Việt Nam là đất nước có một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời với hơn 70% dân số làm nông nghiệp. Vì thế, dù ở thời kỳ nào, người nông dân, nông thôn và kinh tế nông nghiệp cũng có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước. Nhận thức được đúng đắn tầm quan trọng này đảng và nhà nước đặc biết chú trọng đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn. Điều này đã được thể hiện rất rõ ràng trong một số chỉ thị, nghị quyết của một số Đại hội VI, VII, VIII. Đặc biệt biệt trong Đại hội XI, nghị quyết TW 5 về “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triện nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 20012010” đã nhấn mạnh “...Ra sức bồi dưỡng dức dân ở nông thôn và phát huy vai trò của gia cấp nông dân trong sự đổi mới, tập trung chỉ đạo và tạo ra các nguồn lực cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn toàn diện...” và rất nhiều nghị quyết khác nhắc tới quá kình công nghệ, hiện đại hóa nông nghiệp. Tuy vậy nông nghiệp nước ta vẫn đứng trước những bất cập và hạn chế lớn như vấn đề về đất đai trong công nghiệp, vấn đề về việc ứng dụng khoa học kĩ thuật chưa hiệu quả hay giao thông vận tải có nhiều bất cập.... Minh chứng rõ rệt nhất là mức sống và thu nhập. Thu nhập bình quân của những người thuần túy sản suất nông nghiệp rất thấp (theo liên hợp quốc vào năm 2002 tỷ lệ hộ nghèo nước ta là 29%). Kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao (theo nghiên cứu của oxfam tỷ lệ người nghèo tại khu vực nông thôn chiếm 22,1%).... Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Đẳng và dân ta vẫn nỗ lực góp phần vào phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp và nông thôn. Là một công dân của đất nước, em mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG QUẢNG NINH
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN MÔN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - MAC LÊNIN
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Quế Hương
STT: 19
Mã Sinh Viên: 2014815020
Trang 2Lời nói đầu Trang I: Những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
1.1: Nguyên nhân phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn 4 1.2: Những nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp và nông thôn 5 1.3: Phương pháp nhằm thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nông nghiệp và nông thôn 6
II: Thực trạng của quá trình công nghệ hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp Việt Nam hiện nay
1.1: Thành tựu 7
1.2: Những thuận lợi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở nước ta .10
1.3: Khó khăn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở nước ta .11
III: Thách thức và giải pháp nhằm phát triển Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
ở nước ta.
1.1: Thách thức 11 1.2: Giải pháp 12
Kết luận
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là đất nước có một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời với hơn 70% dân số làm nông nghiệp Vì thế, dù ở thời kỳ nào, người nông dân, nông thôn và kinh tế nông nghiệp cũng có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước Nhận thức được đúng đắn tầm quan trọng này đảng và nhà nước đặc biết chú trọng đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn Điều này đã được thể hiện rất rõ ràng trong một số chỉ thị, nghị quyết của một
số Đại hội VI, VII, VIII Đặc biệt biệt trong Đại hội XI, nghị quyết TW 5
về “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triện nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010” đã nhấn mạnh “ Ra sức bồi dưỡng dức dân ở nông thôn và phát huy vai trò của gia cấp nông dân trong sự đổi mới, tập trung chỉ đạo và tạo ra các nguồn lực cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn toàn diện ” và rất nhiều nghị quyết khác nhắc tới quá kình công nghệ, hiện đại hóa nông nghiệp Tuy vậy nông nghiệp nước ta vẫn đứng trước
những bất cập và hạn chế lớn như vấn đề về đất đai trong công nghiệp, vấn đề về việc ứng dụng khoa học kĩ thuật chưa hiệu quả hay giao thông vận tải có nhiều bất cập Minh chứng rõ rệt nhất là mức sống và thu nhập Thu nhập bình quân của những người thuần túy sản suất nông nghiệp rất thấp (theo liên hợp quốc vào năm 2002 tỷ lệ hộ nghèo nước ta
là 29%) Kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao (theo nghiên cứu của oxfam tỷ lệ người nghèo tại khu vực nông thôn chiếm 22,1%) Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Đẳng và dân ta vẫn nỗ lực góp phần vào phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp và nông thôn Là một công dân của đất nước, em mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
Trang 4I– Những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
1.1- Nguyên nhân phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Bắt đầu từ nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu,có trình độ
thấp và cơ sở vật chất, kĩ thuật còn lạc hậu, lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cấp,
tự túc, thu nhập của nông dân còn thấp, đời sống mọi mặt của người dân còn hết sức khó khăn Trong khi đó đến nay nhiều nước trên thế giới có trình độ công nghiệp phát triển ở trình độ cao mọi hoạt động trong sản suất đều được cơ giới hóa, hiện đại hóa nhờ đó năng suất lao động, năng suất ruộng đất ngày một tăng cao tạo nên sự phân hóa sâu sắc giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
Do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu về nâng cao đời sống của con người ngày một lớn và khi xã hội càng phát triển, đời sống con người ngày một nâng cao thì yêu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Như vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới
hi vọng đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó
Thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa nền kinh tế, trước hết là quá
trình quốc tế hóa, khu vực hóa các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi thông tin khoa học kĩ thuật, chuyển giao công nghệ số buộc ta phải đẩy nhanh việc công nghệ hóa, hiện đại hoá nông nghiệp để ta có thể tận dụng vốn, khoa học công nghệ, kĩ thuật quản lý của nước ngoài vào trong hoàn cảnh thực tiễn vận dụng vào quát trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta nhằm tránh nguy cơ tụt hậu kinh tế, rơi vào tình trạng “bãi rác công nghiệp” của thế giới, dẫn đến
Trang 5cuộc sông nghèo đói, lệ thuộc kinh tế nước ngoài
1.2- Những nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp và nông thôn.
Có thể thấy, nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bao hàm hai vế Vế thứ nhất, đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu của khoa học - công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường
Ở vế thứ hai, đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Đây là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, việc phát triển lực lượng sản xuất phải được thực hiện đồng bộ ở cả các yếu tố vật chất và yếu tố con người Cùng với đó là sự giới hạn về nguồn lực và với điểm xuất phát thấp ta cần lựa chọn được nội dung trọng tâm mang tính đột phá và nội dung mang tính hỗ trợ, nội dung mang tính điều kiện
Trang 61.3- Phương pháp nhằm thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nông nghiệp và nông thôn.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một quá trình lâu dài
cần được tiến hành một cách tuần tự, không thể nóng vội, không thể tùy tiện Để thực hiện đc quá trình này trước hết cần có mục tiêu trong tương lai sắp tới và tìm ra phương pháp để hoàn thành mục tiêu đó
Trước tiên, mục tiêu cụ thể đó là thực hiện công nghệ hóa, hiện đại hóa một cách có trọng điểm ở một số vùng Tinh thần chung là việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mỗi vùng trước hết phải là ý thức chủ động của người dân sống tại các vùng đó thực hiện theo chỉ đạo của nhà nước, nhà nước có thể hỗ trợ nhưng không làm thay và cũng chỉ hỗ trợ trên cơ sở năng lực nội sinh của mỗi vùng Các địa phương dù là vùng trọng điểm cũng không thể trông chờ vào nguồn tài trợ của nhà nước càng không thể cố gắng “xin” của nhà nước càng nhiều càng tốt như trước kia Hơn nữa, các khoản hỗ trợ của nhà nước cũng phải được tính toán hợp lí, quyết định trên cơ sở hiệu quả cụ thể, minh bạch trong mỗi dự án Như vậy, các dự án thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc thực hiện nó bởi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp không chỉ là sự nghiệp của riêng dân cư nông thôn và nhà nước mà còn là của mỗi ngành mỗi đoàn thể, họ phải nhận thức được rằng việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa không phải chỉ để “giúp nông thôn phát triển” mà cũng chĩnh vì lợi ích của họ Việc phục vụ công nghiệp hóa nông nghiệp của mỗi ngành, mỗi đơn vị cần phải phù hợp với khả năng của ngành, đơn vị, phải phục vụ những nhu cầu cụ thể của nông nghiệp và nông thôn, đồng thời cố gắng
có những địa chỉ áp dụng thụ hưởng cụ thể Ví dụ như các nghiên cứu, thiết kế và sản xuất đưa ra các thiết bị phục vụ nông nghiệp (làm đất, chăm sóc hoa, thu hoạch, bảo quản, chế biến) Các cơ quan nghiên cứu
Trang 7chuyển giao công nghệ có thể nghiên cứu , chuyển giao công nghệ có thể nghiên cứu, ứng dụng, giới thiệu, chuyển giao các công nghệ mới
và thực hiện các dịch vũ kỹ thuật – công nghệ phục vụ nông thôn Các
cơ sở đào tạo các cấp cũng có thể tham gia quá trình này vừa đào tạo nguồn nhân lực thích hợp cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp vừa hoạt động như một cơ sở tư vấn, phổ biến kiến thức về các lĩnh vực có liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa thuộc chuyên ngành của mình
Nhà nước, với chức năng điều phối các hoạt động của toàn xã hội cần tăng cường hơn nữa các hoạt động riêng rẽ của các ngành, các địa
phương biến các chương trình mục tiêu riêng rẽ thành chương trình mục tiêu liên ngành, đồng bộ, hướng tới những kết quả thiết thực cuối
cùng,có khả năng giải quyết vấn đề một cách bền vững,tránh sự mất cân đối không cần thiết Điển hình như, khi đưa máy móc vào nền nông nghiệp, vấn đề tạo việc tạo việc làm chưa được giải quyết tốt dẫn đến khó khăn trong việc duy trì các hoạt động đó hoặc khi đã tạm thời giải quyết được vấn đề việc làm thì các loại máy móc lại chưa được thiết kế một cách thích hợp
Nói tóm lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là nhiệm vụ to lớn, cấp bách lâu dài và gian khó Việc thực hiện nó đòi hỏi những nỗ lực chung của toàn xã hội Sụ nghiệp này đòi hỏi chúng ta phải có bước
đi, biện pháp và chính sách hợp lý để thực hiện
II- Thực trạng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Việt Nam hiện nay.
1.1- Thành tựu.
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích
Trang 8cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường và có giá trị kinh tế cao Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc gia, tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha), đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2004), trong đó sản lượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình quân mỗi năm lương thực tăng hơn một triệu tấn, vượt mục tiêu do Ðại hội lần thứ IX của Ðảng đề ra trước ba năm Hằng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-4 triệu tấn gạo
Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả có sự điều chỉnh mạnh theo nhu cầu thị trường để xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu, hình thành một
số vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến Diện tích, sản lượng cây công nghiệp tăng nhanh so với năm 2000, đển hình như cao-su diện tích tăng 9,5%, sản lượng tăng 37,6%; hồ tiêu diện tích tăng 83,2%, sản lượng tăng 87,8%, chè diện tích tăng 35,3%, sản lượng tăng 54,9% Các loại cây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Chăn nuôi phát triển với tốc độ khá cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về trứng, thịt trong nước đang tăng nhanh, giá trị chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm, tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19,3% lên 21,6% Nhất là bò sữa tăng nhanh, đạt 95 nghìn con, sản lượng sữa tươi tăng gấp 3 lần Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 2,0 lần, sản lượng khai thác tăng 1,2 lần
Rừng tự nhiên được bảo vệ và khôi phục tốt hơn, trồng rừng kinh tế bước đầu có chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả, độ che phủ của rừng tăng từ 35% lên 36,7%
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn có
Trang 9bước phát triển tích cực Giá trị sản xuất công nghiệ chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn có bước phát triển nhanh 15%/năm Hiện cả nước có 2.971 làng nghề, khoảng 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10 triệu lao động (trong
đó có khoảng 1,5 triệu người làm hàng mỹ nghệ)
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống 21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1% Năm 2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8% , hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7% và phi nông nghiệp 18,4% Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất chất lượng nông sản, thủy sản Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi bước đầu đã đạt kết quả quan trọng vào việc nâng cao năng suất chất lượng nông sản, thủy sản Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng giống mới Công nghệ được đưa vào sản xuất giống cây rừng, nên năng suất chất lượng rừng được cải thiện Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm đất đạt hơn 60% Trong ngành
Trang 10thủy sản, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt hơn 4 triệu sức ngựa, một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc, thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng tiên tiến
Nông thôn có bước phát triển khá nhanh, cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư, đời sống nhân dân được cải thiện, xóa đói, giảm nghèo đạt thành tựu nổi bật, giáo dục, y tế, văn hóa có chuyển biến tích cực
Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư phát triển khá nhanh Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần chuyển
dịchcơ cấu sản xuất, thâm canh, tăng năng suất cây trồng đã bảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa, hàng vạn ha hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả; hệ thống đê điều được củng cố Ðến nay đã có 98% số xã có đường ô-tô tới khu trung tâm, hơn 90% số xã có điện, gần 88% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện
Thành tựu nổi bật là công tác xóa đói, giảm nghèo, bình quân mỗi năm giảm 3% tỷ lệ hộ đói nghèo Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn giảm từ 19% năm 2000 xuống còn 11% năm 2004 Điều kiện về nhà ở, đi lại, học tập, chữa bệnh được cải thiện tốt hơn Nhiều làng xã đã trở thành làng văn hóa, có kinh tế phát triển, bảo đảm môi trường sinh thái, văn hóa truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc được phục hồi và phát triển, trình độ dân trí được nâng lên
1.2- Những thuận lợi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở nước ta.
Đảm bảo đủ nhu cầu lương thực và anh toàn vệ sinh thực phẩm trở
thành một trong những thế mạnh xuất khẩu thu ngoại tệ của đất nước, đất đã được sử dụng hiệu quả hơn cả về số lượng lẫn chất lượng khai thác, đời sống nông dân từng bước được cải thiện và nâng cao