Trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp luôn phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường. Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào với bất kì chế độ xã hội nào.Nền kinh tế Việt Nam cũng không thể tránh khỏi lạm phát, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở nước ta hiện nay. Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển của đất nước.Vì vậy em lựa chọn đề tài: “ Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay ” để có thể nghiên cứu kĩ hơn về lạm phát ở Việt Nam và qua đó chúng em có thể rút ra một số biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kì kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Thực trạng lạm phát Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Họ và tên: Nguyễn Thị Khánh Huyền
Lớp: Anh 12 – KTKT – K59 Chuyên ngành: Kế toán – Kiểm toán Giảng viên hướng dẫn: ThS Hoàng Văn Vinh
QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Khái niệm về lạm phát 2
1.2 Phân loại lạm phát 2
1.2.1 Lạm phát vừa phải 2
1.2.2 Lạm phát phi mã 2
1.2.3 Siêu lạm phát 2
1.3 Đo lường lạm phát 2
1.4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát 3
1.4.1 Lạm phát do cầu kéo 3
1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy 3
1.4.3 Lạm phát do cơ cấu 3
1.4.4 Lạm phát do xuất khẩu 4
1.4.5 Lạm phát do nhập khẩu 4
1.4.6 Lạm phát tiền tệ 4
1.5 Ảnh hưởng của lạm phát đến kinh tế 5
1.5.1 Lợi tích tích cực 5
1.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực 5
1.5.2.1 Lạm phát và lãi suất 5
1.5.2.2 Lạm phát và thu nhập thực tế 5
Chương II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 6
2.1 Giai đoạn từ năm 1986-1990 6
2.2 Giai đoạn từ năm 1991-1995 7
2.3 Giai đoạn từ năm 1996-2000 8
2.4 Giai đoạn từ năm 2001-2005 9
2.5 Giai đoạn từ năm 2006-2010 9
Trang 42.6 Giai đoạn từ năm 2011-2016 12
2.7 Giai đoạn từ năm 2017-2021 13
2.8 Giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian tới 16
KẾT LUẬN 17
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp luôn phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát Lạm phát là một hiện tượng kinh tế
xã hội gắn với nền kinh tế thị trường Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực,đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hóa nàovới bất kì chế độ xã hội nào
Nền kinh tế Việt Nam cũng không thể tránh khỏi lạm phát, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn đạtđược kết quả khả quan Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở nước ta hiện nay Trong sự
nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển của đất nước
Vì vậy em lựa chọn đề tài: “ Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay ” để có thể nghiên cứu kĩ hơn về lạm phát ở Việt Nam và qua đó chúng em
có thể rút ra một số biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kì kinh
tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu
đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và
dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ Mức giá chung hay chỉ số giá cả để đánh giá lạm phát là các chỉ số sau: chỉ số giảm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá hàng tư liệu sản xuất (PPI)
1.2 Phân loại lạm phát
1.1.1 Lạm phát vừa phải (lạm phát cơ bản)
“Lạm phát vừa phải hay còn gọi là lạm phát một con số Mức độ tỷ lệ lạm phát dưới 10%” Thực tế mức độ lạm phát vừa đưa ra không có tác động đến nềnkinh tế Những kế hoạch dự đoán tương đối ổn định không bị xáo trộn Tỷ lệ lạmphát của Việt Nam đang trong mức lạm phát vừa phải
1.1.2 Lạm phát phi mã
“Lạm phát phi mã hay còn gọi là lạm phát hai (hoặc ba) con số Mức độ lạm phát này có tỷ lệ lạm phát 10%, 20% và lên đến 200%” Khi mức độ lạm phát như vậy kéo dài nó có tác động mạnh đến nền kinh tế, có thể gây ra những biến đổi kinh tế nghiêm trọng
Công thức tính tỷ lệ lạm phát (theo CPI) trong thời gian t:
Trang 7CPI t = 1.4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát
1.4.1 Lạm phát do cầu kéo
Khi nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ khiến giá cảcủa mặt hàng đó tăng theo Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leothang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường Lạmphát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là
Ví dụ: Tiền lương là một phần quan trọng trong chi phí sản xuất và dịch
vụ Trường hợp tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phísản xuất sẽ tăng lên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này vềphía người tiêu dùng thì đương nhiên giá bán sản phẩm sẽ tăng lên, công nhân
và công đoàn sẽ yêu cầu tăng tiền lương để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng
lên, điều đó tạo vòng xoáy lượng giá Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyênvật liệu, trong trường hợp này là dầu thô
1.4.3 Lạm phát do cơ cấu
Trang 8Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công
“danh nghĩa” cho người lao động Nhưng cũng có những nhóm ngành kinhdoanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiềncông cho người lao động
Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phảităng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giáthành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát
1.4.4 Lạm phát do xuất khẩu
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trườngtiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom choxuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàngtrong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung vàtổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát
1.4.5 Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cảtrên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mứcgiá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát
1.4.6 Lạm phát tiền tệ
Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàngtrung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá sovới ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhànước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ralạm phát
Ví dụ: Năm 1966 – 1967 Chính phủ Mỹ đã sử dụng tăng tiền để trả cho những chi phí leo thang trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam Lạm phát tăng từ 3% (năm 1967) đến 6% (năm 1970) Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản
Trang 9lượng thực tế (y) đạt mức cân bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng không đổi Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên một tỷ lệ tương ứng Vậy lạm phát là một hiệntượng tiền tệ Đây là lý do tại sao ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến
nguyên nhân này
1.5 Ảnh hưởng của lạm phát đến kinh tế
1.5.1 Lợi ích tích cực
- Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm bớt thất nghiệp trong xã hội
- Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu không chủ động thì sẽ gây nên hậu quả xấu
1.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực
1.5.2.1 Lạm phát và lãi suất
Tác động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
Khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn định và thực
dương thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa dẫn đến hậu quả mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế
và thất nghiệp gia tăng
1.5.2.2 Lạm phát và thu nhập thực tế
Trang 10Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan
hệ với nhau qua tỷ lệ lạm phát Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩakhông thay đổi thì làm cho thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống
Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi
mà còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức làm giảm thu nhập thực
từ các khoản lãi, các khoản lợi tức Đó là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sở của thu nhập danh nghĩa Khi lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãi suất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao mặc dù thuế suất vẫn không tăng
Từ đó, thu nhập ròng (thực) của của người cho vay là lãi suất thực bị giảmxuống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội (suy thoái kinh tế, thất nghiệpgia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khăn,…)
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
2.1 Giai đoạn từ năm 1986-1990 (thời kì bắt đầu đổi mới)
Sau Đại hội Đảng lần VI, công cuộc đổi mới đã đạt được những kết quảbước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989 Tuy nhiên, nền kinh tế nước tavẫn ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế –xã hội: kinh tế phát triển chậmkhông ổn định; bình quân thời kì 1986-1990 tốc độ tăng trưởng của giá trị sảnxuất nông nghiệp là 3,5%, công nghiệp là 6,2% và tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt3,9%, trong khi dân số tăng 2,3% Trong giai đoạn này hầu hết các cân đối lớn
đều căng thẳng: thâm hụt ngân sách ở mức 8% so với GDP, kim nghạch xuấtkhẩu chỉ đạt ở mức thấp và chỉ bằng 54% kim nghạch nhập khẩu (1986, kimnghạch xuất khẩu đạt 499 triệu USD và năm 1990 đạt 1734 triệu USD) Lạmphát phi mã tuy đã được đẩy lùi nhưng vẫn còn rất cao (từ 487,2% năm 1986còn 67,1% năm 1990) Giai đoạn 1986-1990, mặc dù Đảng và chính phủ đã cónhiều biện pháp đổi mới về cơ chế chính sách và có nhiều giải pháp điều hành
Trang 11nhưng đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, số người không có việclàm ngày càng lớn, chiếm trên 10% lực lượng lao động xã hội…Thu nhập bìnhquân trên đầu người thấp cộng với lạm phát cao nên mức sống thực của ngườidân đã thấp lại còn thấp hơn Trong giai đoạn 1986-1990, nhiều cơ sở phải thuhẹp hoặc ngừng sản xuất (do tồn đọng hàng hóa), tài chính doanh nghiệp rối ren,tình trạng ngăn sông cấm chợ vẫn còn diễn ra Cuối giai đoạn 1986-1990, tổngsản phẩm xã hội tăng bình quân mỗi năm 4,8%, thu nhập quốc dân bình quânđầu người mỗi năm tăng 3,9%, sản lượng lương thực đã đạt 21,5 triệu tấn, phânphối lưu thông đã có những bước tiến quan trọng, nhu cầu tiêu dùng giả tạo đãgiảm đáng kể, hoạt động kinh tế đối ngoại có nhiều khởi sắc, tốc độ xuất khẩu
có tăng nhanh hơn, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bắt đầu phát triển
2.2 Giai đoạn từ 1991-1995 (thời kì kinh tế đi vào ổn định)
Bước sang giai đoạn 1991-1995, tình hình kinh tế – xã hội nước ta cónhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, nền kinh tế đã bắtđầu vượt qua khủng hoảng để đi vào thế ổn định Tổng sản phẩm trong nướcthời kì 1991-19995 tăng bình quân 8,2% (năm 1991 tăng 6%,1992 tăng8,6%,1993 tăng 8,1%,1994 tăng 8,8% và 1995 tăng 9,5%), giá trị sản xuất nôngnghiệp tăng bình quân hàng năm tăng 5,2%, sản lượng lương thực hàng nămtăng 4%, lương thực bình quân đầu người đã tăng liên tục từ 324,9kg năm 1991lên 400kg năm 1998, và từ nước nhập khẩu gạo đến giai đoạn này đã là nướcxuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, hình thành nhiều hộ sản xuất kinhdoanh giỏi và khoảng 11,5 vạn hộ phát triển kinh tế trang trại Giá trị sản xuấtcông nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 13%, vượt qua nhiều thử tháchgay gắt của thị trường, thích nghi dần với cơ chế mới, nhiều sản phẩm quantrọng tác động quyết định đến nền kinh tế đều tăng trưởng khá Trong giai đoạn1991-1995, điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn tất cả các giaiđoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng trưởng từ bản thân nền kinh
tế ít dựa vào bao cấp và trợ lực từ bên ngoài Giá trị tổng sản lượng nông nghiệptăng từ 2,9% năm 1991 lên 6,6% năm 1995 (năm 1992 tăng 8,4%, 1993 tăng
Trang 126,7%,1994 tăng 4,9%) Sản lượng lương thực đã tăng từ 14,3 triệu tấn giai đoạn1976-1980,17 triệu tấn/năm giai đoạn 1986-1990 lên 25,1 triệu tấn giai đoạn1991-1995 Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-
1995 là bước đầu chặn được lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm
1990 xuống 12,7% năm1995 (năm 1991 tỉ lệ lạm phát là 67,5% , năm 1992 là17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm 1994 là 19,4%, năm 1995 là 12,7%) Mặc dù chỉ
số giá tiêu dùng vẫn ở mức hai con số, nhưng đây là một chỉ số rất nhỏ bé so vớicác năm trước đó, tình hình kinh tế-xã hội đã có nhiều khởi sắc và đang càngngày đi vào thế ổn định và phát triển, đời sống nhân dân đã được cải thiện mộtbước Do vậy, giai đoạn này, tình hình chính trị xã hội đã có nhiều hứng khởi,lòng dân được khích lệ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước hơn
2.3 Giai đoạn từ năm 1996-2000 (thời kì kinh tế có nhiều dấu hiệu trì trệ)
Đây là giai đoạn được xác định là bước rất quan trọng của thời kỳ pháttriển mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Năm 1996, tìnhhình kinh tế xã hội có những chuyển biến tích cực, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tếkhá cao (9,3%) Tuy nhiên khủng hoảng kinh tế khu vực đã có tác động khôngnhỏ đến nền kinh tế nước ta Trước tình hình đó, Đảng và chính phủ đã có nhiềugiải pháp tháo gỡ khó khăn Trong giai đoạn 1996-2000, đã bảo đảm duy trìđược nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá, GDP bình quân tăng 7%/năm, giá trị sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,8%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng13,5%/năm, giá trị các nghành dịch vụ tăng 6,8%/năm, GDP bình quân đầungười năm 2000 tăng gấp 1,8 lần năm 1990 Trong giai đoạn này, điều đặc biệtlàm chúng ta quan tâm là đi cùng với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế có chiềuhướng chững lại, đi xuống thì tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, giảm xuống mứcthấp đáng kể và chuyển sang xu thế thiểu phát Điều này được thể hiện ở chỗ tỷ
lệ lạm phát năm 1995 là 12,7% thì năm 2000 là một số âm (-0,6%) Vào cácnăm cuối của giai đoạn 1996-2000, tình hình lạm phát có thay đổi, tỷ lệ lạm phát
ở mức thấp nhất và nguy cơ thiểu phát đã xuất hiện Đi cùng với chỉ số giá ở
Trang 13mức 0,1% năm 1999 và (-0,6%) năm 2000 là sản xuất trì trệ, các hoạt động kinhdoanh có nhiều dấu hiệu đình đốn.
Như vậy diễn biến tình hình lạm phát và tăng trưởng trong giai đoạn1996-2000 là không tốt đối với nền kinh tế
2.4 Giai đoạn từ năm 2001-2005 (thời kì kinh tế có bước phát triển mới)
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh , bền vững và ổn định, trong bốnnăm vừa qua 2001-2005, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khảquan: năm 2000 chặn đứng đà giảm sút của tốc độ tăng trưởng GDP, năm 2001tốc độ tăng trưởng GDP được cải thiện, bắt đầu tăng và đạt 6,89%, năm 2002 tốc
độ này đạt 7,04%, năm 2003 tăng 7,24% và năm 2004 tăng 7,62% Trong bốnnăm vừa qua kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, cơ cấu kinh tế đãchuyển dịch theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vốn đầu tư vào cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế đã tăng lên đáng kể, đời sống của nhân dân tăng, tỷ lệđói nghèo đã giảm đi, xã hội đang đi vào thế ổn định và hưng thịnh Tỷ lệ lạmphát trong các năm trong giai đoạn này cũng tăng dần lên từ (-0,6%) năm 2000lên 9,5% năm 2004 (năm 2001 chỉ số giá ở mức 0,8%, 2002 là 4%, năm 2003 là3%).Tuy nhiên, đến năm 2004 thì tình hình biến động trên thị trường thế giới vàbiến động trên thị trường trong nước lạm phát lại gây bất ổn nền kinh tế Với chỉ
số tiêu giá 9,5% năm 2004 là một ranh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soátđược và lạm phát cao Năm 2005, chỉ số giá 2 tháng đầu năm ở mức 1,1%(tháng 1) và 2 tháng là 3,6% cũng không phải là thấp, cần phải cảnh giác và tìmbiện pháp ngăn chặn ngay, không để cho lạm phát có thể trở thành hai con sốtrong năm 2005
2.5 Giai đoạn từ năm 2006-2010
2.5.1 Giai đoạn lạm phát tăng nhanh
Dấu hiệu lạm phát đã xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăngvọt lên 1%, trái hẳn với thông lệ giá cả hơn một thập kỉ qua Tín hiệu này đã