1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều lê thánh tông và bài học kinh nghiệm trong tuyển chọn, sử dụng cán bộ, công chức ở việt nam hiện nay

99 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện thành công mục tiêu cải cách hành chính nhà nước là “xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI

DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Mã số:

Chủ nhiệm đề tài: Ths Trương Quốc Việt

Hà Nội, 12/2013

Trang 2

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI

DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Mã số: ĐTCT.2013.46

Chủ nhiệm đề tài: Ths Trương Quốc Việt

Thành viên: - CN Nguyễn Xuân Kiểm

- Ths Lê Thị Hiền

- CN Vũ Thị Ánh Tuyết

Hà Nội, 12/2013

Trang 3

và là người triển khai thực thi chính sách Do đó, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; tính hợp lý, hợp pháp của các chính sách được thực thi như thế nào phần lớn phụ thuộc vào năng lực trình độ cán bộ, công chức

Để thực hiện thành công mục tiêu cải cách hành chính nhà nước là “xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”[2] trước hết phải thực hiện tốt công tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức Chỉ có như vậy, chúng ta mới có được đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và trình độ làm việc hết mình đem lại hiệu quả

Mặt khác, hiện nay tình trạng “chảy máu chất xám” đang diễn ra phổ biến trong các cơ quan hành chính nhà nước Bất cập hơn nữa là tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Điều đó đặt ra một thách thức lớn trong việc thu hút

và giữ chân được người tài cũng như việc nâng cao trình độ và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước

Với cách tiếp cận cho rằng hệ thống hành chính nhà nước muốn hoạt động đạt hiệu quả cao thì trước hết phải có các nhà lãnh đạo giỏi cùng đội ngũ công chức đủ năng lực và liêm khiết, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng những giá trị thực tiễn của lịch sử dân tộc cũng như các nước trên thế giới vào quá trình tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức ngày nay là điều hết sức có ý nghĩa và cần thiết Nghiên cứu lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam giúp chúng ta hiểu rõ những giá trị lịch sử mà cha ông để lại, để từ đó rút ra những nhận xét, những bài học quý báu có thể vận dụng vào thực tiễn cải cách nền công vụ hiện nay

Trang 4

4

Lịch sử Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách hành chính lớn nhỏ khác nhau Trong đó, cải cách hành chính của Lê Thánh Tông được đánh giá là cuộc cải cách thành công và toàn diện nhất Một trong những nội dung quan trọng trong cuộc cải cách đó là vấn đề tuyển chọn và sử dụng quan lại Kết quả

là Lê Thánh Tông có được đội ngũ quan lại vừa có thực tài vừa có tâm huyết cùng chung tay xây dựng nên một triều đại phong kiến cực thịnh bậc nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Mặc dù nội dung này đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Nhưng nghiên cứu dưới góc độ hành chính học thì chưa được làm sáng tỏ

Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Tuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm trong tuyển chọn, sử dụng cán

bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu với mong muốn tìm ra

những hạt nhân hợp lý bổ khuyết cho công tác tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông nói chung và cải cách trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại nói riêng của triều đại này, hướng đến 2 mục tiêu:

+ Rút ra ý nghĩa, giá trị của những cải cách đó đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước triều đại Lê Thánh Tông;

+ Rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức hiện nay Nhất là trong điều kiện ngành Nội vụ đang xây dựng và hoàn thiện đề án thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan nhà nước

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Tuyển chọn quan lại dưới triều Lê Thánh Tông

- Sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông( 1460-1497)

4 Giả thuyết nghiên cứu

Vua Lê Thánh Tông đã tiến hành những cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại một cách triệt để từ đó làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước triều vua Lê Thánh Tông Do đó, nghiên cứu cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông sẽ giúp tìm ra những

Trang 5

5

bài học kinh nghiệm vận dụng trong tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:

+ Làm rõ vai trò, vị trí của đội ngũ quan lại trong thời phong kiến;

+ Chỉ ra sự tiến triển trong cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một số triều đại phong kiến Việt Nam để thấy được tính kế thừa và tính thực tiễn của các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại ở mỗi giai đoạn lịch sử

+ Nghiên cứu thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Thánh Tông + Nghiên cứu việc tuyển chọn quan lại thời Lê Thánh Tông

+ Nghiên cứu việc sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông

+ Phân tích sự tác động của việc tuyển chọn quan lại dưới triều Lê Thánh Tông tới hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

6 Tình hình nghiên cứu

Về nội dung cải cách hành chính nói chung, các vấn đề liên quan đến tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông đã được rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều giác độ, phạm vi khác nhau

Ở trong nước, ngay từ thế kỷ XV các tác giả của bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư, Phan Huy Chú với bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí,… đã trình bày và phân tích lại những cải cách của Lê Thánh Tông Các tác giả của các bộ sách sử này đã ghi chép và phản ảnh diễn biến và diễn tiến những cải cách của Vua Lê Thánh Tông và đưa ra những nhận xét khái quát về công cuộc cải cách

Ngày nay, những thành tựu mà Lê Thánh Tông đạt được tiếp tục được các nhà khoa học, các sử gia phân tích làm sáng tỏ vấn đề Nhân dịp kỷ niệm 500 ngày mất của ông, hội thảo khoa học“ Lê Thánh Tông con người và sự nghiệp”

do trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với đại học Sư phạm, Viện sử học,… tổ chức Buổi hội thảo tập hợp 33 báo cáo khoa học đưa ra những phát hiện, kiến giải mới phát hiện về Lê Thánh Tông trên mọi phương diện Trong đó cũng có rất nhiều vấn đề liên quan đến cải cách hành chính,

Trang 6

Ngoài ra còn có rất nhiều những bài phân tích, bình luận trên các tạp trí khoa học như: tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Dân chủ

và Pháp luật,… về nội dung cải cách hành chính nói chung và vấn đề tuyển chọn

và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông nói riêng

Như vậy, liên quan đến vấn đề tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông đã có rất nhiều nghiên cứu hoặc là đề cập trực tiếp hoặc khái lược trên một số phương diện Những công trình này cung cấp cho nhóm tác giả nghiên cứu nhiều tư liệu quý giá Trên cơ sở kế thừa và phát huy thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có, nhóm nghiên cứu tiếp tục phân tích và tìm hiểu vấn đề tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc độ hành chính học để đánh giá, so sánh và rút ra bài học cho công cuộc cải cách hành

chính hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử

Phương pháp cụ thể: thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh và nghiên cứu tài liệu thứ cấp,…

8 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống nhận thức cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của một

số triều đại phong kiến Việt Nam

Trang 7

9 Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo; nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một số triều đại Việt Nam Chương 2: Tình hình tuyển chọn và sử dụng quan lại triều Lê Thánh Tông

Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm từ việc tuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông trong công tác tuyển dụng và quản lý cán bộ, công

chức ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

8

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI

Ở MỘT SỐ TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Quan lại và vai trò của quan lại dưới chế độ phong kiến

1.1.1 Khái niệm quan lại

Trong thời phong kiến thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc cho

nhà nước là quan lại

Theo Từ điển Tiếng Việt, Quan là người có quyền hành trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân [3, 990] Còn Lại là tên gọi chung chỉ viên chức sơ

cấp chuyên làm công việc bàn giấy trong bộ máy nhà nước phong kiến [3, 664]

Trong cuốn từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, quan lại là những

người giữ các chức vụ từ cấp huyện trở lên trong bộ máy nhà nước phong kiến

và thuộc địa trước đây Những người điều hành gọi chung là quan và những người thừa hành gọi chung là lại

Như vậy, Quan là người giữ cương vị chỉ huy, điều khiển công việc, trị dân Còn Lại là người thừa hành công việc giúp quan Quan do vua tuyển chọn, chỉ định và bổ dụng, thường thay đổi Nói cụ thể hơn Quan là người đứng đầu trong một cơ quan của nhà nước phong kiến, là người quản lý, lãnh đạo Còn lại

là viên chức thừa hành, là nhân viên dưới quyền của Quan Lại do Quan lựa

chọn mang tính chất ổn định hơn để phục vụ nền hành chính của nhà nước phong kiến

Ở thời phong kiến, nói đến khái niệm quan lại thì thường đi kèm với đó là các khái niệm: hàm, phẩm trật, chức, tước của quan lại để chỉ chức danh, ngạch, bậc của từng chức quan

- Hàm là chức vụ về danh nghĩa không có thực quyền Theo quan chế đời

Hồng Đức năm thứ 2 (1471), việc phong hàm cho người có công như sau: Về văn ban: quan chánh nhất phẩm hàm thượng trụ quốc, quan tòng nhất phẩm hàm trụ quốc, chánh nhị phẩm hàm chính thượng khanh,…

- Phẩm trật là cấp bậc của quan lại, là căn cứ để tính lương Ví dụ, chánh

nhất phẩm, tòng nhất phẩm, v.v Mỗi phẩm trật lại chia ra làm nhiều tư, việc thăng chức tính từng tư, đủ số tư được thăng một cấp Biếm chức cũng vậy, biếm từng tư, đủ số tư hạ một cấp Quan chế đời Hồng Đức có 24 tư tương ứng

Trang 9

9

với phẩm hàm, tước của từng vị quan (xem bảng thông tư, phẩm, hàm thời Hồng Đức, năm 1471)

- Chức là chức vụ mà quan lại đó đảm nhiệm Ví dụ, chức Đại tổng quản

(chức quan coi giữ việc quân ở trong kinh), Thượng thư Bộ Lại (chức quan đứng đầu giúp vua quản lý đội ngũ quan lại của nhà nước phong kiến), Hà đê chánh

sứ (chức quan trông coi đê điều),…

- Tước là hình thức vua phong cho con cháu hoàng tộc, quan lại có công

lớn Theo quan chế thời Hồng Đức, các tước có: tước vương, tước công, tước hầu, tước bá, tước tử, tước nam Các tước này lúc đầu đều là danh quan sau chuyển thành tước quan

+ Tước vương, nhà vua phong cho thân vương, hoàng tử, lấy tên một phủ

làm hiệu Ví dụ, Kiến Hưng vương, Kiến Xương vương,

+ Tước công, dưới tước vương, được nhà vua phong cho con của Thái tử

và thân vương, lấy mỹ tự làm hiệu Ví dụ, Triệu Khang công… Công thần cũng được phong quốc công, quận công lấy phủ, huyện làm hiệu

+ Tước hầu, nhà vua phong cho con trưởng của tự vương có tước công,

lấy mỹ tự làm hiệu Ví dụ, Vĩnh Kiến hầu Công thần được phong tước hầu thì lấy tên xã làm hiệu Ví dụ, Nam Xương hầu

+ Tước bá, phong cho Hoàng thái tôn, các con của tự vương có tước

công Đối với công thần được phong bá thì lấy tên xã làm hiệu

+ Tước tử, phong cho các con của thân công chúa, con trưởng của các

tước hầu, bá; lấy mỹ tự làm hiệu Công thần được phong tước tử ngang với tòng nhất phẩm

+ Tước nam, được nhà vua phong cho con trưởng của thân công chúa

được truy tặng và các con của tước hầu, tước bá; lấy mỹ tự làm hiệu Công thần được phong tước nam ngang với chánh nhị phẩm

Mục đích của việc quy định các tước vị này nhằm xác định rõ mối quan

hệ trong thân tộc nhà vua và xác lập địa vị cao thấp trong hệ thống quan lại nhà nước phong kiến, thứ bậc bao thấp trong xã hội phong kiến Đây là sự ảnh hưởng của thuyết “chính danh”, tạo ra sự phân biệt thứ tự và đẳng cấp của các quan Bên cạnh đó, việc phân định tước vị còn là cơ sở để nhà nước phong kiến

Trang 10

10

áp dụng chế độ lượng bổng và quy định trách nhiệm, hình phạt đối với đội ngũ quan lại

Như vậy, Quan lại có thể được hiểu là những người làm việc trong bộ

máy nhà nước phong kiến, được ban phẩm, trật, chức, tước và được triều đình phong kiến cấp lương, bổng, lộc để làm việc

1.1.2 Vị trí và vai trò của quan lại

Trong xã hội phong kiến, khi công thức “nho học >> thi cử >> quan trường” trở thành kim chỉ nam cho những đấng “tu mi nam tử” rèn đức, luyện trí

và hướng tới danh vọng cuối cùng là cố gắng phấn đấu thi đỗ để được triều đình phong kiến tuyển bổ một chức quan nhất định Bởi lẽ: “tiến vi quan, thoái vi sư”

Trong trật tự đẳng cấp của xã hội phong kiến “Vua – Quan – Thần dân”

đã định vị và xác định rõ vai trò của tầng lớp quan lại trong xã hội phong kiến

Trước hết, đối với vua, quan lại thực hiện hai chức năng Chức năng giúp vua cai trị và chức năng tư vấn cho nhà vua

Thực hiện chức năng giúp vua cai trị, quan lại tùy theo chức, tước và địa

vị của mình sẽ giúp vua cai trị một phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc một lĩnh vực nhất định Khi đó quan lại thay mặt vua cai quản một vùng đất và thực thi cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi quản lý Quan lại có trách nhiệm báo cáo với triều đình trung ương về việc thực hiện chức năng cai trị của mình

Khi làm nhiệm vụ tư vấn, quan lại sẽ tham mưu, đề xuất cho vua những chính sách, chính lệnh, chỉ dụ, sắc phong, để nhà vua trị vì Một số triều đại còn đặt ra chức quan “can gián đại phu” để chuyên can gián vua khi vua đưa ra những chính sách quản lý Khi một vị quan có ý tưởng hoặc muốn tư vấn cho vua một vấn đề gì thì vị quan đó phải trình cho vua bản “tấu sơ” và giải thích cho vua về nội dung “tấu sớ” đó

Để thực hiện vai trò là tôi trung của vua, quan lại phải trung thành với vua theo tư tưởng “trung quân, ái quốc” Bên cạnh đó, quan lại phải triệt để tuân thủ

và thực hiện mọi mệnh lệnh của vua theo tinh thần “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”

Trang 11

1.2 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một số triều đại Việt Nam

1.2.1 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Đinh, Tiền

Triều Đinh, Tiền Lê được thành lập bước đầu đã thiết lập, phác hoạ được

mô hình nhà nước quân chủ Vì vậy, việc tuyển chọn và sử dụng quan lại chưa định hình đầy đủ

Xuất thân từ dân võ biền, vua Đinh, vua Lê chưa nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của quan lại trong bộ máy chính quyền Vua Đinh, Vua Lê không đặt

ra tiêu chuẩn cụ thể về năng lực, trình độ của từng chức quan

Việc tuyển chọn quan lại dựa trên nguyên tắc tuyển chọn theo huyết thống

và công lao, nhà vua đích thân tuyển chọn quan lại theo các hình thức sau:

- Vua phong vương cho con cháu và cắt cử đi trấn các nơi trọng yếu Đinh Tiên Hoàng phong con thứ là Đinh Toàn làm vệ vương, con nhỏ là Hạnh Lang làm thái tử Con trai cả là Đinh Liễn có nhiều công trạng trong việc dẹp loạn 12

sứ quân được phong làm Nam Việt Vương

- Vua sử dụng các tướng lĩnh có công dẹp loạn 12 sứ quân Vua phong cho giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình Đinh Quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền đều làm đại thần phụ chính;…

- Đối với các quan lại địa phương, vua vẫn dùng các quan lại là hào trưởng, tù trưởng người địa phương hoặc bổ dụng một số văn thân để quản lý các vùng đất ấy Ví dụ, hào trưởng Lê Lương là một hào phú ở Đông Sơn (Thanh Hoá) giữ chức Trấn Quốc bộc xạ,… Con cháu của các hào trưởng này

Trang 12

Nhà vua chỉ dựa vào ruộng đất để ban thưởng cho quan lại Các quan lại được ban đất để hưởng thuế Ví dụ, Trần Lãm được ban thực ấp ở Sơn Nam,… Quan địa phương hưởng một phần thuế ruộng thuộc thuộc phần đất cai quản Ví

dụ, Hào trưởng Lê Lương được hưởng phần đất thuộc 3 huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá (ngày nay)

Thời Đinh, Phật giáo được coi là quốc giáo Đường lối trị nước bị chi phối bởi tư tưởng Phật giáo Vì vậy, vua Đinh sử dụng các nhà sư thuộc hệ thống tăng quan để phụ giúp triều đình trông coi chính sự Nhà sư Ngô Chân Lưu hiệu

là Khuông Việt Thái sư, giữ vai trò cố vấn cho nhà vua, quyền hành ngang tể tướng

Có thể thấy, trong tổ chức bộ máy triều đình nhà Đinh mang đậm tính chất gia đình trị Bộ máy nhà nước thiết lập dựa trên hai mối quan hệ: quan hệ huyết thống hoàng tộc chi phối quan hệ vua tôi Các thành viên của hoàng tộc được vua phong chức, tước; các quan lại do vua trực tiếp cắt cử Họ thuộc hàng ngũ võ quan thân thiết Điều đó thể hiện sự thuần phát và là bước chuyển tiếp từ cách thức quản lý mang tính chất làng, xã, bộ tộc với vai trò của người thủ lĩnh

võ biền sang hình thức quản lý của nhà nước trung ương tập quyền

Triều Đinh suy tàn, nhà Tiền Lê lên thay tiếp tục duy trì và phát triển những thành quả mà nhà Đinh đã đạt được trong tuyển chọn và sử dụng quan lại Trong cách tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Tiền Lê có một số điểm đáng chú ý:

- Triều đình đặt thêm nhiều chức quan Ở trung ương có Thái sư, Thái uý, Đại tổng quản,… Cấp địa phương có An phủ sứ cai trị các lộ; Tri phủ, tri châu cai trị các phủ, châu Quan này đều do vua bổ nhiệm

- Nhà vua cũng dùng một số văn thần bên cạnh võ quan để cai quản đất nước Ví dụ, Hồng Du người Trung Hoa được bổ nhiệm làm Thái sư, thân cận bên vua bày mưu, lo toan việc nước

Trang 13

13

- Nhà Tiền Lê đã quan tâm tới xây dựng hệ thống phép tắc để quan lại theo luật mà thừa hành chính lệnh Năm 1002, Vua Lê định “Luật lệnh” Tuy pháp luật thì hà khắc, nghiêm nhưng tuỳ tiện và hay áp dụng tập quán Việc xét

xử vi phạm của quan lại ở trung ương chủ yếu do vua quyết định, còn ở địa phương do các quan trông coi xét xử

Như vậy, ở thời vua Đinh, Tiền Lê việc tuyển chọn và sử dụng quan lại có một số đặc điểm chính sau:

- Tính thân tộc, quan hệ huyết thống chi phối cách tuyển chọn và sử dụng quan lại

- Việc tuyển chọn quan lại chưa có quy định cụ thể Các quan trong triều đều là con cháu vua, hoặc là các võ tướng Tầng lớp quan lại đa phần là các võ quan để siết chặt quản lý theo mô hình hành chính - quân sự

- Triều đình chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của đạo phật, vua tin dùng các nhà sư có học vấn uyên thâm để cai trị đất nước

- Trong buổi đầu gây dựng triều chính, nhà nước chưa xây dựng các quy định về quan chế Quyền lực dòng họ nhà vua không đủ mạnh Vấn đề tuyển chọn người tài ra làm quan chưa được đặt ra

1.2.2 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Lý

Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đặt dấu mốc quan trọng cho sự ra đời và phát triển nhà nước quân chủ chuyên chế Đại Việt So với triều Đinh, Tiền Lê, việc tuyển chọn và sử dụng quan lại ở triều Lý có quy chế rõ ràng, phác hoạ được những nét cơ bản về quan chế thời phong kiến

Quan lại thời Lý được tuyển chọn theo tiêu chuẩn:“ thân” (quan hệ họ hàng trong hoàng tộc), “huân” (có công đặc biệt), “tiến cử” và “thi cử” Trong

đó tiêu chuẩn thân, huân là quan trọng nhất

Mô hình gia đình trị tiếp tục được củng cố Giống như vua Đinh, vua Tiền

Lê, các vua Lý phong vương cho các hoàng tử và cử đi trấn trị các địa phương Nhưng sau loạn“ tam vương”, thì quyền hành các hoàng tử bị hạn chế rất nhiều, chỉ làm nhiệm vụ thu thuế cho triều đình trung ương

Những người thân, con cháu trong hoàng tộc, quan lại có công lớn được vua ban chức tước, tuyển chọn vào những chức vụ quan trọng trong triều Các

Trang 14

14

chức quan gồm tam Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), tam Thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo), Đô thống, Nguyên soái,…

Ở miền núi, sự chi phối của triều đình trung ương chưa đủ mạnh Các vua

Lý vẫn tuyển chọn các hào trưởng, tù trưởng là người địa phương để quản lý

Con cháu họ được quyền theo tục lệ “cha truyền con nối” Vua Lý thực hiện

chính sách dùng quan hệ hôn nhân để lôi kéo, tác động tới các châu mục, tù trưởng buộc họ phải thần phục của triều đình

Bắt đầu từ thời Lý, việc tuyển chọn quan lại qua hình thức thi cử được thực hiện Năm 1075, khoa thi “Minh kinh bác học” được tổ chức để chọn người

ra làm quan quản lý đất nước Đây là bước tiến bộ trong nhận thức của nhà Lý

về vấn đề tuyển chọn quan lại Để cai trị đất nước, quan lại phải có tri thức

Trong thi cử, nhà Lý vẫn ưu tiên tuyển cử trong hoàng tộc sau mới đến các con cháu quan lại Đối tượng dự thi là dân thường rất ít Việc tổ chức thi cũng không thường xuyên, phụ thuộc vào nhu cầu tuyển dụng người tài bổ sung vào bộ máy nhà nước Vương triều nhà Lý tồn tại trong 215 năm trải qua 9 đời vua nhưng chỉ tổ chức được 7 kỳ thi Quy chế thi cử thiếu chặt chẽ, chưa đi vào quy củ, nền nếp Mặc dù vậy, tuyển chọn quan lại qua thi cử đã đặt nền móng chọ sự phát triển giáo dục và đào tạo Thi tuyển là cơ sở để xây dựng đội ngũ quan lại có tri thức để quản lý đất nước Nó phá vỡ dần quan niệm truyền thống chỉ sử dụng người thuộc hoàng tộc ra làm quan

Năm 1077, vua Lý Nhân Tông tổ chức kỳ thi lại viên để tuyển chọn quan lại Bài thi gồm 3 môn: viết chữ, làm toán, hình luật… Đây là những yêu cầu căn bản mà quan lại phong kiến phải biết Họ phải có kỹ năng soạn thảo văn bản, chiếu, biểu (thi chữ viết), phải biết tính toán để thu thuế ruộng, kiểm kê dân đinh (làm toán); phải biết pháp luật để xét xử các vụ kiện tụng (hình luật)

Ngoài các hình thức tuyển chọn quan lại trên, nhà Lý còn áp dụng hình thức mua quan Người muốn làm quan thì nộp một số tiền theo quy định để được trao một chức quan Những trường hợp mua quan chỉ thuộc quan địa phương Hình thức này tuy không phổ biến, nhưng nó phản ánh tính bất công bằng trong cách tuyển chọn và quan lại của triều Lý Người có tiền thì có cơ hội làm quan Không xem xét đến yếu tố tài năng, phẩm hạnh Lệ mua quan bắt đầu

có từ thời Lý

Trang 15

15

Như vậy, trong cách tuyển chọn quan lại thời Lý đã có tiến bộ khi bắt đầu

áp dụng hình thức thi tuyển Tiêu chuẩn quan lại phải có tri thức được đưa vào

sử dụng trong cách tuyển chọn là tiền đề cho sự hình thành đội ngũ quan lại tri thức ở các triều đại sau này

Về sử dụng quan lại: Quan chế thời Lý đặt ra 9 bậc phẩm trật Việc sắp

xếp, bố trí quan lại được quy định cụ thể Quan lại chia làm hai ban văn, võ có hàm từ nhất phẩm đến cửu phẩm Quan lại địa phương có tri phủ cai trị các phủ; huyện lệnh cai trị các huyện Các quan địa phương có phẩm trật từ cửu phẩm đến tứ phẩm Ở cấp trung ương quan có phẩm trật từ tứ phẩm đến nhất phẩm

Các vua Lý tiếp tục duy trì tổ chức tăng quan thời Đinh - Tiền Lê Nhưng các sư không được tham gia quản lý hành chính trực tiếp như trước Tăng quan trong triều Lý là những người giúp việc vua quản lý các tăng đồ về mặt hành chính và bảo vệ các quyền lợi Phật giáo

Về đào tạo quan lại: Rút kinh nghiệm từ thời Lê Hoàn, các vua Lý nhận

thức được vai trò quan trọng của giáo dục, đào tạo các hoàng tử Hoàng tử kế nghiệp phải có tri thức, có hiểu biết và là người văn võ song toàn Vua cho Thái

tử lập cung Long Đức ở ngoài thành Vua huấn luyện Thái tử quan sát tình hình dân chúng, thâm nhập thực tế liệu bề cai trị đất nước Ngoài ra, Thái tử phải đọc sách và có thầy dạy học riêng

Con cháu các quan lại thì sung vào học ở Quốc tử giám để tuyển bổ sau này Các quan lại cũng phải tự học kinh thư, kế sách trị nước

Về lương bổng: Ý thức được tầm quan trọng của nhân tố thúc đẩy quan

lại tận tâm làm việc công, các vua Lý bắt đầu định lệ cấp bổng lộc cho quan lại Bổng lộc bảo đảm cuộc sống cho quan lại Nó có tác dụng khuyến khích quan lại hết mình vì công việc, tận trung với vua

Năm 1067, vua Lý Thánh Tông định lệ cấp bổng lộc cho một số chức quan: quan đô hộ phủ sĩ mỗi năm được cấp 50 quan tiền, 100 bó lúa, các thứ cá mắm, các viên giữ ngục được 20 quan tiền và 100 bó lúa,…

Các quan cao cấp trong triều được ban thật phong, thực ấp1 Số lượng thực ấp, thật phong tuỳ theo công trạng, chức, tước của các quan Chức, hàm

1 Thực ấp là số hộ dân được vua Lý cấp cho người có công để thu tô, xứng đáng với chức, tước và công lao của người đó Các quan được thưởng được phép hưởng phần thuế ruộng mà số hộ đó nộp cho nhà nước Còn thật phong là số hộ thực tế được hưởng.

Trang 16

16

càng cao thì được hưởng càng nhiều Ví dụ, Lý Thường Kiệt được ban thực ấp

là 10.000 hộ và thật phong là 4.000 hộ,…Triều Lý còn có hình thức ban ruộng thác đao và ấp thang mộc cho quan lại có công Người nhận ruộng đó được

hưởng phần “thuế ruộng thác đao”

Các vua Lý cho phép quan lại thu thuế của nhân dân ngoài phần đóng vào

kho nhà nước, được thu riêng một phần gọi là “hoành đấu” [4] Nhưng nếu thu

quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm Việc vi phạm bị xử phạt nghiêm minh Khổ ti thu thuế, nếu ăn lễ lấy lụa của nhân dân thì cứ mỗi thứ lụa phạt 100 trượng, 1 tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm

Cách ban thưởng, cấp phát lương bổng như trên chưa bảo đảm tính công bằng và đánh giá khách quan công trạng của quan lại Vì ban thưởng theo chức, tước, phụ thuộc vào cảm tính của vua và người được ban thưởng Nhung nó có tác dụng tích cực thúc đẩy quan lại làm việc Gắn quan lại với công việc Dùng tiền lương để đánh giá hiệu quả lao động của các quan

Về kiểm tra, giám sát, đánh giá quan lại: Nhà Lý quan tâm xem xét kết

quả thực thi công việc của quan lại Năm 1501, vua Lý Thái Tông định phép khảo hạch các quan văn, võ; ai làm việc mà không có tội thì được thăng chức, tước theo thứ bậc khác nhau Đến năm Nhâm Ngọ (1162), đời vua Lý Anh Tông thực hiện phép khảo khoá các quan văn, võ; 9 năm một lần, người nào đủ niên hạn để khai khoá mà không có lỗi thì thăng trật Đến năm 1179 đời vua Lý Cao Tông, quy định cụ thể việc xét công trạng các quan để phân ra 3 hạng làm căn

cứ thăng quan tiến chức:

- Loại cần mẫn, có tài cán nhưng không biết văn tự;

- Loại quan biết văn tự;

- Loại quan có tuổi quan, có đức hạnh, thông hiểu công việc xưa nay[5] Như vậy, bắt đầu từ thời Lý đã có phép khảo công các quan lại để đánh giá và thăng tiến quan chức Tuy nhiên, công việc này chưa đi vào nền nếp, quy

củ, quy định chưa rõ ràng Việc phân loại quan lại chưa được chính xác, không đánh giá đúng thực tài của quan lại

Việc quy định cụ thể phẩm trật, ban thưởng, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát,…cho thấy trong cách sử dụng quan lại, nhà Lý bước đầu chú trọng phát huy hiệu quả nguồn lực con người Các vua Lý quan tâm hơn tới vai trò của

Trang 17

1.2.3 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Trần

Năm 1225, sau cuộc“ đảo chính cung đình”, Trần Cảnh lên ngôi vua,

hiệu là Trần Thái Tông, vương triều nhà Trần chính thức được thiết lập Thiết chế chính trị nhà Trần thể hiện bước phát triển cao hơn thời Lý về quy mô cũng như trình độ quản lý, từ việc củng cố bộ máy nhà nước cho đến tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và sử dụng quan lại

Về tuyển chọn quan lại:

Bài học từ cuộc đảo chính cung đình năm 1225 giúp nhà Trần nhận thức sâu sắc nguyên nhân dòng họ Lý mất quyền thống trị Vì vậy, nhà Trần quán triệt quan điểm không muốn chia sẻ quyền lực cho bất kỳ dòng họ nào Các vua Trần thi hành triệt để chính sách tuyển chọn người trong hoàng tộc đảm đương chức vụ trọng yếu Vua Trần Thánh Tông nói: “Thiên hạ là của tổ tông, người nối nghiệp tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng vinh hoa, phú quý…”[5, 267]

Từ nhận thức trên, các chức vụ quan quan trọng trong triều đình và ở các

lộ phủ đều do tôn thất nhà Trần nắm giữ: thái sư, thái uý, thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo.v.v và các quan cao cấp khác như đô nguyên soái, phó đô nguyên soái, thì chỉ các tôn thất mới được nắm giữ [6] Nhà Trần đặt phủ Tôn nhân để quản lý con cháu trong hoàng tộc

Nhà Trần duy trì chế độ kết hôn đồng tộc để bảo vệ quyền cai trị của mình Năm 1267, vua Trần Nhân Tông định ra “Hoàng triều ngọc diệp”, tuân

Trang 18

Việc tuyển chọn quan lại qua con đường khoa mục ngày càng được quan tâm Các kỳ thi, các khoa thi mở ra ngày càng nhiều tuyển được thêm nhiều văn thân tài giỏi Quy chế thi cử được siết chặt hơn, các đối tượng dự thi cũng được

mở rộng Nhà Trần quy định rõ: “7 năm thi một khoa, đặt ra Tam khôi, điều lệ mỗi ngày một nghiêm nghặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, công danh do đó

mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều” [7, 7, 191]

Đặc biệt, năm 1304, có khoa thi Thư phân2, hỏi về phép đối án thông qua xét xử vụ việc cụ thể Đó là điểm mới hết sức tiến bộ trong tuyển chọn quan lại của nhà Trần Cách tuyển như vậy, yêu cầu quan lại phải có kinh nghiệm, am hiểu pháp luật và có năng giải quyết công việc

Như vậy, yếu tố tri thức ngày càng được coi trọng trong việc tuyển chọn quan lại Nó góp phần phá vỡ tính thân tộc trong bộ máy nhà nước Là tiền đề để xây dựng bộ máy quan liêu tri thức

Về sử dụng quan lại:

Theo quy chế quý tộc hoá, hoàng tử cả được phong tước vương Họ hàng

xa phong là thượng vị hầu Cháu ba đời của những người này được phong là quận vương…

Các vương hầu vừa đảm nhiệm các chức vụ trong triều vừa được phân phong đi cai quản các vùng trọng yếu Trần Quốc Khang coi giữ Diễn Châu, Nghệ An; Trần Nhật Duật coi giữ Thanh Hoá,…

Tầng lớp nho sĩ được tuyển bổ làm quan ngày càng nhiều, nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều Ví dụ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu,…

Ngoài những chức quan đã có dưới triều Lý (tam Thái, tam Thiếu…), nhà Trần đặt ra nhiều chức quan mới: Tư đồ, Tư mã, Tư không,… các chức quan

1 Ngũ phục: năm bậc để tang

2 Thư phân là quan lại phụ trách xét xử, kiện tụng

Trang 19

19

chức năng theo từng lĩnh vực cụ thể: Hà đê chánh sứ và phó chánh sứ trông coi

đê điều,…Các chức vụ đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, mối liên kết trong ngoài được bền chặt hơn Kỷ cương triều chính được siết chặt

Khác với thời Lý, chức An phủ sứ ở các phủ không nhất thiết là người trong hoàng tộc Họ có thể là người do thi cử được triều đình Trung ương phân công đi cai trị Như vậy, quan hệ thân tộc bước đầu bị phá vỡ tính liên kết trong

bộ máy chính quyền Vì trước đó, ở triều Lý các chức quan địa phương là con cháu trong hoàng tộc

Về đào tạo quan lại: Nhà Trần đặc biệt quan tâm đào tạo tầng lớp quan

lại trong hoàng tộc Quan lại là người có tri thức ngày càng nhiều Nhà Trần muốn giữ vững ngai vàng thì buộc phải đào tạo người trong hoàng tộc của mình Nhất là đào tạo Thái tử

Nhà Trần thực hiện chế độ Thái Thượng hoàng Vua cha làm trong một vài năm rồi nhường lại cho con, còn mình làm Thái Thượng hoàng giữ vai trò cố vấn cho vua con Hình thức này là bước kế tục và phát triển định chế “phụ chính”, “nhiếp chính” đã có các triều đại trước Chế độ Thái Thượng hoàng là cách đào tạo, huấn luyện Thái tử triệt để hơn so với thời Lý Vì thời Lý chỉ tập cho Thái tử làm thay vua một số việc: xét xử kiện tụng, cầm quân chỉ huy,… Ở thời Trần thực hiện 2 vua sẽ tránh được sự tranh giành quyền Thái tử Vua cha trực tiếp đào tạo, dìu dắt và giám sát vua con

Đây là cách đào tạo độc đáo, chưa từng có trong lịch sử phong kiến Việt Nam Các triều đại phong kiến trên thế giới cũng chưa có tiền lệ

Về chế độ lương, bổng: Từ năm 1236, đời vua Trần Thái Tông, các quan

lại được trả lương cụ thể Quan lại làm việc đã có lương Lương để tính hiệu xuất làm việc và duy trì sức cống hiến của quan Đây thực sự là điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức của triều nhà Trần về chế độ sử dụng quan lại Quan lại làm việc có lương theo công việc và chức trách

Quan lại dưới triều Trần còn được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi khác Các tôn thất, quan lại được xây dựng dinh thự, tuyển mộ binh lính, thành lập quân đội riêng,… Ngoài ra, họ còn được lập điền trang, thái ấp1 Ví dụ, Thái ấp

1 Điền trang là ruộng mà các vương hầu, tôn thất khai hoang được và lập thành trang trại riêng Thái ấp là phần diện tích tương ứng với một xã hoặc một vài xã ngày nay, trong thái ấp có nhà của, phủ đệ, đền chùa,…

Trang 20

tụ ruộng đất, loại hình sở hữu tư nhân đã manh nha phát triển Kết quả của những chính sách này dễ dẫn đến xu hướng cát cứ, phân tranh

Về kiểm tra, giám sát: Quản lý hành chính muốn đạt được hiệu lực, hiệu

quả thì phải có kiểm tra, giám sát Nhận thức được điều này, nhà Trần thành lập thêm cơ quan kiểm tra, giám sát Ở cấp trung ương có Ngự sử đài, Đăng văn kiểm sát viện, quan Gián nghị đại phu Ở cấp lộ, phủ có ty liêm phóng đảm đương nhiệm vụ giám sát hoạt động công vụ

Thiết lập được cơ quan kiểm tra, giám sát, nhà Trần đã chú trọng tới việc quản lý chặt hơn tầng lớp quan lại, nhấn mạnh đến tính hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ

Về phép khảo công, đến thời Trần đi vào nề nếp, quy củ hơn Năm 1246

vua Trần Thái Tông định lệ khảo duyệt các quan văn võ, lệ 15 năm 1 lần, ai làm vịec được 10 năm thì thăng tước 1 cấp, ai làm việc được 15 năm thăng chức 1 bậc Chức quan nào khuyết thì chánh kiêm chức người phó Nếu chánh, phó đều khuyết thì viên chức trên quản lý luôn chờ đủ niên hạn sẽ bổ sung người vào chức vụ khuyết ấy Như vậy, mô hình thăng quan tiến chức này mang đậm dấu

ấn của tổ chức quan liêu Khảo công dựa theo số năm làm quan, chưa theo công việc, công trạng Thiếu chỗ thì cứ đúng niên hạn mới được bổ nhiệm

Khảo xét quan lại còn dùng để thuyên chuyển, bãi chức những người không làm được việc Từ năm 1337, vua Trần Hiến Tông tiến hành khảo xét các quan lại cấp địa phương: “Người ở nhà không làm việc thì phải đuổi về” [5, 124] Các quan ở quản, sảnh, cục thì 15 năm có thể được thăng chức hay thuyên chuyển Quan lại cấp thấp được chuyển lên cấp cao Quan làm việc phủ nhỏ chuyển làn việc ở phủ lớn Quan ngoài kinh được chuyển vào trong kinh nếu có thành tích công trạng lớn

Vương triều nhà Trần có bước tiến triển trong nhận thức về tuyển chọn và

sử dụng quan lại, đặc biệt ở các khâu tuyển chọn, đào tạo, kiểm tra, giám sát,

Trang 21

21

quy chế lương bổng,… đã bắt đầu đặt những viên gạch nền móng cho sự chuyển hoá từ mô hình nhà nước quan liêu thân tộc sang mô hình nhà nước quan liêu tri thức

1.2.4 Triều đại Lê sơ với sự đổi mới trong nhận thức về tuyển chọn và

Về tuyển chọn quan lại: Lê Thánh Tông nhận thức sâu sắc: “ Hiền tài là

nguyên khí của Quốc gia”1 Ông lấy tiêu chuẩn “Hiền” và “Tài” làm chuẩn mực

để chọn quan lại Theo Lê Thánh Tông, Hiền là phải trung với vua, thương yêu

và chăm lo quyền lợi của dân, có đạo đức công vụ Tài là phải có trình độ học

vấn, học vị, năng lực giải quyết công việc Nhận thức trên là sợi chỉ đỏ định hướng cho Lê Thánh Tông tiến hành các cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại

Trên tinh thần đó, Lê Thánh Tông hoàn thiện các quy định liên quan đến thi cử, quy chế thi cử, nội dung thi,… làm cơ sở thi tuyển được công bằng, nghiêm minh, cốt sao chọn được người tài và không bỏ sót người tài

Ông tổ chức định kỳ 3 năm một lần thi Hội Trong 38 năm trị vì, Lê Thánh Tông tổ chức được 12 khoa thi chọn ra 501 Tiến sĩ với 9 Trạng nguyên

Ngoài ra, nhà Lê sơ sử dụng hình thức tiến cử và bảo cử để tuyển chọn người làm quan Chế độ tiến cử và bảo cử, các vua Lê mong muốn không bỏ sót người tài, khuyến khích các quan có trách nhiệm với nhà nước trong việc tiến cử người ra làm quan Nó thể hiện thái độ thực sự cầu thị và trọng dụng nhân tài của nhà Lê, nhất là Lê Thánh Tông

Chế độ tập ấm vẫn được duy trì Nhưng những người được tập ấm nếu không có tài thì chỉ được trao chức mà không trao quyền Con cháu hoàng tộc, quan lại thì tuỳ tài mà cho đi học ở Quốc tử giám hoặc sung vào các vệ để làm quan võ Đến kỳ tuyển chọn, bộ Lại xem xét mà bổ dụng Đây là điểm hết sức

1 Lời khắc trên bia tiến sĩ năm 1442, do Thân Nhân Trung soạn năm 1484 theo chỉ dụ của Lê Thánh Tông

Trang 22

Những cách thức tuyển lựa quan lại như trên đã tạo cho Lê Thánh Tông

có trong tay đội ngũ quần thần thực sự có tài, thanh liêm, cần mẫn và làm việc hiệu quả Điều mà trước và sau này chưa có triều đại nào làm được

Việc lựa chọn người tài không câu nệ vào đường xuất thân để ra làm quan

đã phá vỡ tính liên kết bền chặt trong mô hình nhà nước quan liêu thân tộc dựa trên mối quan hệ huyết thống bấy lâu nay Nó chứng tỏ, quyền lực của vua và hoàng tộc đã đủ mạnh để quản lý đất nước, quản lý tầng lớp quan lại

Việc sử dụng các quan lại: Đến thời Lê Thánh Tông, ông đã nhận thức

đầy đủ về vai trò của quan lại: “Trăm quan là nguồn gốc của trị loạn” Từ đó, ông đặt ra các quy định về chế độ lương bổng, kiểm tra, giám sát, đánh giá quan lại,… một cách hợp lý Quan lại tận tâm thi hành công vụ Hoạt động của bộ máy nhà nước mới đạt hiệu lực, hiệu quả

Năm 1471, Lê Thánh Tông ban dụ “Hiệu định quan chế”, nêu rõ quan điểm, nội dung cách thức sử dụng quan lại Hiệu định quan chế là sản phẩm kết

tinh trí tuệ, tư tưởng của vị vua anh minh sau 11 cầm quyền, là cơ sở triển khai các biện pháp thực thi chính sách quan lại

Nghiên cứu lại lịch sử, có thể thấy rõ 5 điểm khác biệt lớn nhất trong cách dùng người của Lê Thánh Tông So với các triều đại trước:

Một là, sử dụng quan lại theo năng lực, phẩm hạnh và yêu cầu công việc Quan lại có chức và trách tương ứng Quan lại được tiêu chuẩn hoá kiến thức, tiêu chuẩn hoá chức danh

Hai là, trong thực thi công vụ, quan lại phải được kiểm tra, giám sát, đánh giá công trạng thường xuyên “…các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn, lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, khiến thói tốt hợp đạo, đúng phép…” [5, 455]

Trang 23

23

Ba là, quan lại làm việc công được bảo đảm quyền lợi vật chất và tinh thần Quy chế khen thưởng, xử phạt phải cụ thể Khen thật công minh, phạt thật nghiêm khắc Nó là các công cụ, chế tài cần thiết để quan lại làm việc hiệu quả

Bốn là, Cơ chế để thực thi công vụ được quy định cụ thể, chi tiết làm khuôn mẫu thi hành Quan lại tuân theo pháp luật mà thi hành chính lệnh

Năm là, trong sử dụng phải bảo đảm công bằng, khách quan, chính xác và

sử dụng hiệu quả nguồn lực con người

Những điểm mới tích cực, tiến bộ trong nhận thức về tuyển chọn và sử dụng quan lại đã giúp vua Lê Thánh Tông đạt được nhiều thành công rực rỡ, đưa đất nước Đại Việt phát triển đến đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền

1.2.5 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Nguyễn

Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Các vua Nguyễn có điều kiện kế thừa kinh nghiệm, thành quả các triều đại trước

đã đạt được trong tuyển chọn và sử dụng quan lại

Mặt khác, triều đình nhà Nguyễn chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông (Minh Mạng được coi là Lê Thánh Tông thứ hai) và thành quả phát triển sự nghiệp giáo dục triều Lê sơ Do đó cách tuyển chọn và sử dụng quan lại triều Nguyễn là bước phát triển thêm của triều Lê sơ Các quy định liên quan đến việc đào tạo, tuyển chọn, bổ dụng, sử dụng quan lại

đi vào hệ thống, có quy củ, nền nếp, chi tiết và chuẩn mực hơn

Các vua Nguyễn rất sợ sự tranh giành ngôi báu và quyền hành nội bộ hoàng tộc Những bài học từ triều Lý, Trần, Lê, tranh chấp ngôi thứ trong nội bộ

họ Nguyễn, các vua Nguyễn hạn chế tối đa sự phân quyền trong nội cung, trong hoàng tộc Nhà Nguyễn ra sức củng cố vững chắc chế độ tập quyền phong kiến chuyên chế cao độ

Các vua Nguyễn tuân theo nguyên tắc “tứ bất”1, nhà vua thâu tóm mọi quyền lực, không phân chia cho bất cứ một tổ chức, cá nhân nào Các vua Nguyễn luôn căn dặn các con cháu không dùng Tể Tướng Năm thứ 11, đời Minh Mạng, vua căn dặn: “Các con cháu nên tuân giữ làm hiến pháp, không được sửa chữa thêm bớt để sinh ra tệ hại Ví bằng đời sau có kẻ làm trái lời

1 Tứ bất: không Tể Tướng, không Phò Mã, không Trạng Nguyên, không Hoàng Hậu

Trang 24

Về tuyển chọn quan lại

Nhà Nguyễn vẫn dùng những hình thức tuyển chọn quan lại truyền thống: tập ấm, tiến cử, bảo cử, thi tuyển, mua quan,… Tất cả các hình thức này đều lấy tiêu chuẩn trung thành tuyệt đối với vua làm cơ sở để quyết định tuyển chọn

Nhà Nguyễn coi trọng nền giáo dục nho giáo để kén chọn nhân tài Các vua Nguyễn bổ sung, hoàn thiện thêm những quy định liên quan đến tổ chức các

kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình mà các triều đại trước đã thực hiện

Trong thời gian tồn tại 143 năm với nhiều biến cố thăng trầm, triều Nguyễn vẫn tổ chức được 39 khoa thi Tiến sĩ văn, chọn ra 293 Tiến sĩ; tổ chức 3 khoa thi Tiến sĩ võ dưới thời Tự Đức, tuyển chọn 10 Tiến sĩ võ Qua các kỳ thi này cũng lấy được 266 người đỗ phó bảng

Người đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ được nhập ngạch Hàn lâm viện hàm trước tác thuộc chánh lục phẩm Đệ tam giáp nhập ngạch Hàn lâm viện hàm tu soạn thuộc tòng lục phẩm hoặc Hàn lâm viện biên tu thuộc chánh thất phẩm Những người khác tuỳ theo số điểm thi mà bổ sung vào ngạch quan cụ thể Căn

cứ vào phẩm hàm đó sẽ được triều đình bổ dụng làm tri phủ, đồng tri phủ,…

Ngoài ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, các vua Nguyễn còn tổ chức kỳ thi Chế khoa để chọn nhân tài Kỳ thi được tổ chức không theo định kỳ Tuỳ theo lệnh của vua trong các trường hợp vua lên ngôi, sinh Hoàng tử,… Đặc biệt,

từ năm Kỷ Sửu 1829 (Minh Mạng thứ 10) đổi từ thang điểm chấm thi phân làm

4 hạng: Ưu, Bình, Thứ, Liệt thành thang điểm 10 Điều này tạo điều kiện cho

việc chấm thi được công bằng hơn

Từ đời Minh Mạng thực hiện việc bỏ chế độ thế tập của các tù trưởng địa

phương Ai có tài, có đức được dân tin phục thì tâu lên vua xét bổ Đồng thời thực hiện chế độ “lưu quan”, đưa quan người kinh trông coi cùng với các thổ quan hặc thay thế hoàn toàn Với chính sách đó, Minh Mạng tiến thêm một bước nữa trong việc củng cố quyền lực của triều đình trung ương tập quyền tới vùng sâu, vùng xa

Trang 25

25

Về sử dụng quan lại:

Chế độ thực tập: đây là sự phát triển vượt bậc trong nhận thức về sử

dụng quan lại dưới triều Nguyễn Trước khi chính thức được bổ nhiệm, quan lại phải trải qua giai đoạn thực tập Hình thức thực tập là kết quả của việc tiếp thu trào lưu tư tưởng của các học thuyết chính trị phương Tây đối với chế độ công chức

Thực tập có 3 hình thức: hậu bổ, học quan và hành tẩu Thời gian thực

tập là 1 năm đối với Tiến sĩ và phó bảng, 3 năm đối với cử nhân

Hậu bổ là việc các thí sinh sau khi vượt qua kỳ sát hạch ở triều đình, những người đỗ thi Hương, các ấm sinh hay giám sinh có thể được cử làm hậu

bổ đi thực tập ở các tỉnh trong 3 hay 4 năm rồi mới chính thức được bổ nhiệm

Trong quá trình đi hậu bổ, người đó được cử đi công cán để giải quyết

công việc về một vấn đề thuỷ lợi, thuế khoá, tư pháp hoặc làm thừa uỷ quyền Năm 1836 Minh Mạng ra chỉ dụ cho các quan tỉnh trong trường hợp có kiện tụng, phải cử các hậu bổ đi giải quyết

Học quan là trường hợp người thi đỗ nhưng không phải đi hậu bổ mà vẫn

được làm quen với công việc trong chức trách học quan ở phủ hay huyện Họ được bổ làm quyền tri phủ hoặc quyền tri huyện nếu nơi đó khuyết chức

Thực tập ở trung ương là hành tẩu, áp dụng cho những người thi đỗ hay giám sinh vẫn có thể được làm hành tẩu tại các cơ quan của triều đình trung

ương Ví dụ, Đặng Như Kim đỗ Hương cống năm 1820 được phái làm hành tẩu

ở bộ binh (năm 1824) trước khi được bổ làm tri huyện Hoa Khê (năm 1826)

Về phép khảo công: Nhà Nguyễn vẫn duy trì phép khảo công đối với

quan lại theo nguyên tắc: Cứ 3 năm một lần khảo công vào các năm Thìn, Tuất,

Sửu, Mùi, gọi là năm “kế sát” Việc khảo xét thành tích các quan lại trong triều

gọi là “kinh sát”, đối với quan lại cấp tỉnh gọi là “đại kê”

Khi khảo công, mọi công trạng sai phạm trong 3 năm của từng quan được tấu trình để xét hạch Quan địa phương được đánh giá dựa trên ba tiêu chí truyền thống gắn chặt với công việc của các quan: tuyển lính, thu thuế, xét xử kiện tụng Quan trong triều xem xét theo chức danh và chức vụ Các bản kê khai phải nộp đầy đủ lên bộ Lại, bộ Binh kiểm tra, xem xét và định đoạt [9,79,80] Đến năm 1826, Minh Mạng định lệ khảo công đối với quan lại cấp huyện theo 4

Trang 26

26

hạng: thượng, trung, hạ, kém để làm sớ tâu lên trên căn cứ vào đó mà thăng giáng [9,97]

Về chế độ đãi ngộ đối với quan lại, triều Nguyễn quy định chế độ lương

bổng cho các quan lại từ trung ương đến địa phương Các quan lại được hưởng lương theo phẩm hàm Lương bổng được tính bằng tiền và gạo Đối với quan lớn trong triều thì vợ ở quê cũng được cấp ruộng để phát canh thu tô Thời Minh Mạng, theo quy chế năm 1827 thì quan nhất phẩm được cấp 400 quan+300 phương gạo, áo quần 70 quan + tiền tuất 400 quan;…

Nói chung, ở triều Nguyễn, quan lại được hưởng lương bổng rất hậu hĩnh

Ví dụ, quan Hiệp trấn tỉnh Bình Định được hưởng lương mỗi năm tương đương gần 7 tấn gạo (gồm tiền lương và trợ cấp trang phục), viên tri huyện hưởng 1,3 tấn gạo và 1 lại viên hưởng 800 kg Như vậy, những người này có thể nuôi sống gia đình họ theo từng loại là trong 4 năm rưỡi, 9 tháng và 5 tháng [10, 72]

Để bảo đảm cho quan lại làm việc được công minh, tránh tham ô, tham

nhũng, nhà Nguyễn quy định quan lại được hưởng tiền “dưỡng liêm” Đây là

quy định hoàn toàn mới mà trước đó, chưa có triều đại nào quy định Tuy nhiên, càng về sau, tình trạng quan lại tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân ngày càng nhiều Triều đình không kiểm soát được

Như vậy, triều Nguyễn với tư cách là vương triều cuối cùng trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam đã được kế thừa và phát triển những giá trị

mà các triều đại trước đó đã đạt được

Riêng đối với việc tuyển chọn và sử dụng quan lại, triều Nguyễn đã quy định rất chặt chẽ, chi tiết và đầy đủ nhằm bảo đảm cho triều đình có được đội ngũ quan lại cai trị đất nước Tuy nhiên, chính sách mà các vua Nguyễn đưa ra mới chỉ giải đáp cho việc củng cố chế độ trung ương tập quyền của nhà nước quân chủ chuyên chế Những chính sách đó là bảo vệ cái cũ, làm mới cái cũ Nhà Nguyễn chỉ chăm lo bảo vệ cái quyền thống trị của riêng mình Điều đó chưa phù hợp với những diễn biến phức tạp của bối cảnh xã hội trong nước và tình hình thế giới lúc bấy giờ Bởi vậy, hiệu quả của những chính sách tuyển chọn, sử dụng quan lại nói riêng, những chính sách khác nói chung chưa được như mong muốn Hoạt động của bộ máy trì trệ, bảo thủ, quan lại tham ô, tham nhũng, sách nhiễu dân chúng Đời sống nhân dân khổ cực Đất nước không có

Trang 27

1.3 Kết quả của việc tuyển chọn, sử dụng quan lại của nhà nước phong kiến Việt Nam

1.3.1 Bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước

Quan lại tuyệt đối trung thành với vua là bảo đảm tính hiệu lực trong quản

lý của nhà nước phong kiến Vì, đặc trương của nhà nước phong kiến là vua nắm mọi quyền hành trong tay: lập pháp, hành pháp, tư pháp Quyền lực nhà vua là tối cao và không chia xẻ Quan niệm “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” buộc các quan lại chỉ được phép thi hành chính lệnh của vua Hơn nữa, nhà nước phong kiến được tổ chức chặt chẽ theo hệ thống thứ bậc trên dưới Trung ương điều hành địa phương Cấp dưới thừa hành cấp trên Quan trên bảo quan dưới phải vâng mệnh

Tiêu chuẩn “trung quân” là thước đo cao nhất để nhà nước phong kiến đánh giá thành tích, công trạng của quan lại Vì vậy, tuân theo lệnh vua nghĩa là hiệu lực quản lý nhà nước phong kiến đã đạt được

Để có được trật tự, kỷ cương nghiêm như vậy, các triều đại phong kiến đã thực thi nhiều cách thức khác nhau để tuyển chọn cho được đội ngũ quan lại tuyệt đối trung thành Với những cách thức đào tạo, giáo dục, chính sách lương bổng, tinh thần “trung quân” luôn được củng cố trong tầng lớp quan lại Hiệu lực của quản lý nhà nước phong kiến đạt ở mức cao nhất

1.3.2 Thu hút đông đảo người tài ra “phò vua giúp nước”

Nhà nước phong kiến thể hiện thái độ cầu thị, hết mực trân trọng nhân tài Vua các triều đại luôn kêu gọi những kẻ sĩ ra làm quan giúp đất nước hưng thịnh Đó là việc ban chiếu cầu hiền, cầu lời nói thẳng Vua Quang Trung 3 lần mời La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp ra phò tá,… Kết hợp với cách thức tuyển chọn

Trang 28

28

quan lại đa dạng, phong phú: lực chọn trong hoàng tộc, người có công lao lớn, nhất là hình thức tiến cử, bảo cử và khoa cử Và những chính sách trọng dụng, đặc ân, đặc quyền lớn giành cho tầng lớn quan lại Các vương triều phong kiến

đã thu hút các nhân sĩ, trí thức ra làm quan phò vua giúp nước ngày càng nhiều

Chỉ tính riêng ở hình thức khoa cử, kể từ kỳ thi đầu tiên dưới triều vua Lý Nhân Tông (1075) với khoa thi “Minh kinh bác học” cho đến khoa thi Hội cuối

cùng vào năm Kỷ Mùi đời vua Khải Định (1919) đã có 183 khoa thi được tổ

chức, 2898 người vượt qua kỳ thi trong đó có 46 Trạng nguyên, 47 Bảng nhãn,

75 Thám hoa, 65 Đệ nhất giáp Tiến sĩ, 598 Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 1799

đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và 266 Phó bảng [11]

Chính vì thế, ở triều đại nào cũng có những bậc danh nhân ra làm quan giúp dân, giúp nước Ở triều Lý, có Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành, nguyên phi

Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh,…Ở triều Trần có Lê Văn Hưu, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn, Đến triều Lê sơ, nhất là Lê Thánh Tông rất coi

trọng và sử dụng người tài theo tinh thần “Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia”, nhà nước phong kiến Đại Việt đã có một đội ngũ quan lại thực tài đưa đất

nước phát triển cực thịnh Đó là, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Nguyễn Như Đổ, Thân Nhân Trung, Nguyễn Trực,…

Những quần thần tài năng là giường cột của triều đình, sáng suốt đưa ra những kế sách quan trọng góp phần xây dựng, củng cố và phát triển đất nước

Người hiền tài là chuẩn mực để các nhà vua làm tấm gương giáo huấn cho con cháu và tầng lớp quan lại khác Đồng thời, họ cũng là đầu mối thu hút nhân tài, tiến cử nhân tài cho nhà vua Các quan lại khác thì tôn kính và thường lấy đó làm gương răn mình Vì vậy, trong triều đình phong kiến, trên dưới theo nhau giữ đạo, học tập và tu sửa bản thân làm tròn đạo với vua và đất nước Quan lại là

bề tôi trung thành, tận trung với vua, vì nước, thương dân hết mình vì việc công

1.3.3 Củng cố, xây dựng và phát triển Quốc gia phong kiến Đại Việt

Đội ngũ quan lại phong kiến đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc củng cố, xây dựng và phát triển Quốc gia phong kiến Đại Việt Tạo dựng nền văn minh Đại Việt

Đội ngũ bá quan văn, võ song toàn đồng lòng chung sức lãnh đạo nhân dân đánh tan quân xâm lược, bảo vệ vẹn toàn bờ cõi đất nước, giữ vững và củng

Trang 29

29

cố nền độc lập dân tộc Triều Lý, có Lý Thường Kiệt đánh tan quân xâm lược nhà Tống Triều Trần với Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cùng quân dân nhà Trần 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên-Mông Nhà Lê sơ, đập tan ách thống trị của nhà Minh, dẹp yên quân phản loạn, quấy nhiễu biên giới phía Nam,…

Các võ quan cầm quân dẹp yên các cuộc nổi dậy, xu hướng cát cứ phân tranh của các vương hầu, địa chủ quý tộc, hào trưởng, tù trưởng địa phương Đất nước chống được thù trong, giặc ngoài

Chiến tranh kết thúc, các triều đại phong kiến luôn quan tâm huy động tài trí của các quan lại, sức lực của dân chúng để xây dựng và phát triển đất nước Các quan lại hiến kế phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu, buôn bán với nước ngoài Chính sách khai hoang, lập điền trang, thái ấp của thời Trần, chính sách lập 43 sở điền trang của Lê Thánh Tông, các chính sách đắp đê, ngăn lụt,… đã thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển

Nền công, thương nghiệp nước nhà không ngừng được củng cố và phát triển, quan hệ giao lưu buôn bán với nước ngoài được mở rộng Thời Lê Thánh

Tông, theo sách Dư địa chí, bấy giờ kinh thành Thăng Long 36 phố phường

buôn bán sầm uất với đủ các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, chợ búa được mọc lên nhiều chưa từng thấy; đường xá được mở thêm, giao lưu buôn bán với nước ngoài qua các cảng Vân Đồn, Quảng Nam, Hội An, tấp nập, nhộn nhịp

Các triều vua phong kiến quan tâm giáo dục tầng lớp quan lại tận tâm với công việc, định lệ khảo công, tra xét công việc, xét xử công minh, làm tròn chức trách, bổn phận của mình, giữ nghiêm kỷ cương phép nước Tiêu biểu nhất là triều Lê Thánh Tông, pháp luật nghiêm đến mức, của rơi ngoài đường cũng không ai dám nhặt Các quan lại không dám tham ô, tham nhũng, hối lộ, sách nhiễu dân chúng

Quan lại trong triều đình phong kiến hiến kế cho vua để mở mang bờ cõi, kết mối bang giao với nước ngoài củng cố vai trò, địa vị của Quốc gia Đại Việt

Đó là các cuộc tiến quân của vua quan nhà Trần, của vua Lê Thánh Tông, của các vua, chúa nhà Nguyễn về phía Nam, đánh chiếm và thuần phục các nước Ai Lao, Chiêm Thành, Chân Lạp,…

Trang 30

30

Tuy nhiên, các triều đại phong kiến của Quốc gia Đại Việt cũng không hiếm khi xuất hiện những ông vua kém tài, ăn chơi sa đọa, bỏ bê triều chính Triều đình là nơi tập trung đội ngũ quan lại bất tài, ham xu nịnh, kết bè, kéo cánh, đục khoét của công Dẫn đến, quyền lực của hoàng tộc bị chuyển giao, đất nước an nguy, kinh tế suy sụp, nhân dân khổ cực

Điều đó lý giải quy luật thịnh-suy, tồn-vong của các vương triều Khi nào, tầng lớp quan lại vừa “hiền” lại vừa “tài”, thanh liêm, chính trực, triều đình sẽ hưng thịnh, đất nước thái bình, nhân dân ấm no Khi nào, quan lại bất tài, tham

vơ vét, đục khoét thì chính trị dối loạn, chiến tranh, loạn lạc xảy ra, kinh tế suy tàn, xã hội rối ren, nhân dân phiêu tán

Vương triều nào quan tâm, chăm lo để có được tầng lớp quan lại trung thành, có phẩm chất đạo đức, có trình độ và năng thực thực tiễn thì vương triều

đó hưng thịnh Vương triều nào không quan tâm, chăm lo giáo dục, tuyển chọn được tầng lớp quan lại tốt thì vương triều đó tất yếu sẽ suy vong

Điều đó cho thấy tầm quan trọng của đội ngũ những người quản lý đất nước Vương triều còn hay mất, đất nước thịnh hay suy chính là do tầng lớp quan lại cai trị quyết định

Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho chúng ta thấy được vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, công chức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nghiên cứu kỹ nội dung này, sẽ là cơ sở để hoạch định chính sách đối với cán bộ, công chức Giúp chúng ta có được đội ngũ cán bộ, công chức vừa có năng lực, trình độ vừa có phẩm chất đạo đức công vụ trong

sáng Cán bộ, công chức thực hiện tốt vai trò quản lý, điều hành đất nước

1.4 Tiểu kết chương 1:

Qua mỗi triều đại đều sử dụng một phương thức cơ bản, đặc trưng để tuyển chọn và sử dụng quan lại Triều Đinh –Tiền Lê, nhà nước còn sơ khai, ở buổi đầu gây dựng triều chính theo mô hình trung ương phong kiến tập quyền,

do đó còn mang nặng tính chất thủ lĩnh quân sự, hình thức tuyển chọn quan lại theo thi cử chưa được đề cập Sang thời Lý, chức năng của nhà nước phong kiến được mở rộng, nhu cầu quan lại lớn do đó bước đầu xuất hiện hình thức thi cử

để tuyển chọn quan lại Nhưng về cơ bản, ở thời này, vẫn duy trì tổ chức quan lại theo mô hình quan liêu thân tộc Đến thời Trần phương thức tuyển chọn quan

Trang 31

31

lại lại chú trọng vào nhiệm tử để củng cố quyền lực của dòng họ Sang đến thời

Hồ và Lê sơ, chủ trương thiết lập mô hình nhà nước phong kiến quan liêu không đẳng cấp nên hình thức thi cử trở thành chủ đạo trong tuyển chọn và sử dụng quan lại Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam có điều kiện kế thức và phát triển những thành tựu của các triều đại trước

đó để tiếp tục tiến hành những nội dung tuyển chọn và sử dụng quan lại ở những phương thức mới Tất cả các cải cách đó đã góp phần tăng hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước phong kiến trong từng giai đoạn

Trang 32

32

Chương 2

TÌNH HÌNH TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG 2.1 Tổng quan cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông

2.1.1 Bối cảnh lịch sử cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông

Triều Lê sơ lên nắm quyền là kết quả của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, giành độc lập dân tộc do Lê Lợi khởi xướng (năm 1428)

Nhà Lê sơ ra đời trên cở sở kế thừa những di sản hành chính từ các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly còn đang thực hiện dang dở Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly chưa để lại dấu ấn sâu đậm trong xã hội nhưng nó cũng đặt ra cho chính quyền Lê sơ những bài học quản lý thiết thực

Bởi vậy, có thể nói cải cách hành chính mà Lê Thánh Tông thực hiện vừa

là gạch nối vừa là sự tiếp tục phát triển nhà nước trung ương tập quyền đến đỉnh cao Xây dựng nhà nước quan liêu tri thức thay thế hoàn toàn cho nhà nước quan liêu thân tộc trước đó Cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông diễn ra trong bối cảnh nhà Lê sơ trong buổi đầu dựng nghiệp, đứng trước những mâu thuẫn cần phải giải quyết:

Thứ nhất, khủng hoảng về đường lối trị nước:

Các vị vua đầu tiên dưới thời Lê sơ sau khi ổn định đất nước đã cố gắng tìm ra biện pháp mới để cai trị đất nước Đến thế kỷ XV, Nho giáo trở nên thịnh hành và phát triển trong cả nước Tư tưởng sùng nho trọng đạo lấn át dần tư tưởng tôn sùng Phật giáo Trong triều các quan lại hình thành mâu thuẫn giữa một bên ra sức ủng hộ tư tưởng mới, trọng dụng đạo Nho với một bên cố gắng bảo vệ tư tưởng cũ, đề cao Phật giáo

Các tư tưởng cai trị nước khác nhau đã tồn tại trong triều đình suốt thời gian 32 năm trị vì của ba vị vua đầu tiên (từ 1428 đến 1459) Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành đất nước và tạo tiền đề cho cuộc cải cách hành chính sau này của Lê Thánh Tông

Thứ hai, xuất hiện những mâu thuẫn nội bộ trong cung, sự suy thoái của các công thần Đội quân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau chiến tranh gian

khổ giành lại giang sơn, hưởng thái bình thì lại rơi vào quy luật tất yếu của các

Trang 33

33

cuộc khởi nghĩa nông dân: lúc khó khăn thì đoàn kết tập hợp, khi thắng lợi thì tranh giành quyền lực và rơi vào trạng thái hưởng thụ Bởi vậy, đội ngũ vua-tôi, công thần sinh ra nghi nghờ, ghen ghét, đố kỵ nhau, bỏ bê triều chính chỉ lo củng cố quyền lực của mình

Thái tổ Lê Lợi canh cánh trong lòng nhiều nỗi nghi nghờ Ông cặn dặn Thái tử:“ …lòng người thực hay giả, cũng chưa dễ gì tỏ tường, những việc nghi ngờ cũng chưa dễ gì phán đoán, như vậy đạo làm vua không khó ư? ” [5, 287] Dẫn đến sát hại công thần, Hữu Tướng quốc Trần Nguyên Đán, Thái uý Lê Văn Xảo… Các bậc trung thần bị thất sủng, Thừa Chỉ nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trái từ quan về ở ẩn… Các gian thần được thể lộng hành như Lê Sát, Lê Ngân,…

Do được chứng kiến những mâu thuẫn nội bộ trong cung đình đã rèn luyện cho Lê Thánh Tông tính kiên quyết trong các biện pháp cải cách của mình sau này

Thứ ba, Xu hướng cát cứ, phân tán nổi lên, biên giới quốc gia bị xâm phạm

Những mâu thuẫn trong cung đình chưa yên thì trên biên giới các tù trưởng, hào trưởng địa phương liên tục nổi dậy Năm 1432, tù trưởng châu Mường Lẽ là Đèo Cát Hãn làm phản, tù trưởng châu Ngọc Ma (Nghệ An) là Cầm Quý nổi loạn (1435) Đến năm 1441, Thổ tù châu Thuận Lỗi là Nghiêm Nghiễm quấy nhiếu,… Điều này, chứng tỏ ảnh hưởng của vương triều mới còn

mờ nhạt ở cấp cơ sở nhất là vùng biên cương Đặt ra yêu cầu xây dựng nhà nước trung ương tập quyền đủ mạnh để cai trị trên phạm vi cả nước

Lợi dụng nội cung lục đục, biên cương bất ổn, các nước Bồn Man, Ai Lao, Chiêm Thành liên tục cho quân quấy nhiễu, đánh phá vùng đất phía nam Ở phía Bắc nhà Minh vẫn xúi dục các hào trưởng địa phương gây bất ổn Nền độc lập dân tộc bị đe doạ Núi sông bờ cõi đất nước an nguy

Thứ tư, Hiệu lực, hiệu quả trong các chính sách quản lý thấp

Tình hình rối ren trong cung đình, sự bất ổn ở vùng biên càng cổ vũ cho bọn nịnh thần, tham quan ô lại“ thừa nước đục thả câu” Quan đại thần thì tham quyền cố vị, thao túng quyền lực, ức hiếp trăm quan Quan dưới quyền thì được thể vơ vét Hiệu lực của bộ máy chính quyền giảm sút

Trang 34

34

Bộ máy nhà nước thì cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian Thời vua Thái Tổ, từ trung ương tới địa phương phải qua nhiều cấp khác nhau: trung ương, đạo, trấn, lộ, phủ, huyện, xã Tên gọi chưa thống nhất, phạm vi chưa được xác định cụ thể

Tình hình trên nếu không được giải quyết triệt để, nguy cơ suy vong của vương triều sẽ càng lớn Lê Thánh Tông không thể không tiến hành hành cải cách

Thứ năm, Xây dựng một nhà nước trung ương phong kiến tập quyền

đủ mạnh để cai trị đất nước trở thành nhu cầu bức thiết để tái thiết đất nước

Triều Lê sơ sau 32 năm (1428-1459) thanh bình đã hội tụ đủ các điều kiện chín muồi để Lê Thánh Tông thực hiện những cải cách của mình Đưa đất nước

sang một giai đoạn mới, giai đoạn quản lý thay cho giai đoạn chinh phục, giai

đoạn xây dựng và phát triển thay cho giai đoạn thiết lập và củng cố

Nhân dân sau một thời gian dài sống trong khói lửa binh đao rất muốn đất nước yên bình, triều đình quan tâm chăm lo phát triển sản xuất Xã hội Đại Việt bước vào thời kỳ yên ổn tập trung giải quyết những hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục Đó là thực tế, là trách nhiệm nặng nề đặt lên vai người đứng đầu nhà nước

Thực tế là những mâu thuẫn xã hội, sự lúng túng trong đường lối trị nước, thoái hoá trong đội ngũ quan lại; những yêu cầu bức thiết của đời sống xã hội đã đạt đến điểm đỉnh Buộc triều đình Lê sơ phải gồng mình ra gánh vác trách nhiệm Chính trong hoàn cảnh đó, Hoàng tử Tư Thành lên ngôi với tài năng, đức

độ, sự anh minh, sáng suốt đã kiên quyết tiến hành cải cách từng bước để chấn chỉnh những thiếu sót, lệch lạc trong quản lý Trong đó, ông xem cải cách hành chính là trung tâm Ông lấy đó làm tiền đề thực hiện và thúc đẩy các cải cách khác Trong cải cách hành chính, ông đặt vị trí của việc xây dựng đội ngũ quản

lý mới làm then chốt

Từ định hướng đúng, Lê Thánh Tông triển khai thực thi các biện pháp mạnh, thiết thực, hiệu lực, hiệu quả đã đưa quốc gia phong kiến Đại Việt bước vào giai đoạn phát triển cực thịnh

2.2.2 Mục tiêu của cuộc cải cách

Trang 35

Mục tiêu này cũng phù hợp với tư tưởng Nho giáo với thuyết “tôn quân quyền” Lê Thánh Tông lại là người được đào tạo bài bản theo học thuyết của Nho giáo Ông thấm nhuần và rất tôn sùng tư tưởng Nho giáo, coi đó là quốc giáo và là kế sách để cai trị dân chúng

Trong dụ Hiệu định quan chế, Lê Thánh Tông khẳng định: “đất đai bờ cõi ngày nay so với ngày trước khác nhau nhiều lắm, ta phải tự mình giữ quyền chế tác, làm chọn đạo biến thông” [5,454]

Hai là, Phân công, xác định lại công việc giữa các cơ quan trong triều nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý

Sự yếu kém của bộ máy đã làm cho tình hình kinh tế-chính trị, văn hoá-xã hội đầu thời Lê sơ lâm vào khủng hoảng Các chức trách, bộ phận bỏ bê công việc, các quan lại không làm tròn nhiệm vụ, lo vơ vét tiền của, tham quyền cố vị,… Các cơ quan trách nhiệm không rõ ràng, chưa có sự ràng buộc lẫn nhau Nội dung của dụ Hiệu định quan chế mà Lê Thánh Tông ban hành đã xác định

rõ mục tiêu này Ông nêu cụ thể chức trách của các cơ quan: “…ở trong quân vệ đông đúc thì năm phủ chia nhau giữ, việc công bề bộn thì sáu bộ chia nhau mà

làm…” [5,454]

Ba là, Tuyển chọn người tài ra làm quan Thay thế đội ngũ quan lại quan liêu thân tộc bằng tầng lớp quan lại quan liêu tri thức nho học

Năm 1484, tấm bia đầu tiên được dựng ở Quốc Tử Giám, Thân Nhân

Trung nhân danh vua Lê Thánh Tông khắc dòng chữ: “Hiền tài là nguyên khí

Trang 36

36

quốc gia” Đó là tư tưởng xuyên suốt của Lê Thánh Tông trong sự nghiệp của

mình Ông muốn lựa chọn cho được đội ngũ quan lại có thực tài thông qua con đường thi cử Trên tinh thần đó, Lê Thánh Tông áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích giáo dục và tuyển dụng nhân tài Ngay cả chức xã trưởng cũng phải là những người có gốc nho học mới được bầu Quan lại có tri thức, có hiểu biết là giường cột của triều đình đưa đất nước đến thịnh trị

Bốn là, Tạo ra sự ràng buộc, kiềm chế, giám sát giữa các bộ phận

Muốn tập trung quyền lực vào tay vua, vua có thể thông tỏ mọi điều thì đội ngũ quan lại phải tuyệt đối trung thành, không dám lộng quyền, tiếm quyền, lạm quyền Cách tốt nhất là tạo ra mối liên hệ ràng buộc, kiềm chế, đối trọng nhau giữa các quan lại Vua sẽ là đầu mối để xử lý các thông tin, quan sát nắm bắt mọi điều Trong dụ Hiệu định quan chế đặt ra mục tiêu: “…tất cả đều liên quan với nhau, ràng buộc lẫn nhau….”, “….trách nhiệm lại có nơi quy kết khiến cho quan to, quan nhỏ đều ràng buộc với nhau, chức trọng, chức kinh cùng kiềm chế lẫn nhau” [5,454]

Có được như vậy, các quan lại mới làm việc công tâm, luôn đúng chức trách, bổn phận và tận tình với công việc Việc điều hành quản lý đất nước mới được vận hành suôn sẻ, các chính sách quản lý mới đem lại hiệu quả

Trên tình thần thực hiện các mục tiêu đó, Lê Thánh Tông tiến hành triển khai các nội dung của cải cách hành chính

2.2.3 Sơ lược nội dung cải cách hành chính của Lê Thánh Tông

2.2.3.1 Cải cách bộ máy ở trung ương

- Bãi bỏ chức tể tướng:

Các triều đại trước đều có chức tể tướng đứng đầu 2 ban văn võ với quyền

hành vô cùng lớn:“dưới một người, trên vạn người” Tể tướng giữ vai trò trọng

yếu trong triều đình, giữ quyền thực thi pháp luật, có quyền chi phối các mệnh quan triều đình

Thực hiện mục tiêu thâu tóm mọi quyền hành trong tay, trực tiếp điều hành công việc của các cơ quan, Lê Thánh Tông bãi bỏ chức vụ Tể tướng Nguy

cơ tiếm quyền, lộng quyền, lạm quyền của bậc đại thần bị triệt tiêu Mức độ tập trung quyền lực của nhà nước trung ương tập quyền đạt đến mức cao nhất

- Bãi bỏ các cơ quan trung gian:

Trang 37

37

Lê Thánh Tông bãi bỏ các cơ quan trung gian: Nội Mật Viện, Thượng Thư Sảnh, Tôn Nhân Phủ,… Chủ trương tinh giản bộ máy cơ quan trung ương này không nằm ngoài dụng ý thu gọn đầu mối, tránh sự nhiễu loạn thông tin từ cấp địa phương đến cấp trung ương Để vua có thể trực tiếp nắm bắt tình hình đất nước và điều hành công việc của lục bộ Và tránh được sự phân tán quyền lực, gây bè phái, nội loạn trốn thâm cung

Bằng những cải cách đó, mô hình nhà nước trung ương tập quyền đã đạt đến đỉnh cao Mô hình này tiếp tục được triều Nguyễn kế thừa và phát triển

- Cải cách các cơ quan giúp việc hàng ngày cho vua:

Lê Thánh Tông tổ chức và quy định lại cơ quan văn phòng giúp việc Vua định rõ thẩm quyền, chức trách của các cơ quan: Đông Các, Trung Thư giám,… Cải cách cơ quan văn phòng, vua có điều kiện tập trung điều hành chính sự mà vẫn giám sát được những công việc hàng ngày của văn phòng

- Cải cách ở lục bộ, lục tự:

Lê Thánh Tông nắm quyền hành quản lý trực tiếp cơ quan chuyên môn

Do đó, vua phải cải cách, tổ chức lại lục bộ, lục tự Điều này Vua đã trăn trở qua việc đổi bộ thành viện rồi viện thành bộ Vua Lê Nghi Dân cũng đặt ra 6 bộ, 6 tự nhưng chỉ là hư danh chưa có thực quyền Đến năm 1466 chức năng, nhiệm vụ của từng bộ được phân định rõ, Bộ Lại: tuyển bổ, thăng, giáng cho quan lại Bộ Lễ: đặt và tiến hành các nghi lễ, yến tiệc, học hành, thi cử Bộ Hộ: trông coi ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế, lương bổng của quan lại Bộ Binh: trông coi việc binh chính, quân sự Bộ Hình: trông coi pháp luật, thi hành pháp luật, xét xử kiện cáo,… Bộ Công: xây dựng lâu đài, cung điện đường xá,…

Lê Thánh Tông đặt thêm lục tự để đảm đương những công việc không thuộc lục bộ (có thể coi là cơ quan trực thuộc Chính phủ ngày nay): Thái Thường Tự, Đại Lý Tự,…

Việc đổi tên từ bộ thành viện, Lê Thánh Tông muốn các bộ làm chức năng tham mưu Vì sợ sự phân quyền cho lục bộ Nhưng khi đi vào hoạt động, các viện không phát huy được hiệu quả Viện chỉ là cơ quan tham mưu, tư vấn không phải là cơ quan chức năng điều hành công việc Lục viện phải trở về lục

bộ với chức năng quản lý theo nghành, theo lĩnh vực cụ thể Đồng thời, Lê Thánh Tông đặt thêm lục khoa để giám sát, hạn chế quyền hành của các bộ

Trang 38

38

- Tổ chức lại cơ quan kiểm tra, giám sát:

Đời Trần đã có Ngự sử đài để giám sát, đàn hạch các quan trong triều đình Đứng đầu là Ngự sử trung tán, nhưng nhiều khi do Tể tướng kiêm nhiệm, khó tránh khỏi sự lạm quyền, thao túng quyền lực Lê Thánh Tông cải cách lại, trao thêm quyền, đặt địa vị của Ngự sử đài lên cao hơn để bảo đảm tính độc lập Ngự sử đài do Đô ngự sử (phẩm trật từ tòng nhị phẩm trở lên), phó Đô ngự sử (tòng tam phẩm), đều là người có học vị tiến sĩ đảm trách và phải qua 4 kỳ khảo khoá

Nếu như, Hồ Quý Ly chỉ chú trọng tới giám sát cấp địa phương khi đặt Sở liêm phóng ở các lộ để dò xét tình hình, trông coi bộ máy mật thám và dò la tin tức [12] Thì, Lê Thánh Tông coi trọng giám sát cả cấp địa phương và trung ương Ở địa phương ngoài Hiến sát sứ ti còn có Ngự sử đài ở 13 thừa tuyên Ở triều đình trung ương ngoài Ngự sử đài còn có lục khoa giám sát lục bộ

Việc đặt 6 khoa tương ứng với 6 bộ để giám sát công việc của 6 bộ nhằm hạn chế sự phân quyền của 6 bộ, bảo đảm công việc được thừa hành, các quan ràng buộc, kiểm chế nhau thực hiện đúng chức trách, bổn phận của mình

Cái hay của việc đặt ra 6 khoa là đề ra quy chế giám sát, kiểm tra theo hệ thống dọc, hoàn toàn độc lập nhau: “… chỉ ra thu vào là chức của hộ bộ mà hộ khoa phải giúp đỡ, Lại bộ thăng bổ nhầm người thì Lại khoa được phép bác bỏ…” [5,454] Cơ quan thanh tra, giám sát được đặt ngang hàng với lục bộ, mang tính độc lập có quyền hành lớn chỉ chịu mệnh vua, không phụ thuộc sự chỉ đạo chi phối của bất cứ quyền lực nào khác Giám sát như vậy là công tâm, khách quan, chính xác

Qua những cải cách ở trung ương, Lê Thánh Tông đã củng cố vững chắc quyền lực của mình đến mức tối đa, thoát ra khỏi mô hình bộ máy gia đình trị, dòng họ trị, cách thức làm việc cá nhân Ông tổ chức hợp lý các cơ quan chuyên môn, giảm bớt đầu mối, tạo được sự ràng buộc, kiềm chế lẫn nhau Với cơ chế

đó vua trở thành trung tâm của quyền lực

2.2.3.2 Cải cách hành chính ở địa phương

Để tiện cho việc quản lý, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách hành chính ở địa phương Ông chia cả nước thành 13 thừa tuyên; bỏ cấp trấn, lộ Các cấp chính quyền địa phương gồm: thừa tuyên, phủ, huyện, châu - xã Lê Thánh Tông

Trang 39

39

lệnh cho các thừa tuyên phân giới cắm mốc, lập bản đồ địa lý – hành chính: “Sai

12 thừa tuyên tra xét trong hạt mình những nơi sông núi hiểm dị, cùng sự tích xưa nay vẽ thành bản đồ, ghi chú rõ ràng, gửi cho bộ Hộ để làm bản đồ địa lý” [5,301] Tính đến năm 1489, cả nước có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6841 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường” [5,507]

Lập bản đồ trong cả nước không chỉ có ý nghĩa xác định lãnh thổ đất nước

mà còn thể hiện trình độ quản lý hành chính triều Lê Thánh Tông đã đạt được mức cao Bản đồ đó là bản đồ hành chính làm cơ sở để phân định ranh giới giữa

các vùng miền khác nhau, làm cơ sở xác định nhân tố địa chính trị, địa nhân sinh, địa văn hoá, địa kinh tế để đưa ra những chính sách quản lý cho phù hợp

với từng vùng Nó cũng không nằm ngoài mục đích củng cố và thâu tóm mọi quyền lực cho nhà vua Việc lập bản đồ hành chính chứng tỏ, sự chi phối của triều đình trung ương đã vươn tới được các vùng miền của đất nước

- Phân định chức trách, nhiệm vụ các cấp chính quyền địa phương:

Trước Lê Thánh Tông, các cấp có người đứng đầu phụ trách chung Đứng đầu đạo là Hành khiển, Tổng quản chỉ huy quân đội, cấp trấn có Trấn thủ,… Thì nay, việc tổ chức lại cấp địa phương theo tinh thần tránh tình trạnh cát cứ, phân tán để tập trung quyền lực Theo đó, ở mỗi thừa tuyên không có người đứng đầu Ông đặt 3 ty thừa hành công việc, ngang quyền nhau và trực tiếp liên hệ với trung ương Thừa ty phụ trách các việc hành chính dân sự Hiến ty: phụ trách việc thanh tra quan lại trong đạo của mình Đô ty: phụ trách quân đội Dưới thừa tuyên là phủ có Tri phủ đứng đầu, chịu trách nhiệm chung; dưới phủ có huyện

do Tri huyện đứng đầu

Ngoài ra Lê Thánh Tông đặt Ngự sử đài ở 13 thừa tuyên trực thuộc Ngự

sử đài trung ương cùng thực hiện việc kiểm tra, giám sát

Với cách thức tổ chức đó, vua Lê Thánh Tông vừa nắm bắt được công việc các cấp, vừa tránh được xu hướng cát cứ, ly tâm Công việc điều hành lại thông tỏ, không kẻ nào dám làm bậy, tính chuyên môn hoá ở mức cao Các ty là cánh tay nối dài, là tai mắt của vua để trông coi cấp địa phương

Đối với cấp xã, Lê Thánh Tông đổi xã quan thành xã trưởng do dân bầu

Xã trưởng phải thoả mãn điều kiện nhất định mới được làm Các triều trước,

Trang 40

40

chia xã theo số dân đinh, Lê Thánh Tông căn cứ theo số hộ gia đình để chia xã nhằm củng cố thiết chế Nho giáo trong xã hội Thông qua đó mà giữ gìn kỷ cương phép nước

2.2.3.3 Cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại

Lê Thánh Tông phải tuyển chọn và sử dụng một đội ngũ quan lại mới thay thế cho tầng lớp khai quốc công thần đã không đáp ứng được yêu cầu điều hành công việc Ông đã thi hành một loạt các biện pháp, từ việc cải cách hệ thống thi tuyển quan chức, thực hiện chính sách trọng đãi hiền tài, thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát quan lại; chuẩn mực hoá các chức quan cho đến bãi bỏ chức vụ tể tướng Ông muốn tạo dựng cho được đội ngũ quan lại có thực tài và tuyệt đối tận trung với nhà vua theo tinh thần: “…các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau, lẽ phải và việc lớn của nước không bị lung lay…” [5,454] Hiệu quả của cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại đã góp phần to lớn vào thành công chung cuộc cải cách hành chính

2.2.3.4 Những nội dung cải cách hành chính khác

Cùng với những cải cách trọng tâm: bộ máy nhà nước và quan chế, Lê Thánh Tông thi hành các biện pháp cải cách khác liên quan đến việc xây dựng

và hoàn thiện nhà nước phong kiến tập quyền Nhất là việc hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, việc ra văn bản và thực thi văn bản

Trong 38 năm làm vua, Lê Thánh Tông ban hành 83 sắc chỉ về các công

việc hành chính và thể chế quan chức, 10 sắc chỉ quy định về kiện tụng, 8 sắc chỉ về đội ngũ quan lại trông coi pháp luật, 11 sắc chỉ về phòng chống tham

nhũng, hối lộ, buôn lậu,… Lê Thánh Tông là vị vua đầu tiên cho phép các làng

xã áp dụng chế độ hương ước để quản lý trên địa bàn Ông cho phép hương ước hoá các phép tắc của nhà nước để dân làng thực thi nhằm phát huy tính dân chủ

ở làng xã

Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn cho soạn thảo, pháp điển hoá các quy tắc pháp luật thành bộ luật Hồng Đức Trong bộ luật Hồng Đức có rất nhiều điều luật liên quan đến thể chế hành chính nhà nước về các mặt, quyền và nghĩa vụ quan lại, về nền công vụ, Các điều luật này tập trung ở chương Cấm vệ và chương Vi chế

Ngày đăng: 23/07/2021, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, (1995) Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tập 5, tr.240, 269 Khác
[3] Trung tâm Từ điển học (2009), Từ điển tiếng việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội [4] Lê Quý Đôn, toàn tập, (1977), Kiến văn tiểu lục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
[7] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học, HN, 1961, T.I, Tr.191, T.III Khác
[8] Viện Nghiên cứu Tài chính, (2001), Tài chính Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, Nxb. Tài chính, Hà Nội Khác
[9] Khâm định Đại Nam hội điển, (1993) Nxb Thuận Hoá, T.3 Khác
[10] Emmanuel Posson, (2006), Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam một bộ máy hành chính trước thử thách, Nxb Đà Nẵng Khác
[11] Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075-1919), Nxb. Văn học Hà Nội Khác
[12] Phan Huy Lê, Cải cách hành chính của Hồ Quý Ly và thất bại của triều Hồ, In trong tạp trí nghiên cứu lịch sử số 5- 1992 Khác
[13] Phan Huy Chú, (1992) Lịch triều hiến chương loại chí, Quan chức chí, Nxb.KHXH, Hà Nội Khác
[15] Vũ Minh Giang, Pháp luật với xã hội Việt Nam thế kỷ XV-XVIII, Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam Khác
[16] Nguyễn Hiến Lê, (1997), Sử Trung Quốc (II), Hà Nội Khác
[17] Lê Quý Đôn, toàn tập, Đại Việt thông sử,, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997 Khác
[18] Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX [19] Tài liệu học tập văn kiện đại hội IX của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w