Lehman Brothers – một tập đoàn tư bản tài chính có lịch sử phát triển suốt 158 năm và là một trong những tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, mới đây đã phải tuyên bố phá sản trước sức ép từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong khi đó hàng loạt các tập đoàn và ngân hàng khổng lồ thậm chí đã phải cần đến sự cứu trợ khẩn cấp của chính phủ để tránh khỏi kết cục xấu nhất. Tuy nhiên, có vẻ như điều đó đã được dự đoán trước trong cuốn sách Das Kapital của Karl Marx. Marx đã đúng khi cho rằng chủ nghĩa tư bản luôn tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng. Marx đã thấy trước được sự tồn tại song song của sức mạnh hủy diệt nằm bên trong hệ thống TBCN dù ông chưa bao giờ dự báo hệ thống sẽ sụp đổ một cách không thể tránh khỏi. Những lý luận và quan điểm của Marx cùng cách giải thích của ông về chủ nghĩa tư bản và khủng hoảng kinh tế đã giúp chúng ta có những cái nhìn đúng đắn va xác thực nhất về vấn đề này. Marx cũng đưa ra nhiều biện pháp để chống khủng hoảng và kiềm chế sự suy thoái trong kinh tế. Những biện pháp của Marx vẫn có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh hiện nay, chúng vẫn phát huy được tác dụng ở tầm vĩ mô khi được vận dụng một cách hợp lý và linh hoạt. Một học giả nổi tiếng đã nhận định: “Càng suy xét về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, ta càng thấy Karl Marx vĩ đại.”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỀU LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Vận dụng lý thuyết về khủng hoảng kinh tế của Mác để phân tích cuộc Đại suy thoái 1929-1939.
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Xuân
Lớp: Anh 13 – KTKT – K59
Chuyên ngành: Kế toán kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Hoàng Văn Vinh
QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I: QUAN ĐIỂM CỦA MARX VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2
1 Những lý luận của Marx về khủng hoảng kinh tế và bản chất của nó 2
2 Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kịnh tế dưới cái nhìn của Marx 4
3 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế 5
4 Lý thuyết của Mác về khủng hoảng kinh tế đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua 6
Chương II: CUỘC ĐẠI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929-1933
8
1 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 8
2 Nội dung cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 8
3 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đến Việt Nam 11
Chương III: NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA MARX ĐỂ CHỐNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 12
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Lehman Brothers – một tập đoàn tư bản tài chính có lịch sử phát triển suốt 158 năm và là một trong những tập đoàn lớn nhất nước Mỹ, mới đây đã phải tuyên bố phá sản trước sức ép từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Trong khi đó hàng loạt các tập đoàn và ngân hàng khổng lồ thậm chí đã phải cần đến sự cứu trợ khẩn cấp của chính phủ để tránh khỏi kết cục xấu nhất Tuy nhiên, có vẻ như điều đó đã được dự đoán trước trong cuốn sách Das Kapital của Karl Marx Marx đã đúng khi cho rằng chủ nghĩa tư bản luôn tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng Marx đã thấy trước được sự tồn tại song song của sức mạnh hủy diệt nằm bên trong hệ thống TBCN dù ông chưa bao giờ dự báo hệ thống sẽ sụp đổ một cách không thể tránh khỏi
Những lý luận và quan điểm của Marx cùng cách giải thích của ông
về chủ nghĩa tư bản và khủng hoảng kinh tế đã giúp chúng ta có những cái nhìn đúng đắn va xác thực nhất về vấn đề này Marx cũng đưa ra nhiều biện pháp để chống khủng hoảng và kiềm chế sự suy thoái trong kinh tế Những biện pháp của Marx vẫn có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh hiện nay, chúng vẫn phát huy được tác dụng ở tầm vĩ mô khi được vận dụng một cách hợp lý và linh hoạt Một học giả nổi tiếng đã nhận định:
“Càng suy xét về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, ta càng thấy Karl Marx vĩ đại.”
Trang 4
Chương I: QUAN ĐIỂM CỦA MARX VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
1 Những lý luận của Marx về khủng hoảng kinh tế và bản chất của nó
Ngay từ khi tiền tệ xuất hiện trong hang hóa giản đơn, nó đã mang trong mình mầm mống của sự khủng hoảng Đến chủ nghĩa tư bản, khi mà nền sản xuất đã được xã hội hóa cao độ, khủng hoảng kinh
tế là điều không thể tránh khỏi Sự ra đời của cuộc đại công nghiệp
cơ khí đầu thế kỉ XIX đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng mang tính chu kỳ Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuât tư bản chủ nghĩa chính là khủng hoảng sản xuất “thừa” với các biểu hiện chủ yếu sau:
Khủng hoảng sản xuất thừa của tư bản công nghiệp do sự
tắc nghẽn trong quá trình lưu thông hàng hóa của tư bản thương nghiệp
Khủng hoảng tài chính tiền tệ do sự dư thừa của các loại
giấy tờ có giá Sự dư thừa của tư bản tiền tệ trong hệ thống các ngân hàng dẫn đến những cuộc khủng hoảng tiền tệ giữa các quốc gia do sự di chuyển của các dòng vốn lưu thông, gây
nê sự thiếu tiền ở thị trường này nhưng thừa tiền ở thị trường khác
Khủng hoảng nợ công do sự dư thừa của trái phiếu Chính
phủ, thứ để biến những khoản tiền tiết kiệm cuối cùng của người dân trở thành tư bản
Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết kinh tế chính trị Marx-Lenin Theo Marx, khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thêm căng thẳng đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới Nhiều học giả cho
Trang 5rằng tự bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không phải mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hinh thái xã hội Marx viết:
“Cản trở của nền sản xuất tư bản chính là tư bản.”
Những lý luận này bao gồm:
Xu hướng giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn liền
xu hướng chung của mức độ tập chung tư bản Điều này nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và
có thể đưa đến khủng hoảng
Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc
đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung
Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu
cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế
Theo đó, khi khủng hoảng nổ ra, hàng hóa không tiêu thụ được, sản xuất
bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, công nhân thất nghiệp, thị trường rối loạn Hàng hóa bị thừa so với sức mua có hạn của quần chúng lao động phải phá hủy trong khi hàng triệu người lao động lại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán
Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên trong chủ nghĩa tư bản diễn ra ở Anh năm 1825 và cuộc khủng hoảng đầu tiên diễn ra trên quy mô toàn thế giới nổ ra năm 1847 Các cuộc khủng hoảng diễn ra mang tính chu kỳ đã gây nhiều thiệt hại cho giai cấp tư bản và đẩy người dân lao động vào
Trang 6bần cùng hóa Marx đã nói: ” Khủng hoảng kinh tế là người bạn đồng hành của chủ nghĩa tư bản.”
2 Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế dưới cái nhìn của Marx
Theo Marx, nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bắt nguồn
từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Thứ nhất, đó là những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản:
Mâu thuẫn giữa nền sản xuất đại kế hoạch của tư bản công nghiệp và giới hạn thị trường với sự gia nhập tự do của tư bản thương nghiệp làm giảm dần tỷ suất lợi nhuận bình quân
Mâu thuẫn giữa tính chuyên môn hóa trong lao động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với cơ cấu lao động bất hợp lý
Mâu thuẫn từ việc nguồn gốc giá trị thặng dư được tạo ra từ khu vực sản xuất nhưng bị tước đoạt quá nhiều do sự phát triển ngày càng phình to của khu vực phi sản xuất (chứng khoán, bất động sản)
Mâu thuẫn do mất cân đối giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng Đầu tư và tiêu dùng thường lớn hơn nhiều so với tiết kiệm khi tiền tệ được luân chuyển qua hệ thống các ngân hàng đồng thời tạo lên gánh nặng lạm phát rất cao vào các thời điểm nền kinh tế đang hưng thịnh, mở đầu cho một sự gia tăng lãi suất đột biến, dẫn đến sự bùng nổ của khủng hoảng
Thứ hai, đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội:
Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong xã hội
Trang 7 Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích lũy, mở rộng vô giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do
bị bần cùng hóa
Mâu thuẫn đối khàng giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản
và những người lao động làm thuê
Marx đã mổ xẻ những nguyên nhân cốt lõi gây nên khủng hoảng kinh tế
và điều đó không chỉ chính xác với những cuộc khủng hoảng nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX mà còn có phần đúng đắn đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay
3 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản của chủ nghĩa tư bản mang tính chu kỳ Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản
là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau Một chu kỳ kinh tế kéo dài khoảng từ 8 đến 12 năm Karl Marx chính là người đầu tiên phát hiện ra tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế gồm có bốn giai đoạn theo thứ tự: Khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh
- Khủng hoảng: Là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới Ở
giai đoạn này, hàng hóa ế thừa, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiến công
hạ xuống Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội
- Tiêu điều: Đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ,
không còn tiếp tục đi xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ giá, tư bản rảnh rỗi nhiều vì không có nơi để đầu tư Trong giai đọa này để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản trụ lại dược tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ giá tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư
Trang 8liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
- Phục hồi: Là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở
rộng sản xuất Công nhân lại được thu hút vào làm việc, mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, giá cả hảng hóa tăng lên từ đó lợi nhuận tư bản cũng tăng lên
- Hưng thịnh: Là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá thời điểm
cao nhất mà chu kỳ trước đã đạt được Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng thêm Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội Do đó lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mơi ra đời
Marx đã khẳng định rằng khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi trong thế giới tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, cần có sự can thiệp tích cực của nhà nước tư sản vào quá trình kinh tế Sự nghiệp can thiệp này
dù không triệt tiêu được khủng hoảng và tính chu kỳ của nó trong nền kinh tế nhưng cũng có thể hạn chế được những tác động xấu của khủng hoảng
4 Lý thuyết của Marx về khủng hoảng kinh tế đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua
a, Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế
Có thể miêu tả quá trình dẫn tới khủng hoảng một cách cụ thể như sau: nhà sản xuât dùng giấy ghi nợ của người tiêu dùng làm thế chấp để vay tiền ngân hàng Ngân hàng chuyến các thế chấp này thành cổ phiếu để bán trên thị trường chứng khoán Vì được dùng trước trả sau nên người tiêu dùng tăng tiêu dùng, dẫn đến tăng cầu Do tăng cầu nên nhà sản xuât tăng giá sản phẩm (dù thu về chỉ là giấy ghi nợ) do đó cổ phiếu cũng tăng giá trên thị trường chứng khoán, tạo nên một ảo tưởng là ai cũng giàu lên Dây chuyền này chỉ bị phá vỡ khi ngân hàng đòi nhà sản xuất thanh toán thực thụ và vì người tiêu dùng đã tiêu dùng vượt quá khả năng thanh toán thực thụ nên các giấy ghi nợ mà nhà sản xuất dùng làm
Trang 9thế chấp không đưa lại đúng giá trị của nó Nhà sản xuất tuyên bố vỡ nợ Giá của các cổ phiếu giảm mạnh và mất gái trị Các Ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản vì nợ xấu Lúc này Chính phủ quyết định dùng ngân sách để cứu một số ngân hàng lớn để tránh khỏi việc sụp đổ toàn
bộ hệ thống
b, Chủ nghĩa Marx và sự phê phán hệ thống TBCN
Một trong những nguyên nhân nền tảng được những người theo chủ nghĩa tân tự do nhắc đến là “sự tham lam quá độ” tính ích kỷ của con người Với cách nhìn nhận này nguyên nhân được gắn cho các cá nhân
va các bản chất cố hữu của họ, còn bản thân cấu trúc thể chế là tốt Các phân tích khác thì gán cho các tổng giám đốc các nhà điều hành không
đủ năng lực và sự công tâm Hiển nhiên, các lập luận này có phần đúng tuy nhiên cần phải thấy rằng trong một thế giới phức tạp với vô số các kênh tác động của các công cụ tài chính như hiện nay vấn đề không thể
là tìm ra người toàn tài như vậy Vấn đề chính là xây dựng một cỗ máy thể chế mà những con người như hiện tại có thể điều hành được nó
Khi nhìn nhận như vậy, người ta tất yếu sẽ quay lại với cách nhìn tổng thể kinh tế chính trị của CNTB như Marx đã từng nhìn nhận Thậm chí sâu xa hơn cỗ máy thể chế này cũng phải thúc đẩy sự phát triển của bản chất con người với các bản chất mới giá trị mới Tức là những thể chế đó
có chức năng khai mờ nhận thức, biến đổi con người trở nên vị tha và khôi phục đúng bản chất con người
Quay lại với cuộc khủng hoảng có thể thấy nguyên nhân sâu xa là bắt đầu từ cuộc khủng hoảng những năm 1970 Trong suốt thời gian này số liệu cho thấy: thu nhập thực tế của người lao động đã không tăng mặc dù năng suất lao động tăng đáng kể (wolff 2008) Nói cách khác xét về mặt tổng thể, mặc dù số lượng hàng hóa tăng lên đáng kể nhưng khả năng thanh toán cuẩ người lao động vẫn giữ nguyên Do vậy, việc cho vay tiêu dùng là tất yếu Việc cho vay như vậy rõ ràng chỉ có thể trì hoãn được khủng hoảng chứ không chữa được căn bệnh kinh niên là người lao động tiêu dùng phần không thuộc về mình trong tổng sản phẩm
Trang 10Phần không thuộc về mình là phần mà đáng ra nó (sản phẩm thặng dư đó) phải thuộc về người lao động, nhưng cấu trúc sở hữu và hệ thống chính trị pháp lý đã đảm bảo rằng nó thuộc về giới chủ tư bản Đây là nguyên nhân sâu xa nhất mà nếu không giải quyết được mức hệ thống sẽ không bao giờ giải quyết được căn bệnh khủng hoảng chu kỳ
Ngoài ra khi nhìn vào hệ thống kinh tế TBCN hiện đại, sự cạnh tranh vì lợi nhuận đã dẫn đến các doanh nghiệp, vốn có tính chất công, như các doanh nghiệp đánh giá mức độ rủi ro, cung cấp thông tin về khả năng sinh lợi của các giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, ) lại không có động
cơ làm tốt việc đó Chính vì thiếu các thông tin và sự kiểm soát này mà mâu thuẫn nền tảng giữa chủ và thợ về phân phối lợi ích ròng, giá trị thặng dư đã được che dấu và tích tụ dưới sự phức tạp của các công cụ tài chính, các bong bóng chứng khoán hay bất động sản cho đến khi chúng chạm trần giới hạn
c, Các ý nghĩa chính trị
Với tất cả sự hồi sinh của cách nhìn phê phán Marx, cần phải nói rằng việc hệ thống TBCN có các nhược điểm như vậy không chứng tỏ việc hơn hẳn của hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung XHCN như đã từng có Cũng như việc chỉ ra người khác xấu cũng chưa chứng tỏ rằng mình là người tốt, và đây là điều cần cảnh báo đầu tiên bởi vì chúng ta đã thấy
có những kết luận khoa học kiểu này, và thậm chí còn được tán đống bởi các nhóm lợi ích muốn giữ nguyên trạng những điều bất hợp lý Theo nhiều chỉ số kinh tế, hệ thống kinh tế như hiện tại của chúng ta cũng chưa có gì để khẳng định tính ưu việt
CHƯƠNG II: CUỘC ĐẠI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929 – 1933
1 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 bắt nguồn từ các nước
tư bản với sự chạy đua sản xuất hàng loạt hàng hóa số lượng lớn, mong