Theo Điều 3, Thông tư Liên tịch số 58/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 31/12/2015 quy định: Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động
Trang 1Thái Nguyên - 2020
Trang 2Thái Nguyên - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫntrong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Tạ Kim Tuyến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS NguyễnThanh Hải, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người đã định hướng đềtài, hướng dẫn phân tích, thu thập số liệu và tận tình hướng dẫn chỉ bảo emtrong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này
Em xin được gửi lời cảm ơn tới Khoa Môi trường, Trường Đại họcNông Lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giảngdạy và truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu cũng nhưnhững tình cảm tốt đẹp cho em trong suốt thời gian học tập tại Trường
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Trường Đạihọc Nông Lâm Thái Nguyênđã tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chấtcho chúng em được học và nghiên cứu
Cuối cùng, em xin dành một tình cảm biết ơn đến gia đình và bạn bè,những người đã luôn ở bênh cạnh, động viện, chia sẻ cùng em trong suốt thờigian học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ
Tác giả luận văn
Tạ Kim Tuyến
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.Cơ sở khoa họccủa đề tài 4
1.1.1 Các khái niệm liên quan 4
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.1.3 Các đặc trưng của chất thải y tế 6
1.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 8
1.1.5 Thành phần nước thải bệnh viện 10
1.1.6 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe con người 11
1.1.7 Các biện pháp xử lý chất thải y tế 18
1.2 Cơ sở pháp lý 24
1.2.1 Cơ sở pháp lý do Trung ương ban hành 24
1.2.2 Cơ sở pháp lý do địa phương ban hành 25
1.2.3 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về bảo vệ môi trường cơ sở y tế 26
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 26
1.3.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới 26
1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
Trang 62.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 32
2.3.4 Phương pháp đánh giá 33
2.3.5 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 34
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Tổng quan về Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái 35
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái 35
3.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động 36
3.1.3 Công tác quản lý chất thải tại Trung tâm 37
3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 37
3.2.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế 37
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý và xử lý nước thải y tếtại Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái 47
3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái qua ý kiến phỏng vấn cán bộ y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 52
3.3.1 Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ và nhân viên y tế Trung tâm y tế thành phố Yên Bái trong bảo vệ môi trường 52
3.3.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái qua ý kiến của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân 56
3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải của Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái 58
3.4.1 Tăng và năng cao nguồn nhân lực trong công tác quản lý chất thải và bảo vệ môi trường tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 58
3.4.2 Giải pháp công nghệ xử lý 59
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 61
THAM KHẢO 61
Trang 8Bộ Tài nguyên và Môi trườngNhu cầu oxy hoá học
Đánh giá tác động môi trườngKhu công nghiệp
Khu chế xuấtKinh tế - Xã hộiKhoa học công nghệNghị định - Chính phủ
Ủy ban nhân dân
Tổ chức Y tế Thế giớiQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần chất thải y tế theo nhóm 8Bảng 1.2 Thành phần chất thải y tế 9Bảng 1.3 Thành phần nước thải bệnh viện 10Bảng 3.1 Thống kê nguồn phát sinh chất thải y tế tại Trung tâm
y tế thành phố Yên Bái 38Bảng 3.2 Lượng chất thải theo ngày tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 39Bảng 3.3 Lượng chất thải trung bình trong tháng tại Trung tâm y tế
thành phố Yên Bái năm 2019 40Bảng 3.4 Danh sách CTNH phát sinh trung bình trong 01 tháng
của Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 41Bảng 3.5 Thực trạng thu gom, phân loại chất thải y tế 43Bảng 3.6 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế 44Bảng 3.7 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Trung tâm Y tế
thành phố Yên Bái 46Bảng 3.8 Kết quả phân tích nước thải tại Trung tâm y tế thành phố
Yên Bái trước khi được xử lý 48Bảng 3.9 Hiện trạng chất lượng nước thải Trung tâm y tế
thành phố Yên Bái sau khi được xử lý 49Bảng 3.10 Thực trạng hệ thống thu gom, xử lý nước thải y tế 51Bảng 3.11 Tỷ lệ cán bộ, nhân viên y tế được tập huấn quy chế quản lý
chất thải y tế tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 53Bảng 3.12 Tỷ lệ cán bộ, nhân viên y tế hiểu biết về phân loại
chất thải y tế theo nhóm chất thải tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 53Bảng 3.13 Hiểu biết của cán bộ nhân viên Trung tâm y tế thành phố Yên Bái
về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 55
Trang 10Bảng 3.14 Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế
tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 55Bảng 3.15 Đánh giá của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác
quản lý chất thải tại Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 57Bảng 3.16 Đánh giá ý thức, hiểu biết của bệnh nhân, người nhà
bệnh nhân về chất thải Trung tâm y tế thành phố Yên Bái 57
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống hiện nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càngnghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người, ảnhhưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe
và sự sinh tồn của các thế hệ mai sau
Việt Nam đang trên đà phát triển, dân số ngày càng gia tăng kéo theo sựphát triển của các loại hình công nghiệp, dịch vụ, gia tăng nhu cầu tiêu dùng,hưởng thụ vật chất, gia tăng nhu cầu khám và điều trị bệnh từ đó làm giatăng một lượng lớn chất thải nguy hại ra môi trường Trong những năm gầnđây, ngành y tế đã tập trung đầu tư xây dựng mới, cải tạo lại những hệ thống
xử lý chất thải y tế cho nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở y tếkhác để đảm bảo chất thải y tế được xử lý đúng quy định Mặc dù đã có nhiều
cố gắng và đã đạt được một số kết quả nhất định, công tác quản lý chất thải,bảo vệ môi trường của các cơ sở y tế còn một số tồn tại Một số cơ sở y tếkhông có hệ thống xử lý chất thải hoặc có hệ thống xử lý chất thải nhưnghỏng thường xuyên dẫn đến xử lý không hết các yếu tố nguy hại trong chấtthải trước khi thải ra môi trường Bên cạnh đó công tác quản lý, chỉ đạo củangười đứng đầu các cơ sở y tế chưa thực sự sát sao, có chỗ, có nơi còn buônglỏng Nhận thức của một bộ phận cán bộ trong ngành y tế về công tác quản lýchất thải, bảo vệ môi trường chưa cao, năng lực chuyên môn trong quản lýchất thải chưa đáp ứng được so với yêu cầu thực tế
Theo số liệu của Bộ Y tế, lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các bệnhviện, cơ sở y tế khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 - 50 tấn/ngày là chấtthải y tế nguy hại (Bộ Y tế, 2017) Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khácnhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay
đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng
Trang 12vật tư tiêu hao được sử dụng… Cả nước có 13.394 cơ sở y tế trong đó có1.253 bệnh viện, 1.037 cơ sở dự phòng và 11.104 trạm y tế Lượng nước thải
y tế phát sinh tại các bệnh viện, cơ sở y tế có giường bệnh khoảng trên150.000m3/ngày đêm, chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế thuộc hệ dựphòng, các cơ sở đào tạo y, dược và sản xuất thuốc (Bộ Y tế, 2017)
Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái được thành lập theo Quyết định số598/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái trên cơ sởsáp nhập Bệnh viện đa khoa và Trung tâm Y tế thành phố Trung tâm Y tếthành phố Yên Bái chính thức được tái thành lập và đi vào hoạt động từ ngày01/4/2016 Là bệnh viện trực thuộc Sở Y tế quản lý, thực hiện các chức năng,nhiệm vụ: Cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh; đào tạo cán bộ y tế; chỉ đạotuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật; phòng bệnh; nghiên cứu khoa học về yhọc; quản lý kinh tế y tế; hợp tác quốc tế Với quy mô 205 giường bệnh (120giường tại Trung tâm; 85giường tại 17 Trạm y tế); do vậy, lượng chất thải thải
ra hàng ngày từ hoạt động của Trung tâm là tương đối lớn (UBND tỉnh YênBái, 2016) Với lượng bệnh nhân ngày càng tăng công tác thu gom, xử lý chấttại tại Trung tâm đang đặt ra nhiều khó khăn: nguồn lực tham gia công tác xử
lý chất thải hiện nay chưa đáp ứng đủ; hệ thống sẽ xử lý chất thải quá tải nếulượng bệnh nhân ngày càng tăng; ý thức của bệnh nhân và người nhà bệnhnhân vẫn chưa thực hiện đúng các nội quy, quy định về phân loại rác thải
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom, xử lýchất thải tại Trung tâm, đồng thời tìm ra những giải pháp cho công tác này.Được sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thanh Hải, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý chất thải y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái” là rất cần thiết, mong
muốn góp phần vào giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay trong công tác quản lý chất thải y tế của các bệnh viện nói chung và Trung tâm Y tế thành phố
Trang 13Yên Bái nói riêng; đồng thời, góp phần vào sự phát triển bền vững của các Bệnh viện, Trung tâm Y tế các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu đề tài nhằm cung cấp dữ liệu khoa học về hiện trạng quản lý chấtthải tại Trung tâm y tế Thành phố Yên Bái Qua đó, góp phần vào công tácquản lý nhà nước về công tác bảo vệ môi trường đối với các bệnh viên, trungtâm y tế trên địa bàn tỉnh
- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã được học trong quá trình học tập vànghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, xử lý chất thải vàcông tác quản lý chất thải tại Trung tâm Y tế thành phố Yên Bái cho cơ quanquản lý của địa phương
- Đề xuất những biện pháp khả thi cho công tác thu gom, xử lý chất thải rắnmột cách khoa học và phù hợp hơn với điều kiện của Trung tâm Y tế thànhphố Yên Bái
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa họccủa đề tài
1.1.1 Các khái niệm liên quan
- Môi trường:là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật BVMT, 2014).
- Chất thải y tế: Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các
cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Chất thải
y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòngbệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế (Trịnh Thị Thanh, 2014)
Theo Điều 3, Thông tư Liên tịch số 58/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế
và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 31/12/2015 quy định:
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y
tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế.Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc cóđặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lâynhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện.Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh
và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở
y tế Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưugiữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lýchất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trunghoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo hệ thống phân loại của tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
- Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất
Trang 15tương tự như rác thải sinh hoạt.
- Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật thínghiệm, máu, dịch thể
- Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u
- Chất thải hoá học: Có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen hoặc không độc
- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như
vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn
- Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ có thể gây thương tích cho người và vật
- Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng
* Theo hệ thống phân loại của Việt Nam:
Theo Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế phân loại như sau:
+ Nguyên tắc phân loại chất thải y tế:
- Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản
lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bịlưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các chất thải y tế nguy hạikhông có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng mộtphương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng
cụ, thiết bị lưu chứa;
- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
+ Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải:
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế;
Trang 16- Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phânloại và thu gom chất thải.
+ Phân loại chất thải y tế:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi
1.1.3 Các đặc trưng của chất thải y tế
- Theo Qui chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế thì chất thải y tế là vật chất ởthể rắn, lỏng và khí, được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguyhại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sứckhỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễcháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thảinày không được tiêu hủy hoàn toàn
- Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
Trang 17Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dâytruyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ vàcác vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc);chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnhphẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, nhau thai,bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chấtkhông còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chấtthải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)
- Chất thải lỏng y tế nguy hại: Được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từcác phòng phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm ) và sinh hoạt của nhânviên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từviệc làm vệ sinh phòng bệnh Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ônhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thôngthường còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các
vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dưlượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trìnhchẩn đoán và điều trị
- Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại):
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng
Trang 181.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế
Quy chế Quản lý chất thải y tế do Bộ Y tế ban hành nêu chi tiết các nhóm
và các loại chất thải y tế phát sinh Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinhhọc và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành
5 nhóm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải thông thường
Bảng 1.1 Thành phần chất thải y tếtheo nhóm
Nhóm Loại chất thải
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc
chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quy chế này)
Chất thải - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính hóa học thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị
liệu (Phụ lục 2 ban hành kèm theo Quy chế này).
nguy hại - Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
Trang 19Nhóm Loại chất thải
Chất thải - Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động phóng xạ chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Bình chứa - Bao gồm bình đựng oxy, CO 2 , bình ga, bình khí dung Các bình này dễ
áp suất gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
- Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng
chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
(Nguồn: Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế 2007- Bộ Y tế)
Bảng 1.2 Thành phần chất thải y tế
Trang 20- Việc tìm hiểu đặc tính chất thải y tế nguy hại đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn lò đốt chất thải y tế cho phù hợp Độ ẩm của chất thải rắn y tế là thông số liên quan đến giá trị nhiệt lượng Tỷ trọng chất thải rắn y tếđược xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ Tỷ trọng thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác Khối lượng chất thải y tế có thể đốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị nhiệt lượng của mỗi kilogam chất thải.
1.1.5 Thành phần nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường như nước thải sinhhoạt của cán bộ viên chức, của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, nước lau sànnhà, bể phốt của các khu điều trị (ô nhiễm hữu cơ), nước trong mùa mưa còn
có thể nhiễm những hóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trịbệnh như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ, cáckhu xét nghiệm, phòng mổ Bên cạnh đó, nước thải bệnh viện nguy hiểm vềphương diện vệ sinh dịch tễ bởi trong nước thải bệnh viện có chứa các loại vitrùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun, virut….từ máu, dịch, đờm,phân của người mang bệnh
Bảng 1.3 Thành phần nước thải bệnh viện
Các chất ô Cacsbonhydrat, protein, Nước thải sinh hoạt của bệnh
chất béo nguồn gốc động nhân, người nhà bệnh nhân,nhiễm hữu cơ,
các chất vô cơ vật và thực vật, các hợp khách vãng lai và cán bộ công
chất nitơ, phốtpho nhân viên trong bệnh viện
Các chất tẩy Muối của các axit béo bậc Xưởng giặt của bệnh viên
- Formaldehyde Sử dụng trong khoa giải phẫuCác loại hóa - Các chất quang hóa học bệnh, tiệt khuẩn, ướp xác vàchất - Các dung môi gồm các dùng bảo quản các mẫu xét
hợp chất Halogen như nghiệm ở một số khoa Có trong
Trang 21Nhóm Thành phần Nguồn phát sinh
cloroform, các thuốc mê dung dịch dùng cố định vàsốc hơi như Halothan, các tráng phim Sử dụng trong quáhợp chất khác như xylen, trình điều trị, chuẩn đoán bệnhaxeton
- Các chất hóa học hỗnhợp: gồm các dịch làmsạch và khử khuẩn
- Thuốc sử dụng cho bệnhnhân
Vi khuẩn: Salmonalla, Virut, ký sinh trùng gây bệnhShigella, Vibrio, Vi khuẩn: Salmonalla,Cholorae, Coliorm, tụ
Shigella, Vibrio, Cholorae,
virut, ký sinh
cầu, liên cầu, Virus đường
đường tiêu hóa, virus bại liệt,tiêu hóa, virus bại liệt,
trùng gây bện nhiễm các loại ký sinh nhiễm các loại ký sinh trùng,
1.1.6 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và sức khỏe con người
1.1.6.1.Đặc điểm chung
- Chất thải y tế là chất thải có chưa đựng các loại sinh vật gây bệnh, các chất độchại như hóa chất, chất gây độc tế bài, chất phóng xạ Các nghiên cứu dịch tễhọc trên thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng
Trang 22lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu chất thải y tếkhông được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào
cơ thể người thông qua: Da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da),các niêm mạc (màng nhầy), đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa,tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trunggian như ruồi, muỗi, chuột… Tất cả những người tiếp xúc với chất thải y tế nguyhại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế, bao gồm: bác sĩ, y
tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; khách tới thăm hoặc ngườinhà bệnh nhân; những người trực tiếp làm công việc xử lý rác thải tại các bãi đổrác thải hay các lò đốt rác Những người thu gom, bới rác
- Các nguy cơ gây bệnh của chất thải y tế là các bệnh về đường tiêu hóa do các
vi khuẩn tả lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao, dophế khuẩn cầu; tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da; bệnh than;HIV/AIDS; nhiễm khuẩn huyết; viêm gan các lo i, các bệnh thần kinh; gâyngộ độc, ăn mòn, cháy nổ
- Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321 trườnghợp nhiễm virus viêm gan B có tiếp xúc với chất thải y tế so với tổng số 30.000trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúcvới chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp caonhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong mỗi năm, cao hơn 2 lần sovới tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại
1.1.6.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường
* Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường không khí:
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây
ra những tác động xấu tới môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thugom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dungmôi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) chúng phát ra cáckhí độc: HX, NOx, Dioxin, Furan,…từ lò đốt và CH4, NH3, H2S, từ bãi chôn
Trang 23lấp Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh.
+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quytrìnhvận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đenvàcác chất độc hại
+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặcchất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và
SO2
+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen(Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rấtđộcdù ở nồng độ nhỏ
+ Kim loại nặng: đối với những kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân có thể phát sinh từ các lò đốt CTYT nếu trong quá trình phân loại không tốt
* Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường nước:
Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nướcthảisinh hoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứaSalmonella,Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, cáchóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lýtriệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồntiếp nhận được sử dụng cho sinhhoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây
ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A, cho nhữngngười sử dụng các nguồn nước này Các tác động của chúng:
- Chất rắn lơ lửng: nước thải bệnh viện có hàm lượng chất rắn lơ lửngcao,làm nước biến màu và mất oxy, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồnnước tiếp nhận, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy vực của nguồn nước tiếp nhận
- Hàm lượng oxy hòa tan DO: hàm lượng DO là một trong những tiêu chíquan trọng của nước vì oxy không thể thiếu đối với tất cả các sinh vật sống trêncạn cũng như dưới nước Oxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng
Trang 24sự sinh lượng cho trưởng, sinh sản và tái sản xuất Nước thải bệnh viện cóchứa nhiều hóa chất, hợp chấtmà quá trình oxy hóa chúng sẽ làm giảm nồng
độ oxy hòa tan trong nguồn nước tiếp nhận, dẫn đến đe dọa sự sống của cácloài cá cũng như sinh vật sống trong nước
- Nhu cầu oxy hóa học COD:
Nước thải bệnh viện chứa nhiều loại vi khuẩn gây bệnh có nguồn gốctừngười bệnh và các chất độc hại khác hình thành trong quá trình điều trị,phần lớn bệnh viện đều nằm trong các đô thị hoặc khu dân cư đông đúc, nênnước thải bệnh viện không được xử lý tốt mà vẫn thải ra môi trường xungquanh sẽ gây nhiễm bẩn và làm lan truyền dịch bệnh Ở nước ta hiện nay,nhiều bệnh viện không có trạm xử lý nước thải nên vấn đề ô nhiễm môitrường do nước thải cần được quan tâm và có biện pháp xử lý
* Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường đất:
Chất thải bệnh viện nói chung và chất thải y tế nói riêng khi thải vàomôi trường mà không được thu gom xử lý thích hợp sẽ gây ra nhiều tác hạicho môitrường sống, đặc biệt là rác thải y tế độc hại Khi thải vào môi trường,các chất thải này sẽ phân hủy hoặc không phân hủy làm gia tăng nồng độ cácchất dinh dưỡng,tạo ra các hợp chất vô cơ, hữu cơ độc hại,…làm ô nhiễmnguồn đất, gây hại cho hệ sinh vật đất, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại, ruồimuỗi phát triển, là nguyên nhân gây ra các dịch bệnh, nguy cơ gây lây lan, lantruyền các loại dịch bệnh
Do đó, quản lý chất thải y tế không đúng quy trình và việc tiêu hủy chấtthảiy tế tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự pháttán các visinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và làm choviệc tái sử dụng bãi chôn lắp gặp nhiều khó khăn
1.1.6.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng
đồng a Đối tượng nguy cơ
Trang 25Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ Nhóm người nguy cơ chính bao gồm:
+ Bác sĩ và y tá, điều dưỡng, nhân viên vệ sinh, nhân viên hành chính của bệnh viện
+ Người bệnh điều trị nội trú và ngoại trú
+ Người nhà chăm sóc bệnh nhân
+ Nhân viên thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải
+ Cộng đồng dân cư (đặc biệt là những người chuyên thu nhặt phế thải) Ngoài
ra còn các mối nguy cơ liên quan tới các nguồn chất thải y tế quy mô nhỏ, rảirác, dễ bị bỏ quên: phát sinh từ những tủ thuốc gia đình hoặc do những kẻtiêm chích ma túy vứt ra
a Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Bệnh viện có nguy cơ lây truyền rất lớn qua rác thải và nước thải bệnhviện Chất thải y tế có chứa các mầm bệnh như: các vi khuẩn, vi rút, kí sinhtrùng và nấm với số lượng đủ để gây bệnh Những người dễ bị ảnh hưởngnhất là y tá, bác sĩ và những người thu gom rác và bới rác Các tác hại của rácthải bệnh viện làm tăng nhiễm khuẩn và kháng thuốc tại bệnh viện, tổnthương trực tiếp cho người thu gom rác, lây nhiễm cho bệnh nhân cho nhândân sống trong vùng lân cận, ảnh hưởng tới tâm lý và thẩm mĩ đô thị
Nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, các chất độc hóa học,chất phóng xạ Nhưng điều nguy hiểm hơn là nước thải bệnh viện thường thảivào các nguồn nước mặt, thấm xuống đất làm ô nhiễm nguồn nước ngầm gầnkhu vực sinh sống của dân cư mà đây cũng là nguồn nước sinh hoạt chính Năm
1990, WHO đã cho biết có tới 80% bệnh tật của người liên quan đến nước với sốgiường bệnh chiếm 50% số giường bệnh của các bệnh viện, nước thải từ khoalây nhiễm nguy hiểm nhất Nếu trong nước thải sinh hoạt ở khu vực dân cư tỉ lệ
vi khuẩn gây bệnh/tổng số trực khuẩn đường ruột là 1/104-106 thì trong nướcthải khoa lây tỉ lệ này là 1/102-103, gấp từ 100 - 1000 lần Người ta còn
Trang 26nhận thấy, trung bình trong một lít nước thải bệnh viện có từ 5000-10000 virút gây bệnh, 10-15 trứng giun đũa Trong một lít nước thải bệnh lao có thể có
từ 106-109 trực khuẩn lao có sức đề kháng cao ở ngoại cảnh, thậm chí còn tìmđược trực khuẩn lao ở nơi cách nơi thải nước cống bệnh viện xa tới 500 mét
Ở nước vi khuẩn thương hàn có khả năng sống từ 2-93 ngày, vi khuẩn lỵ sống
từ 12-15 ngày, vi khuẩn tả sống từ 4-28 ngày
c Ảnh hưởng của loại chất thải hóa học và dược phẩm
Đã có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm độc do việc vận chuyển hóa chất
và dược phẩm trong bệnh viện không đảm bảo Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y
tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp,bệnh ngoài da do tiếp xúc với các loại hóa chất lỏng bay hơi, dạng phunsương và các dung dịch khác Để hạn chế tới mức thấp nhất là nguy cơ nghềnghiệp này nên thay thế giảm lượng hóa chất độc hại xuống bất cứ lúc nào cóthể và cung cấp các phương tiện bảo hộ cho những người tiếp xúc với hóachất Những nơi sử dụng và bảo quản loại hóa chất nguy hiểm cũng nên đượcthiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện các biện pháp phòng hộ vàcác trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan
d Ảnh hưởng của các loại chất thải gây độc gen
Cần phải có một thời gian để thu nhập những dữ liệu và ảnh hưởng lâudài đối với sức khỏe của các chất thải gây độc gen trong y tế, bởi vì rất khóđánh giá ảnh hưởng của loại chất độc phức tạp này lên mối nguy cơ đối vớicon người Một nghiên cứu đã được tiến hành ở Phần Lan đã tìm ra một dấuhiệu liên quan giữa sảy thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ và tiếp xúc nghềnghiệp với các thuốc chống ung thư, nhưng các nghiên cứu tương tự tại Pháp
và Mỹ lại không xác nhận kết quả này
Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản đã điều tra khả năng kết hợp giữanguy cơ đối với sức khỏe và việc tiếp xúc với chất chống ung thư, biểu hiện bằng
sự tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở người đã tiếp xúc và
Trang 27tăng nguy cơ sảy thai Một nghiên cứu gần đây đã chứng minh, những nhânviên quét dọn trong bệnh viện phải tiếp xúc với yếu tố nguy cơ thì có lượngnước tiểu tăng vượt trội so với những y tá và các dược sĩ trong bệnh viện đó.Thêm nữa, những người này thường ít ý thức được mối nguy hiểm và do vậy
ít áp dụng các biện pháp phòng hộ hơn Mức độ tập tung các thuốc gây độcgen trong bầu không khí bên trong bệnh viện cũng đã được xem xét trong một
số nghiên cứu thiết kế để đánh giá các ảnh hưởng về sức khỏe liên quan vớiviệc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Hiện vẫn chưa có một ấn phẩm khoa họcnào ghinhận những hậu quả bất lợi đối với sức khỏe do công tác quản lý yếukém đối với các chất thải gây độc gen
e Ảnh hưởng của loại chất thải phóng xạ
Nhiều tai nạn được ghi nhận do việc thanh toán và xử lý các nguyênliệu trong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương
do tiếp xúc với mối nguy cơ Ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệuchứng minh một trường hợp ảnh hưởng của ung thư lên cộng đồng có liênquan đến việc rò rỉ chất thải phóng xạ trong bệnh viện Một bệnh viện chuyên
về trị liệu bằng phóng xạ trong khi chuyển địa điểm đã làm thất thoát tại địađiểm cũ một nguồn xạ trị đã được niêm phong; một người dân chuyển đến địađiểm này đã nhặt được nó và mang về nhà Hậu quả là đã có 249 người tiếpxúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặphàng loạt các vấn đề về sức khỏe Ngoại trừ biến cố xảy ra tại Brazil, còn lạikhông có dữ liệu khoa học đáng tin cậy nào có giá trị về ảnh hưởng của chấtthải phóng xạ bệnh viện Có thể đã có nhiều trường hợp tiếp xúc với chất thảiphóng xạ bệnh viện có liên quan đến các vấn đề về sức khỏe, song khôngđược ghi nhận Chỉ có những báo cáo các vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếpxúc với các chất phóng xạ ion hóa trong các cơ sở điều trị do hậu quả từ cácthiết bị X-quang hoạt động không an toàn, do việc chuyên chở các dung dịch
xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu
Trang 28về mặt thể tíchcủa chất thải Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp đốt lànếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làmphát sinh các chất độc hạinhư Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp;chi phí vận hàng, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao.
+ Khử trùng bằng hơi nóng ẩm (lò hấp):
Là phương pháp tạo ra môi trường hơi nước nóng ở áp suất cao để khửtrùng dụng cụ và chất thải y tế Các loại chất thải lây nhiễm có thể xử lý đượcnhư chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao,chất thải giải phẫu
- Bản thân hóa chất khủ trùng là những chất độc hại, vì vậy những người sửdụng phải được đào tạo về quy trình sử dụng và trang bị đầy đủ các trang thiết
bị bảo hộ an toàn
- Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện vận hành
Trang 29- Khử trùng chỉ có hiệu quả với bề mặt của chất thải rắn.
- Phải kiểm soát dư lượng hóa chất, nếu cách xử lý không đúng có thể làm phátsinh các vấn đề môi trường sau xử lý như nước thải, hơi hóa chất phát tán vàomôi trường không khí trong quá trình xử lý
+ Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:
Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện ápsuất thường (có hoặc không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kếthợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phươngpháp này thường đi kèm với thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thểtích chất thải Các loạichất thải lây nhiễm có thể xử lý được: chất thải lâynhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất thải từ buồng cáchly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu Chất thải rắnsau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêuchuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủynhư chất thải thông thường
+ Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh:
Chỉ áp dụng tạm thời với bệnh viện thuộc khu vực khó khăn chưa có cơsởxử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương Không chôn lấpchất thảilây nhiễm với chất thải thông thường
Đối với chất thải sắc nhọn sử dụng các bể đóng kén là thích hợp Theo quyđịnhquản lý chất thải nguy hại, bể đóng kén có 3 dạng: chìm dưới mặt đất, nửachìm nửa nổi, và nổi trên mặt đất Đặt tại khu vực có mực nước ngầm ở độ sâuphù hợp, diện tích đáy của mỗi bể <100 m2 và chiều cao <5m, vách và đáy bằng
bê tông chống thấm, kếtcấu cốt thép bền vững, đặt trên nền đất được gia cố, xungquanh vách và dưới đáy cóbổ sung lớp lót chống thấm, có mái che kín nắng, mưacho toàn bộ mặt bể và biện pháp hạn chế gió trực tiếp vào trong bể Sau khi đầy,phải đóng bể bằng nắp bê tông cốt thép chống thấm, nắp phải phủ kín toàn bộ bềmặt đảm bảo không để nước rò rỉ, thẩm thấu
Trang 30+ Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):
Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộntheo từng mẻ Các chất phụ gia như xi măng, cát và polimer được bổ sung vào
để thựchiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thựchiện quá trìnhhòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóngrắn diễn ra làm cho cácthành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập.Khối rắn sẽ được kiểm tracường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩnthận tại kho, sau đó vận chuyển đếnbãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóngrắn đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp Tỷ lệphổ biến cho hỗn hợp là 65%chất thải y tế, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước
+ Bao gói:
Chất kết dính vô cơ thường dùng là xi măng, vôi, thạch cao, silicat.Chất kết dịnh hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt,polyolefin, ureformaldehyt chất thải thường là chất thải hóa chất hoặc dượcphẩm được đưa vào3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene hoặc thùng kimloại Sau đó được điền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong
và đưa đi chôn lấp
1.1.7.2 Các phương pháp xử lý nước thải bệnh viện
+ Xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt Biophil:
- Nước thải bệnh viện được thu gom từ hệ thống cống thoát, qua song chắnrácthô nhằm cản những vật lớn như: quần áo, bơm tiêm, chai lọ, gạc có khảnăng làm tắc nghẽn đường ống và hỏng bơm Nước từ ngăn thu được bơm tới
bể điều hòa và xử lý sơ bộ, nhằm điều hòa chất bẩn và lưu lượng nước thảiđồng thời tại đây thực hiện xử lý sơ bộ, các vi sinh vật có sẵn trong nước thảioxy hóa một phần hợp chất hữucơ thành chất ổn định bông cặn dễ lắng, đồngthời khử một phần COD, BOD
Trang 31- Tiếp đó nước thải được chảy tràn hoặc bơm tới bể lọc sinh học nhỏ giọt tùythuộc cách bố trí hệ thống ngầm hay nổi Tại đây dựa vào khả năng của visinh vật sử dụng những chất hữu cơ có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng
để sống và biến đổi chất, giải phóng các chất vô cơ vô hại Trong bể lọc sinhhọc nước thải được tưới đều xuống lớp vật liệu lọc là các loại đá cục, cuội cókích thước nhỏ hơn 30mm, với chiều cao vật liệu lọc từ 1,5-2m Các hạt vậtliệu lọc sẽ được bao bọc một lớp màng vi sinh vật Nước ra khỏi bể lọc sinhhọc được bơm lên bể lắng thứ cấp, phần bùn lắng xuống đáy được đưa đến bểnén bùn, phần nước trong dẫn đến bể khử trùng để tiêu diệt vi sinh vật gâybệnh Nước sau khi xử lý thải ra hệ thống cống thành phố hoặc ao hồ
+ Xử lý nước thải bệnh viện bằng bùn hoạt tính trong bể hiếu khí Aerotank:
- Nước thải từ các bể phốt, khu vệ sinh ở các khoa, phòng, buồng bệnh đượcthu gom qua hệ thống cống thu đến bể điều hòa có lắp thiết bị song chắn rácnhằm loại bỏ các vật có kích thước lớn như bơm tiêm, mảnh thủy tinh vỡ,bông gạc để đảm bảo cho máy móc, thiết bị và các công trình phía sau hoạtđộng có hiệu quả
- Phương pháp này xử lý hiệu quả nước thải có thành phần hữu cơ (BOD,COD)
và amoni cao Kết cấu thiết bị đơn giản nên chi phí đầu tư thấp Thiết bị hoạtđộng tự động không tốn nhiều nhân công vận hành
- Tuy nhiên phương pháp này chi phí khoảng 15-18 triệu đồng/m3 nước thải Dễxảy ra hiện tượng bùn khó lắng làm giảm hiệu quả xử lý nước thải Để khắcphụctình trạng này đòi hỏi nhân viên vận hành có kiến thức và trình độ tốt Tiêu haonhiều điện năng để cung cấp không khí cưỡng bức, chi phí vận hành cao, khôngthể vận hành nếu mất điện Có thể phát sinh tiếng ồn, mùi hôi và vi sinh vật gâybệnh ra môi trường nếu không vận hành đúng cách Ngoài ra cần thời gian khálâuđể hệ bùn hoạt tính hoạt động lại bình thường sau sự cố
+ Xử lý nước thải bệnh viện theo nguyên lý hợp khối:
Trang 32- Việc thu gom và vận chuyển nước thải từ các khoa, phòng, buồng bệnh vàcác
bể phốt trong cơ sở y tế được thực hiện thông qua mạng lưới thu nước thảiđếnbể hợp khối gồm các công đoạn: ngăn thu nước thải có lắp đặt rọ chắn rác,ngănđiều hòa, ngăn làm lắng sơ bộ, bể hiếu khí và ngăn thu bùn
- Phương pháp này xử lý hiệu quả nước thải có thành phần hữu cơ và nitơ cao.Hiệu xuất xử lý tương đối ổn định, kỹ thuật vận hành đơn giản và ổn địnhhơn,chiếm ít diện tích hơn
- Chi phí đầu tư cho phương pháp này cao do phải sử dụng vật liệu lọc sinhhọc,khoảng 15-25 triệu đồng/m3 nước thải Chi phí vận hành cao 1000-
1200đồng/m3 nước thải do tiêu hao nhiều điện năng để cung cấp không khícưỡng bức và hóa chất Phương pháp này không vận hành được khi mất điện,
có thể phát sinhtiếng ồn và mùi hôi Vỏ bằng thép không phù hợp với điềukiện thời tiết thay đổi
+ Xử lý nước thải bệnh viện bằng công nghệ AAO:
- Thời gian gần đây khi đầu tư xây dựng mới hệ thống xử lý nước thải bệnhviệnngười ta thường chú ý và lựa chọn một mô hình xử lý nước thải được chếtạohợp khối theo công nghệ AAO
- Nước thải từ hệ thống cống thu gom chung của bệnh viện được dẫn vàobểđiều hòa có đặt song chắn rác inox kích thước ke hở 5-10mm để tách rác vàcác vậtthể lớn có trong nước thải Thời gian nước lưu trong bể điều hòa trungbình từ 3-4h
- Ngăn yếm khí dòng ngược với vi sinh vật lơ lửng được kết hợp với khốiđệmgiá thể bằng PVC chuyên dụng tạo nên màng vi sinh vật kỵ khí, làm
tăng mậtđộ vi sinh vật lên đến 20.000 vi sinh vật/m3 đảm bảo hiệu quả xử lý theoCOD vàtổng P lên đến 75-80% Ngăn thiếu khí diễn ra quá trình khử nitrat khimột phầnhỗn hợp bùn và nước thải chứa nitrat được bơm ngược từ ngăn hiếu khí
về Quátrình diễn ra hô hấp thiếu khí và giải phóng N2 bay lên và một phần CODđược xửlý Trong ngăn hiếu khí không khí được cấp bởi máy thổi
Trang 33khí, tạo điều kiện diễn raquá trình oxy hóa sinh hóa hiếu khí các chất hữu cơ
và quá trình nitrat hóa diễn ra.Kết quả BOD trong nước thải giảm rõ rệt vàamoni chuyển thành nitrat
- Sau khi qua bậc xử lý trên, hỗn hợp nước thải và bùn qua ngăn thứ cấp đểtáchlượng bùn hoạt tính nhằm hồi lưu về ngăn anoxyc và ngăn oxy Phần bùndưđưa về bể chứa bùn
+ Xử lý nước thải bệnh viện bằng hồ sinh học ổn định:
- Hệ thống xử lý nước thải áp dụng hồ sinh học ổn định khác với hệ thốngcôngnghệ xử lý nước thải khác là người ta sử dụng năng lượng tự nhiên, dựa vàosựkhuyếch tán không khí và sự quang hợp là nguồn oxy chính Ưu điểm củaloại côngnghệ này là không tốn năng lượng để vận hành nên rất phù hợp vớiđiều kiện củacác nước đang phát triển Phương pháp xử lý này không gây ồn,
có thể gây mùi khóchịu nếu vận hành không đúng cách Tuy nhiên đòi hỏibệnh viện có đất rộng Hệthống xử lý này đóng vai trò quan trọng đặc biệttrong xử lý nước thải ở các nướccó khí hậu ấm
+ Xử lý nước thải bệnh viện bằng bãi lọc trồng cây kết hợp bể lọc yếm khí:
- Nguyên lý hoạt động của bãi lọc sinh học trồng cây là dựa vào hoạt độngsinhtrường của một số cây mà người ta sử dụng như một giải pháp hữu hiệucho việc xử lýnước thải với tải lượng ô nhiễm không quá lớn Thông qua bộ
rễ, cây hấp thụ tạp chấtvô cơ và hữu cơ trong nước thải, biến chúng thànhnguồn dinh dưỡng nuôi cây trongquá trình sinh trưởng qua đó làm sạch nướcthải Các cây sử dụng làm sạch nước thảinhư: lau sậy, cỏ nến, cây ráng trong
đó cây lau sậy xử lý tốt hơn cả
- Hiện nay có nhiều kiểu bãi lọc được áp dụng, tuy nhiên để có hiệu quả caocần
sử dụng bãi lọc sao cho phù hợp với điều kiện của từng khu vực áp dụng,cácgiống cây trồng cần phù hợp với điều kiện môi trường sống của từng khuvực có hệthống xử lý Để xử lý được nước thải bệnh viện không chỉ sử
Trang 34dụng riêng bãi lọctrồng cây cho một mô hình xử lý mà còn phải kết hợp với các phương pháp tiền xửlý để mô hình có thể hoạt động hiệu quả.
1.1.7.3 Xử lý chất thải khí bệnh viện
- Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí thải hoặc có hotte húthơikhí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa phần các bệnhviện chưacó hệ thống xử lý khí thải Tuy nhiên về khí thải bệnh viện ô nhiễmnhất phải kểđến khí thải từ lò đốt rác thải Hầu hết khí thải từ các lò đốt rácthải đều vượt tiêuchuẩn, trong đó có chứa CO và SO2 là những khí độc Côngnghệ đốt ứng dụngnguyên lý nhiệt phân nên quá trình vận hành lò ảnh hưởng
rõ rệt tới chất lượng khíthải Thực tế, các lò đốt đều chưa đạt được nhiệt độtrên 1.000 độ C ở buồng đốt thứcấp, nhiệt độ buồng đốt sơ cấp giai đoạn cuối
mẻ đốt không được nâng trên 1.000độ C Do đó, vẫn còn thành phần hữu cơchưa cháy khá cao trong tro thải, khả nănggây ô nhiễm môi trường đất vànước rất cao nếu không được chôn lấp an toàn Mộtđiều đáng lưu ý khác làviệc xây dựng lò đốt rác thải y tế tại các bệnh viện đềukhông đủ khoảng cách
an toàn đối với khu vực dân sinh sống xung quanh
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Cơ sở pháp lý do Trung ương ban hành
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực kể từ ngày01/01/2015;
- Nghị định số 80/204/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải nguy hại và phế thải;
Trang 35- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý chất thải nguy hại.
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y
tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy chế quản lý chất thải
- Quyết định số 170/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đếnnăm 2025
- Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 06/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong bệnh viện
1.2.2 Cơ sở pháp lý do địa phương ban hành
- Quyết định số 01/2016/QĐ-UBND ngày 07/01/2016 của Ủy ban nhân dântỉnh Yên Bái về việc Ban hành Quy định một số nội dung về công tác bảo vệmôi trường tại tỉnh Yên Bái;
- Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 18/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnhYên Bái về việc ban hành Kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y
tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Yên Bái;
- Quyết định số 3089/QĐ-UBND ngày 28/11/2017 về việc điều chỉnh, bổ sung
Kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnhYên Bái ban hành kèm theo Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 18/7/2016của Ủy ban nhân dân tỉnh
Trang 361.2.3 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về bảo vệ môi trường cơ sở y tế
- QCVN 07:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;
- QCVN 02:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế;
- QCVN 28:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới
- Lượng thải chất thải y tế phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa vàphụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: Cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loạibệnh, quy mô giường bệnh, phương pháp và thói quen của nhân viên y tếtrong công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân và rác thải của ngườibệnh trong các khoa phòng
- Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra các khuyến cáo đối với các nước đang pháttriển có thể phân loại chất thải y tế thành các loại sau: Các chất thôngthường không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bi nhiễm cácyếu tố nguy hại), chất thải y tế sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyềnnhiễm) chất thải y tế nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn),chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các loại thuốc, dược phẩm độcđối với tế bào), chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độcđối với tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao)
- Cũng theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới có 18 - 64% cơ sở y tế chưa cóbiện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế 12,5% nhân viên phụtrách xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lýchất thải y tế Chính những tổn thương này lại là nguồnphơi nhiễm nghềnghiệp với máu là phổ biến nhất và chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim vàthu gom tiêu hủy vật sắc nhọn; có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điềutra khi
Trang 37vận chuyển chất thải y tế đi qua khu vực bệnh nhân mà không được đựng trong xe thùng có nắp đậy.
- Việc xử lý chất thải y tế còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học kỹthuật - công nghệ Trên thế giới, nhiều nước đã có những biện pháp khác nhau
để xử lý loại rác thải nguy hại này
* Các nước phát triển
- Trên thế giới, ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chămsóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống
xử lý loại phế thải y tế Đối với chất thải rắn y tế nguy hại: Đó là
các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 10000C đến trên
40000C Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc
xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí Đối với chất thảilỏng phát sinh tại các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe: Đã áp dụng và đầu
tư xây dựng các công trình xử lý chất thải với các công nghệ xử lý tiên tiến,mang lại hiệu quả xử lý cao như AAO, RO, kết quả được tổng hợp bởi TrầnHiếu Nhuệ và Phạm Đăng Khôi (2013)
- Các phế thải y tế trong khi đốt, xả thải vào không khí mang theo nhiều hạt bụi li
ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình đốt cháy như Axit Clohidric,Dioxin/Furan và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc Asen, Cadmi
Do đó, khí thải của lò đốt phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơhọc tùy theo loại phế thải trước khi thải ra môi trường
- Đến nay, nhận thấy việc xử lý chất thải rắn y tế bằng phương pháp thiêu đốt đãgây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí; các nhàkhoa học hiện đang áp dụng một phương pháp mới Đó là phương pháp nghiềnnát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khíthải Theo nguyên lý hoạt động của phương phápnày rác thải y tế nguy hại đượcchuyển qua một máy nghiền nát Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyểnqua một phòng hơi có nhiệt độ 1380C và áp suất 3,8 bar Ở điều
Trang 38kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thảiđược xử lý trong vòng 40 - 60 phút Sau cùng phế thải rắn đã được xử lý sẽđược chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn tiệttrùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối mlượng phếthải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không tạo rakhí thải vào không khí.
* Tại các nước đang phát triển
- Tại các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn rất
lơ là, nhất là đối với chất thải bệnh viện Tuy nhiên, trong những năm trở lạiđây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệmôi trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các công trình xử lý chấtthải bệnh viện Đặc biệt, tại Ấn Độ từ năm 2008, Chính phủ đã ban hành luật
về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ ràngphương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dờiđến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế độc hại của quốc gia này đãđược cải thiện rất nhiều
1.3.2 Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Hiện nay, theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh của Bộ Y tế năm
2018 có 13.640 cơ sở khám chữa bệnh, có 1.016 cơ sở y tế dự phòng, 77 cơ sởđào tạo y dược, 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã, phường, thịtrấn Tại các cơ sở y tế, đặc biệt là bệnh viện đã thải ra hàng trăm tấn chất thải y
tế mỗi ngày với khoảng gần 12% loại chất thải độc hại nguy hiểm Lượng chấtthải y tế trên không được quản lý và xử lý tốt thì các thành phần nguy hại trongchất thải như vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây bệnh ung thư sẽ tạo nênnhững nguy cơ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và môi trường sốngcủa nhân dân Thực tế, trong cả nước ước tínhchỉ có khoảng 50% bệnh viện đãphân loại, thu gom và xử lý chất thải y tế theo đúng quy định; còn lại khoảng50% các bệnh viện và các cơ sở y tế chưa thực hiện phân loại, thu
Trang 39gom và xử lý chất thải y tế theo quy định Để thực hiện được mục tiêu quản lý
và xử lý chất thải y tế bảo đảm yêu cầu theo quy định, đặc biệt là chất thảinguy hại một cách có hiệu quả, cần có sự nỗ lực của chính quyền, ngành y tế,các ban ngành có liên quan với chi phí được đầu tư một cách phù hợp
Số lượng và mạng lưới y tế tại nước ta như vậy là lớn so với các nướctrong khu vực, song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các
cơ sở từ trung ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử
lý chất thải hoặc tại một vài cơ sở tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu
* Công tác quản lý chất thải y tế:
Theo thống kê của tác giả Trịnh Văn Tuyên, 2012, trong nghiên cứucông nghệ xử lý nước thải bệnh viện thì có 92,5% số bệnh viện có thugom rácthường kỳ, 14% số bệnh viện có phân loại rác y tế để xử lý Tuy nhiên phânloại rác từ khoa phòng khám và điều trị bệnh nhân chưa trở thành phổ biến
Trang 40Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chônlấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộthiên gây ô nhiễm môi trường.
* Công tác phân loại chất thải y tế:
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưngviệc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo
* Công tác thu gom chất thải y tế:
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và ycông thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y
tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải
y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phươngtiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển vàtiêu hủy chất thải
* Công tác lưu trữ chất thải y tế:
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệsinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiềucôn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số điểm tậptrung rác không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, nhữngngười không có nhiệm vụ dễ xâm nhập