Đề tài "Quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học Viện Nam hiện nay [11] , đề tài này được tác giả tiếp cận từ việc ứng dụng khoa học công nghệ 4.0 trong quản lý hoạt động giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài : TS Lê Văn Quyến Khoa : Pháp luật hành chính
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chủ nhiệm đề tài : TS Lê Văn Quyến Khoa : Pháp luật hành chính Thành viên tham gia:
Ths Đào Ngọc Quang Phó Giám đốc phân hiệu ThS Bùi Thị Bình Khoa: hành chính học ThS Phạm Đăng Khoa Phòng QLĐT và CTSV Ths Phạm Hồng Đạc Khoa: Lý luận cơ bản và chính trị học
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020
Trang 3nhìn trong những năm tiếp theo, nhóm tác giả đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và giải pháp ” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Để hoàn thành đề tài này, nhóm nghiên cứu xin trân trọng gửi lời cảm ơn: Ban Giám hiệu, Ban Giám đốc phân hiệu; Hội đồng khoa học, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, các phòng, khoa chuyên môn, sinh viên các khóa 17, 18, 19 đã có những đóng góp ý kiến, những chia sẻ góp ý để nhóm nghiên cứu hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cám ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 6
3.1.Về mục tiêu nghiên cứu 6
3.2 Về nhiệm vụ nghiên cứu: 7
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu: 8
4.3 Khách thể nghiên cứu: 8
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 10
1.1 Một số khái niệm về quản lý hoạt động đào tạo ở trường đại học 10
1.1.1 Quản lý 10
1.1.2 Quản lý hoạt động đào tạo 12
1.1.3 Trường đại học 14
1.1.4 Quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học 14
1.1.5 Chất lượng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học 15
1.2 Đặc điểm, vai trò, nội dung và các yếu tố làm ảnh hưởng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đai học 17
Trang 51.2.1 Đặc điểm của quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học 17
1.2.2 Vai trò của quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học 19
1.2.3 Nội dung và chủ thể quản lý hoạt động đào tạo ở trường đại học 22
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo của các trường đại học 30
1.3 Quan điểm của Đảng và quy định của nhà nước về quản lý hoạt động đào tạo của các trường đại 34
1.3.1 Quan điểm của Đảng về quản lý hoạt động đào tạo của các trường đại học 34
1.3.2 Quy định của Nhà nước về quản lý hoạt động đào tạo của các trường đại học 36
Tiểu kết Chương 1 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42
2.1 Khái quát về Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh42 2.2 Quá trình thực hiện các nội dung quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 cho đến nay 45
2.2.1 Quản lý hoạt động tuyển sinh 45
2.2.2 Quản lý chương trình đào tạo 51
2.2.3 Quản lý kế hoạch đào tạo 53
2.2.4 Hoạt động quản lý sinh viên thực hiện nội quy, quy chế tại Phân hiệu 55
2.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá chất lượng khảo thí, kết quả học tập của sinh viên 56
2.3 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu 59
2.3.1 Về ưu điểm và nguyên nhân trong quản lý hoạt động đào tạo 59
2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân trong quản lý hoạt động đào tạo 61
Tiểu kết Chương 2 67
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 68
Trang 63.1 Định hướng nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường
đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh 68
3.1.1 Định hướng phát triển phân hiệu đến năm 2030 và hướng tới tự chủ 68
3.1.2 Định hướng công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 70
3.2 Kiến nghị nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh 72
3.2.1 Công tác quản lý chương trình đào tạo 72
3.2.2 Công tác quản lý kế hoạch đào tạo 73
3.2.3 Quản lý hoạt động tuyển sinh 73
3.2.4 Công tác quản lý đánh giá chất lượng khảo thí 76
3.2.5 Tăng cường trang thiết phục vụ hoạt động quản lý đào tạo 77
3.2.6 Tăng cường công tác quản lý hoạt động sinh viên tại phân hiệu 79
3.2.7 Phân quyền cho Ban Giám đốc phân hiệu 80
3.2.8 Trang bị phần mền quản lý đào tạo, Xây dựng hệ thống giáo trình, tài liệu chuyên khảo phục vụ hoạt động đào tạo của Phân hiệu 81
3.2.9 Phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên, sinh viên trong Phân hiệu 83 3.2.10 Phát triển hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý đào tạo 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
5 Phân hiệu Đại học Nội vụ Hà Nội tại PHHCM
12 Phòng Hành chính- Quản trị-Tổ chức Phòng HC-QT-TC
13 Phòng quản lý đào tạo và công tác sinh viên QLĐT &CTSV
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Kết quả hoạt động tuyển sinh hệ chính quy của Phân hiệu 47
Kế quả hoạt động tuyển sinh hệ vừa làm vừa học của Phân hiệu 48
Điểm trúng tuyển tại Phân hiệu so với các trường, học viện 49
Xếp loại học tập của sinh viên chính quy tích lũy từng học kỳ 57
Giai đoạn I: 2021-2025 (Số lượng giảng viên phục vụ cho nhu cầu đào tạo tại phân hiệu) 69
Giai đoạn II: 2025-2030 (Số lượng giảng viên phục vụ cho nhu cầu đào tạo tại phân hiệu) 69
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trong mọi thời đại Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục - đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ
Mỗi một thời kỳ lịch sử của đất nước, lịch sử giáo dục đã trải qua nhiều nền giáo dục khác nhau, từ khi Cách mạng Tháng 8 thành công cho đến nay nền giáo dục của nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, nền giáo dục nước ta đã đào tạo được những lớp người yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu chuộng hòa bình, có đạo đức, có văn hóa, có kỹ năng ngành nghề cao
Nền giáo dục đào tạo Việt Nam đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếp tục khẳng định vai trò của giáo dục - đào tạo trong thời kỳ mới, Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học”
Nghị quyết XII của Đảng là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về phát triển giáo dục và đào tạo Mục tiêu của nghị quyết đã thể hiện sự chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo, hướng đến xây dựng một nền giáo dục hiện đại, nhân văn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo về tổ quốc thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế
Thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay ngày càng hoàn thiện về chương trình học, về điều kiện học tập, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục ngày càng được tăng cường, đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, nền giáo dục của nước ta ngày càng bộc lộ những bất cập và hạn chế, cụ
Trang 10thể: chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu; hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất Quản
lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vị trí và tầm quan trọng của đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Nhằm xây dựng uy tín, thương hiệu của nhà trường hoạt động đào tạo, tăng thứ bậc trong bảng xếp hạng các trường đại học của Việt Nam, trong những năm qua, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã rất quan tâm đến hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường đại học Nội Vụ tại thành phố Hồ Chí Minh, nhiệm
vụ của phân hiệu hàng năm luôn hoàn thành đã từng bước khẳng định năng lực và
uy tín của nhà trường đối với xã hội
Hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ tại TP Hồ Chí Minh đang ở trong giai đoạn phân cấp đào tạo một số chuyên ngành, hoạt động đào tạo của nhà trường còn gặp một số khó khăn nhất định như: cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đào tạo của phân hiệu cũng còn nhiều hạn chế; nguồn nhân lực phục vụ hoạt động trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng còn trẻ; đội ngũ giảng viên của phân hiệu chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đào tạo, nhà trường còn phải nhờ sự trợ giúp của đội ngũ giảng viên của các trường bạn; tỷ lệ sinh viên bỏ học, bảo lưu kết quả học tập, xóa tên khỏi danh sách lớp học chiếm 7%/năm [14] công tác quản lý duy trì nề nếp học tập của sinh viên, công tác đánh giá, kiểm tra chất
Trang 11lượng người học, quản lý chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng của nhà trường vẫn còn một số bất cập; việc quảng bá thương hiệu của nhà trường chưa được thường xuyên
Trước những thuận lợi và khó khăn trên, một trong những yếu tố tiên quyết
để duy trì sự phát triển của nhà trường trong thời gian hiện tại và những năm tiếp theo phân hiệu sẽ tự chủ về hoạt động đào tạo
Do vậy, nhằm làm sáng tỏ những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản
lý hoạt động đào tạo của phận hiệu đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố
Hồ Chí Minh
Chính vì lẽ trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường đại học Nội vụ tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và giải pháp” làm đề tài cấp trường
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lịch sử giáo dục ở nước ta đã trải qua hàng ngàn năm văn hiến, đặc biệt ngay từ khi nước nhà được độc lập năm 1945, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo đến sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, đến Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế Đảng và nhà nước ta đã xác định “con người là trung tâm, vừa
là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển”, Đảng ta đã nhất quán và kiên trì
thực hiện quan điểm: “Đối với trí thức, phát huy năng lực, trí tuệ, mở rộng thông
tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài Khuyến khích các trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo Bảo vệ quyền sở hữu, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức trong công cuộc phát triển đất nước”[1]
Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm nhằm xây dựng cho xã hội có đội ngũ lao động, đội ngũ trí thức đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 12Để thực hiện được nhiệm vụ này thì hoạt động đào tạo cần được xem là một chuỗi quy trình, từ công tác tuyển sinh đến công tác quản lý người dạy, người học, quản lý cơ sở vật chất, kiểm định chất lượng, tổ chức giảng dạy, triển khai khai chương trình, mở rộng quy mô đào tạo Tất cả các quy trình trên đều có mối liên hệ mật thiết với nhau để tạo ra kết quả và chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo
Hoạt động đào tạo ở các trường đại học ở nước ta hiện nay mặc dù ngày càng được mở rộng về quy mô, chất lượng, tuy nhiên về chất lượng trong đào tạo vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định
Chính vì vậy, có rất nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu về hoạt động đào tạo được tiếp cận ở nhiều góc độ để đưa ra những luận giải khác nhau về hoạt động đào tạo, về chất lượng hoạt động đào tạo, về phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hoạt động đào tạo đại học, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu
liên quan đến hoạt động đào tạo, như sau: "Quản lý hoạt động đào tạo ở Học viện
Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh" [9], qua nghiên cứu công trình này
cho thấy: tác giả đã khái quát được vai trò của giáo dục - đào tạo, vai trò của hoạt động quản lý giáo dục - đào tạo, nội dung, phương thức của đào tạo, nội dung quản
lý chương trình đào tạo Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý đào tạo ở Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đề tài này tác giải chưa tiếp cận được các yếu tố tác động đến hoạt động đào tạo của trường đại học mà tác giải chỉ dừng lại trong các thức quản lý các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý đào tạo của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Đề tài "Quản lý đào tạo trực tuyến tại các trường đại học Viện Nam hiện
nay [11] , đề tài này được tác giả tiếp cận từ việc ứng dụng khoa học công nghệ 4.0
trong quản lý hoạt động giáo dục, từ hoạt động đào tạo trực tuyến, hoạt động đào tạo từ xa, các hoạt động liên quan đến công tác đào tạo như chất lượng hoạt động của giảng viên, đội ngũ quản lý, việc đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục còn một số hạn chế, tác giả phân tích, đánh giá
Trang 13hiệu quả của mô hình quản lý, đào tạo trực tuyến, đồng thời tác giả nhận định những xu hướng đào tạo nguồn nhân lực trong thời gian tới Qua nghiên cứu đề tài này đã giúp cho nhóm tác giải tiếp cận được cách thức quản lý các hoạt động đào tạo trực tuyến cũng như khắc phục được một số hạn chế trong đào tạo trực tuyến, đây là xu thế trong những năm tiếp theo phân hiệu cần triển khai, thực hiện
Cũng liên quan đến hoạt động đào tạo còn có đề tài "Quản lý đào tạo theo
hệ thống tín chỉ trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam [6], đề tài được
tác giả khảo sát các trường đại học địa phương đào tạo tín chỉ, thực trạng đào tạo
hệ theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học ở địa phương, tác giả đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo tín chỉ trong các trường đại học ở địa phương ở Việt Nam Từ thực tiễn của đề tài về đào tạo tín chỉ và khi áp dụng tại phân hiệu, đây là
cơ sở cho việc nhóm tác giả nhìn nhận một số khó khăn trong đào tạo theo hình thức tín chỉ tại phân hiệu trong điều kiện còn khó khăn về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực hiện hữu
Ngoài các đề tài trên còn có rất nhiều bài viết đăng trên các Tạp chí khoa
học, cụ thể như: "Một số giải pháp đổi mới quản lý chất lượng giáo dục đại học ở
trường Đại học Vinh", [13] Bài viết này, tác giả đã đưa ra một cách khái quát về
chất lượng, quản lý chất lượng giáo dục đại học, thực trạng quản lý chất lượng giáo dục đại học, theo bài viết trên tác giải tiếp cận ở góc độ chất lượng đầu ra của hoạt động đào tạo nhưng chưa tiếp cận các yếu tố tác động đến chất lượng hoạt động đào tạo
"Một số giải pháp nâng cao số lượng và chất lượng đầu vào của sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay"[12], tác giả đã khái quát được số lượng
của các trường đại học hiện nay ở nước ta, tác giả đã đánh giá và phân tích 15 chính sách của trường Đại học Nội vụ Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng và số lượng sinh viên đầu vào của nhà trường đồng thời đưa ra các giải pháp hết sức căn bản trong công tác nâng cao chất lượng và số lượng sinh viên đầu vào của nhà trường trong những năm tiếp theo
Trang 14Bài viết này sẽ giúp cho nhóm tác giả nghiên cứu tiếp cận hoạt động quản lý đào tạo nhìn từ góc độ Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành Phố Hồ Chí Minh;
Bên cạnh đó cũng có bài viết "Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo ở các
trường cao đẳng cộng đồng khu vực đồng bằng bắc bộ theo tiếp cận đảm bảo chất lượng hiện nay" [10], tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo
của các trường cao đẳng cộng đồng hiện nay ở khu vực đồng bằng Bắc bộ nước ta, nêu lên những khó khăn vướng mắc và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo của nhà trường;
Ngoài việc, tiếp cận ở góc độ quản lý, còn có một số bài viết nhằm nâng cao
năng lực cho sinh viên trong thời đại công nghiệp 4.0 còn có bài viết "Nâng cao
năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình" [11], tác giả đã phân tích vai trò của cách mạng công nghiệp 4.0, tác
giả đã nêu rõ những thời cơ và thách thức đối với sinh viên Việt Nam hiện nay, đồng thời tác giả đề xuất những giải pháp về nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ 4.0 cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình Thông qua bài viết này sẽ giúp cho nhóm tác giả có những đề xuất về các thức quản lý hoạt động đào tạo tại Phân hiệu Trường đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ CHÍ Minh
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1.Về mục tiêu nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo ở các trường đại học nói chung và ở Phân hiệu Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là một trong những mắt xích quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng, uy tín của nhà trường trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Cho nên, đề tài xác định mục tiêu nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu quá trình áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo ở Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại tp Hồ Chí Minh
Trang 15- Nghiên cứu cách thức và phương pháp quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ tại thành phố Hồ Chí Minh,
- Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ phân tích đánh giá, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo của phân hiệu trong những năm qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy
và nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Về nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành mục tiêu trên nhóm tác giả thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Một là: Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo các trường
đại học:
- Nhóm tác giả nghiên cứu làm rõ các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo như: quản lý; quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học; đặc điểm và vai trò của quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học; quan điểm của Đảng và quy định của nhà nước về quản lý hoạt động đào tạo trong các trường đại học; nghiên cứu chủ thể của quản lý hoạt động đào tạo ở trường đại học; nội dung quản lý hoạt động ở trường đại học; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Hai là: trên cơ sở lý luận được xây dựng trong chương 1, nhóm tác giả sẽ
khảo sát phần thực trạng quản lý hoạt động đào tạo tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh; phân tích những nhân tố tác động đến quản lý hoạt động đào tạo của phân hiệu; những thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn trong việc triển khai các nhiệm vụ liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo của phân hiệu
Thứ ba: qua nghiên cứu phần thực trạng để đánh giá những tồn tại và hạn
chế trong quản lý hoạt động đào tạo tại phân hiệu là cơ sở cho nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đào tạo tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 164 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại
thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo của Phân hiệu Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 đến nay
4.3 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm: các nhiệm vụ liên quan đến quản
lý hoạt động đào tạo của Ban Giám đốc, các Phòng/khoa chuyên môn, của đội ngũ giảng viên, các hoạt động SV Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành như: tâm lý học, giáo dục học, xã hội học… để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn của
đề tài
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Để có được các thông tin khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật
cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu:
Nhóm nghiên cứu đã thu thập và phân tích các văn bản chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo tại trường đại học; các công trình nghiên cứu và các bài viết liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo; các báo cáo liên quan đến công tác quản lý hoạt động đào tạo tại Phân hiệu Trường
Trang 17Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh… để làm nền tảng căn bản phục vụ cho việc nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Phương pháp chuyên gia:
Trong quá trình thực hiện đề tài này nhóm tác giả nghiên cứu và tiếp thu sự góp ý của một số chuyên gia để tham khảo kinh nghiệm và đề xuất của các nhà quản lý, các GV có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi:
Phương pháp điều tra xã hội học được nhóm nghiên cứu sử dụng để tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất, thực trạng đội ngũ giảng viên, góp ý của sinh viên trong một số công tác liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh Thông qua các số liệu báo cáo của các phòng/khoa chuyên môn liên quan đến hoạt động đào tạo cũng như khảo sát tình hình thực tiễn các quản lý hoạt động đào tạo tại phân hiệu là nền tảng cho việc nhận diện những tồn tại và hạn chế trong quản lý hoạt động đào tạo tại phân hiệu
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Một số khái niệm về quản lý hoạt động đào tạo ở trường đại học 1.1.1 Quản lý
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý xuất hiện ở những cấp độ khác nhau, hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra Như vậy, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện nhiệm vụ nhằm hoàn thành mục tiêu chung của
tổ chức
Hiện nay có rất nhiều tác giả đứng ở nhiều phương diện khác nhau để nghiên cứu về quản lý, các tác giả này đều đưa ra được các khái niệm cơ bản liên quan đến hoạt động quản lý, chẳng hạn như:
Mác đã coi quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động [2] Nhấn mạnh nội dung trên ông viết “tất cả lao động xã hội trực tiến hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung….một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”[3], từ khái niệm cho thấy quản lý
đó là sự thiết lập những hoạt động chung của nhiều người để công việc đạt hiệu quả cao nhất
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [8]
Theo giáo trình Luật hành chính của Trường đại học Luật Hà Nội, quản lý là
sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở trên nơi đó và lúc đó có hoạt
Trang 19động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất nhằm đạt được mục đích đã định trước[17]
Từ những khái niệm trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản
lý, nhưng đều có sự thống nhất chung đó là quản lý chỉ xuất hiện khi có hoạt động của con người diễn ra với mục đích chung
Như vậy, hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra
ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình
xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định Cho nên, hoạt động quản lý có những chức năng cơ bản sau:
Chức năng kế hoạch hoá: nói đến kế hoạch là nói đến những công việc cần
thực hiện ở một giai đoạn trong tương lai nhằm triển khai thực hiện chủ chương, chương trình, dự án… Kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Trong hoạt động quản lý kế hoạch là căn cứ hành động của cả tổ chức và có các nội dung chủ yếu đó là: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó và tiến trình thực hiện các hoạt động đó như thế nào
Chức năng tổ chức: Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ
giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ
Trang 20phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng thành công của
kế hoạch
Chức năng chỉ đạo: Đây là quá trình tác động qua lại giữa chủ thể quản lý
và mọi thành viên trong tổ chức nhằm giúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên
hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó
để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc
Chức năng kiểm tra: kiểm tra, giám sát là một khâu của quy trình thực hiện
kế hoạch, hoạt động này giúp cho nhà quản lý có cách thức điều chỉnh, bổ sung những công việc cần thiết, kiểm tra nhằm theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra
Từ phân tích trên có thể đi đến khái niệm về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức
1.1.2 Quản lý hoạt động đào tạo
Đào tạo là hoạt động của con người liên quan đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định
Theo Từ điển Bách khoa “đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển
xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”[18]
Trang 21Nói đến hoạt động đào tạo có nhiều cách tiếp cận, cụ thể: theo tác giả Lê
Quang Sơn “Hoạt động đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể
dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể” [6]
Từ quan điểm trên cho thấy, hoạt động đào tạo là hoạt động được tiến hành trên nhiều lĩnh vực Từ quy trình tổ chức thực hiện đến tổ chức quản lý các chương trình đào tạo, tổ chức quản lý các hoạt động khác liên quan đến hoạt động của cơ
sở đào tạo
Bên cạnh cách tiếp cận trên thì tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân cho rằng
“Hoạt động đào tạo là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo
dục thái độ cho người học nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống”[9], khác với cách tiếp cận của tác giả Nguyễn Quang Sơn, tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân đã tiếp cận hoạt động đào tạo dưới phương diện là sự truyền đạt kiến thức, kỹ năng từ người dạy đến người học
Như vậy, theo các tác giả trên thì có thể khái quát được hoạt động đào tạo bao gồm các hoạt động cơ bản: hoạt động dạy - học là hoạt động trung tâm, có vai trò cốt lõi của hoạt động đào tào
Từ khái niệm về quản lý, hoạt động đào tạo có thể đi đến khái niệm quản lý hoạt động đào tạo như sau:
Quản lý hoạt động đào tạo là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đào tạo tác động lên tất cả các quy trình từ hoạt động tổ chức đào tạo, hoạt động quản lý cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng
Trang 22viên, quản lý hoạt động của sinh viên để hoạt động đào tạo có trật tự, ổn định đúng theo kế hoạch, mục tiêu của hoạt động đào tạo
1.1.3 Trường đại học
Sau khi nước nhà được độc lập, quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Chất lượng, năng suất lao động của xã hội phụ thuộc rất lớn vào quản lý hoạt động đào tạo Ở nước ta ngoài việc quản lý giáo dục phổ thông, quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội được tiến hành bởi các cơ sở đào tạo, từ đào tạo nghề cho đến đào tạo đại học
và sau đại học đều được thực hiện thông qua những chương trình đào tạo và các chương trình đó đều có sự kiểm định chất lượng một cách khoa học để cung cấp nguồn nhân lực lao động cho xã hội đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển của đất nước
Quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội được thực hiện bởi nhiều cơ sở đào tạo khác nhau trong đó có các trường đại học Trường đại học, là
cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được tổ chức theo quy định của pháp luật
Như vậy, trường đại học là cơ sở tiến hành các hoạt động liên quan đến công tác giáo dục như: quản lý hoạt động đào tạo tại nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Trường đại học được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của cơ quan có thẩm quyền và theo điều lệ nhà trường, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, quan hệ giữa nhà trường, gia đình và
xã hội
1.1.4 Quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Trong bất kỳ xã hội nào thì giáo dục và đào tạo luôn giữ vị trí hết sức quan trọng, giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí, tăng trưởng xã hội Quản lý hoạt động giáo dục đại học có vai trò rất quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia
Trang 23Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý, là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, giám sát tất cả các hoạt động liên quan đến công tác giáo dục đại học, quá trình quản lý được sử dụng các công cụ quản lý như: hệ thống quy định của pháp luật, quy chế, quy định liên quan đến việc tổ chức quản lý giáo dục,
sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu của trường đại học
Quản lý hoạt động giáo dục trong các trường đại học là tổng hợp các chức năng, nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền để đưa ra những quyết định những chính sách tác động đến hoạt động mang tính nội bộ trường đại học cũng như đối với bên ngoài
Quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học là tổng hợp các cách thức và biện pháp tác động đến các công việc liên quan trực tiếp đến hoạt động của trường đại học nhằm để triển khai, thực hiện những kế hoạch liên quan trực tiếp đến hoạt động giáo dục của trường đại học
Như vậy, quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học là hoạt động quản
lý giáo dục ở góc độ hẹp, đó là quá trình cá nhân, tổ chức có thẩm quyền dựa vào tình hình thực tiễn của nhà trường, trên cơ sở các quy định, các kế hoạch hoạt động của nhà trường hàng năm để tác động có tính hướng đích đến cán bộ, giảng viên, sinh viên,…nhằm thực hiện mục tiêu đề ra
1.1.5 Chất lượng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân ở mỗi quốc gia Điều đó được lý giải bởi lẽ giáo dục đại học gắn liền với việc tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu về phát triển khoa học và công nghệ Giáo dục đại học chuyển từ đào tạo tinh hoa sang đào tạo trên diện rộng không phải là sự giảm bớt vai trò của giáo dục đại học mà là sự biểu hiện
về trình độ phát triển nền giáo dục quốc dân, trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Quản lý các hoạt động giáo dục đại học nhằm tạo dựng cho sinh viên được những kiến thức, kỹ năng, đạo đức, lối sống, với những kiến thức được trang bị
Trang 24trong thời gian học tập là nền tảng căn bản cho sinh viên tham gia vào thị trường lao động sau khi hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường
Chất lượng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học là tổng thể những cách thức, biện pháp để triển khai hoạt động đào tạo của nhà trường, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của xã hội ở mỗi thời kỳ, đảm bảo và đáp ứng được sự kỳ vọng, mong đợi của đối tượng liên quan, cộng đồng xã hội về tâm lực, trí lực, thể lực của nguồn nhân lực đại học
Quản lý chất lượng đào tạo bao gồm tổng hợp các phương pháp quản lý vĩ
mô và vi mô các hoạt động liên quan đến đào tạo Ở phương diện vĩ mô, thực hiện các chính sách quản lý, phát triển giáo dục đại học sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến
sự vận hành của một nền giáo dục Ở phương diện vi mô, công tác quản lý tại trường đại học là nhân tố trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo Chủ thể quản
lý phải bao quát được những công việc liên quan đến hoạt động đào tạo, hoạch định được đường hướng phát triển, có biện pháp quản lý chất lượng đào tạo, phát triển giảng viên, đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình sẽ là một trong những nhân tố đảm bảo chất lượng của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Từ những phân tích có thể đi đến khái niệm chất lượng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học là tổng thể các cách thức và biện pháp của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý để đạt được những kiến thức, kỹ năng, thái
độ được tạo nên thông qua đào tạo đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của quốc gia ở mỗi thời kỳ, đảm bảo và đáp ứng được sự kỳ vọng, mong đợi của đối tượng liên quan, cộng đồng xã hội về tâm lực, trí lực, thể lực của nguồn nhân lực đại học
Trang 251.2 Đặc điểm, vai trò, nội dung và các yếu tố làm ảnh hưởng quản lý hoạt động đào tạo trong trường đai học
1.2.1 Đặc điểm của quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Trường đại học là một cơ sở giáo dục có chức năng tổ chức đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Để hoạt động quản lý đào tạo đạt được hiệu quả thì cần có sự quản lý ở nhiều quy trình khác nhau, trong đó có hoạt động quản lý đào tạo
Quản lý hoạt động đào tạo là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục và đào tạo, được tiến hành bởi tập thể viên chức, người lao động và sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội khác nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách sinh viên theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Đây là hoạt động của cá nhân, tổ chức được trao quyền, nhằm tác động đến các hoạt động liên quan đến tổ chức giáo dục cho nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Đây là hoạt động có tính hệ thống, có kế hoạch, có ý thức
và hướng hoạt động đào tạo của nhà trường theo quỹ đạo nhất định Do vậy, quản
lý hoạt động đào tạo ở trường đại học có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, là hoạt động được biểu hiện mang tính chất quản lý
Ngoài ra, hoạt động quản lý đào tạo được diễn ra trong môi trường sư phạm, nên việc quản lý có những sự tác động mang tính mềm dẻo và sáng tạo Hoạt động quản lý đào tạo phải phù hợp với quy luật của quá trình dạy học diễn ra trong môi trường sư phạm lấy hoạt động giáo dục - đào tạo làm đối tượng quản lý
Đối tượng của lao động sư phạm là con người (sinh viên) có tính tích cực chủ động và tồn tại như là chủ thể của quá trình đào tạo Công cụ lao động sư
Trang 26phạm là loại công cụ đặc thù vì trình độ khoa học và thực tế của giảng viên, trình
độ nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, phẩm chất chính trị, đạo đức của Nhà giáo, phương tiện dạy học sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý và chất lượng đào tạo
Thứ hai, hoạt động quản lý đào tạo luôn thể hiện tính chất đặc trưng của
khoa học quản lý
Quản lý chỉ xuất hiện khi nào có hoạt động chung của nhiều người, có cùng
mục đích Các - Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[17]
Quản lý hoạt động đào tạo tại cơ sở đào tạo là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp; hoạt động quản lý đào tạo là một nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo và uy tín của nhà trường Trong quá trình tổ chức, điều hành quản lý hoạt động đào tạo của một cơ sở giáo dục được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau, từ quản lý hoạt động tổ chức chuyên môn giảng dạy, quản lý cơ
sở vật chất, công tác quản lý người học, người dạy đến quản lý hoạt động triển khai tiến độ học tập của sinh viên đều được thực hiện bởi các bộ phận chức năng/chuyên môn nhất định Tất cả công tác triển khai thực hiện được đảm bảo sự phối hợp theo một quy trình, có trật tự, có sự điều phối hợp và hướng tới mục tiêu thực hiện tốt kế hoạch được giao nên hoạt động trên luôn đảm bảo sự thông suốt, đảm bảo hoạt động chấp hành và điều hành nên có thể khẳng định rằng quản lý hoạt động đào tạo thể hiện chức năng quản lý
Để các hoạt động trên đạt được mục đích và yêu cầu đặt ra, thì quá trình quản lý hoạt động đào tạo phải bám sát kế hoạch để triển khai thực hiện Quá trình
đó thực hiện trên nền tảng tổ chức, lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát theo một quy trình
Trang 27Quản lý hoạt động đào tạo có tính chất xã hội hóa cao, mỗi chủ thể quản lý
sẽ có cách thức và biện pháp khác nhau để điều hành tổ chức phát triển theo một quỹ đạo nhất định, việc đưa ra các phương pháp quản lý còn tùy thuộc vào từng thời gian, không gian, đối tượng quản lý Trong quản lý hoạt động đào tạo do đối tượng quản lý, nội dung quản lý hết sức đa dạng, hoạt động này thể hiện tính thường xuyên và liên tục Cho nên khi tiến hành quản lý hoạt động đào tạo các chủ thể quản lý cần phải xem xét vào những điều kiện thực tiễn như các điều kiện về kinh tế - xã hội để có cách thức tiến hành tổ chức quản lý cho phù hợp với điều kiện thực tiễn Hoạt động này diễn ra không chỉ có sự tham gia của chủ thể quản lý
mà còn tiến hành với nhiều chủ thể trong xã hội, từ việc giám sát của người học, của gia đình người học, sự chung tay góp sức của các cá nhân, doanh nghiệp tác động đến công tác đào tạo của trường đại học
1.2.2 Vai trò của quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Quản lý hoạt động đào tạo là một chức năng quan trọng trong các trường đại học, thông qua công tác quản lý sẽ góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ đào tạo hàng năm của nhà trường, quản lý hoạt động này được thực hiện bởi các phòng/khoa chức năng Cho nên, vai hoạt động này có các trò như sau:
Thứ nhất: Kiểm tra các hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo
Để hoạt động quản lý nói chung và quản lý đào tạo nói riêng của một trường đại học đạt được mục đích, hiệu quả thì việc kiểm tra các hoạt động trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch liên quan đến công tác quản lý đào tạo là hết sức cần thiết Kiểm tra các hoạt động trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch động này phải căn cứ vào tình hình thực tiễn các nhu cầu đòi hỏi của xã hội
để tiến hành xây dựng kế hoạch đào tạo
Trong quản lý hoạt động xây dựng kế hoạch liên quan đến công tác quản lý hoạt động đào tạo phải cụ thể chi tiết từ mục đích của việc xây dựng kế hoạch, thời gian, địa điểm, người thực hiện, cách thức thực hiện
Trang 28Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch thì việc tổ chức thực hiện kế hoạch cần đòi hỏi nhà lãnh đạo, quản lý phải hết sức quan tâm, kiểm tra, giám sát một cách kịp thời, thường xuyên những công việc liên quan đến kế hoạch đào tạo.
Thứ hai: Tăng cường hiệu quả các công tác tuyển sinh
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước ta ngày càng phát triển đã tạo được nhiều
cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động giáo dục - đào tạo Chính vì vậy, trong những năm gần đây công tác tuyển sinh trên cả nước có nhiều thay đổi mạnh mẽ:
có sự tách nhóm giữa các trường, cơ sở đào tạo có uy tín tuyển sinh tốt nhưng nhiều trường đại học cũng gặp không ít khó khăn, tuyển sinh không đủ chỉ tiêu hoặc đứng trước nguy cơ không tuyển sinh được
Tiến tới hoạt động của các trường đại học công lập là tự chủ về tài chính, cho nên các trường sẽ được tăng quyền tự chủ trong tuyển sinh và xác định chỉ tiêu, các trường đã sử dụng nhiều phương thức để xét tuyển, tuyển thẳng…
Do vậy, vấn đề thí sinh quan tâm không phải là vào được đại học mà chọn được trường, ngành có chất lượng, có nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao sau khi ra trường; sự cạnh tranh trong tuyển sinh ngày càng cao, ngay cả một số trường
có uy tín, có bề dày lịch sử trong hoạt động đào tạo cũng vẫn phải thực hiện nhiều chiến dịch, giải pháp để tăng cường truyền thông tuyển sinh, vẫn có những ngành nghề không tuyển đủ chỉ tiêu
Cho nên, công tác tuyển sinh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các cơ sở đào tạo nói chung, các trường đại học nói riêng Việc thực hiện tốt công tác tuyển sinh sẽ giúp các cơ sở đào tạo sẽ tuyển chọn được những sinh viên có tài năng, kiến thức, kỹ năng và trình độ phù hợp với mục tiêu đào tạo của các ngành, nghề mà nhà trường đang đào tạo, nhằm giúp cho người học phát triển tối đa tiềm năng của bản thân bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả trong đào tạo kiến thức, kỹ năng cho sinh viên
Trang 29Quản lý hoạt động đào tạo của trường đại học là một quy trình từ quản lý chất lượng đầu vào đến quản lý chất lượng đầu ra của sinh viên Khi sinh viên được trúng tuyển vào trường đại học các em có môi trường giáo dục mới lạ so với giáo phổ thông Cho nên, việc quản lý hoạt động đào tạo từ hoạt động giảng dạy, hoạt động khảo thí, hoạt động ngoại khóa, quản lý chuyên môn của người dạy, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy và học, quản lý hoạt động khoa học của sinh viên, kiểm soát chương trình đào tạo trong thời gian học tập của sinh viên
Thực hiện quản lý các hoạt động trên một cách khoa học là nền tảng cơ bản
để trang bị cho sinh viên nắm bắt được kiến thức, kỹ năng cần thiết để sau khi tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu công việc của xã hội
Thứ tư: Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức chính trị của sinh viên
Giáo dục ý thức chính trị là một bộ phận quan trọng của giáo dục và đào tạo
ở bậc đại học, cao đẳng, là yêu cầu khách quan nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên (SV) Giáo dục ý thức chính trị có tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và khả năng thực hành công việc của mỗi SV trong thực tiễn cuộc sống Điều đó lại càng quan trọng hơn khi tình hình trong nước và quốc
tế trong thời gian gần đây đang có những diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, về xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần được làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận
Vì vậy, việc giáo dục ý thức chính trị, lý luận cách mạng cho SV để đáp ứng thực được với tiễn cách mạng nước ta hiện nay là một yêu cầu hết sức cấp thiết Về thực chất, giáo dục ý thức chính trị cho SV trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay là cung cấp những tri thức khoa học, tư tưởng trong lĩnh vực chính trị để góp phần chủ yếu vào việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho SV, hướng đến xây dựng những thế hệ SV có nhân cách trong sáng,
có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình hội nhập và phát triển đất nước Nó cùng với các khoa học khác và các hoạt động chính trị - xã hội góp phần bồi dưỡng nhân sinh quan cộng sản, lý tưởng cách
Trang 30mạng và niềm tin vào các giá trị của chủ nghĩa xã hội để SV có những hành động chính trị - xã hội tích cực mang tính nhân văn và tiến bộ
1.2.3 Nội dung và chủ thể quản lý hoạt động đào tạo ở trường đại học
Giáo dục đại học là hoạt động khoa học nhằm đạo tạo ra những con người có
kỹ năng, nghiệp vụ, có trí tuệ, có đạo đức lối sống tốt Để hoạt động này đáp ứng được mục đích, yêu cầu của ngành giáo dục, cơ sở đào tạo cần có sự có sự quản lý một cách khoa học Bởi vì chất lượng giáo dục đại học được phản ánh bởi nhiều yếu tố, trong đó có chất lượng của quản lý hoạt động đào tạo
Quản lý hoạt động đào tạo được thực hiện bởi những nội dung cơ bản sau:
1.2.3.1.Nội dung quản lý hoạt động đào tạo
Thứ nhất: quản lý mục tiêu đào tạo
Mục tiêu chung của việc đào tạo là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện
có và nâng cao tính hiệu quả của phân hiệu, thông qua việc giúp sinh viên hiểu rõ hơn về hoạt động học tập, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn…
Quản lý mục tiêu đào tạo là tổng hợp các cách thức và biện pháp tác động của chủ thể quản lý tác động lên hoạt động đào tạo nhằm đào tạo sinh viên khi tốt nghiệp phải đạt được các tiêu chuẩn như:
Quản lý hoạt động đào tạo các phần khoa học cơ bản, khoa học chuyên ngành từ việc kiểm tra chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng viên, kiểm tra hoạt động học tập của sinh viên: Nhằm cung cấp cho sinh viên có kiến thức Lý luận Chính trị, Khoa học Xã hội và Nhân Văn, hiểu biết về Pháp luật Việt Nam, hiểu biết về An ninh Quốc phòng Đối với quản lý hoạt động chuyên ngành để sinh viên có đạt được kiến thức và khả năng tự rèn luyện về thể chất, có kiến thức chuyên ngành trong các lĩnh vực bao gồm: khoa học quản lý, khoa học pháp luật, khoa học quản trị, khoa học lưu trữ
Trang 31Ngoài ra hoạt động quản lý mục tiêu đào tạo còn có hướng đến một số về kỹ năng: Có kỹ năng độc lập và tự chủ trong việc giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn; Có khả năng phân tích, tổng hợp và vận dụng các kiến thức đã tích luỹ trong quá trình học vào thực hành trên thực tế; Có kỹ năng sáng tạo trong
xử lý các tình huống và kỹ năng giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực được đào tạoh cơ bản theo yêu cầu, mục tiêu đặt ra
Ngoài kỹ năng cứng trên, thì quản lý mục tiêu đào tạo còn đặc ra một số kỹ năng mền như: Có khả năng giao tiếp, thuyết trình, thảo luận, làm việc theo nhóm;
Có khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học trong nghiên cứu ứng dụng các lĩnh vực chuyên môn.Yêu cầu về thái độ: Có phẩm chất, đạo đức cá nhân, ý thức nghề nghiệp; Làm tròn trách nhiệm của công dân; Có tác phong làm việc công nghiệp, hợp tác, thân thiện phục vụ cộng đồng; Có ý thức cập nhật kiến thức, sáng tạo trong công việc
Như vậy, mục đích cuối cùng của hoạt động quản lý đào tạo là đào tạo sinh viên có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức trong sáng để cung cấp nguồn nhân cho xã hội có chất lượng, giúp cho sinh viên hiểu hơn về công việc giúp họ nắm vững về nghề nghiệp của họ và thực hiện được chức năng của mình một cách tự giác và thái độ làm việc tốt hơn trước và để tăng sự thích ứng của họ với công việc trong tương lai
Thứ hai: quản lý chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo đại học (Curriculum) là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt nhằm để phục vụ hoạt động đào tạo của một cơ sở đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm), chương trình đào tạo là tổng hợp các phần học/môn học
để cơ sở đào tạo thực hiện hoạt động đào tạo
Hay nói cách khác, chương trình đào tạo thể hiện trình độ đào tạo, đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực
Trang 32hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình Chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp
Thông qua chương trình đào tạo sẽ giúp cho người học nắm toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những kiến thức cho sinh viên sau khi kết thúc khóa học chương trình đào tạo sẽ phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, giúp cho nhà quản lý biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những nội dung đào tạo được sắp xếp theo một thời gian, các phần học được sắp xếp chặt chẽ, logic
Quản lý chương trình đào tạo là một trong những nội dung của hoạt động quản lý đào tạo Hoạt động này đảm bảo tính khách quan, tính khoa học đòi hỏi người quản lý phải nắm rõ được nội dung của chương trình đào tạo, phải nhận biết được mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung, phương pháp, đánh giá kết quả đào tạo, mối quan hệ giữa các thành tố trong chương trình
Nếu hoạt động này không được thực hiện quản lý một cách khoa học sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường
Do đó, quản lý chương trình đào tạo được xem xét ở nhiều góc độ thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả trong điều hành, chấp hành cũng như đáp ứng các yêu cầu
về chất lượng giáo dục đại học, cần thực hiện tốt việc quản lý mục tiêu chương trình đào tạo
Thông qua hoạt động quản lý mục tiêu chương trình sẽ phát huy được yếu tố chuyên môn, nhân cách, thực hiện sứ mạng của nhà trường Thông qua mục tiêu đó
để điều hành tổ chức và đánh giá kết quả, lấy mục tiêu để thống nhất các thành tố quản lý chương trình và cũng là để liên kết các hoạt động quản lý chương trình
Đây chính là quản lý theo công việc và hiệu quả (định lượng và định tính) Bên cạnh đó, phải thực hiện được hoạt động quản lý danh mục chương trình đào tạo Danh mục chương trình đào tạo là bảng ghi tên ngành, nhóm ngành theo các
Trang 33mã số nhất định, có thể được xem như là “danh bộ” được đăng ký “bản quyền” với
ý nghĩa thương mại
Danh mục được quản lý theo hình thức quy định mã hóa hệ thống, kiểm soát
“vòng đời” các chương trình đào tạo Quản lý danh mục có thể thực hiện theo hình thức tập trung hoặc phi tập trung; liên quan đến việc phân loại ngành đào tạo, tránh
sự trùng lặp
Thứ ba, quản lý hoạt động triển khai kế hoạch đào tạo
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào muốn điều hành công việc được thành công, đạt hiệu quả cao nhất thì đều cần đến việc xây dựng kế hoạch Thông qua việc xây dựng, triển khai kế hoạch sẽ giúp cho nhà quản lý sắp xếp được những công việc được thực hiện theo thứ tự, logic hơn Kế hoạch hoá là “làm cho phát triển một cách có kế hoạch thường là trên quy mô lớn [9]
Xây dựng kế hoạch là sự xác định một cách có căn cứ khoa học những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ (thời hạn, tốc độ, tỉ lệ cân đối) về sự phát triển một quá trình và định ra những phương tiện cơ bản để thực hiện có kết quả những mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đó Nói một cách đơn giản, xây dựng kế hoạch là quyết định trước xem sẽ phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai sẽ làm cái đó Xây dựng kế hoạch bao gồm các bước: tiền kế hoạch, chẩn đoán, hình thành bản kế hoạch, hoàn chỉnh bản kế hoạch
Hiện nay, tùy theo tính chất công việc sẽ có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau và đưa ra các khái quát về kế hoạch
Quản lý kế hoạch đào tạo là áp dụng sự phân tích một cách có hệ thống và hợp lý các quá trình tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo với mục đích làm cho giáo dục đạt được các kết quả và có hiệu quả phù hợp với những yêu cầu và nhiệm
vụ của người học và xã hội đặt ra
Quản lý các hoạt động đào tạo là nhiệm vụ quan trọng của hoạt động quản
lý, hoạt động này được thực hiện sau khi kế hoạch được ban hành
Trang 34Quản lý việc triển khai việc thực hiện kế hoạch đào tạo là nhiệm vụ của hoạt động quản lý, nó là kết quả của quá trình tư duy Triển khai thực hiện kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt mục tiêu đã định từ trước, hơn nữa đây là phương pháp tiếp cận không tách rời khỏi môi trường Triển khai thực hiện kế hoạch là hoạt động của người quản lý để thực hiện những công việc được thiết lập trong quá trình xây dựng kế hoạch
Trong quản lý hoạt động đào tạo thì triển kế hoạch là hoạt động triển khai các công việc liên quan đến đào tạo theo kế hoạch đã được xác định sẵn chứa đựng nhiều nội dung và hình thức khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích đảm bảo chất lượng đào tạo Chẳng hạn như: quản lý hoạt động giảng dạy, hoạt động quản
lý sinh viên, triển khai hoạt động liên quan đến khảo thí… tất cả các hoạt động trên đều hướng tới thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch hoạt động của cơ sở đào tạo
Thứ tư, quản lý hoạt động thực hiện kế hoạch tuyển sinh
Hoạt động tuyển sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tuyển chọn người học cho nhà trường Để công tác tuyển sinh đạt hiệu quả cao trong việc tư vấn cho học sinh các trường trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp chọn cho mình được ngành nghề phù hợp, có cơ hội việc làm sau khi ra trường thì hoạt động tuyển sinh cần thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ trước, trong và sau khi tuyển sinh, kết quả tuyển sinh bảo đảm đạt chỉ tiêu với chi phí thấp nhất nhưng hiệu quả cao nhất,
cụ thể:
Để cho phụ huynh, học sinh có cách nhìn tổng quan về nhà trường cũng như cũng như chức năng đào tạo các ngành của nhà trường, cơ hội ngành nghề của sinh viên sau khi ra trường Hằng năm, đơn vị có chức năng quản lý đào tạo xây dựng
kế hoạch tuyển sinh chung, từ kế hoạch đó, các khoa chuyên môn phải chủ động thông tin về ngành nghề đào tạo trên website của nhà trường, là cơ sở quan trọng cho học sinh chọn ngành nghề đào tạo Từ việc thông tin trên hệ thống website của nhà trường, đơn vị có chức năng quản lý đào tạo phải có kế hoạch cụ thể trong việc chuẩn bị cơ sở vật chất quảng bá thương hiệu của nhà trường để phục vụ cho công tác tuyển sinh
Trang 35Như tất cả các hoạt động tuyển sinh nhằm mục đích thu hút người học về trường, ngoài việc thông tin ngành nghề đào tạo, ngoài việc quảng bá thương hiệu của Nhà trường cũng như yếu tố chi phí tài chính cho hoạt động tuyển sinh, tổng hợp những nhiệm vụ trên vô cùng ý nghĩa và hết sức quan trọng Cho nên có thể coi đây là một tiêu chí để đánh giá chất lượng hoạt động quản lý đào tạo của nhà trường hiện nay
Thứ năm, quản lý việc chấp hành nội quy, quy chế của sinh viên
Sinh viên là chủ thể của hoạt động giáo dục tại cơ sở đào tạo, quyền và nghĩa vụ của sinh viên đều được quy định một cách cụ thể trong nội quy, quy chế học tập Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau dẫn đến có những sinh viên vẫn chấp hành chưa đầy đủ nội quy, quy chế của cơ sở đào tạo Hoạt động đào tạo có nhiệm vụ quản lý sinh viên chấp hành nội quy, quy chế nhằm giúp sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, hình thành phẩm chất và năng lực của sinh viên, hoạt động này giúp nhằm triển khai việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên theo đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành, tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên, tổ chức quản lý đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên
Động cơ, thái độ, ý thức, trách nhiệm của sinh viên được xác định là nền tảng bảo đảm chất lượng đào tạo Không có động cơ, thái độ, ý thức trách nhiệm đúng đắn thì khó có thể tiếp thu được kiến thức Người được đào tạo phải có động
cơ và thái độ học tập đúng đắn như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ; học để phụng sự Tổ quốc, Nhân dân và nhân loại” Bên cạnh việc xác định động cơ, thái độ học tập đúng đắn, người học còn có ý thức
tự giác trong học tập, rèn luyện, cần chủ động trong quá trình học tập, nghiên cứu,
có tinh thần ham học hỏi, có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định, quy chế trong đào tạo Việc quản lý sinh viên chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường cần phải thực hiện một cách thường xuyên, có sự phối hợp chặt chẽ với cố vấn học tập, khoa chuyên môn trong việc đánh giá tính chuyên cần, thái độ học tập, có cơ
Trang 36chế khen thưởng và xử lý kịp thời những sinh viên vi phạm nội quy/quy chế để có
sự răn đe cũng nhưng đồng thời cũng cần khuyến khích những sinh viên chấp hành tốt
Thứ sáu, quản lý hồ sơ sinh viên
Hồ sơ là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trong công tác hành chính văn phòng và công tác lưu trữ Hồ sơ là tập hợp các văn bản, tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Do đó, quản lý hồ sơ sinh viên
là một trong những chức năng hoạt động quản lý đào tạo bao gồm toàn bộ hoạt động quản lý hệ thống tài liệu tổng hợp về học sinh, sinh viên, phản ánh những thông tin thiết yếu về học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, sinh hoạt, rèn luyện của học sinh, sinh viên
Hoạt động này bảo đảm đầy đủ, chính xác và bổ sung kịp thời các thông tin đến sinh viên, nắm chắc tình hình của mỗi học sinh, sinh viên và số liệu thống kê tổng hợp phục vụ cho hoạt động của nhà trường và thực hiện chế độ bảo mật theo quy định
Thứ bảy, quản lý chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trong nhất của tất cả các trường đại học, hoạt động quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo luôn ddowwcj xem là nhiệm vụ tiên quyết của các trường đại học Tiếp cận chất lượng đào tạo có rất nhiều cách tiếp cận để đưa ra những giải thích, cụ thể: chất lượng giáo dục đại học (CLGDĐH) cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra” chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó CLGDĐH cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên “ Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu
Trang 37được: là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là CLGDĐH
Như vậy, quản lý chất lượng đào tạo là hoạt động của chủ thể quản lý để đạt được mục đích đào tạo, phù hợp với mục đích đào tạo Quản lý chất lượng đào tạo
là hoạt động nhàm phòng chống những sai phạm so với những tiêu chuẩn, tiêu chí đặt ra ban đầu
1.2.3.2.Chủ thể quản lý hoạt động đào tạo trong trường đại học
Quản lý hoạt động đào tạo đại học bao gồm nhiều chủ thể thực hiện các nội dung khác nhau, nội dung hoạt động quản lý hoạt động đào tạo của các chủ thể có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau để hướng tới mục tiêu phát triển của một trường đại học
Chủ thể quản lý hoạt động này đa dạng, từ quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý các hoạt động đào tạo, quản lý chương trình đào tạo, quản lý các kế hoạch đào tạo, quản lý người dạy và người học
Các cá nhân, tổ chức được trao quyền để thực hiện các chức năng và nhiệm
vụ quản lý dựa trên nền tảng quy chế, quy định của nhà nước, của cơ sở đào tạo nhằm triển khai thực hiện các chương trình đào tạo của nhà trường, nội dung quản
lý hoạt động đào tạo trong trường đại học bao gồm nhiều nhóm công việc, cụ thể:
- Nhóm lãnh đạo, quản lý
Nhóm chủ thể này được thành lập bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có chức năng tổ chức, vận hành bộ máy hoạt động của trường đại học theo quy chế, quy định của pháp luật
Nhóm lãnh đạo, quản lý là người tổ chức điều hành hoạt động của cơ sở đào tạo đòi hỏi phải có kỹ năng, nghiệp vụ trình độ chuyên môn đảm bảo tiêu chuẩn về lãnh đạo quản lý
- Nhóm quản lý liên quan đến hành chính nội bộ
Trang 38Quản lý các hoạt động liên quan đến nội bộ cơ sở đào tạo đây là công việc mang tính tổ chức từ việc sắp xếp, bố trí nhân sự, sử dụng nhân sự, nguồn lực giảng viên, chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên, đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong cơ sở đào tạo để cơ sở đào tạo hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ cho đến việc xây dựng nội quy, quy chế hoạt động của cơ sở đào tạo
- Nhóm liên quan đến công tác tổ chức đào tạo
Quản lý các hoạt động liên quan đến tổ chức đào tạo được thực hiện bởi nhiều nhóm công việc khác nhau: quản lý công tác thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ học sinh, sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quản
lý công tác phối hợp giữa các phòng/khoa chức năng
Quản lý các hoạt động liên quan đến xây dựng kế hoạch tuyển sinh hằng năm và một số kế hoạch khác liên quan đến hoạt động của sinh viên trong trường;
tổ chức quản lý hoạt động công tác của cố vấn học tập trong việc chấp hành các quy định ở các khoa, báo cáo lãnh đạo nhà trường giải quyết kịp thời các vấn đề; Quản lý hoạt động tổ chức đào tạo các kiến thức, kỹ năng cho sinh viên trên nền tảng chương trình đã được phê duyệt
Quản lý học tập và rèn luyện của sinh viên: Theo dõi việc thực hiện thời khóa biểu, kiểm tra việc học tập của sinh viên trên lớp, phối hợp với các khoa để triển khai các hình thức điểm danh tại lớp học; xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên;
tổ chức theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên; phân loại, xếp loại rèn luyện của học sinh, sinh viên cuối mỗi học kỳ, năm học và toàn khóa học; tổ chức tuần sinh hoạt công dân - HSSV; công tác thể thao, văn hóa, văn nghệ; công tác an ninh, chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; thực hiện chế độ chính sách đối với học sinh - sinh viên…
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo của các
trường đại học
Đào tạo đại học là hoạt động của cơ sở đào tạo để tạo nguồn nhân lực có
Trang 39trình độ đại học có chất lượng cao là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia Cho nên, chất lượng đào tạo của trường đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hệ thống quy chế liên quan đến quản lý hoạt động đào tạo
Để có cơ sở cho quản lý hoạt động của một tổ chức nói chung cũng như của một cơ sở đào tạo đại học đòi hỏi tổng hợp nhiều yếu tố trong đó hệ thống các quy định của pháp luật, các quy định, quy chế của trường đại học làm nền tảng cho việc
tổ chức, chỉ đạo điều hành bộ máy của trường đại học, từ hệ thống pháp luật, nghị định, quyết định của các bộ, ngành có liên quan đến công tác quản lý giáo dục Ngoài ra, còn có các quy chế, quy định để phục vụ cho hoạt động vận hành của trường đại học Chẳng hạn như nội quy, quy chế đào tạo, quy chế, quy định liên quan đến công tác tổ chức hoạt động đào tạo
Tất cả thể chế đó có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Nếu một trong các thiết chế đó không đồng bộ, không thống nhất sẽ kìm hãm hoặc tác động làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức, quản lý các hoạt động của trường đại học
Thứ hai, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đào tạo
Ngoài thể chế để duy trì hoạt động của một tổ chức nói chung thì bất kỳ một
tổ chức muốn tồn tại và phát triển cần phải được thiết lập một cách khoa học về cơ cấu tổ chức bên trong của nó Cách thức tổ chức cơ cấu luôn phải có sự kiểm tra, kiểm soát và hỗ trợ nhau phát triển
Trong một tổ chức có cơ cấu không khoa học, tổ chức bộ máy cồng kềnh, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát linh hoạt là nguyên nhân làm cho hoạt động của bộ máy quản lý kém hiệu quả
Cơ cấu bộ máy quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phân, quy định
rõ chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức để phối hợp nhiệm vụ một cách khoa học, hiệu quả để đạt được mục đích hoạt động đào tạo đề ra
Trang 40Thứ ba, phân cấp quản lý trong hoạt động đào tạo
Mỗi một tổ chức trong một bộ máy đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các
tổ chức này có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt và tác động qua lại với nhau Các tổ chức ấy có sự phân cấp cụ thể để thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Việc phân cấp, phân quyền trong quản lý khoa học sẽ giúp cho tổ chức nâng cao hiệu quả, chất lượng trong quản lý các hoạt động của một tổ chức
Thứ tư, nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý, hoạt động tổ chức dạy và học
Xã hội muốn tồn tại và phát triển nhờ lao động và sản xuất, để xã hội phát triển phải đề cao vai trò của con người trong xã hội, con người phải giữ vai trò trung tâm, đặc biệt trong hoạt động quản lý thì vai trò của người quản lý trong tổ chức là hết sức quan trọng trong mọi tổ chức nói chung và đối với tổ chức giáo dục nói riêng Do vậy, nguồn nhân lực quản lý của một trường đại học sẽ là nền tảng quan trọng cho việc tổ chức các công tác quản lý hoạt động giáo dục, là nền tảng
để đánh giá chất lượng giáo dục của cơ sở đào tạo
Ngoài đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thì vai trò của đội ngũ giảng viên trong trường đại học góp phần đảm bảo chất lượng dạy và học, đảm bảo được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Tục ngữ Việt Nam có câu “không Thầy đố mày làm nên”, qua đó cho thấy
xã hội luôn tôn vinh vị trí, vai trò của người Thầy trong truyền đạt kiến thức cho người học
Cho đến ngày nay, vai trò của người Thầy trong các trường học nói chung
và trong các cơ sở giáo dục đại học nói riêng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và chất lượng của đội ngũ giảng viên của nhà trường Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, trong đó quan trọng nhất là đội ngũ giảng viên phải có trình độ cao, có kinh nghiệm giỏi, tâm huyết với nghề, và có khả năng hội nhập quốc tế tốt Họ không chỉ đóng vai trò truyền tải kiến thức, kinh nghiệm mà còn có vai trò hướng