Trong xã hội hiện nay, vấn đề tiền công của người lao động rất quan trọng, được nhiều người quan tâm, bởi tiền công có vai trò quan trọng, là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, tiền công có cao thì đời sống mới được nâng cao. Tiền công sẽ có những tác động rất lớn đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.Trong quá trình phát triển của đất nước nói riêng và trên thế giới nói chung, vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người lao động về vật chất và tinh thần luôn được chú trọng. Chính sách tiền công là một bộ phận đặc biệt quan trọng, quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tếxã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối kinh tế vĩ mô, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng.Dưới chủ nghĩa tư bản thì tiền công là phương tiện, là cái thể hiện rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Để tìm hiểu về thực trạng tiền công ở nước ta hiện nay, trươc tiên ta phải hiểu rõ được những lý luận chung về tiền công trong kinh tế chính trị, hay nói cách khác là hiểu về tiền công trong chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, trong bài tiểu luận môn kinh tế chính trị của mình, em chọn đề tài: “Thực trạng tiền công ở Việt Nam từ năm 2003 đến nay”. Đây là một vấn đề rộng, trong quá trình làm còn có thiếu sót, mong thầy góp ý để e được hoàn thiện hiểu biết của mình.
Trang 1TRƯỜNG: ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: Thực trạng tiền công ở Việt Nam
từ năm 2003 đến nay
Sinh viên: Vũ Lê Hằng
Lớp: Anh 12 – K59
Chuyên ngành: Kế toán – Kiểm toán
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Hoàng Văn Vinh
QUẢNG NINH, THÁNG 6 NĂM 202
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3M Đ U Ở Ầ
Trong xã hội hiện nay, vấn đề tiền công của người lao động rất quan trọng, được nhiều người quan tâm, bởi tiền công có vai trò quan trọng, là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, tiền công có cao thì đời sống mới được nâng cao Tiền công sẽ có những tác động rất lớn đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Trong quá trình phát triển của đất nước nói riêng và trên thế giới nói chung, vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người lao động về vật chất và tinh thần luôn được chú trọng Chính sách tiền công là một bộ phận đặc biệt quan trọng, quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác trong hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối kinh tế vĩ mô, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng
Dưới chủ nghĩa tư bản thì tiền công là phương tiện, là cái thể hiện rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Để tìm hiểu về thực trạng tiền công ở nước ta hiện nay, trươc tiên ta phải hiểu rõ được những lý luận chung về tiền công trong kinh tế chính trị, hay nói cách khác là hiểu về tiền công trong chủ nghĩa tư bản
Vì vậy, trong bài tiểu luận môn kinh tế chính trị của mình, em chọn đề tài:
“Thực trạng tiền công ở Việt Nam từ năm 2003 đến nay” Đây là một vấn đề
rộng, trong quá trình làm còn có thiếu sót, mong thầy góp ý để e được hoàn thiện hiểu biết của mình
Trang 4N I DUNG Ộ
I LÝ LU N CHUNG V TI N CÔNG Ậ Ề Ề
1 Khái ni m ệ
Tiền công là tiền trả cho sức lao động tức là giá cả hàng hóa sức lao động
mà người sử dụng (nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội doanh nghiệp ) và người cung cấp thỏa thuận với nhau theo quy luật cung cầu, giá cả trên thị trường lao động
Tiền công tối thiểu là số tiền trả người lao động làm công việc đơn giản nhất trong một môi trường lao động bình thường, đảm bảo cho người lao động
có thể mua được những tư liệu sản xuất thiết yếu, tái sản xuất sức lao động
2 B n ch t c a ti n công ả ấ ủ ề
Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một lượng hàng hóa nào đó thì nhận được một số tiền công nhất định Tiền trả công
đó gọi là tiền lương hay tiền công Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng tiền lương, tiền công là giá cả sức lao động Sự thật thì không phải là giá trị hay giá cả sức lao động
Ti n công là bi u hi n b ng ti n c a giá trề ể ệ ằ ề ủ ị hàng hóa s c lao đ ngứ ộ , là giá c c a hàng hóa s c lao đ ng.ả ủ ứ ộ
Tuy v y, d có s l m tậ ễ ự ầ ưởng trong xã h i t b n, ti n công là giá cộ ư ả ề ả
c a lao đ ng B i vì:ủ ộ ở
- Th nh t, nhà t b n tr ti n công cho công nhân sau khi côngứ ấ ư ả ả ề nhân đã lao đ ng đ s n xu t ra hàng hóa.ộ ể ả ấ
- Th hai, ti n công đứ ề ược tr theo th i gian lao đ ng (gi , ngày, tu n,ả ờ ộ ờ ầ tháng), ho c theo s lặ ố ượng hàng hóa đã s n xu t đả ấ ược
Cái mà nhà t b n mua c a công nhân không ph i là lao đ ng, mà làư ả ủ ả ộ
s c lao đ ng Ti n công không ph i là giá trứ ộ ề ả ị hay giá c c a lao đ ng, màả ủ ộ
ch là giá trỉ ị hay giá c c a hàng hóa s c lao đ ng.ả ủ ứ ộ
Trang 53 Các hình th c c a ti n công ứ ủ ề
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm
a Tiền công tính theo thời gian
Là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn
Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công tháng Tiền công ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay thấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn Do đó, muốn đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày và cường độ lao động Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian
Thực hiện chế độ tiền công theo thời gian, nhà tư bản có thể không thay đổi lương ngày, lương tuần, mà vẫn hạ thấp được giá cả lao động do kéo dài ngày lao động hoặc tăng cường độ lao động Trả lương kéo dài thời gian còn có lợi cho nhà tư bản khi tình hình thị trường thuận lợi, hàng hóa tiêu thụ dễ dàng, thực hiện lối làm việc thêm giờ, tức là làm việc ngoài số giờ quy định của ngày lao động Còn khi thị trường không thuận lợi buộc phải thu hẹp sản xuất, nhà tư bản sẽ rút ngắn ngày lao động và thực hiện lối trả công theo giờ, do đó hạ thấp tiền công xuống rất nhiều Như vậy, công nhân không những bị thiệt thòi khi ngày lao động bị kéo dài quá độ, mà còn bị thiệt hại cả khi phải làm việc bớt giờ
b Tiền công tính theo sản phẩm
Là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời
Trang 6gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời gian
Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm
để nhận được tiền công cao hơn
Vì vậy, chế độ tiền công dưới chủ nghĩa tư bản thường dẫn đến tình trạng lao động khẩn trương quá mức, làm kiệt sức người lao động Về mặt lịch sử, tiền công tính theo thời gian được áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, còn giai đoạn sau thì tiền công tính theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi hơn Hiện nay, hình thức tiền công tính theo thời gian ngày càng được mở rộng
4 Ti n công danh nghĩa và ti n công th c t ề ề ự ế
a Ti n công danh nghĩa ề
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Nó là giá cả sức lao động Nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Đối với người công nhân, điều quan trọng không chỉ ở tổng số tiền nhận được dưới hình thức tiền công mà còn ở chỗ có thể mua được gì bằng tiền công đó, điều đó phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế
b Ti n công th c t ề ự ế
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
Rõ ràng nếu điều kiện khác không thay đổi, tiền công thực tế phụ thuộc theo tỷ
lệ thuận của đại lượng tiền công danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch với mức giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ
Trang 7c Quy lu t v n đ ng ti n công trong ch nghĩa t b n ậ ậ ộ ề ủ ư ả
Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với
sự biến đổi của giá trị sức lao động Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như sự nâng cao trình độ chuyên môn người lao động, sự tăng cường độ lao động, và sự tăng lên nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động, đó là sự tăng năng suất lao động làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ đi Sự tác động qua lại của các nhân tố đó dẫn tới quá trình phức tập của sự biến đổi giá trị sức lao động, do đó dẫn tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng, xu hướng chung của sản xuất TBCN không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công
ấy Bởi lẽ trong quá trình phát triển của CNTB, tiền công danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp mức tăng giá
cả tư liệu tiêu dùng và dịnh vụ; đồng thời thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên, khiến cho cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao động, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó, vì vậy tiền công thực
tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì
có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công Một mặt, đó là cuộc đấu tranh giai cấp công nhân đòi tiền công Mặt khác, trong điều kiện của CNTB ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất
Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công
5 Các chức năng cơ bản của tiền công
a Chức năng thước đo giá trị
Tiền công là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được biểu hiện
ra bên ngoài như là giá cả của sức lao động Vì vậy tiền lương hay tiền công chính là thước đo giá trị sức lao động, được biểu hiện như giá trị lao động cụ thể
Trang 8của việc làm được trả công Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, tiền công Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng lớn
b Duy trì và phát triển sức lao động
Theo Mác, tiền công là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động, theo điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ văn minh của mỗi nước Giá trị sức lao động bao hàm cả yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần Ngoài ra, để duy trì và phát triển sức lao động thì người lao động phải sinh con (như sức lao động tiềm tàng), phải nuôi dưỡng con, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất
ra sức lao động phải gồm có những tư liệu sinh hoạt cho con cái học Theo họ, chức năng cơ bản của tiền công còn là nhằm duy trì và phát triển được sức lao động
Giá trị sức lao động là điểm xuất phát trong mọi bài tính của sản xuất xã hội nói chung và của người sử dụng lao động nói riêng Giá trị sức lao động mang tính khách quan, được quy định và điều tiết theo ý muốn của một tác nhân nào, dù là người làm công hay người sử dụng lao động Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị trường lao động giữa người có sức lao động “bán” và người sử dụng sức lao động “mua”
c Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực
Tiền công là bộ phận thu nhập chính đáng của người lao động nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao động Do vậy, các mức tiền công là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và động cơ trong lao động của người lao động Khi độ lớn của tiền công phụ thuộc vào hiệu suất sản xuất của công ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc
d Thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển
Nâng cao hiệu quả lao động, năng suất lao động suy cho cùng là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng khả năng thỏa mãn các nhu cầu của người lao động
Khác với thị trường hàng hóa bình thường, cầu về lao động không phải là cầu cho bản thân nó, mà là cầu dẫn xuất, tức là phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ
Trang 9của sản phẩm do lao động tạo ra và mức giá cả của hàng hóa này Tổng mức tiền công quyết định tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ cần thiết sản xuất cũng như giá
cả của nó Do vậy, tiền công phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động luôn luôn dẫn đến sự tái phân bố lao động Theo quy luật thị trường, lao động sẽ tái phân bố vào các khu vực có năng suất cao hơn để nhận được các mức lương cao hơn
6 Ý nghĩa của tiền lương, tiền công
a Đối với người lao động
- Tiền công, tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp cho họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết
- Tiền công, tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với tổ chức và đối với xã hội
- Khả năng kiếm được tiền công cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức
b Đối với tổ chức, doanh nghiệp
- Tiền lương là một khoản chi phí bắt buộc, do đó muốn nâng cao lợi nhuận và hạ giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp phải biết quản lý và tiết kiệm chi phí tiền lương
- Tiền công, tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ, thu hút những người lao động giỏi, có khả năng phù hợp với công việc của doanh nghiệp
- Tiền công, tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản
lý chiến lược nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản
lý nguồn nhân lực
II TH C TR NG TI N CÔNG VI T NAM T 2003 Đ N NAY Ự Ạ Ề Ở Ệ Ừ Ế
1 S thay đ i m c ti n công (ti n l ự ổ ứ ề ề ươ ng) t 2003 đ n nay ừ ế
Trong giai đo n 2003 đ n nay, v n đ c i cách chính sách ti n côngạ ế ấ ề ả ề
đã có r t nhi u thay đ i V ti n lấ ề ổ ề ề ương c s có s thay đ i nh sau:ơ ở ự ổ ư
Trang 10Th i đi m áp d ng ờ ể ụ M c l ứ ươ ng
c s ơ ở Căn c pháp lý ứ
T 01/10/2004 đ n h t thángư ế ế
9/2005 290.000 Ngh đ nh 203/2004/NĐ-CPị ị
T 01/10/2005 đ n h t thángư ế ế
9/2006 350.000 Ngh đ nh 118/2005/NĐ-CPị ị
T 01/10/2006 đ n h t thángư ế ế
12/2007 450.000 Ngh đ nh 94/2006/NĐ-CPị ị
T 01/01/2008 đ n h t thángư ế ế
4/2008 540.000 Ngh đ nh 166/2007/NĐ-CPị ị
T 01/05/2009 đ n h t thángư ế ế
4/2009 650.000 Ngh đ nh 33/2009/NĐ-CPị ị
T 01/05/2010 đ n h t thángư ế ế
4/2011 730.000 Ngh đ nh 28/2010/NĐ-CPị ị
T 01/05/2011 đ n h t thángư ế ế
4/2012 830.000 Ngh đ nh 22/2011/NĐ-CPị ị
T 01/05/2012 đ n h t thángư ế ế
6/2013 1.050.000 Ngh đ nh 31/2012/NĐ-CPị ị
T 01/07/2013 đ n h t thángư ế ế
4/2016 1.150.000 Ngh đ nh 66/2013/NĐ-CPị ị
T 01/05/2016 đ n h t thángư ế ế
6/2017 1.210.000 Ngh đ nh 47/2016/NĐ-CPị ị
T 01/07/2017 đ n h t thángư ế ế
6/2018 1.300.000 Ngh đ nh 47/2017/NĐ-CPị ị
T 01/07/2018 đ n h t thángư ế ế
6/2019 1.390.000 Ngh đ nh 72/2018/NĐ-CPị ị
T 01/07/2019 đ n nayư ế 1.490.000 Ngh đ nh 38/2019/NĐ-CPị ị
(Nguồn: dựa vào những nghị định về mức lương của chính phủ)
Trang 11Nhìn vào bảng ta thấy m c lứ ương c sơ ở qua các năm từ năm 2004 đến
2019 liên tục tăng, mức tăng giữa các năm không đều nhau Mức tăng cao nhất
là từ ngày 01/05/2012 đến hết tháng 6/2013 với mức tăng 230.000 đồng/tháng so với thời điểm trước đó, mức tăng thấp nhất là từ ngày 01/10/2005 đến hết tháng 9/2006 mức tăng là 60.000 đồng/tháng
Ti n công (ti n lề ề ương) c b n c a ngơ ả ủ ười lao đ ng trong doanhộ nghi p đệ ược tính d a trên m c lự ứ ương t i thi u vùng do Chính ph quyố ể ủ
đ nh hàng năm.ị
Theo đó, ngườ ử ụi s d ng lao đ ng tr công cho ngộ ả ười lao đ ng khôngộ
được th p h n m c lấ ơ ứ ương t i thi u này Năm 2020, m c lố ể ứ ương t i thi uố ể
được quy đ nh t iị ạ Ngh đ nh s 90/2019/NĐ-CPị ị ố nh sau:ư
- M c 4.420.000 đ ng/tháng áp d ng v i doanh nghi p ho t đ ngứ ồ ụ ớ ệ ạ ộ trên đ a bàn thu c vùng I.ị ộ
- M c 3.920.000 đ ng/tháng áp d ng v i doanh nghi p ho t đ ngứ ồ ụ ớ ệ ạ ộ trên đ a bàn thu c vùng II.ị ộ
- M c 3.430.000 đ ng/tháng áp d ng v i doanh nghi p ho t đ ngứ ồ ụ ớ ệ ạ ộ trên đ a bàn thu c vùng III.ị ộ
- M c 3.070.000 đ ng/tháng áp d ng v i doanh nghi p ho t đ ngứ ồ ụ ớ ệ ạ ộ trên đ a bàn thu c vùng IV.ị ộ
Do v y, lậ ương c b n c a ngơ ả ủ ười lao đ ng trong các doanh nghi p sẽộ ệ là:
- Lương c b n vùng I: 4.420.000 đ ng/tháng.ơ ả ồ
- Lương c b n vùng II: 3.920.000 đ ng/tháng.ơ ả ồ