tế chia sẻ; công nghệ cấy ghép; côngnghệ in 3D in và sản xuất 3D, in 3D và sức khỏe con người, in 3D và các sản phẩm tiêu dùng; năng lượng tái tạo/công nghệ sạch; thương mại điện tử; côn
Trang 1Khái niệm và đặc điểm của CMCN 4.0
Thuật ngữ “Industrie 4.0” - CMCN 4.0 xuất hiện lần đầu tiên trong dự án chiến lược “Computer Cumerical Controlled” của Chính phủ Đức, được công khai sử dụng năm 2011 tại Hội chợ Hannover (Đức) Tại WEF lần thứ
46 diễn ra vào năm 2016 đã thảo luận và đưa ra khái niệm, đặc điểm, nội dung… của CMCN 4.0 Theo Klaus Schwab (2016) [2] - người sáng lập và điều hành WEF, đặc trưng của CMCN 4.0 là tồn tại các hệ thống thực ảo (Cyber -Physical Systems), trong đó các thiết bị thông minh được kết nối với nhau qua mạng không dây CMCN 4.0 là sự kết hợp của 3 “thế giới”: thế giới vật chất, thế giới số và thế giới sinh vật bằng công nghệ cao, nó xóa bỏ ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học
Các lĩnh vực chủ yếu của CMCN 4.0 bao gồm: kỹ thuật số; kết nối thực ảo; Internet kết nối vạn vật (IoT);
dữ liệu lớn; trí tuệ nhân tạo; thành phố thông minh; xe hơi không người lái; người máy và dịch vụ; tiền ảo; kinh
n PGS.TS Trần Văn Hải
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
NăNg lực đổi mới của doaNh Nghiệp
Theo báo cáo của Diễn
đàn kinh tế thế giới (The
World Economic Forum
-WEF) vào ngày 13/2/2018,
chỉ có 25 quốc gia trên thế
giới đang sẵn sàng cho Cách
mạng công nghiệp (CMCN)
4.0 [1] WEF cũng công bố
bảng xếp hạng 10 quốc gia
trong số 25 quốc gia này về
cơ cấu sản xuất và điều hành
sản xuất Điểm đáng nói là
trong danh sách do WEF đưa
ra không thấy nhắc đến Việt
Nam Như vậy có thể nhận
định bước đầu, các doanh
nghiệp Việt Nam đang gặp
khó khăn hoặc ít nhất chưa
chuẩn bị cho việc hoạt động
sản xuất kinh doanh khi diễn
ra CMCN 4.0.
Trang 2tế chia sẻ; công nghệ cấy ghép; công
nghệ in 3D (in và sản xuất 3D, in 3D và
sức khỏe con người, in 3D và các sản
phẩm tiêu dùng); năng lượng tái
tạo/công nghệ sạch; thương mại điện tử;
công nghệ sinh học/biến đổi gen và đổi
mới nông nghiệp…
Có thể thấy, một số viễn cảnh sau đây
sẽ diễn ra song hành cùng CMCN 4.0:
- Trí tuệ nhân tạo sẽ cho ra đời những
chương trình máy tính, kể cả những
chương trình máy tính lớn phục vụ nhu
cầu của con người, khi đó một bộ phận
lập trình viên sẽ không có việc làm; trí
tuệ nhân tạo và người máy có thể cho ra
đời những “tác phẩm” nghệ thuật đáp
ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người,
một bộ phận công chúng sẽ không cần
đến sự tồn tại của nghệ sỹ(2); trí tuệ nhân
tạo và người máy sẽ hoạt động trong
công nghiệp ẩm thực, tạo ra các món ăn
hợp khẩu vị người dùng, chiếm việc làm
của đầu bếp và nhân viên phục vụ trong
nhà hàng
- Internet kết nối vạn vật sẽ thay thế
sức lao động của nông dân trên đồng
ruộng từ gieo trồng, tưới tiêu đến thu
hoạch và thậm chí bảo quản và chế biến
nông sản… Khi đó, một bộ phận nông
dân và công nhân sẽ thất nghiệp
Như vậy, CMCN 4.0 có thể sẽ làm
đảo ngược những giá trị xã hội vốn có,
đã tồn tại như một thực thể rất cần thiết
đối với xã hội loài người CMCN 4.0
cũng phá vỡ cấu trúc của các nền kinh tế
vốn đã định hình và tồn tại từ nhiều năm,
làm thay đổi toàn bộ hệ thống quản lý,
trong đó có quản lý doanh nghiệp
Trong các lĩnh vực chủ yếu của
CMCN 4.0, nền y học của Việt Nam đã
có thành công với công nghệ cấy ghép,
công nghệ in 3D và sức khỏe con người
(3D printing and human health) Sau hơn
một thập kỷ có mặt tại Việt Nam, thành
tựu nổi bật nhất được ghi nhận của công
nghệ in 3D là việc “in” mảnh sọ bằng
methyl methacrylate để vá lỗ thủng trên đầu một bệnh nhân 17 tuổi ở Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh vào đầu năm 2016 Kỹ thuật in 3D tạo ra miếng ghép có độ chính xác cao về hình dáng, kích thước, giúp tối ưu hiệu quả điều trị và thẩm mỹ [3]
Lĩnh vực ghép tạng của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, góp phần cứu sống được nhiều người bệnh Học viện Quân y đã phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản thực hiện thành công ca ghép phổi đầu tiên trên người tại Việt Nam (bệnh nhân được ghép là cháu bé 6 tuổi); tiếp đó là trường hợp ghép tim nhỏ tuổi nhất tại Việt Nam (bệnh nhân 10 tuổi) với chẩn đoán cơ tim giãn nở do suy tim giai đoạn cuối, không còn giải pháp điều trị khác ngoài ghép, ca ghép
đã thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức [4]… Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa ghi được dấu ấn trong những lĩnh vực còn lại của CMCN 4.0
Nguyên tắc thiết kế hệ thống quản lý và những khó khăn của doanh nghiệp trong CMCN 4.0
Hệ thống quản lý doanh nghiệp có những đặc điểm chung, tuy nhiên các doanh nghiệp hoạt động trong CMCN 4.0 lại có các đặc điểm riêng, do đó cần thiết
kế các nguyên tắc hoạt động của chúng cho phù hợp với yêu cầu của CMCN 4.0 Theo Hermann, Pentek, Otto (2016) [5], có 4 nguyên tắc thiết kế để hỗ trợ hệ thống quản lý doanh nghiệp trong CMCN 4.0, đó là:
- Khả năng tương tác: khả năng giao tiếp và kết nối của người máy, thiết bị cảm biến và con người qua mạng IoT
- Thông tin minh bạch: khả năng của những hệ
thống thông tin để tạo ra phiên bản ảo của thế giới thực bằng việc làm giàu qua mô hình thiết bị kỹ thuật số bằng dữ liệu cảm biến Điều này cần đến sự tập hợp
dữ liệu cảm biến thô vào ngữ cảnh thông tin có giá trị cao hơn
- Công nghệ hỗ trợ: nguyên tắc này đặt ra khả năng của những hệ thống hỗ trợ con người bằng việc tập hợp thông tin cho việc ban hành những quyết định rõ ràng và giải quyết những vấn đề khẩn cấp qua những ghi chú ngắn, khả năng của những hệ thống không gian mạng thực - ảo để hỗ trợ con người thực hiện những công việc lẽ ra phải tiêu tốn quá nhiều sức lực hoặc không an toàn
- Phân quyền quyết định: hệ thống không gian mạng thực - ảo có quyền chủ động đưa ra quyết định
và thực hiện nó một cách tự chủ nhất có thể Chỉ trong
Trang 3trường hợp ngoại lệ, bị nhiễu hoặc các mục tiêu đề ra
có mâu thuẫn với nhau thì sẽ được ủy thác cho cấp cao
hơn quyết định
Những khó khăn của doanh nghiệp trong CMCN
4.0 là phổ quát, chung cho các doanh nghiệp trên thế
giới, chứ không chỉ là khó khăn của các doanh nghiệp
Việt Nam Tại Báo cáo nhận dạng doanh nghiệp trong
khuôn khổ của AGE Global 2015 do Công ty quốc tế
Amway [6] khảo sát, đã đưa ra các số liệu sau đây tác
động đến hoạt động của các doanh nghiệp: gánh nặng
nợ nần tiềm năng chiếm 41% số người được hỏi, tác
động xấu từ khủng hoảng kinh tế chiếm 29%, không
có khả năng tìm được việc làm trong trường hợp thất
bại chiếm 16%, tác động từ các vấn đề pháp luật - mâu
thuẫn với luật pháp chiếm 16%, sự thất vọng của cá
nhân trong sáng kiến kinh doanh chiếm 15%, sự cần
thiết đưa ra quyết định chiếm 13%, xác suất thiếu vắng
của cơ hội thứ hai trong trường hợp thất bại của lần
thử đầu tiên chiếm 8% Như vậy, những rào cản khách
quan dẫn đến những khó khăn của các doanh nghiệp
trong đổi mới công nghệ nói chung và nhằm đáp ứng
những yêu cầu của CMCN 4.0 nói riêng là có thật
Đề xuất nâng cao năng lực đổi mới của doanh
nghiệp trong CMCN 4.0
Khái niệm đổi mới được Schumpeter (1934) định
nghĩa trong tác phẩm “Lý thuyết phát triển kinh tế”
[7], có nghĩa là “sự kết hợp mới” của các yếu tố sản
xuất hàng hóa và dịch vụ mới, các quy trình sản xuất
mới, tiếp thị và tổ chức kinh doanh mới… OECD
(2005) [8] định nghĩa đổi mới là một hoạt động sản
xuất hàng hóa mới, được cải tiến đáng kể về quy trình
sản xuất, phương pháp tiếp thị hoặc tổ chức kinh
doanh Trong bài viết này, tác giả lấy các tiêu chí của
OECD (2005) về đổi mới để đưa ra các thành tố của
đổi mới công nghệ, bao gồm đổi mới sản phẩm công
nghệ, quy trình công nghệ, tổ chức triển khai thực hiện
công nghệ, thị trường công nghệ
Nguyên tắc thiết kế hệ thống quản lý doanh
nghiệp
Về khả năng tương tác: giao tiếp và kết nối của
người máy, thiết bị cảm biến với con người qua mạng
IoT Về khả năng tương tác với Internet ở Việt Nam
nói chung và sử dụng Internet trong quản lý doanh
nghiệp nói riêng là không đáng lo ngại
Theo số liệu báo cáo từ Tổ chức We Are Social,
tính đến tháng 1/2018, dân số Việt Nam có khoảng
96,02 triệu người Báo cáo này cũng cho biết, tổng số người dùng Internet ở Việt Nam vào tháng 1/2018 là 64 triệu người(3) Tuy nhiên, báo cáo này cũng chưa thể hiện người Việt Nam sử dụng Internet với mục đích cụ thể gì Bởi vậy,
ít nhất tồn tại rào cản có lẽ ở chi tiết giao tiếp và kết nối của người máy, thiết bị
cảm biến và con người Do đó, trước hết
cần thiết kế hệ thống quản lý doanh nghiệp để đáp ứng được nguyên tắc là
có khả năng tương tác
Thiết kế hệ thống thông tin minh bạch:
thiết kế hệ thống thông tin minh bạch, chính xác và kịp thời qua mô hình thiết bị
kỹ thuật số để phục vụ việc quản lý doanh nghiệp Hệ thống thông tin về sản phẩm công nghệ và quy trình công nghệ trước hết thể hiện ở sự minh bạch, chính xác và kịp thời của hệ thống thông tin về các giải pháp kỹ thuật được cấp bằng độc quyền sáng chế phải được công khai đầy đủ và
rõ ràng về bản chất của sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó
Hệ thống thông tin về sản phẩm công nghệ và quy trình công nghệ minh bạch
có tác dụng tránh việc tiến hành các nghiên cứu lặp lại, lãng phí trí tuệ và vật chất chi cho nghiên cứu, mặt khác còn có tác dụng phát triển các nghiên cứu mới trên cơ sở tra cứu thông tin từ hệ thống
Do sự phát triển của khoa học và công nghệ, thông tin về sản phẩm công nghệ, quy trình công nghệ và thị trường công nghệ ngày càng lớn, ví dụ theo công bố của USTPO, số lượng patent do Hoa Kỳ
là chủ sở hữu vào năm 2013 là 609.052, năm 2014 là 615.243, năm 2015 là 629.647 patent [9] Như vậy, việc lưu trữ thông tin sản phẩm công nghệ, quy trình công nghệ và thị trường công nghệ vượt quá các phương tiện lưu trữ truyền thống
Dữ liệu lớn là giải pháp để khắc phục hạn chế này
Trang 4Theo Y Demchenko, P Membrey
(2014) [10] thay vì cách làm trước đây,
dữ liệu được lưu trữ trong ổ cứng của
máy tính, đĩa CD hoặc CD-ROM,
USB…, trong CMCN 4.0 với sự hỗ trợ
của điện toán đám mây và Internet, mọi
dữ liệu đều được số hóa và đưa lên điện
toán đám mây để khai thác qua các ứng
dụng trên thiết bị thông minh, từ đó sản
sinh ra lượng dữ liệu lớn Đặc trưng của
dữ liệu lớn được thể hiện qua “5V”:
Volume dung lượng lưu trữ lớn, Velocity
-tốc độ xử lý cao, Variety - đa dạng thông
tin, Veracity độ chính xác cao, Value
-giá trị thông tin cao
Thiết kế hệ thống công nghệ hỗ trợ:
thiết kế hệ thống công nghệ hỗ trợ bằng
việc tập hợp thông tin cho việc ban hành
những quyết định rõ ràng và giải quyết
những vấn đề khẩn cấp để hỗ trợ con
người thực hiện những công việc phải
tiêu tốn quá nhiều sức lực hoặc không an
toàn Ví dụ công nghệ hỗ trợ trong quản
lý thư viện 4.0 đặt ra khả năng của những
hệ thống hỗ trợ bằng việc tập hợp thông
tin cho việc ban hành những quyết định
tra cứu nguồn tin trong dữ liệu lớn do thư
viện phát hành, giải quyết những vấn đề
phức tạp qua những ghi chú ngắn, tiếp
theo là khả năng của những hệ thống
không gian mạng thực - ảo để hỗ trợ con người tìm kiếm thông tin do thư viện phát hành, mà trong điều kiện bình thường lẽ ra phải tiêu tốn quá nhiều thời gian
Đề xuất cho việc quản lý một số lĩnh vực cụ thể
Quản lý tiền ảo: ra đời từ năm 2009, tiền ảo
(Bit-coin) là một loại tiền tệ kỹ thuật số dưới dạng phần mềm mã nguồn mở Bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào Sự cung ứng Bitcoin là tự động, có sự hạn chế, được phân chia theo lịch trình định sẵn dựa trên các thuật toán [11] Các quốc gia trên thế giới đã có những phản ứng khác nhau đối với việc quản lý Bitcoin Tháng 7/2013, Thái Lan
là nước đầu tiên trên thế giới ban hành lệnh cấm Bit-coin, sau khi Công ty Bitcoin Thailand trình bày ý tưởng kinh doanh Bitcoin của họ tới Ngân hàng Trung ương Thái Lan Tuy nhiên, tháng 2/2014, Bộ Tài chính Thái Lan tuyên bố Ngân hàng Trung ương Thái Lan không có thẩm quyền đối với Bitcoin và đã cho phép Công ty Bitcoin Thailand đăng ký kinh doanh để thực hiện ý tưởng kinh doanh Bitcoin [12]
Tại Việt Nam, ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt
đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối
với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo, trong đó
có Bitcoin Đề án nêu rõ thời gian để các bộ/ngành
hoàn thiện đề án này là tháng 8/2018 Tuy nhiên, đến thời điểm này Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản
lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền
ảo vẫn chưa được ban hành Như vậy, khái niệm về tài
Tiền ảo (Bitcoin) là một loại tiền tệ kỹ thuật số dưới dạng phần mềm mã nguồn mở
Trang 5Chú thích
(1) Bài đã đăng trên Tạp chí KH&CN Việt Nam, số 11/2018 (716), tr.4-8, ISSN 1859-4794.
(2) Đây là giả định theo quan niệm của Klaus Schwab (2016), có nhiều điểm cần phải phân tích về quan niệm này,
vì theo lý thuyết hiện tại chỉ có con người mới đủ năng lực sáng tạo nên tác phẩm, tuy nhiên nếu quan niệm của Klaus Schwab diễn ra thì nó sẽ làm đảo lộn toàn bộ hệ thống bảo hộ quyền tác giả trên thế giới từ Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, đến Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)…
(3) Hiện đang có nhiều ý kiến nghi ngờ tính chính xác của số liệu này, tác giả bài viết không bình luận về tính chính xác của số liệu, mà chỉ dẫn lại từ nguồn https://www.dammio.com/2018/04/07.
Tài liệu tham khảo
1 The World Economic Forum (2018), Readiness for the Future of Production Report.
2 Klaus Schwab (2016), The Fourth Industrial Revolution, The World Economic Forum, The International
Or-ganization for Public-Private Cooperation, ISBN-13: 978-1-944835-01-9, ISBN-10: 1944835016.
3 Báo Chính phủ điện tử, ngày 27/09/2017.
4 Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 01/01/2018.
5 Hermann, Pentek, Otto (2016), Design Principles for Industrie 4.0 Scenarios, Technische Universität Dortmund,
Fakultät Maschinenbau, Audi Stiftungslehrstuhl Supply Net Order Management.
6 Amway International Company (2015), The framework of the 2015 AGE Global Enterprise Recognition Report.
7 J Schumpeter (1934), The Theory of Economic Development, Harvard University Press.
8 OECD (2005), Oslo manual: guidlines for collecting and interpreting innovation data.
9 USPTO (2015), Patent Technology Monitoring Team.
10 Y Demchenko, P Membrey (2014), Defining architecture components of the big data ecosystem, Conference
International on collaboration technologies and systems (CTS).
11 Nakamoto, Satoshi (2009), Bitcoin: a peer-to-peer electronic cash system.
12 https://cointelegraph.com/news/thailand-approves-fully-legal-bitcoin-exchange, Thailand Approves Fully-Legal Bitcoin Exchange, ngày đăng 10.07.2014, ngày truy cập 5/10/2018, có tham khảo https://vi.wikipedia.org/wiki/Bitcoin.
13 Đặc san Kiểm toán số 68, tháng 2/2018.
sản ảo, tiền ảo chưa được nêu trong bất cứ
văn bản quy phạm pháp luật nào
Thống kê trên Coinmarketcap cho
thấy, Việt Nam đứng đầu danh sách các
quốc gia truy cập nhiều nhất vào các trang
coin huy động vốn theo mô hình đa cấp
(MLM) và top 5 danh sách các quốc gia
truy cập nhiều nhất vào các sàn giao dịch
tiền ảo [13] Từ đó cho thấy, nhu cầu giao
dịch tiền ảo tại Việt Nam là có thật, phù
hợp với xu thế của CMCN 4.0, khi
CMCN 4.0 coi tiền ảo là một trong những
lĩnh vực chủ yếu Điểm cần phải làm là
nghiên cứu đưa ra mô hình quản lý tiền
ảo, chống rửa tiền bằng công cụ tiền ảo
Như vậy, doanh nghiệp ngân hàng, tài
chính cần nâng cao năng lực đổi mới công
nghệ quản lý của mình nhằm đáp ứng xu
thế của CMCN 4.0
Quản lý thành phố thông minh: thành phố thông
minh có nhiều đặc trưng, một trong những đặc trưng
đó là ứng dụng tìm phương tiện giao thông bằng công nghệ số, ở Việt Nam, Grab là một ví dụ Hiện tại, ở Việt Nam đang tồn tại 2 quan điểm về quản lý doanh nghiệp Grab, trong đó: coi Grab - doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tìm phương tiện giao thông bằng công nghệ số như một doanh nghiệp taxi ứng dụng công nghệ cao thuộc quyền quản lý của Bộ Giao thông - Vận tải; coi Grab là doanh nghiệp kinh doanh công nghệ cao thuộc quyền quản lý của Bộ Công thương
Như vậy, cách thức quản lý có thể sẽ kìm hãm hoặc phát huy năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Như vậy, các doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ nhằm theo kịp tiêu chí quản
lý thành phố thông minh như CMCN 4.0 đã nêu./
Trang 6DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT
CôNg KHAi THôNg TiN về giá THị TrườNg HàNg HóA, dịCH vụ TrêN ToàN quốC
Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định
số 368/QĐ-BTC về quy chế quản lý, vận
hành, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về
giá giai đoạn 1
Theo đó, người dân và doanh nghiệp có thể khai thác thông tin công khai về giá thị trường hàng hóa, dịch vụ trên toàn quốc; chỉ số giá tiêu dùng… Những thông tin cần cập nhật, gồm: giá thị trường hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục báo cáo giá thị trường theo quy định của Bộ Tài chính; giá đăng ký của hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá trong thời gian áp dụng biện pháp bình ổn giá của các doanh nghiệp (DN) thực hiện đăng ký giá tại Cục Quản lý giá Cùng với đó là giá kê khai của hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục kê khai giá của các
DN thực hiện kê khai giá tại Cục Quản lý giá; giá hàng hóa, dịch vụ do Bộ Tài chính định giá; giá trúng thầu đối với hàng hóa dự trữ quốc gia; dữ liệu thẩm định giá ngay khi thông tin của DN thẩm định giá thay đổi; chỉ số giá tiêu dùng một tháng một lần ngay khi có công bố chính thức…./
Tổng cục Thống kê cho biết, hằng
năm, theo Chương trình điều tra quốc
gia, ngành Thống kê đều tiến hành điều
tra doanh nghiệp
Việc điều tra doanh nghiệp năm 2019
được thực hiện bắt đầu từ tháng 3/2019,
nhằm thu thập thông tin cơ bản phục vụ
công tác quản lý, hoạch định chính sách,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát
triển doanh nghiệp của quốc gia, từng địa
phương, các nhà đầu tư và các doanh
nghiệp Kết quả điều tra dùng để tổng
hợp các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia, các chỉ tiêu trong báo
cáo chính thức năm của ngành Thống kê
và là nguồn thông tin cơ bản để xuất bản
"Sách Trắng doanh nghiệp Việt Nam
năm 2020"
Đối tượng điều tra của cuộc Điều tra doanh nghiệp năm 2019 bao gồm: Các doanh nghiệp được thành lập và chịu sự điều tiết bởi Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã/ liên hiệp hợp tác xã/ quỹ tín dụng nhân dân (gọi chung là hợp tác xã) hoạt động theo Luật Hợp tác xã và các doanh nghiệp được thành lập, chịu sự điều tiết bởi các Luật chuyên ngành như Luật Bảo hiểm, Luật Chứng khoán… hoạt động sản xuất kinh doanh trước thời điểm 1/1/2019 hiện đang hoạt động; Các cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc doanh nghiệp Nội dung thông tin điều tra gồm: Các thông tin về lao động; giá trị tài sản, nguồn vốn, sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho (thu thập thông tin tại hai thời điểm 1/1/2018 và 31/12/2018); Các thông tin thu thập theo thời kỳ như: kết quả sản xuất kinh doanh, sản phẩm, chi phí, thuế…sử dụng số liệu chính thức của cả năm 2018./
Từ 1/3 đếN 19/5 sẽ TiếN HàNH điều TrA doANH NgHiệp Năm 2019
Trang 7Đây là quy định tại Thông tư
14/2019/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành về quản lý
tài chính thực hiện Chương trình phát triển tài
sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020
Thông tư nêu rõ nội dung và mức chi ngân
sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ đăng
ký bảo hộ, quản lý và bảo vệ tài sản trí tuệ Cụ
thể: Đối với đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, tối
đa không quá 30 triệu đồng/đơn Đối với đơn đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, tối đa không quá 15 triệu đồng/đơn Đối với giống cây trồng mới, tối đa không quá 30 triệu đồng/đơn
Hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ ở nước ngoài đối với các sản phẩm, dịch vụ là kết quả nghiên cứu khoa học, sản phẩm chủ lực, sản phẩm quốc gia, kiểu dáng sản phẩm và giống cây trồng mới, tối đa không quá 60 triệu đồng/đơn
Hỗ trợ kinh phí tổ chức trưng bày, triển lãm phân biệt sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm xâm hại quyền sở hữu trí tuệ: Ngân sách nhà nước hỗ trợ các khoản chi phí thuê mặt bằng; chi phí vận chuyển và thiết
kế, dàn dựng gian hàng; chi phí hoạt động chung của Ban tổ chức (trang trí tổng thể, lễ khai mạc, bế mạc, in ấn tài liệu và các chi phí khác liên quan), mức hỗ trợ tối đa không quá
10 triệu đồng/đơn vị tham gia Thông tư 14 có hiệu lực thi hành từ 01/05/2019./
Hỗ Trợ KiNH pHí đăNg Ký bảo Hộ sảN pHẩm ở NướC Ngoài
Tổng cục Hải quan vừa có công văn
yêu cầu hải quan các tỉnh, thành phố, kể
từ ngày 1/4/2019 hướng dẫn doanh
nghiệp thực hiện nộp các khoản vào
ngân sách Nhà nước (NSNN) bằng hình
thức thanh toán không dùng tiền mặt
(chuyển khoản) hoặc nộp tiền mặt tại
ngân hàng thương mại, để chuyển nộp
vào tài khoản của cơ quan Hải quan tại
Kho bạc Nhà nước
Cụ thể, tất cả các đơn vị, tổ chức kinh
tế (theo quy định của Khoản 16 Điều 3
Luật Đầu tư năm 2014 thì tổ chức kinh
tế là tổ chức được thành lập và hoạt động
theo quy định của pháp luật Việt Nam,
gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện
hoạt động đầu tư kinh doanh) có tài
khoản tại ngân hàng thương mại nếu có
hoạt động xuất nhập khẩu và phát sinh
các khoản nộp NSNN, thì phải thực hiện
nộp các khoản vào NSNN (bao gồm tiền
thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, tiền phí, lệ phí và các khoản thu khác) bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt (chuyển khoản) hoặc nộp tiền mặt tại ngân hàng thương mại, để chuyển nộp vào tài khoản của cơ quan Hải quan tại Kho bạc Nhà nước Tuy nhiên, đối với các hộ kinh doanh cá thể, cá nhân nếu
có hoạt động xuất nhập khẩu và phát sinh các khoản nộp NSNN thì không chịu sự điều chỉnh của Thông tư
số 136/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018./
KHôNg dùNg TiềN mặT Nộp THuế và lệ pHí CHo Cơ quAN Hải quAN
Trang 8Chính phủ vừa ban hành Nghị định số
09/2019/NĐ-CP quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính
nhà nước có hiệu lực từ ngày 12/3/2019
Nghị định số 09/2019/NĐ-CP quy định về
nguyên tắc, thẩm quyền ban hành và nội dung chế độ
báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước trong việc
thực hiện công tác báo cáo giữa các cơ quan hành
chính nhà nước với nhau và giữa cơ quan hành chính
nhà nước với các tổ chức, cá nhân liên quan; các yêu
cầu đối với việc ban hành chế độ báo cáo; ứng dụng
công nghệ thông tin trong việc thực hiện chế độ báo
cáo và xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia;
quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong việc thực hiện chế độ báo cáo
Theo Nghị định số 09/2019/NĐ-CP, UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (UBND cấp tỉnh)
ban hành chế độ báo cáo định kỳ, chuyên đề, đột xuất
yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới
và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm
vi địa bàn quản lý của cấp tỉnh thực hiện UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (UBND cấp huyện) ban hành chế độ báo cáo chuyên đề, đột xuất yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý của cấp huyện thực hiện UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) ban hành chế độ báo cáo đột xuất yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý của cấp xã thực hiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ban hành chế độ báo cáo đột xuất yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới và tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi địa bàn quản lý thực hiện./
quy địNH CHế độ báo Cáo CủA Cơ quAN HàNH CHíNH NHà NướC
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số
16/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019 sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Nghị định quy định về điều kiện kinh
doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân
hàng Nhà nước
Nghị định số 16/2019/NĐ-CP nêu rõ, để được
cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp ra
nước ngoài, công ty chứng khoán, công ty quản lý
quỹ, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải đáp
ứng các điều kiện sau: có lãi trong 3 năm liên tục
(trước đây là 5 năm) liền trước năm nộp hồ sơ đề
nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp
ra nước ngoài được thể hiện trên báo cáo tài chính
đã được kiểm toán và không có ý kiến ngoại trừ
trọng yếu theo quy định của Bộ Tài chính Báo cáo
tài chính phải được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm
toán độc lập được Bộ Tài chính chấp thuận và công
bố theo quy định về kiểm toán độc lập đối với đơn
vị có lợi ích công chúng Về điều kiện đối với hoạt
động ủy thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài và điều
kiện đối với hoạt động nhận ủy thác đầu tư gián tiếp
ra nước ngoài, Nghị định cũng sửa điều kiện có lãi
trong "5 năm" thành "3 năm" và bỏ các điều kiện
mang tính chung chung, không cụ thể về cơ sở vật
chất, kỹ thuật, nhân sự
Cùng với đó, Nghị định số
16/2019/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thông tin tín dụng Theo đó, công ty tín dụng phải có tối thiểu 15 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô) cam kết cung cấp thông tin tín dụng và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài này không có cam kết tương tự với công ty thông tin tín dụng khác Nghị định số 16/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20/3/2019./
sửA đổi, bỎ mộT số điều KiệN KiNH doANH về NgâN HÀNg
Trang 9Có hiệu lực thi hành từ ngày
20/3/2019, Nghị định số15/2019/NĐ-CP
ngày 1/2/2019 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
giáo dục nghề nghiệp
Cụ thể, điều kiện cho phép thành lập cơ
sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài gồm: Có đề án thành lập phù
hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo
dục nghề nghiệp Việt Nam Đã được cấp
giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (đối với
các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài phải
thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư) Có địa điểm xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm diện tích đất sử dụng tối thiểu của trung tâm giáo dục nghề nghiệp là 1.000 m2; của trường trung cấp là 10.000 m2 đối với khu vực đô thị và 20.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị; của trường cao đẳng là 20.000 m2 đối với khu vực đô thị
và 40.000 m2 đối với khu vực ngoài đô thị Vốn đầu
tư thành lập bằng nguồn vốn hợp pháp, không bao gồm giá trị về đất đai, cụ thể như sau: Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp tối thiểu là 5 tỷ đồng; đối với trường trung cấp tối thiểu là 50 tỷ đồng; đối với trường cao đẳng tối thiểu là 100 tỷ đồng
Nghị định số 15/2019/NĐ-CP cũng quy định cụ thể điều kiện cho phép thành lập phân hiệu của trường trung cấp, trường cao đẳng có vốn đầu tư nước ngoài gồm: Có đề án thành lập phân hiệu; có hợp đồng hoặc thỏa thuận về nguyên tắc thuê cơ sở vật chất phù hợp
và ổn định trong thời gian ít nhất là 05 năm; mức đầu
tư ít nhất phải đạt 25% các mức: với trung tâm giáo dục nghề nghiệp tối thiểu là 5 tỷ đồng; đối với trường trung cấp tối thiểu là 50 tỷ đồng; đối với trường cao đẳng tối thiểu là 100 tỷ đồng./
điều KiệN lập Cơ sở giáo dụC NgHề NgHiệp Có vốN đầu Tư NướC Ngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số
02/2019/TT-BKHĐT sửa đổi, bổ sung một số điều
của Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT hướng dẫn về
đăng ký doanh nghiệp
Theo đó, toàn bộ biểu mẫu đăng ký doanh
nghiệp, hộ kinh doanh được ban hành kèm theo
Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT sẽ được thay thế bởi
biểu mẫu mới theo Thông tư 02/2019/TT-BKHĐT
Một số biểu mẫu điển hình được thay thế như: Mẫu
Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp tư nhân, công ty
TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở
lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh… Mẫu Thông
báo và các văn bản khác do doanh nghiệp phát hành:
Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp;
Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật…
Các mẫu văn bản này được sử dụng thống nhất
trên phạm vi toàn quốc từ ngày 11/03/2019./
THAy THế ToàN bộ biểu mẫu đăNg Ký KiNH doANH Từ 11/3/2019
Nguồn:Khoa học phổ thông, Tạp chí KH&CN, Tạp chí Hoạt động khoa học, Tạp chí Tài chính, NASATI…
Tòa soạn Tạp chí (Tổng hợp)