1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thể chế hóa doanh nghiệp xã hội tiếp cận từ lý thuyết hành động thể chế

14 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 432,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên nghiên cứu tình huống theo thời gian đối với khu vực doanh nghiệp xã hội mới hình thành tại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ năm 2009 đến năm 2014, tác giả tập trung làm rõ làm

Trang 1

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/334440956

Thể chế hóa DNXH - tiếp cận từ lý thuyết hành động thể chế

Conference Paper · July 2019

CITATIONS

0

READS

323

1 author:

Some of the authors of this publication are also working on these related projects:

Social Innovation and Social Entrepreneurship Research and Teaching Landscape Survey View project

Social Innovation and Social Entrepreneurship Research and Teaching Landscape Survey View project

Trang Tran

Foreign Trade University

8PUBLICATIONS    3CITATIONS    

SEE PROFILE

Trang 2

Thể chế hóa doanh nghiệp xã hội: tiếp cận từ lý thuyết hành động thể chế

TS Trần Thu Trang Viện Kinh tế và Kinh doanh quốc tế

Đại học Ngoại thương

Tóm tắt

Bài viết này nhằm tìm hiểu cách thức các tổ chức quốc tế và các tổ chức địa

phương thúc đẩy quá trình thể chế hóa một mô hình doanh nghiệp mới Dựa trên nghiên cứu tình huống theo thời gian đối với khu vực doanh nghiệp xã hội mới hình thành tại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2009 đến năm 2014), tác giả tập trung làm rõ làm thế nào một số tổ chức trung gian và các cơ quan lập pháp cùng phối hợp thực hiện các hành động thể chế để tạo lập một môi trường thuận lợi hơn cho sự phát triển của các doanh nghiệp xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy các tổ chức trên tiến hành 7 nhóm hành động thể chế Những hành động này góp phần vào việc hình thành nên 3 trụ cột của thể chế mới về doanh nghiệp xã hội: nhận thức, chuẩn mực, và luật lệ Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hành động kết nối của các tổ chức trung gian chính là cơ chế chính để thúc đẩy thể chế hóa doanh nghiệp xã hội Nghiên cứu này có hai đóng góp chính Thứ nhất, nghiên cứu tập trung phân tích các hoạt động để tạo lập một thể chế mới Đóng góp thứ hai của nghiên cứu là làm rõ vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian trong việc hình thành khu vực doanh nghiệp xã hội

Từ khóa: Hành động thể chế, quá trình trung gian kết nối, doanh nghiệp xã hội,

thể chế hóa

Institutionalizing social enterprise: an institutional work perspective

This paper shows how international organizations work along with local

organizations to favor the institutionalization of a new organizational model Drawing upon a longitudinal case study of the emerging social entrepreneurship field in Vietnam from 2009 to 2014, we examine how some organizations acting as brokers in the field and local policy makers engaged in institutional work to create

an enabling environment for the development of social enterprises We found that these organizations performed seven types of institutional work, including

mapping, operationalizing, theorizing, educating actors, brokering relationships, advocacy and legalizing These types of practices ultimately contribute to shape three pillars of the new institution of social enterprise (i.e., cultural-cognitive, normative, and regulative) In addition, we emphasize brokerage as the key

mechanism to facilitate institutionalization of social enterprise Our study

contributes to the institutional literature by focusing on the practices to create a

Trang 3

new institution and shedding light on the importance of brokerage in the social entrepreneurship field

Keywords: Institutional work, brokerage, social enterprise, institutionalization

1 Đặt vấn đề

Trong những thập niên gần đây, doanh nghiệp xã hội hay những tổ chức có

sứ mệnh kép (đồng thời theo đuổi mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội) xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới Mô hình tổ chức này được coi là một cách tiếp cận mới trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường Tuy nhiên, với bản chất

là một mô hình lai giữa khối kinh doanh với khối xã hội, doanh nghiệp xã hội gặp không ít khó khăn trong hoạt động do không được công nhận một cách hợp pháp tại nhiều quốc gia và thiếu các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển của tổ chức (Battilana & Lee, 2014) Các nhà nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu tạo được một thể chế mang tính chất hỗ trợ với các yếu tố cấu thành như hình thức pháp lý mới, các hỗ trợ tài chính, và sự lan truyền các giá trị tốt đẹp gắn liền với mô hình doanh nghiệp này (Sud, VanSandt, & Baugous, 2009) Đến nay, các nghiên cứu về kinh doanh xã hội cũng như nghiên cứu về thể chế vẫn chưa làm rõ được bằng cách nào một thể chế mang tính chất hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội được hình thành

Mục đích của bài viết này là tìm hiểu các hành động thể chế, nghĩa là

những hoạt động có chủ đích của cá nhân và tổ chức nhằm tạo dựng một thể chế mới (Lawrence & Suddaby, 2006) Cụ thể, tác giả nghiên cứu những hành động thể chế được thực hiện bởi các chủ thể là tổ chức quốc tế và tổ chức địa phương nhằm thể chế hóa một mô hình tổ chức mới – doanh nghiệp xã hội – tại Việt Nam Nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi sau:

“Để xây dựng thể chế cho doanh nghiệp xã hội, các tổ chức quốc tế và các tổ chức

địa phương thực hiện những hành động thể chế nào?”

2 Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết về kinh doanh xã hội

Trên thực tế, doanh nghiệp xã hội (DNXH) phát triển rất nhanh chóng tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển nơi tồn tại nhiều vấn đề xã hội và môi trường phức tạp (Bornstein, 2007) Một số mô hình DNXH điển hình có thể kể đến là Grameen bank và tổ chức BRAC của

Bangladesh Trái ngược với thực tế phát triển của DNXH, đến nay nghiên cứu về doanh nghiệp xã hội vẫn là lĩnh vực nghiên cứu khá mới Hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp xã hội (Short, Moss, & Lumpkin, 2009) Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm cách làm rõ khái niệm về kinh doanh xã hội cũng như giới hạn của khu vực này (Brouard & Larivet, 2010; Dacin, Dacin, & Matear,

Trang 4

2010; Dacin, Dacin, & Tracey, 2011) Theo một số nhà nghiên cứu, kinh doanh xã hội là một khái niệm để chỉ các hoạt động kinh doanh được thực hiện bởi cá nhân hoặc tổ chức nhằm tạo ra giá trị xã hội và/hoặc thay đổi xã hội (Roberts & Woods, 2005; Austin, Stevenson, & Wei-Skillern, 2006; Peredo & McLean, 2006) Một số khác lại coi kinh doanh xã hội là một quá trình bắt đầu với khâu nhận diện một vấn đề xã hội cho đến khâu thực hiện một giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề trên (Mair & Martí, 2006; Martin & Osberg, 2007; Zahra và cộng sự, 2009) Trong phạm vi của bài viết này, tác giả sử dụng cách hiểu của Cochran (2007), theo đó kinh doanh xã hội được định nghĩa là “quá trình vận dụng các nguyên lý kinh doanh và khởi nghiệp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội” (Cochran, 2007: 451) Theo cách hiểu này, tác giả cho rằng hoạt động kinh doanh xã hội được thực hiện qua việc thành lập và vận hành các mô hình gọi là doanh nghiệp xã hội Theo Thompson & Doherty (2006: 362), doanh nghiệp xã hội là “các tổ chức tìm kiếm các giải pháp kinh doanh cho các vấn đề xã hội” Các tổ chức này có thể tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý với mức độ tự vững về tài chính khác nhau (Brouard

& Larivet, 2010; Bacq & Janssen, 2011) Hiểu theo nghĩa rộng, doanh nghiệp xã hội có thể nằm trong một trong ba khu vực (xã hội dân sự, chính phủ, và tư nhân) hoặc là sự giao thoa của ba khu vực này (Austin và cộng sự, 2006)

Hầu hết các nghiên cứu trước cho rằng doanh nghiệp xã hội là mô hình tổ chức mới vì nó kết hợp các yếu tố của một tổ chức từ thiện và một doanh nghiệp (Battilana & Lee, 2014; Ebrahim, Battilana, & Mair, 2014; Hervieux và cộng sự, 2010) Mô hình tổ chức này là sự lai ghép của hai logic khác nhau – logic của khối kinh doanh và logic của khối xã hội (Battilana & Dorado, 2010; Tracey, Phillips,

& Jarvis, 2011) Do doanh nghiệp xã hội là mô hình mới và mang tính chất lai nên một trong những thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp này là thiếu tính hợp pháp và nguồn lực (Battilana & Lee, 2014) Vì vậy, thể chế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp xã hội Các nhà nghiên cứu cho rằng việc tạo dựng một thể chế mang tính chất hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội là cần thiết để giúp cho các mô hình này có thể tồn tại và phát triển (Dees, 2007; Florek, 2013; Sud et al., 2009) Tuy nhiên, các nghiên cứu về kinh doanh xã hội trước đây mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu việc sử dụng ngôn ngữ để hợp thức hóa

mô hình này Chẳng hạn, nghiên cứu của Di Domenico và cộng sự (2010) cho thấy doanh nhân xã hội (DNhXH) sử dụng ngôn ngữ để thuyết phục các bên liên quan

từ đó đem lại tính chính danh và nguồn lực cho doanh nghiệp Nghiên cứu của Hervieux và cộng sự (2010) cho thấy các nhóm chủ thể, bao gồm giới học thuật, các quỹ và công ty tư vấn hợp thức hóa mô hình DNXH bằng cách lan truyền thông điệp về một mô hình lai Tương tự, nghiên cứu của Nicholls (2010) cho thấy các chủ thể truyền bá 2 thông điệp về DNXH – một là, doanh nhân xã hội là những người phi lý và hai là, DNXH là một mô hình kinh doanh lý tưởng Mặc dù có đóng góp nhất định, các nghiên cứu trên chưa làm rõ các hành động cụ thể được thực hiện trong quá trình thể chế hóa DNXH Để hiểu rõ bằng cách nào các tổ chức có thể thể chế hóa mô hình DNXH, nghiên cứu này sử dụng lý thuyết hành động thể chế

Trang 5

Lý thuyết hành động thể chế

Lý thuyết thể chế được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về tổ chức (Greenwood và cộng sự, 2008) Thể chế là trọng tâm của các nghiên cứu sử dụng

lý thuyết thể chế Scott (2008: 8) định nghĩa thể chế là “các yếu tố nhận thức, chuẩn mực và luật lệ với các hoạt động và nguồn lực gắn kèm nhằm tạo sự ổn định

và ý nghĩa cho đời sống xã hội” Hiểu một cách đơn giản hơn, thể chế là “các khuôn mẫu hành động, cũng như các cơ chế luật lệ thực thi các khuôn mẫu này” (Lawrence và cộng sự, 2009: 7) Các nghiên cứu thể chế ban đầu nhấn mạnh tính tuân thủ của một tổ chức với môi trường thể chế bên ngoài tổ chức đó (Meyer & Rowan, 1977) và các quá trình qua đó thể chế quy định kết cấu và hành vi của tổ chức (DiMaggio & Powell, 1983) Hạn chế của các nghiên cứu này là không thể giải thích tại sao thể chế có thể thay đổi theo thời gian Để khắc phục điều này, Lawrence & Suddaby (2006) đưa ra khái niệm hành động thể chế Các tác giả định nghĩa hành động thể chế là “hành động có chủ đích của cá nhân và tổ chức nhằm tạo lập, duy trì và phá vỡ thể chế” (Lawrence & Suddaby, 2006: 215) Theo quan điểm này, nghiên cứu thể chế tập trung vào các hoạt động của các chủ thể là cá nhân hay tổ chức nhằm duy trì hoặc thay đổi môi trường thể chế xung quanh họ (Lawrence, Suddaby, & Leca, 2009) Hành động thể chế thường mang tính chủ đích và đòi hỏi nỗ lực nhất định từ các chủ thể liên quan để vượt qua những niềm tin và hành vi mang tính mặc định và có thể tác động tới môi trường thể chế

(Lawrence et al., 2009) Trọng tâm nghiên cứu về hành động thể chế là các chủ thể

và năng lực hành động của họ Vì vậy, lý thuyết hành động thể chế có khả năng giải thích những thay đổi về thế chế trong xã hội (Lawrence, Suddaby, & Leca, 2011; Hwang & Colyvas, 2011)

Theo Lawrence & Suddaby (2006: 219-220), nghiên cứu về hành động thể chế cần: (1) làm rõ “nhận thức, kỹ năng, và năng lực phản xạ (reflexivity) của các chủ thể cá nhân hay tập thể”, (2) đem lại hiểu biết về “thể chế như là kết quả của hành động (ít nhiều có ý thức) của các chủ thể cá nhân hay tập thể”, (3) coi “hành động là thực hành (practice), kể cả hành động diễn ra trong phạm vi các quy tắc đã được thể chế hóa nhưng với mục đích thay đổi trật tự thể chế của một khu vực tổ chức (organizational field)” Các tác giả đề xuất 3 nhóm hành động thể chế: tạo lập, duy trì, và phá vỡ thể chế Trong 3 nhóm hành động trên, nhóm hành động tạo lập thể chế được nghiên cứu nhiều nhất

Các nghiên cứu về hành động thể chế thường hướng vào 3 chủ đề: (1) Hành động thể chế diễn ra như thế nào? (2) Ai thực hiện các hành động này? và (3) Yếu

tố nào tạo nên hành động thể chế? (Lawrence và cộng sự, 2013) Đến nay, các nhà nghiên cứu trả lời câu hỏi thứ nhất bằng cách nhận diện hoặc mở rộng danh mục hành động thể chế được hệ thống hóa bởi Lawrence & Suddaby (2006) Với câu hỏi thứ hai, phần lớn các nghiên cứu cho thấy các chuyên gia (professionals) thường có hành động thể chế trước những thay đổi của tổ chức hoặc khu vực tổ chức (Currie và cộng sự, 2012; Empson và cộng sự, 2013; Suddaby & Viale, 2011)

Trang 6

Một số ít nghiên cứu tập trung vào hành động thể chế của các chủ thể là lãnh đạo

tổ chức (Kraatz, 2009; Rojas, 2010) Cuối cùng, các nhà nghiên cứu cho rằng các khía cạnh của năng lực hành động (agency) của chủ thể như khả năng lặp lại thói quen trong quá khứ (habit), khả năng tượng tưởng các phương án hành động trong tương lai (imagination), và khả năng đánh giá thực tế (practical evaluation) cho phép họ thực hiện hành động tạo lập, duy trì, hay phá vỡ thể chế (Battilana & D’Aunno, 2009)

Thể chế hóa là quá trình mà một khái niệm, thực hành hoặc mô hình tổ chức đạt tới trạng thái mang tính quy tắc (Meyer & Rowan, 1977) Quá trình thể chế hóa đòi hỏi các chủ thể phải thực hiện rất nhiều hành động thể chế nhằm củng

cố thực hành hoặc mô hình tổ chức mới (Lawrence & Suddaby, 2006) Dựa trên lý thuyết về hành động thể chế, nghiên cứu này làm rõ những cơ sở nền tảng của quá trình thể chế hóa DNXH

Từ tổng quan lý thuyết trên, mô hình lý thuyết được đề xuất như sau:

Hình 1 Mô hình nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ 3 nguồn chính: phỏng vấn sâu, quan sát và dữ liệu thứ cấp Do đặc thù của vấn đề nghiên cứu, phỏng vấn là nguồn dữ liệu quan trọng nhất của nghiên cứu này Tổng cộng, tác giả thực hiện 61 cuộc phỏng vấn với 50 người đến từ các tổ chức khác nhau Những người tham gia phỏng vấn được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích Phương pháp này thường được sử dụng trong các nghiên cứu định tính nhằm “lựa chọn các trường hợp chứa nhiều thông tin nhất để có thể hiểu rõ vấn đề nghiên cứu” (Patton, 2002: 230) Cụ thể, tác giả lựa chọn các tổ chức có đóng góp trực tiếp vào quá trình thể chế hóa DNXH

(chẳng hạn, hỗ trợ trực tiếp về tài chính và kỹ thuật cho doanh nghiệp, nâng cao nhận thức của cộng đồng về DNXH và tạo dựng khung khổ pháp lý cho DNXH) Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp chọn mẫu ném tuyết (snowball) Theo

đó, tác giả bắt đầu phỏng vấn từ các tổ chức tiên phong trong khu vực DNXH rồi đến các tổ chức khác Các tổ chức tham gia nghiên cứu bao gồm các tổ chức phi chính phủ quốc tế và địa phương, các DNXH, các cơ quan nhà nước, các nhà đầu

tư xã hội, các trường đại học, và giới truyền thông Để phỏng vấn, tác giả sử dụng bảng hỏi mang tính chất định hướng với các câu hỏi mở Nội dung bảng hỏi xoay quanh quá trình thể chế hóa, các tổ chức liên quan, hoạt động của họ, vai trò và

Các hành động thể chế

Thể chế về DNXH

- nhận thức

- chuẩn mực

- luật lệ

Trang 7

quan hệ giữa các tổ chức này Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 phút đến 1,5 tiếng

Nguồn dữ liệu quan trọng thứ hai cho nghiên cứu này là quan sát trực tiếp

Từ năm 2013, tác giả đã quan sát nhiều sự kiện lớn, nhỏ về DNXH như Diễn đàn đầu tư XH 2013, các hội thảo về DNXH, các khóa tập huấn cho DNXH và tham gia một số chuyến tham quan DNXH

Ngoài ra, nghiên cứu tham khảo rất nhiều các tài liệu thứ cấp, bao gồm một

số tài liệu nội bộ và tài liệu được công bố công khai của các tổ chức liên quan như Trung tâm sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP), Hội đồng Anh Việt Nam, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), v.v Tác giả cũng tìm hiểu rất nhiều bài báo về DNXH tại Việt Nam Tổng cộng, tác giả tham khảo 123 tài liệu dưới nhiều hình thức: báo cáo, nghiên cứu, kế hoạch kinh doanh, tài liệu chương trình, thông cáo báo chí, bản tin, bài viết đăng trên trang web, tài liệu sự kiện, các tin tức báo chí, phóng sự, chương trình truyền hình

Phương pháp phân tích dữ liệu

Tác giả tiến hành phân tích theo 2 bước Bước 1 là nhận diện các tổ chức chính, hoạt động của các tổ chức này và các sự kiện quan trọng về DNXH theo thời gian dựa trên các dữ liệu đã thu thập Trên cơ sở đó, tác giả tái hiện lại quá trình thể chế hóa dưới dạng bài tường thuật (Langley, 1999) để có thể hiểu rõ hơn các sự việc đã diễn ra, thời điểm diễn ra sự việc và các chủ thể liên quan

Bước 2, tác giả sử dụng phương pháp Gioia (Corley & Gioia, 2004) để nhận diện các hành động thể chế được thực hiện bởi các chủ thể chính Cụ thể, tác giả thực hiện mã hóa mở (open coding) bằng cách nhận diện các mã ban đầu (first-order codes) rồi nhóm các mã này theo các phạm trù nhất định Các mã ban đầu là các cụm từ sử dụng bởi người tham gia phỏng vấn hoặc đơn giản là câu mô tả lại hành động của chủ thể khi không có các thuật ngữ tương đương Sau đó, tác giả thực hiện mã hóa hướng tâm (axial coding), tức là tìm kiếm mối quan hệ giữa các

mã ban đầu để có thể nhóm các mã này vào một số các chủ đề nhất định (second-order themes) Cuối cùng, các chủ đề tương tự được nhóm thành các khía cạnh lý thuyết tổng quát (aggregate dimensions) Quá trình mã hóa dữ liệu được thực hiện lặp đi lặp lại, có đối chứng với lý thuyết thể chế và các nghiên cứu trước đó để hệ thống thành các khía cạnh tổng quát về hành động thể chế Phương pháp Gioia được tóm tắt dưới bảng sau:

Bảng 1 Tóm tắt phương pháp Gioia

Khía cạnh tổng quát

Mã ban đầu 2

Trang 8

Mã ban đầu 4

Ghi chú:

Mã ban đầu 1 và 2 có quan hệ

Mã ban đầu 3 và 4 có quan hệ

Chủ đề 1 và 2 có quan hệ

4 Kết quả nghiên cứu

Sau khi phân tích dữ liệu, tác giả nhận diện 2 giai đoạn thể chế hóa Trong giai đoạn 1, các tổ chức liên quan tập trung đưa khái niệm DNXH vào Việt Nam Giai đoạn 2, các tổ chức hướng đến việc hợp thức hóa mô hình DNXH thông qua việc xây dựng khung khổ pháp lý cho mô hình này

Giai đoạn 1: Giới thiệu khái niệm (2008-2011)

Trong giai đoạn này, CSIP và Hội đồng Anh Việt nam là 2 tổ chức tiên phong giới thiệu khái niệm DNXH vào Việt Nam CSIP là tổ chức phi chính phủ địa phương có sứ mệnh hỗ trợ và nuôi dưỡng DNXH phát triển Trong khi đó, Hội đồng Anh là một tổ chức phi chính phủ quốc tế của Anh có trụ sở tại 110 quốc gia

và vùng lãnh thổ Đến nay, Hội đồng Anh đã thực hiện chương trình kỹ năng cho DNhXH tại 24 quốc gia Trong giai đoạn này CSIP cùng với Hội đồng Anh tham gia vào 3 nhóm hành động thể chế nhằm biến các ý tưởng kinh doanh xã hội thành

các mô hình DNXH thực tế Đó là nhận diện mô hình, hiện thực hóa mô hình, và

nâng cao nhận thức Tất cả các nhóm hành động này đều được thực hiện ở cấp độ

vi mô Bảng 2 cung cấp một số bằng chứng về 3 nhóm hành động thể chế nêu trên

Bảng 2 Hành động thể chế trong giai đoạn 1

Hành động

Nhận diện mô

hình

Bao gồm các hành động nhằm xác định ranh giới

và thực trạng của khu vực (trong nghiên cứu này là khu vực DNXH)

“Xuất phát đầu tiên như chị hiểu thì là như chị Oanh là người sáng lập – founder thì chị ý sẽ làm một cái base line survey nho nhỏ toàn quốc Chị ý đi khắp từ Bắc chí Nam để phỏng vấn, khảo sát rồi viết ra cái báo cáo hiện trạng DNXH Việt Nam như thế nào…Thì chị thấy rằng

là đâu đó manh nha đã có DNXH rồi nhưng họ ko tự gọi mình là DNXH.” (#2)

Hiện thực hóa

mô hình

Bao gồm các hành động tìm kiếm và hỗ trợ trực tiếp để nuôi dưỡng và phát triển mô hình tổ chức mới (trong nghiên cứu này, việc hiện thực hóa

mô hình DNXH được thực hiện thông qua chương trình trọng tâm của CSIP – đó là chương trình hỗ trợ DNXH)

“Chương trình hỗ trợ DNXH là một trong những chương trình trọng tâm của CSIP nhằm tìm kiếm, ươm tạo và đầu tư cho những DNXH trong những giai đoạn phát triển khác nhau…Hỗ trợ DNXH sẽ bao gồm hỗ trợ vốn hạt giống…Thứ 2 nâng cao năng lực – các khóa training, các hội thảo tập huấn phù hợp với nhu cầu, phù hợp với DNXH…Và cái thứ 3 tư vấn, kinh doanh tư vấn, phát triển tư vấn kinh doanh theo yêu cầu tức là trực tiếp làm việc với DNXH dựa trên các vấn đề chính của họ… Cái thứ 4 cũng rất quan trọng là cái hỗ trợ về kết nối mạng lưới.” (#4)

Trang 9

Nâng cao nhận

nhận thức và qua đó tăng cường sự chấp nhận xã hội đối với mô hình mới (trong giai đoạn này, CSIP và BC truyền thông

về DNXH qua các kênh khác nhau nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng

về khái niệm DNXH)

“Giai đoạn đầu nó chỉ mang tính chất là đưa một khái niệm mới vào đó, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cho tất cả các bên có liên quan Thế nào là DNXH và những ai là DNXH…Làm rất nhiều công tác truyền thông, tổ chức sự kiện, nâng cao nhận thức.” (#2)

Tóm lại trong giai đoạn đầu, vì DNXH là một khái niệm mới nên hai tổ chức tiên phong tập trung vào các hành động thể chế nhằm đưa khái niệm này đến gần hơn với công chúng và hỗ trợ trực tiếp DNXH ở tầm vi mô Với các hành động này, CSIP và Hội đồng Anh góp phần khởi xướng phong trào DNXH tại Việt Nam

Giai đoạn 2: Hợp thức hóa mô hình (2012-2014)

Trong giai đoạn 2, nghiên cứu cho thấy Hội đồng Anh hợp tác với Viện QLKTTW để thực hiện các hành động thể chế ở cấp vĩ mô nhằm tạo dựng một khung khổ pháp lý mang tính hỗ trợ cho DNXH Với tư cách là một cơ quan chủ

trì dự án Luật Doanh nghiệp, CIEM thực hiện các hành động thể chế như lý thuyết

hóa, nâng cao nhận thức cho các cơ quan bộ ngành về tầm quan trọng của DNXH,

và luật hóa Trong khi đó, Hội đồng Anh và CSIP kết nối để hỗ trợ CIEM trong quá trình xây dựng chính sách về DNXH và tích cực vận động chính sách cho

DNXH Bảng 3 minh họa các hành động thể chế trên

Bảng 3 Hành động thể chế trong giai đoạn 2

Hành động

thể chế

nhằm định nghĩa mô hình

và các đặc điểm của nó (trong giai đoạn này, CIEM thực hiện các nghiên cứu nhằm đưa ra một định nghĩa pháp lý về DNXH phù hợp với bối cảnh Việt Nam)

“Bắt đầu từ những cái nghiên cứu để xem là thực trạng DNXH ở Việt Nam có hay không, và nếu có thì

nó đang phát triển ở mức độ như thế nào cũng như là thực trạng DNXH ở trong khu vực cũng như là ở Anh thì thông qua một chuỗi series những nghiên cứu…

“DNXH tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách” Nghiên cứu đấy vào thời điểm đó đánh dấu mốc thực trạng ở Việt Nam và dựa trên nghiên cứu đó…sẽ tạo ra các bước tiếp theo là nên vận động chính sách để có sự ghi nhận của Chính phủ hay tạo ra môi trường phát triển tốt hơn nữa cho DNXH hay không?” (#6)

Nâng cao nhận

nhận thức và qua đó tăng cường sự chấp nhận xã hội đối với mô hình mới (trong giai đoạn này, 3 tổ

“Sau khi có được nghiên cứu đó, đã định hình được cái khái niệm rồi thì mình thấy bắt đầu cần nâng cao nhận thức cho các đại biểu quốc hội, nâng cao nhận thức cho các cán bộ của chính phủ, bởi vì nếu như mình có vận động thì họ phải hiểu đã thì họ mới ủng

hộ mình.” (#6)

Trang 10

chức nâng cao nhận thức cho các cơ quan bộ ngành

về DNXH qua các kênh khác nhau – hội thảo và các phương tiện truyền thông đại chúng)

nhằm giới thiệu và thúc đẩy trao đổi giữa các bên liên quan trong khu vực (trong nghiên cứu này, kết nối giữa các hoạch định chính sách, các doanh nghiệp, và các tổ chức trung gian đã được thực hiện)

Bản thân CIEM phải đi nghiên cứu nhưng rõ ràng họ phải dựa vào thông tin nguồn từ 2 cái hub chính này rất nhiều (CSIP và Spark)…Thực ra vào thời điểm đó Hội đồng Anh kết nối các vệ tinh với CIEM…tức là Hội đồng Anh hợp tác với CIEM trên tinh thần là tôi

sẽ cung cấp cho anh các mô hình cả Việt Nam và UK Khi nào cần tới Việt Nam thì tôi sẽ mời CSIP và Spark lên gặp anh, còn với UK thì tôi lại mời UK sang hoặc anh sang UK hoặc anh đi sang các nước khu vực.” (#6)

“Chúng tôi cũng thông qua mạng lưới của mình, chúng tôi kết nối DNXH trực tiếp tham gia vào hoạt động phỏng vấn, hội thảo với các nhà hoạch định chính sách.” (#1)

Vận động chính

sách

Bao gồm các hành động thuyết phục nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách cho mô hình mới (trong nghiên cứu này, các chủ thể thuyết phục các bên liên quan bằng các kết quả nghiên cứu và các mô hình thực tiễn)

“CSIP cùng các DNXH khác đến trực tiếp những cái diễn đàn để mà chia sẻ, trình bày cho các đoàn đại biểu quốc hội các tỉnh về cái gọi là DNXH và nó gắn với cả những cái chương trình chính sách cụ thể của nhà nước… mình cũng advocate theo cái hình thức là DNXH là một trong những cái mô hình để giúp cho nhà nước có thể thực hiện được những chính sách liên quan đến những đối tượng yếu thế… Tại mỗi nơi thì mình lại mời nhóm đối tượng DNXH phù hợp đến chia sẻ.” (#1)

tạo lập khung khổ pháp lý cho mô hình mới (như nghiên cứu, tổ chức hội thảo, tham vấn bên liên quan, soạn thảo luật, giải trình với các cơ quan có thẩm quyền để thông qua

dự án luật)

“CIEM nói chung là một cơ quan đi tiên phong trong việc hình thành, phát triển, hoàn thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam…và như thế thì nhìn thấy ở đây cơ hội có thể mở rộng Luật Doanh nghiệp và đưa DNXH như một mô hình kinh doanh vào Luật Doanh nghiệp…Với một quy trình đầu tiên phải nghiên cứu, phải biết được vấn đề, sau đó là thuyết giáo, thuyết giảng, chia sẻ, tham vấn mọi thứ Tham vấn thì thuyết phục những người chống đối mình Thứ hai là thu hút

sự ủng hộ nhiều hơn.” (#47)

Tóm lại, trong giai đoạn thứ hai, dựa trên các hành động thể chế trong giai đoạn đầu, các chủ thể tập trung vào các hành động thể chế ở cấp độ vĩ mô nhằm hợp thức hóa mô hình DNXH Trong giai đoạn này, hai tổ chức trung gian là CSIP

và Hội đồng Anh có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ CIEM thực hiện các hành động thể chế nhằm tạo sự ủng hộ từ các bên liên quan, đặc biệt là các cơ quan bộ ngành đối với việc thể chế hóa DNXH tại Việt Nam Thông qua 5 nhóm hành động thể chế, các tổ chức này đã góp phần hình thành khung khổ pháp lý cho DNXH DNXH đã được ghi nhận chính thức tại điều 10 trong Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2014

5 Thảo luận kết quả và hàm ý

Ngày đăng: 23/07/2021, 22:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w