giữa bản đồ và thực tế ngoài thực địa
Chưa có hướng dẫn về việc phân chia hay xác định chi trả DVMTR đối với
du lịch và nước sạch, hay các dịch vụ môi trường khác: Chi trả DVMTR đã cơ bảnđược thực hiện cho 3 trong số 5 loại DVMTR quy trong Nghị định số 99/2010/NĐ-
CP (thủy điện, nước sạch và du lịch) Trong đó, chi trả cho các dịch vụ liên quanquan đến thủy điện tương đối hoàn thiện, trong khi các dịch vụ liên quan đến du lịch
Trang 40và nước sạch chưa được thực hiện đầy đủ do chưa xác định được ranh giới và diệntích rừng cung ứng dịch vụ cho các công ty nước sạch và du lịch Các dịch vụ môitrường khác như các bon và cung ứng bãi đẻ cho nuôi trồng thủy sản chưa đượcthực hiện do thiếu tài liệu hướng dẫn.
Mức chi trả DVMTR còn thấp: Hầu hết các hộ gia đình nhận tiền chi trảDVMTR đều cho rằng mức chi trả quá thấp và không tương xứng với công sức họ bỏ ra
để bảo vệ rừng Giá điện và nước đã tăng lên nhiều lần nhưng mức chi trả DVMTR mớităng từ 20 - 36 đồng/kwh đối với điện và 40 - 52 đồng/ m3 đối với nước sạch Mức chitrả liên quan đến dịch vụ thủy điện và nước sạch cần phải được điều chỉnh tăng hợp lý
và tính theo tỉ lệ phần trăm của giá điện, nước Ngoài ra, chúng ta không thể khẳng địnhđược rằng chi trả DVMTR là vì người nghèo vì đơn giản, chúng ta không có số liệu vềviệc có bao nhiêu người nhận tiền chi trả DVMTR là người nghèo so với số hộ giàu vàtrung bình, vì thế cần thu thập số liệu về những người nhận tiền chi trả DVMTR vàmục tiêu của các hợp đồng chi trả DVMTR
1.2.2.4 Những yếu tố cho sự áp dụng thành công PES ở Việt Nam
- Giải quyết tốt vấn đề xóa đói, giảm nghèo;
- Xác định rõ quyền và trách nhiệm của các nhóm tham gia;
- Đánh giá, thu phí rõ ràng và sử dụng hiệu quả;
- Giảm thiểu chi phí giao dịch;
- Thiết kế để hoạt động ở các cấp từ trung ương đến địa phương có các nguồntài chính dài hạn độc lập
1.2.2.5 Tổ chức bộ máy Ban điều hành quỹ BV&PTR từ Trung ương đến địa phương A Thành lập và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam
a) Vận động, tiếp nhận và quản lý các khoản đóng góp bắt buộc; nguồn viện trợ,tài trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
b) Tổ chức thẩm định, xét chọn chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi
dự án mà Quỹ có thể hỗ trợ kinh phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
c) Hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, Quỹ BV&PTR cấp tỉnh hoặccác hoạt động phi dự án