1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Thực trạng phân công lao động xã hội hiện nay

21 261 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 110,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi thời kì đều tồn tại những ngành, phân ngành mang tính đột phá cho phát triển kinh tế, đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế nhanh. Sự xuất hiện các ngành, phân ngành khiến cho tăng trưởng kinh tế vừa mang tính khách quan đồng thời mang tính chủ quan. Về mặt khách quan, đối với mỗi hệ tống kinh tế, với những điều kiện nhất định cùng những quy luật phát triển của hệ thống chúng sẽ tồn tại tương ứng những ngành, phân ngành có khả năng đột phá trong từng thời kỳ. Vấn đề là con người có xác định được chính xác ngành, phân ngành mà đem lại hiệu quả kinh tế cao hay không. Về mặt chủ quan, là với một nền kinh tế nhất định, con người với tư cách là chủ thể hệ thống kinh tế, bằng sự hiểu biết của mình có thể xác định được những ngành, phân ngành nào sẽ tạo ra những thay đổi nhanh hơn, tốt hơn, mang lại lợi ích cao cho nền kinh tế. Việc xác định những ngành phân ngành sao cho phù hợp và có hiệu quả cho kinh tế là những phân công cho lao động xã hội. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhiều giải pháp tạo việc làm cho người lao động, giải quyết vấn đề lao động – việc làm đã được các cấp, các ngành quan tâm nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội. Tuy nhiên, chất lượng lao động hạn chế đang ngày càng gây nên những áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Do vậy, em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng phân công lao động xã hội hiện nay” để làm rõ thực trạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề tài: Thực trạng phân công lao động xã hội hiện nay

Họ và tên: Phạm Thị Hà Vy

Lớp: Anh 13 - K59 – Cơ sở Quảng Ninh

Chuyên ngành: Kế toán - Kiểm toán Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Văn Vinh

QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021

Trang 3

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI 2

1.1 Khái niệm, đặc điểm và tác dụng của phân công lao động xã hội 2

1.1.1 Khái niệm phân công lao động xã hội 2

1.1.2 Đặc điểm của phân công lao động xã hội 2

1.1.3 Tác dụng của việc phân công lao động xã hội 3

1.2 Khái niệm, yêu cầu và ý nghĩa của phân công lao động và hiệp tác lao động, các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp 4

1.2.1 Khái niệm phân công lao động và hiệp tác lao động 4

1.2.2 Yêu cầu của phân công lao động và hiệp tác lao động 5

1.2.3 Ý nghĩa của phân công lao động và hiệp tác lao động 5

1.2.4 Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp 6

Chương II: THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI HIỆN NAY 8

2.1 Thực trạng lực lượng lao động tai Việt Nam 8

2.2 Một số vấn đề đặt ra 9

Chương III: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÂN CỘNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 11

3.1 Những định hướng về phân công lao động xã hội của nước ta hiện nay 11

3.2 Giải pháp phát triển thị trường lao động xã hội 12

KẾT LUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Nền kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi thời kì đều tồn tại những ngành, phân ngànhmang tính đột phá cho phát triển kinh tế, đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế nhanh

Sự xuất hiện các ngành, phân ngành khiến cho tăng trưởng kinh tế vừa mang tínhkhách quan đồng thời mang tính chủ quan Về mặt khách quan, đối với mỗi hệ tốngkinh tế, với những điều kiện nhất định cùng những quy luật phát triển của hệ thốngchúng sẽ tồn tại tương ứng những ngành, phân ngành có khả năng đột phá trongtừng thời kỳ Vấn đề là con người có xác định được chính xác ngành, phân ngành

mà đem lại hiệu quả kinh tế cao hay không Về mặt chủ quan, là với một nền kinh

tế nhất định, con người với tư cách là chủ thể hệ thống kinh tế, bằng sự hiểu biếtcủa mình có thể xác định được những ngành, phân ngành nào sẽ tạo ra những thayđổi nhanh hơn, tốt hơn, mang lại lợi ích cao cho nền kinh tế Việc xác định nhữngngành phân ngành sao cho phù hợp và có hiệu quả cho kinh tế là những phân côngcho lao động xã hội Cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhiều giải pháp tạo việclàm cho người lao động, giải quyết vấn đề lao động – việc làm đã được các cấp,các ngành quan tâm nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chínhtrị - xã hội Tuy nhiên, chất lượng lao động hạn chế đang ngày càng gây nên những

áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Do vậy, em đãlựa chọn đề tài “Thực trạng phân công lao động xã hội hiện nay” để làm rõ thựctrạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 5

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI

1.1 Khái niệm, đặc điểm và tác dụng của phân công lao động xã hội

1.1.1. Khái niệm phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội trong tiếng Anh được gọi là Social division of labor.

Được hiểu làviệc chuyên môn hoá người sản xuất, mỗi người chỉ sản xuất mộthoặc một vài sản phẩm nhất định, hay nói cách khác: Sự phân công lao động xãhội là cách điều chỉnh hạn chế một cách thích ứng những cá nhân vào những lĩnhvực nghề nghiệp đặc thù, chúng gắn liền với chuyên môn hóa sản xuất - kinhdoanh, nên mang ý nghĩa tích cực tiến bộ và là biểu hiện của trình độ phát triểnkinh tế - xã hội

-Ta có 2 loại phân công lao động xã hội:

 Phân công lao động chung: Phân công lao động trong nội bộ nền kinh tếquốc dân, tức là chia các hoạt động của nền kinh tế thành các ngành riêngbiệt như công nghiệp, nông nghiệp, vận tải

 Phân công lao động riêng (Phân công lao động đặc thù): Là phân chia sảnxuất thành những ngành và phân ngành như công nghiệp khai thác, côngnghiệp chế biến, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi

1.1.2 Đặc điểm của phân công lao động xã hội

Tiền đề vật chất của sự phân công lao động trong xã hội là số lượng dân cư và mật

độ dân số.phải có một mật độ dân số nào đó để có thể phát triển nột cách thuận lợicho những giao dịch xã hội, cũng như để phối hợp các lực lượng nhờ thế mà năngxuất lao động tăng lên, khi số lượng công nhân tăng lên (do dân số tăng lên) thì sức

Trang 6

sản xuất của xã hội càng tăng lên theo tỷ lệ kép của sự tăng lên đó, nhân với hiệuquả của sự phân công lao động.

Sự phân công lao động được hình thành khi có sự phân tán tư liệu sản xuất vào taynhiều người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau Sự phân công lao động xã hộixâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của xã hội và đạt những người sản xuất hàng hoáđộc lập "đối diện" với nhau, những người này chịu sự tác động rất lớn của quy luậtcạnh tranh

Cơ sở của mọi sự phân công lao động phát triển là lấy trao đổi hàng hoá làm mỗigiá và có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn

Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là :quyền lực càng ít chi phối

sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công lao độngtrong xí nghiệp sản xuất ngày càng phát triển bấy nhiêu, và ở đấy nó lại càng phụthuộc vào quyền lực của một cá nhân

1.1.3 Tác dụng của việc phân công lao động xã hội

Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hànghoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động trở thành hànghoá

Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệp chuyênmôn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất

Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoá đặc trưng

sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh của vùng Sựphân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ nào đó thì sẽdẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, các hãng sản xuất -điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia nhỏ,sản phẩm được

Trang 7

hoàn thiện về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Sự phâncông lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc sản xuất đi vào chuyênmôn hoá, nâng cao tay nghề của người sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội.

1.2 Khái niệm, yêu cầu và ý nghĩa của phân công lao động và hiệp tác lao động, các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm phân công lao động và hiệp tác lao động

- Phân công lao động là sự phân chia lao động để sản xuất ra một hay nhiều sảnphẩm nào đó mà phải qua nhiều chi tiết, nhiều công đoạn cần nhiều người thựchiện Có hai loại phân công lao động, đó là:

 Phân công lao động cá biệt là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá trình

sản xuất trong từng công ty, xí nghiệp, cơ sở Ví dụ: sản xuất ra cái bàn thì

cần người cưa, người bào, người đục Sản phẩm của họ làm ra chỉ nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất Vì vậy, kiểu sản

xuất này được gọi là sản xuất tự cấp tự túc, do đó sản phẩm của họ làm rakhông có tính trao đổi hoặc mua bán trên thị trường nên chưa được gọi làhàng hóa

 Phân công lao động xã hội là chuyên môn hóa từng ngành nghề trong xã hội

để tạo ra sản phẩm Ví dụ: sản xuất một chiếc xe máy, các chi tiết như lốp

xe, sườn, đèn, điện mỗi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sản xuất chi tiết đó cung cấp, sau đó mới lắp ráp thành chiếc xe máy Các sản phẩm này

không còn giới hạn ở nhu cầu sử dụng của người sản xuất mà nó được traođổi, mua bán, được lưu thông đến người sử dụng trong xã hội, lúc này sảnphẩm đó được gọi là hàng hóa

- Hiệp tác lao động là một quá trình mà ở đó nhiều người cùng làm việc trongmột quá trình sản xuất, hay ở nhiều quá trình sản xuất khác nhau nhưng có liên

hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau để nhằm một mục đích chung

Trang 8

1.2.2 Yêu cầu của phân công lao động và hiệp tác lao động

- Đảm bảo sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của phân công lao động vớitrình độ phát triển của kỹ thuật và công nghệ, với các yêu cầu khách quan củasản xuất

- Đảm bảo mỗi người có đủ việc làm trên cơ sở sức lao động khoa học; công việcphải phù hợp với năng lực, sở trường và đào tạo của mỗi người; nhằm mục đíchphát triển con người một cách toàn diện

- Đảm bảo sự dụng một cách hiệu quả nhất mọi nguồn lực trong doanh nghiệp(vốn – vật tư – kỹ thuật và lao động)

 Tuy nhiên, phân công và hiệp tác lao động trong doanh nghiệp cũng phải cầnchú ý đến những giới hạn của nó Các giới hạn đó thể hiện trên các mặt: kỹthuật – công nghệ, kinh tế, tâm – sinh lý lao động, xã hội, tổ chức

1.2.3 Ý nghĩa của phân công lao động và hiệp tác lao động

- Ý nghĩa của phân công lao động:

• Trước hết, nhờ có sự phân công lao động mà tất cả các cơ cấu về lao độngtrong doanh nghiệp được hình thành tạo nen một bộ máy với tất cả các bộphận, chức năng cần thiết theo các tỷ lệ tương ứng với yêu cầu của sản xuất

• Phân công lao động cũng cho phép các cá nhân và mỗi tập thể có điều kiệnthực hiện chuyên môn hóa sản xuất, nhờ đó mà họ sẽ nhanh chóng tích lũykinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng công tác, nâng cao năng suất laođộng

• Đối với doanh nghiệp, nhờ có chuyên môn hóa mà doanh nghiệp giảm đượcchi phí đào tạo, lại có điều kiện thiết kế và sử dụng các máy móc và cáctrang thiết bị chuyên dung, vừa góp phần nâng cao năng suất lao động, vừađảm bảo chất lượng sản phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh dạt tới hiệuquả kinh tế cao

Trang 9

- Hiệp tác lao động trong doanh nghiệp nhằm phối hợp một cách thuyết phục vàhài hòa nhất mọi cố gắng của mỗi cá nhân và tập thể trong một điều kiện tổ chức -kinh tế - kỹ thuật - xã hội xác định, nhằm sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vật chấthiện có Hiệu quả xã hội của sự hiệp tác là tăng khả năng làm việc của từng cánhân do có sự tiếp xúc xã hội mà nảy sinh việc thi đua giữa những người cùng sảnxuất và xuất hiện những động cơ mới, kích thích mới trong mối quan hệ giữa ngườivới người trong lao động.

1.2.4 Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp

- Phân công lao động theo công nghệ (theo ngành nghề):Là hình thức phân công

dựa theo tính chất qui trình công nghệ để bố trí lao động sản xuất Theo hình thứcphân công này có các cách phân công chủ yếu sau đây:

+ Phân công dựa theo ngành nghề: (Ví dụ: phân công bố trí vào các ngành: giacông cơ khí nguội, ngành đúc, ngành điện,…)

+ Căn cứ vào các giai đoạn công nghệ chủ yếu để phân công: (công nghệ tiện,phay, bào,…)

+ Các nguyên công

+ Các sản phẩm chi tiết

- Phân công theo mức độ phức tạp công việc

Hình thức này căn cứ vào độ phức tạp công việc để bố trí nhân lực có ngành nghềtương ứng (Ví dụ: trong sản xuất người ta dựa vào cấp bạc kĩ thuật để xác địnhmức độ phức tạp của công việc để bố trí lao động có cấp bậc tương ứng như côngnhân bậc 1, bậc 2, bậc 3,…đến bậc 7)

Trang 10

Chương II:THỰC TRẠNG PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI HIỆN NAY

2.1 Thực trạng lực lượng lao động tại Việt Nam

Trang 11

Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầubước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trướcđến nay Tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữchiếm khoảng 48,94% Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo gia tăng vềlực lượng lao động Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu ngườibước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Namtrong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn

nữ với trên 50% lao động là nam giới Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể

và cho thấy lao động nữ chiếm một lượng đông đảo Tỷ lệ thất nghiệp của lao động

nữ khá cao so với lao động nam do hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫn giữasinh đẻ và làm việc, cơ hội tìm được việc làm vừa ý sau khi sinh là thấp

Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sôngHồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung(trên 21%) và Đồng bằng sông Cửu Long Đây là các khu vực có diện tích đấtrộng, tập trung nhiều thành phố lớn, khu đô thị và nhiều khu công nghiệp, thuận lợicho việc sản xuất kinh doanh nên thu hút đông đảo lao động tập trung ở những khuvực này Những khu vực chiếm tỷ lệ thấp, là những khu vực có diện tích đất hẹp,nhiều đồi núi, ít khu đô thị và khu công nghiệp nên không thu hút nhiều lao độngđến đây

Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôn cũng có

sự chênh lệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ởkhu vực nông thôn, chiếm khoảng gần 70% Con số này có xu hướng giảm qua cácnăm nhưng vẫn ở mức cao Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn

có độ tuổi từ 15-30, chiếm 70% số thanh niên và 60% lao động nông thôn Tuy

Trang 12

nhiên, 80% trong số này chưa qua đào tạo chuyên môn Đặc điểm này là trở ngạilớn cho lao động nông thôn trong tìm kiếm việc làm Tính đến năm 2017, dân sốtrong độ tuổi lao động của Việt Nam là hơn 72,04 triệu người (chiếm khoảng 75%tổng dân số cả nước), trong đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 75,5%, với54,4 triệu người So với năm 2010 (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 75%), lựclượng lao động tính đến năm 2017 tăng cả về tỷ lệ và số lượng tuyệt đối.

2.2 Một số vấn đề đặt ra

Thời gian qua, mặc dù lực lượng lao động tăng cả về số lượng và trình độchuyên môn, song vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với lực lượng lao động ViệtNam hiện nay, cụ thể:

- Lao động phân bổ không đều giữa các vùng: Các vùng đất rộng có tỷ trọng laođộng thấp (vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lực lượng laođộng, Tây Nguyên chiếm 6,5% lực lượng lao động), phân bổ lao động chưa tạođiều kiện phát huy lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và tác độngtích cực đến sự di chuyển lao động từ các vùng nông thôn ra thành thị Năm 2017,lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở các vùng Đồng bằng Sông Hồng (21,8%),Đồng bằng Sông Cửu Long (19,1%), Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung(21,6%), các vùng còn lại chiếm 17,2%

- Chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưađáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luônxảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động một

số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin viễn thông, du lịch…) và côngnghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực

và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp Tìnhtrạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả về chiều cao, cân

Trang 13

nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ làm việc vànhững yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Kỷ luật laođộng của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quátrình sản xuất công nghiệp Một bộ phận lớn người lao động chưa được tập huấn về

kỷ luật lao động công nghiệp Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nôngnghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tùy tiện

về giờ giấc và hành vi Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹnăng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại pháthuy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc

- Còn nhiều rào cản, hạn chế trong dịch chuyển lao động: Phần lớn lao động di

cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập, chữabệnh trình độ học vấn của lao động di cư thấp và phần đông chưa qua đào tạonghề Hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất – nơi sử dụng đến 30% laođộng di cư không có dịch vụ hạ tầng xã hội (ký túc xá, nhà trẻ, nhà văn hóa, đàotạo nghề, tham gia bảo hiểm xã hội…), lao động di cư ít có cơ hội tiếp cận với cácdịch vụ xã hội cơ bản Tình trạng trên dẫn tới hậu quả là nguồn cung lao độngkhông có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu côngnghiệp, khu chế xuất

Ngày đăng: 23/07/2021, 18:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w