1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tổng quan về các tính chất vật lý và hóa học của đất Việt Nam

16 378 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 49,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đặc điểm lý hóa học của đất Việt Nam tổng hợp từ giáo trình Thổ nhưỡng học, Trần Văn Chính, NXB Nông nghiệp 2006Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có các mạng lưới sông dày đặc với nhiều lưu vực sông kết hợp với trầm tích biển đã tạo ra những vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau. Đặc tính và tính chất ở các vùng đaồng bằng thay đổi tùy thuộc vào bản chất phù sa của các hệ thống sông khác nhau.Một số đặc điểm chung của đất vùng đồng bằng:Đất thường có địa hình bằng phẳng, dễ dàng canh tác và điều tiết nước, thích hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp và là nơi tập trung dân cư đông đúc và có lịch sử canh tác khá lâu đời, đất được thục hóa qua tác động định hướng của con người, có độ phì nhiêu thực tế cao.Quá trình rửa trôi không xảy ra hoặc rất yếu, trong khi quá trình tích tụ xảy ra khá phổ biến làm đất có độ phì tự nhiên cao.Đất có mực nước ngầm nông do đó thường xuất hiện quá trình glây hóa trong các tầng đất ẩm thường xuyên ở bên dưới. Hiện tượng glây làm đất có màu xanh xám hoặc xanh nhạt do màu được tạo bởi Fe2+ trong điều kiện yếm khí kết hợp với sét, silic và nhôm... thường xuất hiện ở địa hình trũng đồng bằng. Quá trình glây mạnh làm đất bị mất cấu trúc và chứa nhiều chất độc gây ra các ảnh hưởng xấu đối với cây trồng.Quá trình bồi tụ phù sa do hoạt động của các dòng sông tuân theo quy luật lắng đọng những hạt có kích thước lớn trước rồi đến những hạt có kích thước nhỏ và mịn, từ đầu nguồn xuống hạ nguồn, từ vị trí gần đến xa sông. Quy luật lắng đọng đã chi phối rõ đến thành phần cơ giới đất ở những vị trí khác nhau của lưu vực sông.Tùy thuộc vào cấu tạo địa chất, địa hình, mẫu chất phù sa của từng lưu vực hệ thống sông khác nhau đã hình thành ra các loại đất ở đồng bằng có thành phần khoáng vật, tính chất vật lý và hóa học khác nhau.Những vùng ven biển ảnh hưởng của các quá trình mặn và phèn (hay chua mặn) đã chi phối mạnh mẽ tới các tính chất đất ở đây.

Trang 1

Tổng quan về các tính chất vật lý và hóa học của đất Việt Nam

I Đất vùng đồng bằng và ven biển Việt Nam

Đặc điểm chung

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có các mạng lưới sông dày đặc với nhiều lưu vực sông kết hợp với trầm tích biển đã tạo ra những vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau Đặc tính và tính chất ở các vùng đaồng bằng thay đổi tùy thuộc vào bản chất phù sa của các hệ thống sông khác nhau

Một số đặc điểm chung của đất vùng đồng bằng:

- Đất thường có địa hình bằng phẳng, dễ dàng canh tác và điều tiết nước, thích hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp và là nơi tập trung dân cư đông đúc và có lịch sử canh tác khá lâu đời, đất được thục hóa qua tác động định hướng của con người, có độ phì nhiêu thực tế cao

- Quá trình rửa trôi không xảy ra hoặc rất yếu, trong khi quá trình tích tụ xảy ra khá phổ biến làm đất có độ phì tự nhiên cao

- Đất có mực nước ngầm nông do đó thường xuất hiện quá trình glây hóa trong các tầng đất ẩm thường xuyên ở bên dưới Hiện tượng glây làm đất có màu xanh xám hoặc xanh nhạt do màu được tạo bởi Fe2+ trong điều kiện yếm khí kết hợp với sét, silic và nhôm thường xuất hiện ở địa hình trũng đồng bằng Quá trình glây mạnh làm đất bị mất cấu trúc và chứa nhiều chất độc gây ra các ảnh hưởng xấu đối với cây trồng

- Quá trình bồi tụ phù sa do hoạt động của các dòng sông tuân theo quy luật lắng đọng những hạt có kích thước lớn trước rồi đến những hạt có kích thước nhỏ và mịn, từ đầu nguồn xuống hạ nguồn, từ vị trí gần đến xa sông Quy luật lắng đọng đã chi phối rõ đến thành phần cơ giới đất ở những vị trí khác nhau của lưu vực sông

- Tùy thuộc vào cấu tạo địa chất, địa hình, mẫu chất phù sa của từng lưu vực hệ thống sông khác nhau đã hình thành ra các loại đất ở đồng bằng có thành phần khoáng vật, tính chất vật lý và hóa học khác nhau

- Những vùng ven biển ảnh hưởng của các quá trình mặn và phèn (hay chua mặn) đã chi phối mạnh mẽ tới các tính chất đất ở đây

1 Đất phù sa (Fluvisols)

Nhóm đất phù sa gồm những loại đất được bồi tụ từ những sản phẩm phù sa của sông không chịu ảnh hưởng của các quá trình mặn hóa hay phèn hóa Về mặt hình thái nhóm đất phù sa mang đặc tính xếp lớp (Fluvic ptoperties), Tên gọi theo hệ thống phân loại FAO – UNESCO là Fluvisols (FL)

Do đặc điểm cấu tạo về địa chất và địa hình của nước ta những nhóm đất được bồi tụ phù

sa thường hình thành về phía biển Theo các hệ thống sông chính đất phù sa được hình thành và phân bố thành hai đồng bằng châu thổ lớn là Đồng bằng châu thổ sông Hồng và Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, ngoài ra còn một dải đồng bằng hẹp ở vùng ven biển miền Trung

Đất phù sa hệ thống sông Hồng

Trang 2

- Đất phù sa hệ thống sông Hồng là nhóm đất phù sa thuộc đồng bằng Bắc Bộ được hình thành do sự bồi tích phù sa của hệ thống sông Hồng Diện tích khoảng 600.000 ha Phân bố tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng

- Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa điển hình, mùa hạ nóng và mưa nhiều (tháng 4 – 10), mùa đông lạnh và khô hanh đầu mùa nhưng cuối mùa thì ẩm ướt do mưa phùn (tháng 11 – 4) Địa hình vùng đồng bằng sông Hồng khá bằng phẳng, hơi nghiêng từ Tây Bắc sang Đông Nam

- Thủy chế sông thất thường, mùa mưa có lưu lượng nước khoảng 30.000 m3/s, chứa

900 – 1300 g cặn phù sa/m3 nước; mùa khô lưu lượng chỉ khoảng 460 m3/s và trong mỗi mét khối nước chỉ chứa khoảng 500g cặn phù sa Việc đắp đê chống lũ làm cho đồng bằng mang tính chất được bồi đắp dở dang, cũng do đó hàng năm một lượng lớn phù sa được đổ ra biển nên các cửa sông mỗi năm đất có thể lấn ra biển hàng trăm mét Dải đất ngoài đê năm nào cũng được phù sa bồi đắp nên được trẻ hóa và màu mỡ

- Thành phần hóa học của cặn phù sa ở đây rất phong phú với các chất tổng số: SiO2

= 55 - 65%, R2O3 = 25 – 30%, N = 0,2 – 0,3%, P2O5% = 0,4 – 0,6%, Na2O + K2O = 2 – 3%, CaO + MgO% = 2 – 2,5%, pH = 7 – 7,5%

Đất phù sa hệ thống sông Cửu Long

- Đất phù sa sông Cử Long có diện tích khoảng 850.000 ha (lơn thứ hai sau diện tích đất phèn ở đồng bằng Nam Bộ) Phân bố dọc hai bên bờ sông Tiền Giang và sông Hậu Giang Đây là lớp phù sa trẻ nhất của đồng bằng nước ta, do ở Đồng bằng sông Cửu Long không có dê nên mùa mưa lũ ngập tràn trên phần lớn diện tích vùng đồng bằng

- Hàm lượng phù sa trong nước sông Cửu Long thấp hơn sông Hồng, trong mùa mưa lũ cũng chỉ đật khoảng 250 g/m3, tuy nhiên, với tổng lượng nước chảy qua sông hàng năm rất lớn khoảng 1400 tỷ m3 nên tổng lượng phù sa bồi đắp hàng năm ở đây cũng rất lớn (khoảng 1 – 1,5 tỷ m3) lượng phù sa này được lan tỏa theo các hệ thống kênh, rạch chằng chịt dài hơn 3000 km ở đây

- Khí hậu của vùng đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất khí hậu nhiệt đới điển hình với hai mùa mưa và khô phân chia rõ rệt Đặc bieeyj, mùa khô ở đây kéo dài đã chi phối đến hình thái đất khá rõ, phần lớn các phẫu diện đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lổ đỏ vàng đặc trưng

- Do phù sa thường xuyên bồi đắp và lan tỏa khá đều trên toàn bộ bề mặt của đồng bằng nên bề mặt đất đai ở đây bằng phẳng hơn so với đồng bằng châu thổ sông Hồng Ở đây đất có thành phân cơ giới nặng do nằm cuối hệ thống sông dài, thành phần cơ giới từ thịt nặng cho đến sét và thành phần cơ giới không biến động theo chiều sâu Do những tác động kiến tạo, quy luật bồi đắp phù sa và môi trường ngập mặn đã làm cho lớp phủ thỗ nhưỡng Đồng bằng sông Cửu Long có những đặc điểm riêng, đất phù sa thường có sự xen

kẽ khá phức tạp với những vùng đất phèn và đất mặn

Đất phù sa của hệ thống sông ngắn miền Trung

Trang 3

- Phần lớn các con sông ở miền Trung nước ta đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn như sông Mã, sông Chu, sông Lam, sông Gianh, Nhật Lệ những con sông này có đặc điểm chung là ngắn, dốc, chảy qua những vùng mẫu chất nghèo dinh dưỡng hơn nên chúng thường có độ phì nhiêu thấp hơn đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long: màu sắc của đất ở đây thường thiên về màu xám hay nâu xám đặc trưng chứ không có màu nâu hay nâu đỏ như đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long

- Đất ở đây có thành phần cơ giới nhẹ cát pha, thịt nhẹ do các mẫu chất phù sa chủ yếu được hình thành từ các loại đá mẹ macma axit, độ dốc của các sông thường lớn nên tốc độ dòng chảy mạnh, lũ lụt lên xuống nhanh nên khả năng lắng đọng các hạt mịn thấp

a) Đất phù sa trung tính ít chua (Fle)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Eutric Fluvisols (FLe), phân bố chủ yếu ở vùng trung tâm châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, diện tích 225.987 ha

- Đất phù sa trung tính ít chua là đơn vị đất phù sa màu mỡ, có dung tích hấp thu và mức độ bão hòa bazơ cao, do đặc điểm mẫu chất của hệ thống, điều kiện địa hình và chế

độ nước chủ động tưới tiêu

- Về thời gian hình thành thì đây là đơn vị đất còn khá trẻ, chưa phân hóa rõ và còn giữ được những bản chất rất đặc trưng của đất phù sa như: đất thường có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét nhẹ (tỷ lệ sét trong khoảng 20 – 30%), có màu nâu tươi đặc trưng, đất có phản ứng trung tính (pHKCl dao động chủ yếu: 6,5 – 8), độ no bazơ của đất cao (BS% > 70%), hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 1,5 – 2,0%); đạm tổng số trung bình khá (N%: 0,12 – 0,15%); lân và kali khá (P2O5%: 0,11 – 0,15%; K2O%: 1,6 – 2,2%), các chất dễ tiêu trong đất nhìn chung đều đạt ở mức trung bình đến khá, giàu

- Đất phù sa trung tính ít chua là loại đất có độ phì cao và có tiềm năng sử dụng đa dạng có thể trồng được 2 hoặc 3 vụ/năm với nhiều loại cây trồng như: lúa, ngô, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang, các loại rau hoặc các loại cây ăn quả dài ngày

b) Đất phù sa chua (FLd)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Dystric Fluvisols (FLd), phân bố từ Bắc vào Nam và chiếm đại bộ phận diện tích đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung, ở đồng bằng châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long đất phù sa chua thường phân

bố bao quanh đất phù sa trung tính ít chua nằm ở phần trung tâm, diện tích 1.665.892 ha

- Đất có độ bão hòa bazơ thấp hơn 50% (ít nhất ở độ sâu từ 0 – 20 hoặc 0 – 50 cm)

và trong hình thái phẫu diện đất từ bề mặt đất cho đến độ sâu 125 cm không thấy xuất hiện tầng phèn tiềm tàng hay phèn hoạt động Đất thường có màu nâu hơi nhạt Đất có phản ứng chua toàn phẫu diện (pH = 4,5 – 5) Hàm lượng nhôm di động khá cao (8 – 12 mg/100g) Hàm lượng hữu cơ của đất trung bình đến khá (OC%: 1 – 3%); hàm lượng đạm trung bình (N%: 0,01 – 0,02%); lân tổng số và lân dễ tiêu ở mức trung bình đến nghèo (P2O5% < 0,07% và P2O5DT: 1 – 5 mg/100g theo Oniani); hàm lượng kali tổng số trung bình và hàm lượng kali trao đổi từ trung bình đến giàu tùy đặc điểm phù sa của từng vùng

Trang 4

- Đất phù sa chua là loại đất chiếm diện tích lớn trong nhóm đất phù sa (đặc biệt phù

sa vùng Duyên hải, Trung Bộ) Đất được sử dụng cho canh tác rất đa dạng từ trồng các loại hoa màu, lúa và các loại cây công nghiệp ngắn ngày

c) Đất phù sa có tầng đốm gỉ (FLb)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Cambic Fluvisols (FLb), phân bố chủ yếu ở vùng có địa hình hơi cao hoặc cao, vị trí xa sông trên toàn bộ vùng đồng bằng, diện tích khoảng mấy chục ngàn ha

- Đất phù sa có tầng đốm gỉ gặp có đặc điểm tầng mặt có phản ứng chua mạnh, ở các tầng bên dưới ít chua hơn Hàm lượng chất hữu cơ trong đất từ trung bình đến giàu, đất có hàm lượng đạm từ trung bình đến khá, kali trung bình, song phần lớn lân trong đất ở mức

độ nghèo đến rất nghèo cả về hàm lượng tổng số lẫn dễ tiêu

2 Nhóm đất cát biển (Arenosols)

Nhóm đất cát biển có tổng diện tích hơn 442.570 ha, có mặt trên 120 huyện, 28 tỉnh, chiếm khoảng 1,61% diện tích tự nhiên của cả nước Tên gọi theo hệ thống phân loại FAO – UNESCO là Arenosols (AR)

Phân bố ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Ninh Thuận, Bình Thuận

Điều kiện hình thành đất: do phạm vi phân bố của đất cát biển trải dài từ Bắc Trung

Bộ cho tới Nam Trung Bộ cho nên các yếu tố hình thành đất ở đây như các điều kiện khí hậu, thảm thực vật cũng có sự thay đổi nhất định theo từng vùng Ở phía Bắc có lượng mưa lớn tập trung vào các tháng 7, 8, 9 và càng đi dần vào nam càng muộn dần Lượng mưa trung bình trên 2000 mm/năm Đặc biệt dải đất từ Ninh Thuận đến Bình Thuận có điều kiện khí hậu khá đặc thù với nhiệt độ trung bình/ngày cả năm cao và lượng mưa thấp hơn nhiều so với lượng bốc hơi điều kiện ở đây đã góp phần tạo ra một loại cát có màu đỏ

Thực vật tự nhiên chủ yếu là các loại thực vật chịu hạn như: cây bắt mồi (Drosera burmani Vohl), cây nắp ấm (Nepenthes anamensis), sim (Rhodomyrtustomentosa), mua đất, cả gừng, cỏ dầy, dứa gai Trên những vùng có điều kiện tưới, nông dân có thể trồng được lúa và một số cây hoa màu như khoai lang, lạc, thuốc lào, đậu đỗ, vừng, kê, ớt, năng suất tùy thuộc vào lượng nước mưa và lượng nước tưới hàng năm

Quá trình hình thành: theo kết quả nghiên của một số nhà khoa học, sự hình thành đất cát biển Việt Nam liên quan mật thiết đến các hoạt động địa chất trong khu vực Phan Liêu (1978) cho rằng đất cát biển rất trẻ (từ kỷ đệ tứ đến hiện đại) Đất cát biển được hình thành từ hai quá trình chính đó là quá trình hoạt động địa chất của biển, vận động nâng lên của thềm biển cũ và quá trình bồi tụ tạo lập đồng bằng của hệ thống các con sông ngắn ở miền Trung Do hệ thống sông miền Trung thường ngắn do phần lớn thường được bắt nguồn từ phía Đông của dãy Trường Sơn chảy thẳng ra biển nên có độ dốc lớn, dòng chảy ở các con sông này rất mạnh do đó các sản phẩm lắng đọng lại thường là những hạt vật liệu thô chủ yếu là các hạt cát có kích thước khác nhau Ngoài ra, về cấu tạo địa chất ở

Trang 5

khu vực đầu nguồn phần lớn có cấu tạo đá mẹ khó phong hóa như các loại đá granit, riolit, cát kết nên chất liệu của các sản phẩm phong hóa cũng thường rất thô

a) Đất cồn cát trắng và vàng (Cc)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Luvic Arenosols (AR), phân bố từ Quảng Bình tới Bình Thuận, 149.754 ha

- Nhìn chung đất cồn cát trắng và vàng chủ yếu là những hạt thạch anh (SiO2 > 95%), tơi xốp, không có kết cấu, thấm thoát nước nhanh Đất ít chua, có độ phì nhiêu rất thấp, khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng kém, toàn bộ các chất dinh dưỡng N, P,

K và các cation trao đổi đều rất nghèo, hàm lượng CEC của đất thấp nhất trong các loại đất ở Việt Nam do tỷ lệ sét trong đất gần như không có, nhìn chung CEC chỉ đạt được ở mức xấp xỉ 1 lđl/100g đất Hàm lượng OC% ở trong đất rất thấp, thường < 1% (thậm chí thấp hơn cả đất bạc màu), do điều kiện thoáng khí đất có quá trình khoáng hóa mạnh

- Đất cồn cát trằng và vàng hiện nay phần lớn được trồng phi lao, trồng rừng để chắn gió và có định cát, chống cát bay và di động

b) Đất cồn cát đỏ (Cd)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Rhodic Arenosols (ARs), phân bố chủ yếu vùng ven biển của các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, 80.000 ha

- Đất cồn cát đỏ thường cố dịnh hơn so với đất cồn cát trắng và vàng, chúng tập trung thành dải cao (có khi tới 200 m) Còn cát đỏ có tỷ lệ sét và limon cao hơn ở các cồn cát trắng vàng (sét vật lý khoảng trên 10%) Đất thường ít chua đến chua Các chất dinh dưỡng tổng số N, P, K đều ở mức nghèo đến rất nghèo Hàm lượng các chất dễ tiêu đạt ở mức rất nghèo; nghèo cation trao đổi (Ca2+, Mg2+); CEC của đất thấp, tuy nhiên đất có BS

% vào loại khá Đất nhiều cát nên dễ bị xói mòn, khả nawg giữ dinh dưỡng và nước kém

- Hiện nay mới chỉ có một phần diện tích đất còn cát đỏ đang được trồng ccas loại hoa màu, hạt điêu, cây rừng Đối với những còn cát di dộng phải trồng phi lao ngăn sự di chuyển của cát, còn ở vùng đồi cao, dốc phải trồng rừng bảo vệ phòng hộ

c) Đất cát biển điển hình (C)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Haplic Arenosols (ARs), phân bố chủ yêu dọc ven bờ biển Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh, dải rác dọc ở ven biển Trung

và Nam Trung Bộ, 197.802 ha

- Đất cát biển điển hình có thành phần cơ giới từ cát pha đến cát pha sét, rời rạc, kết cấu kém gặp mưa thường bị lắng rẽ như đất bạc màu Đất nghèo mùn (OC% < 1%), chất hữu cơ phân giải mạnh (C/N < 5) Nghèo N%: 0,03 – 0,08%, P2O5%: 0,02 – 0,04%, K2O

%: 0,3 – 0,5% Các chất dễ tiêu trong đất cũng đều ở mức nghèo đến rất nghèo, CEC trong đất rất thấp (<9 lđl/100g đất) Phản ứng của đất biến động trong phạm vi trung tính đến hơi kiềm (pH: 7,5 – 8); khả năng giữ phân và nước của đất yếu

- Đất cát điển hình đang được sử dụng để tròng một số loại cây hoa màu như ngô, khoai, đậu, lạc, mía và một số cây lâu năm khác

3 Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols)

Trang 6

Nhóm đất mặn ở Việt Nam có diện tích 971.356 ha, chiếm khoảng 3% diện tích tự nhiên của cả nước Có tên theo FAO – UNESCO là Salic Fluvisol (FLS)

Điều kiện hình thành:

- Đất mặn được hình thành ở gần các cửa sông nơi có địa hình thấp chủ yếu ≤ 1m, nơi cao nhất cũng chỉ khoảng 2m so với mực nước biển, trên nền mẫu chất kết hợp giữ phù sa sông và phù sa biển; phù sa biển trầm tích ở bên dưới và phù sa song được phủ lên trên Phù sa biển thường thô còn phù sa sông nhỏ mịn, chủ yếu sét vật lý Các hạt phù sa dạng huyền phù do được vận chuyển ra cửa sông sau đó gặp điều kiện hóa lý thay đổi của môi trường biển sẽ lắng đọng tạo thành lớp bùn mịn có khi dày tời vài mét

- Thực vật ở đây gồm những cây ưa nước và chịu được mặn như sú (Acgicera magas) gặp nhiều ở miền Bắc Vẹt (Bruguiera gymnorhiza), đước (Rhizophora apiculata)

và một số cây khác như cói, dừa nước, cà giang phở biến ở vùng ven biển Nam Bộ Quá trình hình thành: đất mặn là nhóm đất phù sa ven biển được hình thành do trầm tích sông và biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước mặn biển theo thủy triều tràn vào hoặc gián tiếp do nước mạch mặn từ biển ngấm vào Như vậy, hình thành nhóm đất mặn ở Việt Nam chủ yếu do quá trình hóa mặn ở các vùng đất ven biển do tác động của nước biển Đất mặn ở Việt Nam được xác định là đất có đặc tính mặn (salic properties) nhưng không có tầng sunfidic cũng như tầng sufuric từ bề mặt đất xuống độ sâu 125 cm

a) Đất mặn sú vẹt đước (FLSg)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Gleyi Salic Fluvisols (FLSg), phân bố chủ yếu ven biển đồng bằng Nam Bộ như Cà Mau, Bến Tre, 180.000 ha

- Đất mặn sú, vẹt, được chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước biển khi thủy triều dâng, đất thường ở dạng bùn lỏng, lầy hoặc cát rất mặn, pH trung tính đến kiềm Quần hợp của rừng sú, vẹt, đước phát triển tùy thuộc vào độ dày, độ chặt của đất, độ mặn và chu kì ngập mặn Ngoài tác dụng chắn sóng cung cấp gỗ củi rừng sú, vẹt, đước còn góp phần cố định đất tạo điều kiện cho việc lấn biển Đất mặn sú, vẹt, đước rất mặn, có phản ứng trung tính đến kiềm Hàm lượng mùn trong đất cao do tàn tích thực vật tích lũy nhiều, hàm lượng N

% từ khá đến giàu P2O5 trung bình, K2O% khá đến giàu, cation trao đổi trung bình đến khá Vấn đề hạn chế lớn nhất trong sử dụng đất ở đây là độ mặn quá cao và thường bị ngập nước thủy triều nên đất này chỉ có thể sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp phát triển diện tích rừng sú, vẹt, đước

- Hiện nay, đất mặn sú, vẹt, đước được khai thác sử dụng nuôi trồng thủy sản, trồng rừng chắn gió, chắn sóng, cung cấp củi, gỗ

b) Đất mặn nhiều (FLSh)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Hapli Salic Fluvisols (FLSh), phân bố tập trung ở ven biển đồng bằng Bắc Trung Bộ như Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và đồng bằng Nam Bộ như Trà Vinh, Tiền Giang, Bạc Liêu , 300.000 ha

- Đất mặn nhiều thường có tổng số muối tan > 1%, trong đó lượng Cl- > 0,25% và

độ dẫn điện EC thường lớn hơn 4 dS/cm ở 25oC Đất mặn thường chứa các chất dinh

Trang 7

dưỡng từ mức trung bình đến khá Đất mặn ở miền Bắc thường có thành phần cơ giới nặng từ sét đến limon hay thịt pha sét Đất mặn ở miền Bắc thường có thành phần cơ giới trung bình, ở độ sâu 50 – 80 cm thường gặp lớp cát xám xanh và có xác vỏ sò, ốc biển

c) Đất mặn trung tính và ít (FLSm)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Molli Salic Fluvisols (FLSm), có tới 75% loại đất này phân bố tập trung ở ven biển đồng bằng sông Cửu Long, phân bố tiếp giáp đất phù sa, bên trong vùng đất mặn nhiều, 300.000 ha

- Kết quả phân tích nhiều mẫu đất mặn trung bình và ít cho thấy: mức độ Cl- < 0,25% và EC < 4 mS/cm Đất có phản ứng trung tính ít chua pHKCl: 6 – 8, càng xuống sâu

pH càng có chiều hướng tăng do nồng độ muối cao hơn, tỷ lệ Ca2+/Mg2+ <1 Nhìn chung,

về tính chất nông hóa đất mặn trung bình và ít có hàm lượng mùn, đạm trung bình (N%: 0,09 – 0,18%), lân tổng số ở mức trung bình đến nghèo (P2O5%: 0,05 – 0,17%) và kali trung bình đến giàu (K2O%: 1,5 – 2,5%) Tuy nhiên đất có hàm lượng lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo Các tính chất nông hóa của đất mặn có sự thay đổi khá rõ tùy theo từng khu vực, tuy nhiên về mặt sử dụng thì các tính chất nông hóa thông thường không phải là yêu tố quyết định mà hàm lượng muối và thành phần muối mới là những yếu tố chi phối chính vì đất có giàu mùn và N, P, K cao đến mấy song cũng không có khả năng sử dụng nếu như đất ở đấy có hàm lượng muối tan cao

d) Đất mặn kiềm (SNg)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Gleyic Solonetz (SNg), phân bố ở một số vùng thuộc tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận với diện tích nhỏ, diện tích khoảng 200 ha

- Trong loại đất mặn này có chứa nhiều Na2CO3 và NaHCO3 đất có pH khá cao (pH>8), nhân dân địa phương gọi là đất Cà giang do trên loại đất này có loại cây cà giang

có khả năng chịu mặn tốt vẫn phát triển được ở đây Có hai loại đất: cà giang muối và cà giang dầu Cà giang muối: khi trời khô hanh, nắng, muối bốc thành những đốm trắng xóa trên mặt Các đốm trắng trên mặt đất là do trong cà giang muối chứa nhiều Na2CO3 làm thành những đốm trắng xóa, nổi trên mặt đất khi trời khô nắng hoặc tạo thành các váng trắng nên còn được gọi là vùng “cát lồi” Cà giang dầu: có màu đen hay xám đen do chứa nhiều chất hữu cơ, pH cũng thường cao hơn 9

4 Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols)

Nhóm đất phèn còn được gọi là đất chua mặn Việt Nam có khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 6,5% diện tích tự nhiên của cả nước Tên gọi theo hệ thống phân loại FAO – UNESCO là Thionic Fluvisols (FLt)

Phân bố tập trung nhiều nhất ở đồng bằng Nam Bộ, các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang ở đồng bằng Bắc Bộ có một số ít diện tích ở Hỉa Phòng, Thái Bình ngoài ra còn gặp rải rác ở một số tỉnh thuộc miền Trung

Đất phèn thường được hình thành và phát triển ở những vùng địa mạo đầm lầy, rừng ngập mặn, cửa sông có địa hình trững khó thoát nước Do sản phẩm bồi tụ phù sa kết hợp với vật liệu sinh phèn (xác sinh vật chứa nhiều lưu huỳnh) và muối phèn Đất phèn nằm

Trang 8

sâu vào đất liền hơn so với đất mặn Ở đồng bằng sông Cửu Long đất phèn có sự xen kẽ rất phức tạp với đất mặn và đất phù sa Trong đất xảy ra các quá trình mặn hóa, chua hóa, glây và sét hóa làm cho đất có thành phần cơ giới nặng Tuy nhiên, trong đất phèn hai quá trình mặn hóa và chua hóa diễn ra rất mạnh và chúng quyết định các đặc tính của đất phèn

- Quá trình mặn hóa: Hình thành do trong đất có chứa một số lượng muối tan nhất định như mưới NaCl, Na2SO4 Các muối này có nguồn gốc từ nước biển, trải qua thời gian lượng muối NaCl giảm nhờ tính hòa tan cao, còn lại muối Na2SO4 được tích lại ở đất phèn Trong đất phèn do có ion Cl- dễ bị rửa trôi khi ion SO42- lại thường xuyên được bổ sung, tích lũy bởi quá trình phèn hóa trong quá trình phân hủy các xác hữu cơ (sú, vẹt, đước) do đó tỷ lệ Cl-/SO42- < 1 Hàm lượng Cl- và SO42- có chiều hướng tăng dần theo chiều sâu phẫu diện

- Quá trình chua hóa: Đất bị chua và có chứa nhiều muối phèn, nguyên nhân làm cho đất chua là do lưu huỳnh có nguồn gốc từ nước biển tích lũy lại theo 2 con đường Con đường thứ nhất là do những phản ứng hóa học thuần túy như kiểu các muối sunphat ít tan khi nồng độ tăng lên kết tủa lại sinh ra nhiều SO42- làm đất hóa chua Con đường thứ hai, qua tích lũy sinh học từ các thực vật rừng ngập mặn (phổ biến là các cây sú, vẹt, đước ) Trong quá trình sống các loại cây này hấp thụ và tích lũy S ở dạng hữu cơ, sau khi chết đi xác của chúng được phân giải ở điều kiện yếm khí, các hợp chất chứa lưu huỳnh bị biến đổi thành S2- chủ yếu ở dạng pyrite (FeS2) và sunphua hydro (H2S), hợp chất FeS2 trong đất khi gặp điều kiện oxy hóa chúng sẽ biến đổi tạo ra SO42- Nước ruộng ở vùng đất phèn thường trong do các hydroxyt sắt, nhôm tạo ra các hạt keo đất âm sẽ bị kết tủa tạo ra lớp váng có màu nâu vàng hoặc trắng

Đặc điểm chung đất phèn có thành phần cơ giới nặng (sét > 50%), đất rất chua (pHKCl:

3 – 4,5) Hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 2 – 4%); hàm lượng lân nghèo đến rất nghèo cả tổng số và dễ tiêu (P2O5% < 0,06%; P2O5 dễ tiêu < 6 mg/100g đất, có nơi chỉ thấy vệt); hàm lượng kali từ khá đến giàu (K2O5: 1,5 – 2,0%) Hàm lượng S% tương đương hoặc lớn hơn 0,75% Hàm lượng nhôm di động Al3+ trong tầng sinh phèn cao (có chỗ lên đến >50 mg/100g đất)

a) Đất phèn tiềm tàng (FLtp)

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Protothionic Gleysols (FLtp), tập trung chủ yếu ở ven biển đồng bằng Nam Bộ, diện tích khoảng 600 ha

- Đất được hình thành do sự có mặt của tầng sinh phèn (Sulfidic Horizon), đây cũng chính là tầng vật liệu chứa phèn (Sulfidic Materials), gồm tầng sét và tầng hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO3 trên 1,7% (tương đương với 0,75% S)

- Đất phèn tiềm tàng hiện đang được khai thác trồng lúa, nuôi tôm, ở những vùng ngập mặn sú, vẹt, đước có một số diện tích phèn nhiều đặc thù hiện đang được bảo vệ để bảo tồn những đàn chim quý hiếm

b) Đất phèn hoạt động (FLto)

Trang 9

- Tên theo phân loại FAO – UNESCO: Orthithionic Fluvisols (FLto), tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ và một số tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, diện tích khoảng 1,4 triệu ha

- Đất phèn hoạt động được hình thành do có tầng phèn (Sulfuric Horizon), là một dạng tầng B xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển từ đất phèn tiềm tàng, tập trung khoáng Jarrosite dưới dạng đốm vệt vàng rơm có màu 2,5Y đây cũng chính là tầng chỉ thị của đất phèn hoạt động; pH của đất thường dưới 3,5

- Đất này thường được sử dụng trồng lúa

5 Nhóm đất glây (GL) và than bùn (T)

Theo phân loại đất phát sinh của Việt Nam năm 1976, nhóm đất này có tên gọi chung

là nhóm đất lầy và đất than bùn Sau khi áp dụng hệ thống phân loại đất của FAO – UNESCO; WRB (tỷ lệ 1/1000.000) chúng được tách ra thành hai nhóm đất glây cà đất than bùn, trong đó nhóm đất glây gồm có 2 đơn vị là đất glây chua và đất lầy còn nhóm đất than bùn được tách riêng

a) Đất glây (GL)

Nhóm đất glây ở Việt Nam có diện tích 450.000 ha, có tên theo FAO – UNESCO là Gleysols (GL) Đất được hình thành ở những nơi đất thấp trũng, ứ đọng nước hoặc có mực nước ngầm nông gần sát mặt đất Ở Đồng bằng sông Hồng loại đất này được tập trung chủ yếu ở các khu vực thấp trũng nhất của đồng bằng thuộc các tỉnh Ninh Bình (Hoa Lư), phân bố rải rác xen với các dải đất khác thuộc các tỉnh Hà Nội (Sóc Sơn, Mê Linh, Thanh Oai), Hải Dương (Ninh Thanh, Nam Thanh), Hải Phòng (Thủy Nguyên, Tiên Lãng), một số diện tích khác rải rác ở miền Đông Nam Bộ

Đất glây được hình thành từ những vật liệu không gắn kết , trừ các vật liệu trầm tích

có các đặc tình phù sa Do quá thừa nước và điều kiện phân hủy yếm khí là nguyên nhân chính tạo nên các loại đất glây Những nơi có biểu hiện đặc tính glây mạnh ở độ sâu từ 0 – 50 cm do đất bị ngập nước liên túc, các hạt phù sa mịn lắng đọng trên tầng đất mặt bị phân tán mạnh tạo thành một lớp bùn nhão Dưới tầng bùn nhão là một lớp glây, bí chặt, sắt xám anh có chứa nhiều chất khử độc, phẫu diện từ trên xuống là tầng bùn nhão màu xám đen tiếp đến là tầng glây có chứa nhiều sản phẩm hữu cơ bán phân giải và các chất khử nên có mùi hôi tanh

Tính chất vật lý: thành phần cơ giới của đất chủ yếu là thịt nặng đến sét, tỷ lệ limon và sét thường chiếm >80% cấp hạt cơ giới Kết cấu đất tầng mặt kếm hoặc không có vì khi ngập nước là lớp bùn nhão, đất bị phân tán mạnh, cánh tác khó khăn Khi rút nước hết lớp đất mặt khô bị chặt cứng, nứt nẻ, rễ cây phát triển khó Nhìn chung đất bị yếm khí mạnh, khó thoát nước, bất lợi cho sinh trưởng của các loại cây trồng

Tính chất hóa học: Do điều kiện yếm khí nên quá trình khử chiếm ưu thế, xác hữu cơ tích lũy cao ở dạng bán phân giải nên tuy hàm lượng chất hữu cơ và mùn khá đến giàu (OC: 2 – 4%) nhưng chất lượng mùn kém (chủ yếu là mùn thô, axit fulvic > axit humic);

tỷ lệ N khá cao (> 0,2%) điều này chứng tỏ đất có độ phì tiềm tàng khá Đất chua (pHKCl:

Trang 10

4,2 – 5,5); nghèo cation Ca2+, Mg2+ và các nguyên tố vi lượng Đặc biệt, đất này có hàm lượng lân tổng số và dễ tiêu nghèo đến rất nghèo (P2O5% < 0,06%), lân dễ tiêu nghèo (P2O5Dt< 10 mg/100g đất);kali tổng số cao (K2O%: 1,5 – 2,0%)gây nên hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng về N, P, K trong đất Đất nghèo nguyên tố vi lượng hơn đất phù sa sông Hồng

b) Đất lầy (Glu)

Nhóm đất lầy ở Việt Nam có diện tích 43.000 ha, có tên theo FAO – UNESCO là Umbric Gleysols (GLu), phân bố tập trung nhiều nhất ở khu IV cũ

Đất lầy thường ngập úng quanh năm nên trong phẫu diện đất không có tầng A, đất không có cấu trúc và glây mạnh xảy ra trên toàn phẫu diện

Đất lầy thường giàu hữu cơ và mùn (OM% thường đạt 3 – 4%), tuy nhiên đây chủ yếu

là dạng mùn thô do các xác sinh vật thủy sinh tích đọng và phân hủy và do quá trình khoáng hóa diễn ra rất chậm ở đây Đất có phản ứng rất chua (pHKCl < 4,4) Trong đất có chứa nhiều các chất khử như Fe2+, H2S đất nghèo đến rất nghèo lân và kali

c) Đất than bùn

Diện tích đất than bùn ở Việt nam không quá lớn khoảng 35.000 ha, tập trung nhiều nhất ở vùng U Minh (Cà Mau và Kiên Giang), ngoài ra, đất than bùn còn phân bố rải rác

ở một số vùng trung du đồi núi

Đất than bùn được hình thành do xác các loại thực vật (chủ yếu là thực vật thủy sinh) tích lũy lại ở điều kiện ngập nước, có quá trình khử hoàn toàn chiếm ưu thế tạo nên

Hình thái phẫu diện đất than bùn từ trên xuống: trên mặt có lớp xác thực vật bán phân giải màu nâu đen, tơi xốp; lớp than bùn màu đen có lẫn xác thực vật, phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt động; tầng sét tích lũy phèn tiềm tàng

Hàm lượng cacbon trong than bùn khá cao, phần lớn trên 20% Hàm lượng đạm tổng

số thay đổi tùy theo chất lượng của than bùn, trung bình 0,2 – 0,8% có khi > 1%, lân tổng

số nghèo < 0,05%

II Đất vùng đồi núi Việt Nam

Vùng đồi núi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, phân bổ từ Bắc vào Nam, có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng Các yếu tố hình thành đất thay đổi theo từng vùng địa lý thể hiện rõ về các mặt: Ðá mẹ và mẫu chất, thảm thực vật, khí hậu, địa hình, mặt khác, vùng đồi núi nước ta đã chịu những tác động rất sâu sắc của con người Nhiều tác động xấu như khai thác rừng không đúng kế hoạch, phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy, không thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn dẫn đến hậu quả là nhiều diện tích đất bị thoái hoá nghiêm trọng Thống kê gần đây cho thấy ở vùng đồi núi hiện

có nhiều triệu hecta đất tầng mỏng, đất trống đồi núi trọc Những quá trình chính làm cho đất bị thoái hoá xói mòn, rửa trôi, hoá chua, hình thành đá ong và sa mạc hoá (khô cằn hoá)

1 Nhóm đất xám (AC)

Ngày đăng: 23/07/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w