1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC

29 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 179,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề của kinh tế học vĩ mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng. Lạm phát đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế. Để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức độ thấp đó là những mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Không có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về chính sách. Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. Chúng ta phải tìm hiểu xem lạm phát là gì? Do đâu mà có lạm phát? Tại sao người ta lại quan tâm đến lạm phát? Bài viết này sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng chứng thực nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như đưa ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

CƠ SỞ QUẢNG NINH

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ CỦA NHÀ NƯỚC

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Bảo Ngọc

Mã SV:2014815030 Lớp: Anh 13– KTKT – K59 Giảng viên hướng dẫn : Thạc Sĩ Hoàng Văn Vinh

Quảng Ninh, 6/2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I: 5

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5

I Khái niệm về lạm phát 5

1) Lạm phát là gì? 5

2) Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 5

3) Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh 5

4) Nguyên nhân gây lạm phát 6

5) Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 6

II Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại 6

1) Quan niệm thứ nhất 7

2) Quan niệm thứ hai 7

3) Quan niệm thứ ba 8

CHƯƠNG II: 9

THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 9

I Nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát 9

1) Lạm phát do cầu kéo 9

2) Lạm phát do chi phí đẩy 9

3) Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung 10

4) Những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác 10

II Diễn biến tình trạng lạm phát ở nước ta hiện nay 11

III Nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta 12

1) Lạm phát do yếu tố tiền tệ 12

2) Lạm phát do cầu kéo 13

3) Lạm phát do chi phí đẩy 14

4) Một số nguyên nhân khác 15

IV Tác động của lạm phát đến mọi mặt đời sống 16

1) Thị trường tài chính 16

2) Doanh nghiệp 16

3) Nông dân, người lao động nghèo 17

4) Sinh viên 17

Trang 3

CHƯƠNG III: 18

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT CỦA CHÍNH PHỦ 18

I Cách thức áp dụng để kiếm chề: giảm thuế nhập khẩu , giãn nợ, bù giá, cho các doanh nghiệp nhập khẩu và sử dụng nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, … 18

II Các biện pháp thắt chặt tiền tệ 18

III Chính phủ ban hành nghị quyết số 11/NQ – CP 19

IV Một số biện pháp khác 20

KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề của kinh tế học vĩ

mô Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng Lạm phát đã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế

Để triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức độ thấp đó là những mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước Không có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi

có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của nhiềucuộc tranh luận về chính sách

Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên cứu lạm phát là một vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh

tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta Chúng ta phải tìm hiểu xem lạm phát

là gì? Do đâu mà có lạm phát? Tại sao người ta lại quan tâm đến lạm phát?

Bài viết này sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết, các bằng chứng thực nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như đưa

ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian tới

Trang 5

CHƯƠNG I:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ

I Khái niệm về lạm phát

1) Lạm phát là gì?

- Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi Khi mức gia tăng lên được gọi là

lạm phát, khi mức giá giảm xuống thì được gọi là giảm phát Vậy, lạm phát là

sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian

- Cố định lạm phát ở mức thấp là môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi để khuyến

khích tiết kiệm, mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cả lạm phátquá cao và lạm phát quá thấp đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinhtế

2) Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

- Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền kinh tế đang tăng

trưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối mang tính cơ cấu Các nhà

cơ cấu tin rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đánh đổilẫn nhau Những nỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm tăng thấtnghiệp và gây ra tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng trưởngkinh tế Một xã hội dành cho ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạmphát đi kèm với nó

3) Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh

- Để phản ánh tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP – một

chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế

- Để phản ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế, người ta thiết lập mô hình tăng

trưởng kinh tế có tên là: “ mô hình solow ” Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởngcủa tiết kiệm, tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo

Trang 6

thời gian của sản lượng Mô hình còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sựkhác biệt lớn về mức sống giữa các nước.

- Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc nào dương mà trong thời kì

khủng hoảng, nền kinh tế suy thoái thì mức tăng trưởng kinh tế đạt giá trị âm

4) Nguyên nhân gây lạm phát

- Cung ứng tiền tệ và lạm phát

- Chi tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát

- Thâm hụt ngân sách và lạm phát

- Lạm phát theo tỷ giá hối đoái

5) Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

- Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề kinh tế

trong nền kinh tế Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng

nó lại là hai vấn đề luôn tồn tại song song

- Trong thực tế, không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng không tránh

khỏi lạm phát Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải quacác cuộc khủng hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng những quy mô khác nhau

Tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lươngdanh nghĩa của các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽgiảm đi Để tồn tại các công nhân sẽ đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và chosản xuất trì trệ, đình đốn khiến cho các nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độtăng trưởng kinh tế giảm Khi nền kinh tế gặp khó khăn, suy thoái sẽ làm thâmhụt ngân sách và đó là điều kiện, nguyên nhân gây ra lạm phát

- Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất nhanh, khi đó

người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ Tệ nạn tham nhũng tăng cao, nạnbuôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế vàthuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước bị tổn hạinặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm phátcao

Trang 7

II Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử kinh tế cận đại

- Trong lịch sử, tình trạng làm phát được coi là xảy ra khi nào khối tiền tệ lưu

hành quá thưa đối với nhu cầu của nền kinh tế Để xét đoán tình trạng đó, cácnhà kinh tế đã có ba quan niệm kế tiếp nhau trong thời gian Ba quan niệm nayphù hợp với trình độ hiểu biết càng ngày cao hơn về mối tương quan giữa tiền

tệ và kinh tế

1) Quan niệm thứ nhất

- Cho rằng có lạm phát khi số tiền lưu hành so với trữ kim của ngân hàng phát

hành quá nhiều Tuy quan niệm ngày nay đã lỗi thời, chúng ta cần xem xét nó.Vào nửa sau thế kỉ 19, khi chế độ kim bản vị thỉnh hàng, quan niệm lạm phátnày là một quan niệm thông thường

- Quan niệm này quá đơn giản, bởi vì tỷ lệ bảo đảm là một tiêu chuẩn quá cứng

rắn Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôntrọng mà lạm phát vẫn xảy ra, bởi vì giá cả mọi thứ đều lên cao, hàng hoá khanhiếm, …

2) Quan niệm thứ hai

- Là một quan niệm đã được phổ biến sau cuộc thế chiến thứ nhất kể từ cuộc

khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, quan niệm này có thể coi là một quan niệmtĩnh, về lạm phát, người ta so sánh hai khối: khối hàng hoá và dịch vụ có thểđem bán trên thị trường và khối tiền tệ mà nhân dân có thể sử dụng mua hàng

- Nếu hai khối này có giá trị ngang nhau, tính theo mức giá cả hiện hữu, thì

không có lạm phát hay giảm phát Nếu vì lý do gì đó khối tiền tệ tăng thêmtrong khi khối hàng hoá và dịch vụ vẫn không thay đổi, tức là áp lực lạm phátxuất hiện Khối tiền tệ càng tăng thêm thì áp lực lạm phát ngày càng nặng hơn,tình trạng này khiến cho giá mọi hàng hoá, dịch vụ đều tăng cao Nếu giá đótiếp tục tăng thì dân cư lại cần nhiều tiền hơn để sản xuất, trao đổi, … Do đó

Trang 8

ngân hàng lại phát hàng thêm tiền, các nhà kinh tế gọi là nạn “lạm phát tựdưỡng”.

- Quan niệm tĩnh về lạm phát tuy giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng

không cho biết rõ nguyên nhân của lạm phát Chính vì thế mà từ sau cuộckhủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã xuất hiện một quan niệm mới có tính cáchđộng về lạm phát

3) Quan niệm thứ ba

- Trong sự tung thêm tiền vào bộ máy kinh tế, cần phân biệt 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Trong đó nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng Trong giai đoạnnày, sự tung tiền không hề đưa tới lạm phát, nhưng tới một lúc nào đó sự tắc nghẽn

có thể xuất hiện trong một vài lĩnh vực hay trong tất cả các lĩnh vực Lúc đó người

ta bước vào giai đoạn hai, tức là giai đoạn nền kinh tế đã toàn dụng

+ Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này, nếu người ta tiếp tục tung thêm tiền vào bộmáy kinh tế tất nhiên khối hàng hoá và dịch vụ sẽ không sao tăng bằng khối tiền

tệ Nạn lạm phát lúc đó xảy ra và dấu hiệu của nó là sự tăng gia của mọi giá cả, giátrị của tiền ngày càng giảm bớt

Trang 9

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

I. Nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát

- Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại, mọi

nền kinh tế tiền tệ Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế tiền tệ, thì còn lạm phát,người ta chỉ có thể kiềm chế mức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triểnnền kinh tế, mà ít gây ra những hậu quả tai hại Từ đó, có thể phân định nhiềumức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, từ lạm phát

“nước kiệu” (chung quanh 10%) tới lạm phát “phi mã”, thậm chí là siêu tốc, tức

là tình trạng bùng nổ giá cả hoàn toàn không thể kiểm soát được, trong trườnghợp này dấu hiệu tiền tệ hầu như không còn ý nghĩa nữa

1) Lạm phát do cầu kéo

- Khi nền kinh tế đạt tới hay vượt quá sản lượng tiềm năng, việc tăng tổng mức

cầu dẫn tới lạm phát được gọi là lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu

- Số cầu tăng là do tổng khối lượng tiền lưu hàng (M) tăng hoặc do tốc độ lưu

thông tiền tệ (V) tăng số lượng tiền tệ tăng do nhiều yếu tố, trong đó quantrọng hơn hết và thường xảy ra hơn hết là do thiếu hụt ngân sách nhà nước.Thiếu hụt này được tài trợ bằng nhiều cách: phát hành trái phiếu, vay mượn

ở nước ngoài và nay mượn ở ngân hàng trung ương

2) Lạm phát do chi phí đẩy

- Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các

yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, chúng ta gọi đó là lạm phát do chiphí đẩy vấn đề đặt ra là tại sao chi phí tăng lên? Nhiều nhà kinh tế cho rằngtiền lương tăng lên là một nguyên nhân đẩy chi phí tăng lên khi tốc độ tăng

Trang 10

tiền ltrong cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động Một số nhà kinh tế chorằng việc đẩy chi phí tiền ltrong tăng lên là do các công đoàn gây sức ép Tuynhiên một số nhà kinh tế khác lại cho rằng chính công đoàn đã đóng vai tròquan trọng trong việc làm giảm tốc độ tăng của lạm phát và giữ cho lạm phátkhông giảm xuống quá nhanh vì các họp đồng ltrong của công đoàn thường

là dài hạn và khó thay đổi Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu,nguyên vật liệu cơ bản như dầu mỏ, sắt thép cũng làm cho giá cả của nótăng lên và đẩy chi phí sản xuất tăng lên, dẫn đến sức ép đòi tăng giá bán

3) Lạm phát do những nguyên nhân liên quan đến sự thiếu hụt mức cung

- Khi nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng, nghĩa là các yếu tố sản xuất: nhân

công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị gần như đã được khai thác tối ưu.Khi đó, mức cung hàng hóa và dịch vụ trên thị trường có khuynh hướng giảmdần Bên cạnh đó, tình trạng tắt nghẽn của thị trường cũng làm giới hạn mứccung hàng hóa Đó là tình trạng mất cân đối các yếu tố sản xuất giữa các khuvực nhưng thị trường lại không tạo ra cơ chế điều phối có hiệu quả, khiến chokhối lượng hàng hóa không đáp ứng tốt nhu cầu tăng lên của thị trường.Hàng hóa khan hiếm làm cho giá cả tăng lên, đó là hậu quả tất yếu Cũngcần lưu ý rằng, ngay lúc nền kinh tế chưa đạt tới mức toàn dụng nhưng nếu cơcấu kinh tế tổ chức bất họp lý thì cũng không cho phép tạo ra khối lượng hànghóa và dịch vụ đầy đủ để thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng của thị trường.Trường họp này cũng làm nảy sinh hiện tượng lạm phát

4) Những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác

* Nguyên nhân chủ quan: chính sách quản lý kinh tế không phù họp của nhà

nước như chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất làm cho nền kinh tếquốc dân bị mất cân đối, kinh tế tăng trưởng chậm ảnh hưởng đến nền tàichính quốc gia Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì điều tất yếu lànhà nước phải tăng chỉ số phát hành tiền Đặc biệt đối với một số quốc gia,

Trang 11

trong những điều kiện nhất định, nhà nước chủ trương dùng lạm phát như mộtcông cụ để thực thi chính sách phát triển kinh tế.

* Nguyên nhân khách quan: thiên tai, chiến tranh, tình hình biến động của

thị trường nguyên vật liệu, nhiên liệu trên thế giới

II Diễn biến tình trạng lạm phát ở nước ta hiện nay

- Nền kinh tế Việt Nam hiện đang đứng trước nguy cơ lạm phát phi mã, với

tỷ lệ thuộc hàng cao nhất trong khu vực Bốn tháng liền, chỉ số CPI ở ViệtNam đều ở mức hai chữ số Tỷ lệ lạm phát tháng Hai lên tới 12,31%, cao nhấttrong hai năm nay So với tháng Một, chỉ số CPI vào tháng Hai tăng 2,1%,mức tăng nhanh nhất tính theo từng tháng kể từ tháng Sáu năm 2008 Vàotháng Một, chỉ số CPI tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước, và đã tăng1,74% so với tháng 12 năm 2010 Tính từ đầu năm, biểu đồ CPI chưa hề ghinhận con số âm nào

- Nhìn lại diễn biến CPI 6 tháng đầu năm 2011, có 2 điểm đáng lưu ý: một là

CPI không giảm hoặc tăng thấp ở tháng sau Tết Nguyên đán mà lên đến đỉnhcủa nửa đầu năm; hai là CPI giảm tốc rất nhanh, Cùng lúc Chính phủ “bungra” một loạt chính sách điều chỉnh giá cả điện, xăng dầu, than… Sau giaiđoạn dài kìm nén, CPI tháng 4-2011 tăng đột biến và cao hơn cả tháng Tếtnguyên đán trước đó Tuy nhiên, ngay lập tức các giải pháp thắt chặt tiền tệ,tài khóa đã được áp dụng để hỗ trợ kiểm soát lạm phát CPI tháng 9 chỉ tăng0.82% mức thấp nhất trong 12 tháng qua kể từ 9/2010 Điều này phát đi tínhiệu cho thấy chính sách thắt chặt của chính phủ đã phát huy tác dụng

- Trong các nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, chỉ có giá bưu chính viễn thông

do công nghệ tiến bộ nhanh, có cạnh tranh mạnh giữa các doanh nghiệp nêngiá có giảm (1.68%) , còn tất cả các nhóm khác giá đều tăng Điều đó chứng

tỏ yếu tố tiền tệ vẫn còn tác động mạnh đến lạm phát, nên mới làm cho giácủa tất cả các nhóm hàng đều tăng Tốc độ tăng dư nợ tín dụng cao chứng tỏtiền từ ngân hàng ra lưu thông tăng cao, tạo áp lực cho lạm phát

Trang 12

- Nhìn chung giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao 3,01% (trong đó lương

thực tăng 1,77%; thực phẩm tăng 3,53%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,67%)Nhóm hàng này tăng cao không chỉ bởi khó khăn trong nước (thiên tai, thayđổi khí hậu, diện tích đất canh tác giảm, dịch bệnh, chi phí đầu vào tăng) màcòn bởi giá thế giới tăng cao, kéo theo giá trong nước tăng lên Theo tính toáncủa Liên hợp quốc, Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) và Ngânhàng thế giới, bước sang năm 2011, chỉ số giá lương thực trên thế giới tăng28.3% so với giữa năm 2010 Do nhóm hàng này chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng của dân cư nên đã tác động lớn đến tốc

độ tăng giá chung

- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở,điện, nước, chất đốt và

vật liệu xây dựng) giá tăng cao nhất với 3.19% càng làm cho mong muốn cảithiện về nhà ở của những người có nhu cầu thực, nhất là những người có thunhập thấp trở lên xa vời

III Nguyên nhân gây ra lạm phát ở nước ta

- Chúng ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế Nguyên

nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nộitại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phátViệt Nam năm 2011 chính là yếu tố tiền tệ

1) Lạm phát do yếu tố tiền tệ

- Có thể nhận định, nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không

phải do các yếu tố bên ngoài Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Namluôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đốithủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự

- Ở các nước này, nhìn chung mức lạm phát luôn thấp hơn mức tăng trưởng

GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%), trong khi từ năm 2004 đến nay, lạmphát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP Cá biệt năm 2008 lên đến23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở mức 11,75%, gấp gần 2

Trang 13

lần mức tăng GDP; và chỉ mới 4 tháng đầu năm 2011 lạm phát đã gần 2 consố.

- Mức tăng tiền quá cao so với mức tăng hàng hóa đã dẫn đến lạm phát Nói

một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do ba nguyênnhân cơ bản sau:

 Do đầu tư công quá mức: Không thể phủ nhận sự cần thiết của đầu tư công.Nhưng nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực đem lại lợi ích lớncho cả nền kinh tế nhưng tư nhân không có động cơ để làm hoặc làm không

có hiệu quả Trên thực tế nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt độngkinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân Với mứcchi tiêu của khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư)trong những năm vừa qua luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nướcbằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu tư toàn xã hội) là một mức quácao Mức chi tiêu này ắt hẳn là một mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng vànhững hợp đồng có nhiều ưu ái cho một số đối tượng như phân tích dưới đây

 Sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp (khu vực thịtrường) Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một

số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự

ưu ái trong việc phân bổ vốn Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phítrong thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví

dụ rất điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước

 Việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phátluôn cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Như nhiềulần tôi đã phân tích, khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóacủa các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) trởnên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu Điều này làm cho một lượng hànghóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh tranhcủa các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút Bên cạnh đó, việc nền kinh tế quámở: kim ngạch nhập khẩu có lúc chiếm tới 80% GDP, gây ra nhập siêu là mộtcăn nguyên dẫn tới lạm phát Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng vớichính sách điều hành tỷ giá như trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong

Trang 14

nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách luôndai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn ở mức rất cao.

2) Lạm phát do cầu kéo

- Bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền –

hàng với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loạihàng hóa), đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúnglúc, đúng địa chỉ , giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêudùng Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùngcuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10%hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp Khi tổngcầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất

dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng, lạmphát ) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô )

- Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1%

trong thời kỳ 2001- 2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010 Tiêu dùngcuối cùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005lên 72,2% thời kỳ 2006-2010 Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009của Việt Nam là 72,8%, trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%,Singapore 52,4%, Malaysia 64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ69,6%, Hàn Quốc 70,3% ) Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao vàtăng lên, có một phần do quy mô GDP bình quân đầu người thấp, có một phần

do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; nhưng có một phần do đã xuất hiện tìnhtrạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của một bộ phận dân cư

- Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên

qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1

tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010).Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đóđáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhậpkhẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực

Ngày đăng: 23/07/2021, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w