BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÔNG TÁC BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ Ở VIỆT NAM Khóa luận tốt nghi
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÔNG TÁC
BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ Ở VIỆT NAM
Khóa luận tốt nghiệp ngành : LƯU TRỮ HỌC
Sinh viên thực hiện : BÙI THỊ KIM ANH
HÀ NỘI - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài khóa luận tốt nghiệp về đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam” là đề tài
tôi thực hiện trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội
Nghiên cứu được thực hiện một cách nghiêm túc, các nội dung và kết quả nghiên cứu đều trung thực Mọi thông tin đều khách quan, là kết quả thu thập và xử lý thông tin của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử dụng trong bài của mình
Sinh viên
Bùi Thị Kim Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, thầy cô Khoa Văn thư - Lưu trữ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Phạm Thị Hồng Quyên đã quan tâm hướng dẫn tận tình, chu đáo để tôi có được bài khóa luận tốt nghiệp hoàn chỉnh
Những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinh viên sẽ giúp tôi nhận ra được những ưu điểm và hạn chế, qua đó tôi sẽ có thêm kinh nghiệm trên con đường học tập và nghiên cứu sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
CỤM TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
7 Kết cấu của khóa luận 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÔNG TÁC BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ 6
1.1 Khái quát về biến đổi khí hậu 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu 7
1.1.3 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay 10
1.1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Việt Nam 14
1.2 Cơ sở lý luận về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 21
1.2.1 Khái niệm 21
1.2.2 Ý nghĩa công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 22
1.2.3 Nội dung công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 23
1.2.4 Các nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ 24
1.2.5 Cơ sở pháp lý về bảo quản tài liệu lưu trữ 24
Tiểu kết 25
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÔNG TÁC BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ Ở VIỆT NAM 26
2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến việc quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam 26
Trang 62.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nghiệp vụ bảo quản tài liệu lưu
trữ ở Việt Nam 31
2.2.1 Vật mang tin, chất liệu ghi tin 31
2.2.2 Xây dựng, cải tạo kho lưu trữ 35
2.2.3 Trang bị các thiết bị kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ 39
2.2.4 Xử lý kỹ thuật bảo quản TLLT 41
2.2.5 Tu bổ, phục chế và lập bản sao bảo hiểm TLLT 42
2.2.6 Tổ chức tài liệu trong kho lưu trữ 44
2.3 Nhận xét về những ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 45
Tiểu kết 47
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ TRƯỚC SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM 48
3.1 Nâng cao hiệu quả về mặt quản lý trong bảo quản TLLT 48
3.1.1 Xây dựng, ban hành các văn bản quản lý về bảo quản tài liệu lưu trữ 48 3.1.2 Chủ động xây dựng phương án phòng chống ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ 49
3.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên lưu trữ 50
3.2 Nâng cao hiệu quả trong các nghiệp vụ bảo quản TLLT 51
3.2.1 Xây dựng, cải tạo các kho lưu trữ đạt tiêu chuẩn 51
3.2.2 Trang bị trang thiết bị hiện đại trong bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ 52
3.2.3 Nghiên cứu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới, hiệu quả 52
Tiểu kết 55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 61
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
BĐKH là sự thay đổi những yếu tố gốc ở một trong hai môi trường quan trọng hoặc vật lý hoặc là sinh học, những biến đổi này mang tính tiêu cực và có những tác động xấu khó có thể phục hồi đến đời sống tự nhiên cũng như sinh hoạt chung của hệ động vật sinh thái và con người BĐKH là những biến đổi xấu ở các môi trường sinh học hoặc vật lý tự nhiên mang đến những ảnh hưởng có hại với những sinh vật trên trái đất với những tác động cụ thể
và trực tiếp tới thời tiết, tất cả những biểu hiện của thời tiết trở nên khắc nghiệt hơn đều do những biển đối xấu của khí hậu Do đó tình trạng khí hậu cũng phát triển theo chiều hướng cực đoan hơn đồng thời mang đến những biểu hiện xấu mà toàn thế giới đang phải đối mặt như lũ lụt, thiên tai, sóng thần hay nắng nóng và khô hạn… Như chúng ta đã biết, việc BĐKH hoàn toàn mang đến những hiệu ứng xấu cho sự phát triển của sinh vật trên toàn trái đất, trong đó những nguy cơ mà chúng ta sẽ trực tiếp phải đối mặt mang tính thời gian đã được khái quát trong mười vấn đề mang tính toàn cầu với các tác hại và chờ giải pháp cụ thể, có thể kể đến như: Thay đổi hệ sinh thái, mất đa dạng sinh học, dịch bệnh tăng cao, thiên tai kéo dài, nguồn tài nguyên nước, rừng bị thiệt hại nặng nề, băng tan, nước biển dâng, gây ra tác hại của hiệu ứng nhà kính, Như vậy, BĐKH gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến tất
cả các mặt của đời sống, kinh tế và cả xã hội Việt Nam ta là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của BĐKH
Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa của dân tộc và là tài sản đặc biệt của quốc gia, chứa đựng những thông tin phong phú, có độ tin cậy cao, phản ánh một cách toàn diện, trung thực mọi mặt của đời sống xã hội, có ý nghĩa to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do vậy, việc bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ là rất quan trọng Nó giúp bảo vệ an toàn tài liệu cũng như thông tin trong tài liệu lưu trữ Tuy nhiên, quá trình bảo
Trang 8quản tài liệu lưu trữ còn gặp phải những khó khăn nhất là ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ Điều kiện tự nhiên thay đổi thất thường ảnh hưởng rất nhiều đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ Do Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của BĐKH nên tình hình thời tiết phức tạp thay đổi thất thường, thiên tai như bão, lũ, cũng xảy ra thường xuyên và cường độ mạnh Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình bảo quản tài liệu lưu trữ, khó khăn cho việc quản lý cũng như thực hiện nghiệp vụ bảo quản tài liệu lưu trữ Tuy nhiên, hiện nay chưa có những nghiên cứu chỉ ra những tác động của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam Do vậy,
Tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề BĐKH là một vấn đề nóng, được sự quan tâm của toàn thế giới nói chung và Việt Nam ta nói riêng Ở Việt Nam Có rất nhiều nghiên cứu về BĐKH như:
Bộ Tài nguyên - Môi trường 2008 “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam”
Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường 2010 “BĐKH và tác động ở Việt Nam”
Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường 2011 Tài liệu hướng
dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng” NXB Tài nguyên - Môi trường và bản đồ Việt Nam
Tổng cục biển và hải đảo 2016 “Biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng, giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến vùng ven biển” NXB Tài
nguyên - Môi trường và bản đồ Việt Nam
GS.TSKH Lê Huy Bá 2016 “BĐKH, thích ứng để chung sống”
NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) 2020
Trang 9“Môi trường và Phát triển trong bối cảnh BĐKH” NXB Chính trị Quốc gia
sự thật
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) 2020 “Ứng phó BĐKH nhìn từ góc độ cộng đồng” NXB Chính trị Quốc gia sự thật
Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ cũng được đề cập đến trong các sách
lý luận, bài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo khoa học:
Vũ Hữu Vân 1988 “Nghiên cứu quy trình sử dụng chất Bê-ka phốt để diệt côn trùng trong các kho lưu trữ”
TS Nguyễn Cảnh Đương 1996 “Nghiên cứu xác định các thông số kỹ thuật xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng bảo quản tài liệu giấy”
Nguyễn Trọng Biên 2000 “Nghiên cứu đề xuất phương pháp, hoá chất khử trùng tài liệu lưu trữ”
TS Nguyễn Lệ Nhung 2015 “Bảo quản tài liệu điện tử: vấn đề và giải pháp”
GVC.TS Chu Thị Hậu 2017 Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ NXB Lao động
Đoàn Thị Thu Hà Một số kinh nghiệm trong quá trình bảo quản, lưu giữ và tu bổ tài liệu
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước 2017 Kỷ yếu Hội thảo khoa học Thời hạn bảo quản tài liệu lưu trữ chuyên ngành - những vấn đề đặt ra
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước 2019 Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tài liệu lưu trữ trước năm 1975 đang bảo quản tại lưu trữ lịch sử cấp tỉnh
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I 2015 Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ và những vấn đề cần nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên đã nêu ra được cơ sở lý luận, và thực tiễn vấn đề về BĐKH và bảo quản tài liệu lưu trữ Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
Trang 103 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Ảnh hưởng của BĐKH có liên quan trực tiếp đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
Đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo quản tài liệu lưu trữ, hạn chế tác động của BĐKH đến công tác này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về BĐKH, nguyên nhân và những ảnh hưởng của BĐKH Nghiên cứu về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ: hoạt động quản lý và hoạt động nghiệp vụ
Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của BĐKH và công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: từ năm 2000 đến nay
Không gian: các kho lưu trữ ở Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài khóa luận, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích: đây là phương pháp phổ biến được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Vận dụng phương pháp này để phân tích, tìm hiểu
về BĐKH cũng như những ảnh hưởng của nó đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Phương pháp tổng hợp - so sánh: Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng
Trang 11bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ
và sâu sắc về đối tượng Từ những thông tin đã phân tích được, dùng phương pháp so sánh sau đó tổng hợp những ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Phương pháp logic: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng trong sự vận động của cái khách quan được nhận thức này Đây là một trong những phương pháp quan trọng, được áp dụng vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
Phương pháp phỏng vấn là một phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Phỏng vấn cán bộ lưu trữ để thu thập thông tin về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
và những ảnh hưởng của BĐKH đến công tác này
Phương pháp khảo sát là phương pháp khảo sát, điều tra một nhóm đối tượng thuộc phạm vi nghiên cứu Khảo sát, điều tra các kho lưu trữ và những ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục nội dung
đề tài chia làm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về biến đổi khí hậu và công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Chương 2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo quản tài liệu lưu trữ trước sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÔNG TÁC
BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ 1.1 Khái quát về biến đổi khí hậu
1.1.1 Khái niệm
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm BĐKH đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trường toàn cầu BĐKH là một trong những thách thức lớn của thế kỷ XXI, đây là vấn đề đang được cả Thế giới quan tâm Trong những năm qua nhiều nơi trên Thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất Không chỉ vậy BĐKH còn tác động mạnh mẽ đến kinh tế toàn cầu, các ngành nghề, các mặt của xã hội
Trước hết, chúng ta cần hiểu “Khí hậu” là gì? Khí hậu – Climate là
“tổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê dài hạn (trung bình, xác suất các cực trị v.v ) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý” Thời kỳ tính trung bình thường là vài thập kỷ Định nghĩa chính thức của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO): “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi các thống kê dài hạn các biến
số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó” Các nhân tố hình thành khí hậu:
nhân tố bức xạ, cân bằng bức xạ mặt đất, cân bằng bức xạ khí quyển, cân bằng bức xạ hệ mặt đất - khí quyển, cân bằng nhiệt Trái Đất
Vậy BĐKH là gì? Theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về
BĐKH: “Biến đổi khí hậu - Climate change nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời
kỳ có thể so sánh được” [10, Tr.3]
Trang 13Theo cuốn “Biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng, giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến vùng ven biển” – Tổng cục biển và hải đảo, BĐKH được định nghĩa là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/ hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất”
Biến đổi khí hậu là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời,
và có sự tác động từ các hoạt động của con người Những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay được gây
ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu – Global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại
Qua đây, có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về BĐKH Vậy để thống nhất ta sử dụng khái niệm của Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH
1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
Có hai nguyên nhân gây ra BĐKH chính sự biến đổi của trái đất trong thời kỳ địa chất và trong thời kỳ hiện đại (do tác động của con người) Trái đất trải qua rất nhiều năm biến đổi Trái đất trải qua nhiều lần băng hà lạnh lẽo và gian băng ấm áp, với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 -15 nghìn năm Sau thời kỳ này, Trái đất ấm dần lên và các sinh vật mới dần phát triển Những biến BĐKH xảy ra trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân của tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào núi lửa và hoạt động của mặt trời Có thể xem là điều dễ nhận thấy trong nguyên nhân biến đổi khí hậu thuộc về yếu tố khách quan khi mà trục quay của trái đất bị
Trang 14lệch nhịp so với quỹ đạo và dù chỉ là chệch một góc nghiêng rất nhỏ thôi cũng dẫn tới sự biến đổi khí hậu xấu… Các hoạt động của địa chất núi lửa cũng được xem là một trong những nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu một cách gián tiếp, trong đó các khí được phun ra bầu khí quyển khi núi lửa phun trào
là SO2, bụi tro, hơi nước, lượng khí và bụi tro tác động các yếu tố tiêu cực, các khí sol bức xạ lại vào trong không khí đặc biệt là bức xạ với mặt trời qua
đó làm giảm nhiệt độ trên bề mặt trái đất Ngoài ra, các kiến tạo mảng và dòng hải lưu cũng ảnh hưởng đến BĐKH Thông thường dòng hải lưu thường xuất hiện ở đại dương, những dòng hải lưu được di chuyển, chuyển động liên tục, tuy nhiên có một điều là khi những dòng hải lưu đưa theo lượng nhiệt lớn
di chuyển đến nhiều hành tinh khác nhau trên toàn thế giới Cũng giống như trục quay của trái đất, dòng hải lưu có sự biến đổi quỹ đạo di chuyển cũng gây nên những xáo trộn nhất định và biến đổi trong khí hậu như lũ lụt, băng tuyết hay hạn hán…
Trong thời kỳ hiện đại, nguyên nhân của sự BĐKH tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu là do hoạt động của con người Nguyên nhân xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí
CO2 và các khí nhà kính khác từ các hoạt động của con người
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu khí, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái đất
Theo những nghiên cứu được đưa ra trong cuốn BĐKH và các biện pháp thích ứng, giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH đến vùng ven biển thì:
Trong suốt chu kỳ băng hà và gian băng (khoảng 18 nghìn năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180-200 ppm (phần triệu), nghĩa
là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm) Từ
Trang 15khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300 ppm
và đạt 379 ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí metan (CH4), oxit nitơ (N20) cũng tăng lần lượt từ 715 ppb (phần tỷ) và 270 ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319 ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí chlorofluorocarbon (CFCs ) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ozon bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển
BĐKH không chỉ là hậu quả của hiện tượng hiệu ứng nhà kính (sự nóng lên của trái đất) mà còn bởi nhiều nguyên nhân khác Tuy nhiên, có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc biệt trong kỷ nguyên công nghiệp
Việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% , sản xuất công nghiệp khoảng 9%, các ngành hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác (chôn rác thải )
Sự tăng lên của các khí nhà kính dẫn đến sự gia tăng hiệu ứng nhà kính của lớp khí quyển đã tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức với độ lớn trung bình là 2,3 w/m2
, làm cho trái đất nóng lên
Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat nitra ) gây ra hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là – 0,5 w/m2
và gián tiếp qua phản xạ của mây là – 0,7 w/m2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng – 0,02 w/m2; trái lại, sự tăng khí ozon
Trang 16trong tầng đối lưu do sản xuất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 w/m2
và 0,12 w/m2 Trong suốt gần một triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2 trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 đến 280 phần triệu (ppm) Hiện tại, con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387 ppm và sẽ còn tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa
Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính,
đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, điều đó càng khẳng định sự BĐKH hiện nay là do hoạt động của con người mà không thể giải thích là do các quá trình tự nhiên
1.1.3 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay
Việt Nam là một quốc gia nằm ở rìa phía đông bán đảo Đông Dương, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á Diện tích Việt Nam là 331.210 km² Biên giới Việt Nam trên đất liền dài 4.639 km Đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo Dọc theo lãnh thổ trải dài khí hậu Việt Nam phân bố thành
3 vùng: miền bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi miền nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan
Do vị trí địa lý của Việt Nam có đường bờ biển dài nên Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu trên thế giới Đại sứ Đặng Đình Quý, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc phát biểu tại phiên thảo luận mở về chủ đề
"Tác động của các thảm họa thiên nhiên liên quan tới biến đổi khí hậu đối với hòa bình và an ninh quốc tế" do Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức ngày 25/1/2019: Việt Nam nằm trong số mười nước bị tác động nặng về nhất
Trang 17trong vòng 20 năm qua và là một trong 6 nước chịu tác động lớn nhất trong 4 năm gần đây (tính từ năm 2019) Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long là một trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh)
Biến đổi về nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam có xu thế tăng Tuy nhiên, mức độ tăng ở từng khu vực trên cả nước là khác nhau Trung bình nhiệt độ trung bình năm trên 21oC Sự biến đổi về nhiệt độ ở Việt Nam cơ bản phù hợp với xu thế BĐKH đã và đang diễn ra trên toàn cầu cũng như trong khu vực Tuy nhiên, sự biến đổi này có ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam
Trong những năm qua, dưới tác động của BĐKH, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các
cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường Chỉ tính trong 10 năm từ năm 2001 đến năm 2010, các loại thiên tai như: Bão lũ,
lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm Những năm 2011 đến nay, các thiên tai xuất hiện một cách thất thường, với cường độ mạnh, gây nhiều thiệt hại cả về người và của Đặc biệt trong những năm gần đây ta có thể thấy rõ nhất tác động mạnh mẽ mà BĐKH gây ra ở nước ta:
Theo Khoa Sức khỏe và Vệ sinh môi trường - Viện sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, năm 2016, thiên tai xảy ra nhiều và nặng nề làm cho nước ta thiệt hại khoảng 1,7 tỷ USD (gần 1%GDP) Những thiệt hại lớn được thống kê như sau:
Lốc xoáy: diễn ra khắp nơi tại Bắc Ninh, Sóc Trăng, Bình Phước, Nghệ
An, Quảng Trị, Cần Thơ, Gia Lai Đặc biệt, chỉ trong ngày 5/6/2016, vòi rồng xuất hiện 2 lần tại đảo Cô Tô
Rét đậm, rét hại: 5 đợt Trong đợt rét kỷ lục ngày 22-27/1, hơn 20 điểm
Trang 18có băng tuyết Ba Vì (Hà Nội), Bình Liêu (Quảng Ninh), Kỳ Sơn (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh) lần đầu có mưa tuyết [Phụ lục 1]
Bão: 10 cơn bão hoạt động trên biển Đông, 4 cơn đổ bộ vào Việt Nam Cơn bão số 1 (ngày 27-28/7) phức tạp và hiếm gặp làm 28 người thương vong, thiệt hại ước tính khoảng 3.500 tỷ đồng
Mưa lũ: số lượng các đợt mưa lớn tương đương năm 2015, song nhiều đợt gây lũ lớn trên diện rộng Hai đợt mưa lũ diễn ra từ 13-18/10 và từ 30/10 – 7/11 làm 65 người thương vong, thiệt hại khoảng 7.190 tỷ đồng
Hạn hán, xâm nhập mặn : kéo dài từ 2014 đến giữa 2016, gây thiệt hại nghiêm trọng đến 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên Riêng vùng ĐBSCL, 20 triệu người bị ảnh hưởng, thiệt hại khoảng 7.900 tỷ đồng
Đặc biệt, năm 2017 là năm thiên tai nặng nề với nhiều đợt thiên tai dị thường xảy ra liên tục trên khắp các vùng miền trong cả nước Theo báo Zing new đăng ngày 31/12/2017: Biển Đông đón 16 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới, trong đó, 6 cơn ảnh hưởng trực tiếp nước ta Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trong năm nay phá kỷ lục kể từ năm 1964 Lần đầu tiên, các dự báo viên phải đặt tên "bão số 16" trên Biển Đông vào ngày 23/12 Bão số 16 - Tembin
có nhiều dị thường khi xuất hiện vào cuối mùa, mạnh nhất trong khoảng 40 năm qua Đặc biệt, theo Tạp chí Tài chính đăng ngày 06/12/2017, bão số 12 là cơn bão mạnh (cấp độ rủi ro thiên tai cấp 4), đổ bộ trực tiếp vào khu vực trước đây ít có bão lớn, nhất là Khánh Hòa - Trung tâm kinh tế, đô thị, du lịch phát triển nơi vài chục năm nay không có bão lớn [Phụ lục 2]; Lũ quét, sạt lở đất trên diện rộng tại các tỉnh miền núi từ ngày 02-04/8/2017, trong đó đặc biệt nghiêm trọng tại Mường La (Sơn La) và Mù Căng Chải (Yên Bái); Mưa lớn kéo dài liên tục từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 10/2017 với tổng lượng vượt từ 10-30% so với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm…
Mùa mưa bão năm 2017 được nhận định là diễn biến phức tạp và trái
Trang 19quy luật Bởi hiện tượng ENSO (Do 2 hiện tượng El Nino/La Nina (đại dương) và SO (khí quyển) xảy ra trên xích đạo Thái Bình Dương có quan hệ mật thiết với nhau nên chúng được liên kết lại thành một hiện tượng kép, gọi tắt là ENSO) ở trạng thái trung tính, xu hướng chuyển sang trạng thái El Nino (pha nóng) từ nửa cuối năm 2017 Bên cạnh đó, tính bất quy luật của bão tăng cao vào những năm chịu tác động của El Nino, gây nhiều khó khăn cho công tác dự báo
Theo Báo VNEXPRESS đăng ngày 27/12/2017, năm 2017 có 15 đợt nắng nóng diện rộng Trong đó từ ngày 1 đến hết 6/6, hai phần ba đất nước từ Quảng Ninh đến Phú Yên hứng chịu đợt nắng nóng đặc biệt gay gắt, với mốc nhiệt vượt giá trị lịch sử Ngày 3-4/6, hơn 30 trạm khí tượng miền Bắc đồng loạt ghi nhận mức nhiệt trên 40oC Hà Nội là tâm điểm nắng nóng khi các trạm quan trắc Ba Vì, Hoài Đức xấp xỉ 41; Láng, Sơn Tây trên 41o
C; riêng Hà Đông 42oC Từ khi có số liệu quan trắc, Hà Đông nóng nhất vào hè năm 2008 với 39,8oC Còn trạm Láng từng ghi nhận mức nhiệt cao nhất 40,4oC vào hè năm 1971 Ngoài Hà Nội, một số trạm khác ở Đông Bắc cũng vượt qua kỷ lục xác lập trước đó, như Bắc Giang ngày 2/6 đạt 39,7oC(năm 1994 là 38,7oC) và Lạng Sơn tương đương năm 2012 là 38,4o
C
Do tác động của La Nina yếu, mưa ở miền Bắc nhiều hơn, làm xuất hiện nhiều đợt lũ Từ tháng 6 đến 10/2017, khu vực này trải qua 13 đợt lũ với đỉnh lũ ở mức báo động 2-3 Lũ quét, lũ ống và sạt lở đất xảy ra ở nhiều tỉnh miền núi Từ tháng 6/2017, các sông Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên đã xuất hiện 8 đợt lũ Trong đó có 2 đợt lũ trên diện rộng vào đầu tháng 10 và tháng 11, đỉnh lũ trên phần lớn sông ở mức báo động 2-3 Riêng các sông ở Thanh Hóa và từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ngãi xuất hiện lũ đặc biệt lớn
Bài đăng của ThS Nguyễn Thị Lan - Khoa Biển và Hải đảo, Trường
Đại học tài nguyên và môi trường trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 9/2019:
tính riêng năm 2018, thiên tai xảy ra liên tiếp trên các vùng miền cả nước (với
Trang 2013 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, 212 trận dông, lốc sét; 14 trận lũ quét, sạt lở đất; 9 đợt gió mạnh trên biển; 4 đợt rét đậm, rét hại; 11 đợt nắng nóng, 23 đợt không khí lạnh; 30 đợt mưa lớn trên diện rộng; lũ lớn tại thượng nguồn sông Cửu Long sau 7 năm kể từ 2011, triều cường vượt mốc lịch sử tại các tỉnh Nam Bộ, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển nghiêm trọng tại miền Trung và ĐBSCL…) đã gây thiệt hại về kinh tế ước tính là 20.000 tỷ đồng, làm 218 người chết và mất tích
Đến năm 2019, ở Việt Nam, thiên tai không diễn ra dồn dập và khốc liệt nhưng vẫn mang nhiều yếu tố cực đoan, dị thường trên khắp các vùng miền của cả nước với 16/21 loại hình thiên tai, trong đó có 12 trận rủi ro thiên tai cấp độ 3 với 8 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới
Tuy nhiên đến nay, trong quý đầu của năm 2020, tình hình thời tiết cực đoan, thiên tai lại có xu hướng khốc liệt trở lại Từ đầu năm 2020 đến nay, nhiều hiện tượng thời tiết, khí hậu bất thường như mưa to kèm dông lốc, mưa
đá liên tục xảy ra ở các tỉnh phía Bắc, vào các thời điểm rất hiếm khi, thậm chí chưa từng xảy ra So với quy luật khí hậu thì những trận mưa đá gần đây xảy ra với mật độ dày hơn, diện rộng hơn và đến sớm hơn so với trung bình nhiều năm [Phụ lục 3] Vì vậy, có thể coi là hiện tượng bất thường của thời tiết Ngoài ra, hạn hán, xâm nhập mặn tiếp tục diễn ra ở Nam Bộ, Trung Bộ, xâm nhập mặn vượt mức lịch sử tại đồng bằng sông Cửu Long; mưa lớn kèm theo dông, lốc, sét, mưa đá
Như vậy, tình hình BĐKH diễn ra tại Việt Nam rất phức tạp và có chiều hướng tăng Ngày càng xuất hiện nhiều thiên tai một cách dị thường, với cường độ mạnh Nó ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt đời sống
1.1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
BĐKH mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan tiết hiện nay Đây là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 vì BĐKH
Trang 21đang ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái, tài nguyên môi trường và cuộc
sống của con người Ở Việt Nam, BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền,
các lĩnh vực về tài nguyên, môi trường và kinh tế – xã hội, nhưng trong đó tài nguyên nước, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế và các vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh nhất
Tác động của BĐKH đến ngành nông nghiệp và thủy sản
Theo bài “Biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế” được đăng trên
Trang tin tức - Cổng TTĐT Bộ Tài chính ngày 5/1/2017, Việt Nam là nước nông nghiệp (nông nghiệp đóng góp khoảng gần 20% GDP), có bờ biển dài 3.260km, đạt mức thu nhập trung bình thấp của thế giới, phần đông người nghèo sống dựa vào nông nghiệp và đánh bắt thủy sản vì vậy theo đánh giá của Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam là một trong những nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất và tổn thương trực tiếp
do quá trình BĐKH Theo chỉ số về mức độ tổn thương do BĐKH (CCVI), đánh giá mức độ tổn thương do tác động của BĐKH trong 30 năm tới thông qua 42 yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường tại 193 quốc gia, Việt Nam xếp hạng thứ 23 trong tổng số 193 quốc gia và là một trong 30 nước chịu “rủi ro rất cao”
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như: đất đai, nguồn nước, khí hậu, chế độ thủy văn, nhiệt độ, độ ẩm…
do đó ngành nông nghiệp đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự BĐKH Các tác động của BĐKH, như nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan, đang hiện hữu ngày càng nhiều hơn, rõ rệt hơn và đã thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây
Bài nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế Việt Nam”
của nhóm tác giả GS.TS Trần Thọ Đạt (Phó hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế Quốc dân), TS Đinh Đức Trường, ThS.Vũ Thị Hoài Thu, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu ha (trong đó có 4 triệu ha đất trồng
Trang 22lúa) Tính trên phạm vi cả nước, Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu ha đất trồng lúa (khoảng 50%) Không những vậy tình trạng xâm nhập mặn cũng khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp và làm giảm năng suất cây trồng Xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác giảm, đặc biệt nghiêm trọng là
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 1,77 triệu ha đất sẽ bị nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích đất ở đồng bằng sông Cửu Long và ước tính rằng, có khoảng 85% người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cần được hỗ trợ về nông nghiệp
Cùng với đó, nhiệt độ có xu hướng ngày càng tăng, hạn hán (và thiếu nước tưới) nhiều đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố của cây trồng, đặc biệt làm giảm năng suất, cụ thể là năng suất lúa của vụ xuân có xu hướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của vụ mùa Ước tính rằng, năng suất lúa xuân
ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả Đối với một nước nông nghiệp đóng vai trò chủ lực như nước ta hiện nay
(nông nghiệp chiếm 52,6% lực lượng lao động và 20% GDP của cả nước) thì
việc mất đất canh tác, năng suất cây trồng suy giảm do BĐKH mang lại thì đặt ra những thách thức và đe dọa lớn đến đời sống của nông dân, vấn đề xuất khẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia ta
Đối với ngành thủy sản, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 27 trong nhóm
33 quốc gia trên thế giới có nền kinh tế bị tổn thương cao nhất trước tác động của BĐKH đối với hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản (Theo bài trình bày của TS Quách Thị Khánh Ngọc - Giảng viên Khoa Kinh tế, Đại học Nha
Trang tại Hội thảo “Hợp tác trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại - Tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành thủy sản” trong khuôn khổ
Hội chợ Vietfish 2018) Các sinh kế thủy sản, bao gồm đánh bắt và nuôi trồng, là những sinh kế phụ thuộc vào nguồn nước và sự phong phú của
Trang 23nguồn lợi ven biển, nên là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất và dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH Tháng 12 năm 2017, cơn bão Damrey gây ra thiệt hại hơn 700 tỷ đồng tại tỉnh Khánh Hòa, là bằng chứng
về sự kiện khí hậu cực đoan Cơn bão đánh chìm và phá hủy 1.141 tàu thuyền
và ngư cụ, phá hủy 44.320 lồng nuôi và 3.270 bè nuôi cùng với cơ sở hạ tầng Hay ở An Giang mức nước cứ tăng 2-2,5 m được dự báo sẽ ảnh hưởng đến 62% ao nuôi cá tra
Tác động của BĐKH đến ngành công nghiệp
Các ngành công nghiệp, đặc biệt là khu công nghiệp ven biển, sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH:
Nước biển dâng khoảng 1m vào cuối thế kỷ 21 sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp bị ngập, thấp nhất là trên 10% diện tích, cao nhất là khoảng 67% diện tích
Nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, dệt, may mặc sẽ bị suy giảm đáng kể
vì không được tiếp ứng từ các vùng nguyên liệu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long vốn bị ngập lụt nặng nề nhất ở Việt Nam Điều này càng gây sức ép đến việc chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp về loại hình công nghiệp, tỷ lệ công nghiệp chế biến, công nghệ cao
Nhiệt độ tăng làm tăng tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp: tăng chi phí thông gió, làm mát hầm lò khai thác và làm giảm hiệu suất, sản lượng của các nhà máy điện Tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng và chi phí làm mát trong các ngành công nghiệp thương mại cũng gia tăng đáng
kể khi nhiệt độ có xu hướng ngày càng tăng
Mưa bão thất thường và nước biển dâng sẽ tác động tiêu cực đến quá trình vận hành, khai thác hệ thống truyền tải và phân phối điện, giàn khoan, đường ống dẫn dầu và khí vào đất liền, cấp dầu vào tàu chuyên chở dầu; làm gia tăng chi phí bảo dưỡng và sửa chữa các công trình năng lượng; ảnh hưởng
Trang 24tới việc cung cấp, tiêu thụ năng lượng, an ninh năng lượng quốc gia
Tác động của BĐKH đến hệ sinh thái
Hệ sinh thái biển:
Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, đặc biệt là những vùng đất ngập nước ven biển, điển hình là khu vực rừng ngập mặn ở Cà Mau, TP HCM, Vũng Tàu và Nam Định BĐKH làm cho đa dạng sinh học vùng bờ cùng với nguồn lợi thủy hải sản giảm sút Các
hệ sinh thái vùng bờ bị suy thoái và thu hẹp diện tích Các quần thể động thực vật có xu hướng di chuyển ra xa bờ hơn do thay đổi cấu trúc hoàn lưu ven biển, thay đổi sự tương tác giữa sông - biển ở vùng cửa sông ven bờ và do
mất tới 60% các nơi cư trú tự nhiên (“Hệ sinh thái biển Việt Nam trước tác động của biến đổi khí hậu”, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, ngày
15/6/2017) Những năm gần đây, sự suy giảm nhanh chóng của hệ sinh thái san hô, thảm cỏ biển, ngoài nguyên nhân chủ yếu do tác động trực tiếp của con người, BĐKH cũng là yếu tố chính đang đe dọa các hệ sinh thái quan trọng này Hiện tượng El-Nino có chiều hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ đã làm nhiệt độ nước biển tăng cao, cùng bức xạ mặt trời vượt khả năng chịu đựng của san hô khiến chúng trở thành màu trắng, mà khoa học gọi
là hiện tượng tẩy trắng san hô Sự gia tăng nhiệt độ nước biển làm thay đổi mùa sinh trưởng, gia tăng bùng phát động thực vật phù du,…làm thay đổi môi trường theo chiều hướng bất lợi cho sự phát triển của thảm cỏ biển BĐKH còn làm tăng chiều hướng axit hóa đại dương và các cơn bão nhiệt đới, dẫn tới sự tàn phá các rạn san hô, thảm cỏ biển
Hệ sinh thái rừng:
Trong bài “Tác động của biến đổi khí hậu đến tự nhiên và xã hội”,
cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam, ngày 12/6/2018, Việt Nam có đa dạng sinh thái cao, có các hệ sinh thái đa dạng Tuy nhiên trong thời gian qua,
do những nguyên nhân khác nhau, các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái
Trang 25rừng – hệ sinh thái có đa dạng sinh thái cao nhất bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng giảm rừng ngập mặn ven biển cũng bị suy thoái nghiêm trọng (giảm 80% diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ khoảng 8% (so với 50% của các nước trong khu vực) Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam để ứng phó với BĐKH trong các hoạt động thực hiện mục tiêu năm 2010 của Công ước
đa dạng sinh thái nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các hệ sinh thái rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước và giảm phát thải CO2
Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần
xã sinh vật của nhiều hệ sinh thái Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các hệ sinh thái ven biển và có xu hướng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các hệ sinh thái trên cạn Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH Theo đánh giá về nguy cơ cháy rừng ở vùng Bắc Trung bộ và Tây Bắc: ở vùng Bắc trung
bộ, nguy cơ cháy rừng sẽ tăng trong các thập kỷ tới Nguy cơ cháy rừng vào năm 2020 tăng hơn so với năm 2000 từ 6 – 40%;
Hệ sinh thái nước:
BĐKH đã và đang tác động trực tiếp đến tài nguyên nước tại Việt Nam Nguồn nước đang có xu hướng giảm, cạn kiệt ở nhiều khu vực trên cả nước, gây ra thách thức không nhỏ đối với việc bảo đảm an ninh nguồn nước và sự phát triển bền vững của đất nước Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học thủy lợi miền nam cho thấy, từ năm 2010 đến nay, xâm nhập mặn đến sớm từ
1 đến 1,5 tháng và kéo dài hơn so với trước đây Năm 2018, diễn biến hạn, mặn không khắc nghiệt như những năm 2015, năm 2016, nhưng tương đối phức tạp Mới đầu mùa khô, nhưng độ mặn với ranh mặn 4g/l xâm nhập vào
Trang 26đất liền từ 15 đến 45 km đã xuất hiện ở nhiều vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long BĐKH đã tác động trực tiếp và sâu sắc đến tài nguyên nước của Việt Nam
Hệ sinh thái đất:
Việt Nam là một quốc gia được xếp vào loại khan hiếm đất, bình quân đất đầu người xếp thứ 159 và chỉ bằng khoảng 1/6 bình quân của thế giới Những thay đổi về điều kiện thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, hiện tượng khí hậu cực đoan,…) đã làm diện tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, hoang mạc hóa, ngập úng, xói mòn, rửa trôi, sạt lở… xảy ra ngày càng nhiều hơn Theo kết quả điều tra gần đây nhất, cả nước có tới 9,34 triệu ha đất đồi núi trọc, đồi cát, trảng cỏ có liên quan tới hoang mạc hóa, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc, trong đó khoảng 7,85 triệu ha chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa với trên 4 triệu ha đất trống trọc chưa sử dụng, khoảng 2 triệu
ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hóa nặng và 1 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Đây là những vấn đề đáng lo ngại, là thách thức lớn cho việc sử dụng đất của nước ta hiện nay
Tác động của BĐKH đến an sinh xã hội
BĐKH làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, nguồn lực và điều kiện sống của người dân trên các khía cạnh: An toàn sức khỏe, và sinh mạng; Điều kiện sống: Cư trú và tiếp cận các dịch vụ cơ bản đặc biệt là nước sạch cho sinh hoạt; Nguồn lực, điều kiện sản xuất: suy giảm chất lượng, mất hoặc giảm sinh
kế của người dân, đặc biệt là người nghèo, lao động nông nghiệp các vùng dễ
bị tổn thương Theo Germanwatch, trong năm 2017, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng KRI với 116 vụ thiên tai, làm 298 người chết và gây thiệt hại 4,052 tỷ USD Để giảm thiểu các rủi ro do BĐKH, mặc dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, nguồn ngân sách hạn hẹp, cùng với trợ giúp xã hội thường xuyên thì trợ giúp xã hội đột xuất hàng năm cũng rất lớn (hơn 2.000 tỷ cho trên 1,2 triệu đối tượng mỗi năm)
Trang 27Tác động của BĐKH đến hạ tầng kỹ thuật
Hệ thống đê biển: mực nước biển dâng cao có thể làm hệ thống đê biển
không thể chống chọi được nước biển dâng khi có bão, dẫn đến nguy cơ vỡ đê trong các trận bão lớn
Hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao: mực nước biển dâng cao làm cho
khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, kéo theo mực nước ở các con sông trong nội địa dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn
sẽ làm cho đỉnh lũ tăng lên, ảnh hưởng đến sự an toàn của các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao tại các tỉnh phía Nam
Các công trình cấp nước: Mực nước biển dâng làm gia tăng tình trạng
xâm nhập mặn của biển vào đất liền, làm cho các tầng nước dưới đất vùng ven biển cũng có nguy cơ bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho công tác cấp nước phục vụ sản xuất
Cơ sở hạ tầng đô thị: Nước biển dâng và triều cường sẽ ảnh hưởng
nghiêm trọng các khu đô thị ven biển, gây ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt và các hoạt động sản xuất Nước biển dâng có thể nhấn chìm cơ sở hạ tầng giao thông ven biển từ đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay Hàng năm, mưa lớn gây ra lũ lụt, lở đất đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các tuyến giao thông, làm tắc nghẽn và ảnh hưởng đến việc lưu thông của phương tiện, phá hủy hạ tầng giao thông và làm tăng khối lượng cũng như chi phí khổng lồ cho công tác bảo trì
1.2 Cơ sở lý luận về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
1.2.1 Khái niệm
Bảo quản tài liệu lưu trữ là một trong các nghiệp vụ của công tác lưu trữ Đây là khâu quan trọng, quyết định tuổi thọ của tài liệu Làm tốt công tác này đảm bảo an toàn tài liệu và phục vụ cho việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ hiệu quả Khái niệm bảo quản tài liệu lưu trữ được định nghĩa khác nhau như:
Trang 28Theo TS Nguyễn Lệ Nhung: “Bảo quản tài liệu lưu trữ là sử dụng một
hệ thống các biện pháp khoa học - kỹ thuật nhằm tạo ra các điều kiện tốt nhất
để bảo đảm an toàn và kéo dài tuổi thọ cho tài liệu, nhằm phục vụ được tốt các yêu cầu khai thác, sử dụng tài liệu”
Theo dự thảo “Thuật ngữ văn thư lưu trữ” của Cục Văn thư và Lưu trữ
Nhà nước: “Bảo quản tài liệu lưu trữ là việc áp dụng các biện pháp khoa học,
kỹ thuật để bảo đảm an toàn và kéo dài tuổi thọ tài liệu lưu trữ” [4, Tr 2]
Theo cuốn Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ của
GVC.TS Chu Thị Hậu:“Bảo quản tài liệu lưu trữ là sử dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để kéo dài tuổi thọ và đảm bảo an toàn cho tài liệu nhằm phục vụ các yêu cầu khai thác, sử dụng tài liệu”[8, Tr 211]
Như vậy, có nhiều định nghĩa về bảo quản tài liệu lưu trữ, để thống nhất trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài khóa luận sử dụng khái niệm theo cuốn Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác lưu trữ - GVC.TS Chu Thị Hậu
1.2.2 Ý nghĩa công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Bảo quản tài liệu lưu trữ có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong tình hình thực tế hiện nay do nhiều nguyên nhân như sự phá hoại của tự nhiên hoặc con người nên nhiều tài liệu lưu trữ đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp, hư hỏng mà nếu không có biện pháp bảo quản tốt thì những tài liệu này
có thể bị mất mát, hư hỏng mà rất khó hoặc không thể hồi phục được
Tài liệu lưu trữ là sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ quan, chứa đựng nhiều bí mật quốc gia; mặt khác vì chúng là những tài liệu gốc, nếu bị hư hỏng, mất mát hoặc thất lạc thì không làm lại được và có thể gây nên những tổn thất lớn Do vậy, đối với cơ quan, tổ chức, bảo quản tốt tài liệu lưu trữ giúp giữ lại được bằng chứng về quá trình hoạt động của cơ quan, phục
vụ cho công tác khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ để giải quyết các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức cũng như phục vụ cho nghiên cứu lâu dài
Trang 29Bảo quản tài liệu lưu trữ nhằm phòng chống và hạn chế nguy cơ mất mát, hư hỏng tài liệu Do nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên các yếu tố tác động của tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm cao, lũ lụt vi sinh vật, côn trùng tác động phá hoại rất lớn đối với tài liệu lưu trữ
Bảo quản tài liệu lưu trữ giúp kéo dài tuổi thọ cho tài liệu, phục hồi những tài liệu có nguy cơ hư hỏng và phục chế những tài liệu đã bị hư hỏng
Vì vậy công tác bảo quản lưu trữ tài liệu ở nước ta là một nhiệm vụ rất khó khăn và phức tạp, được đặt ra một cách cấp thiết trong thực tiễn Đặc biệt trong tình hình BĐKH đang ngày càng diễn biến phức tạp
Bảo quản tài liệu lưu trữ nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần bảo tồn nguồn di sản văn hóa của dân tộc, di sản tư liệu của thế giới Qua đó, giúp cho người dân nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của tài liệu lưu trữ cũng như công tác lưu trữ
1.2.3 Nội dung công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ bao gồm những nội dung sau:
Xây dựng, cải tạo kho lưu trữ: Việc xây dựng và cải tạo kho lưu trữ là nhiệm vụ hàng đầu của công tác bảo quản lưu trữ, vì theo quy định của Nhà nước tài liệu lưu trữ phải được bảo quản an toàn trong kho lưu trữ Tùy theo khối lượng, quy mô hồ sơ, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xây dựng, bố trí kho lưu trữ có diện tích phù hợp và đảm bảo điều kiện kỹ thuật, môi trường kho để bảo quản an toàn tài liệu của cơ quan, tổ chức mình
Trang bị các thiết bị kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ: Đây là điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất nhằm thực hiện công tác bảo quản tài liệu lưu trữ Bao gồm những trang thiết bị cơ bản: cặp, hộp, giá, tủ và những trang thiết bị
hỗ trợ như thiết bị phòng và chống cháy, thiết bị thông gió, thiết bị chống ẩm, thiết bị đo nhiệt độ và độ ẩm, dụng cụ làm vệ sinh tài liệu, các phương tiện vận chuyển, trang thiết bị bảo vệ cửa chính, cửa sổ
Trang 30Xử lý kỹ thuật bảo quản: Là việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật để bảo quản tài liệu Trong đó việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật hiện đại cần kết hợp với các kinh nghiệm truyền thống nhằm hạn chế tối đa quá trình lão hóa tự nhiên của tài liệu, phòng chống các tác nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ, kéo dài tuổi thọ của tài liệu
Tổ chức tài liệu trong kho lưu trữ: là việc sắp xếp tài liệu trong kho lưu trữ một cách khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống kê, kiểm tra và tra tìm tài liệu lưu trữ Trong phạm vi một kho lưu trữ việc tổ chức tài liệu bao gồm các công việc: sắp xếp tài liệu trong hồ sơ, sắp xếp hồ sơ trong cặp, hộp, sắp xếp hộp lên giá, sắp xếp giá trong kho và lập bảng chỉ dẫn nơi
để tài liệu
1.2.4 Các nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ
Các nguyên nhân gây hư hại tài liệu lưu trữ gồm:
Do vật mang tin, chất liệu ghi tin và phương pháp ghi tin Trong các kho dữ liệu hiện nay có nhiều loại tài liệu lưu trữ như: tài liệu giấy, ảnh, phim điện ảnh, ghi âm… Trong đó, tài liệu giấy chiếm khối lượng lớn Đối với tài liệu giấy nguyên nhân bị hư hỏng có thể do những chất cấu thành nên tài liệu (giấy và mực)
Do điều kiện tự nhiên như: độ ẩm; nhiệt độ không khí; ánh sáng; bụi; vi sinh vật và sinh vật; khí độc; thiên tai Đây là một nguyên nhân quan trọng gây hư hỏng tài liệu, gây lên những tác động có hại đối với tài liệu lưu trữ và làm cho công tác bảo quản tài liệu lưu trữ khó khăn và phức tạp
Do điều kiện bảo quản và sử dụng tài liệu Đây là nguyên nhân do bản thân con người trong quá trình bảo quản tài liệu gây ra Nó tác động không nhỏ đến tuổi thọ của tài liệu lưu trữ
1.2.5 Cơ sở pháp lý về bảo quản tài liệu lưu trữ
Nhà nước rất quan tâm đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam Những quan tâm đó được thể hiện trên các văn bản sau:
Điều 25 của Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011;
Trang 31Điều 8, Khoản 6 - Điều 13, Điều 14 của Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ;
Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ;
Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 07 tháng 9 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ
cơ quan, Lưu trữ lịch sử;
Thông tư số 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về kho chuyên dụng;
Thông tư số 15/2011/TT-BNV ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Nội
vụ Quy định định mức kinh tế - kỹ thuật Vệ sinh kho bảo quản tài liệu lưu trữ
và Vệ sinh tài liệu lưu trữ nền giấy;
Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ về công bố tiêu chuẩn quốc gia;
Quyết định số 246/QĐ-LTNN ngày 17/12/2002 của Cục Lưu trữ nhà nước về quá trình tu bổ tài liệu lưu trữ;
Công văn số 111/NVĐP ngày 04/4/1996 của Cục Lưu trữ Nhà nước hướng dẫn để bảo quản tài liệu;
Công văn 287/LTNN - KH ngày 03/07/2020 của Cục Lưu trữ, nhà nước cho hướng dẫn, lập dự án và kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo kho lưu trữ
dung trên làm cơ sở, tiền đề để tôi triển khai Chương 2 Ảnh hưởng của BĐKH đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại Việt Nam
Trang 32Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÔNG TÁC
BẢO QUẢN TÀI LIỆU LƯU TRỮ Ở VIỆT NAM 2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến việc quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay, trên mọi lĩnh vực, hầu hết các công việc từ chỉ đạo, điều hành, quyết định thi hành đều gắn liền với văn bản Do vậy, mọi văn bản, tài liệu có giá trị sản sinh ra trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân cần được bảo quản an toàn, phục vụ cho khai thác sử dụng sau này Để thực hiện tốt điều này, hoạt động quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ là rất quan trọng Nội dung quản lý nhà nước về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ bao gồm: Xây dựng, ban hành và chỉ đạo hướng dẫn thực hiện các văn bản Quy phạm pháp luật về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; xây dựng và chỉ đạo và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; thống kê nhà nước trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; quản lý nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, quản lý công tác thi đua, khen thưởng trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý quy phạm pháp luật về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; sơ kết, tổng kết công tác bảo quản tài liệu lưu trữ; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo quản tài liệu lưu trữ
Hiện nay, hoạt động quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở nước
ta cơ bản đang dần hoàn thiện Có rất nhiều những văn bản quản lý nhà nước
về công tác bảo quản tài liệu lưu trữ được xây dựng, ban hành, đáp ứng được thực tiễn công việc như:
Quốc hội (2011), Luật số 01/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011 Luật Lưu trữ;
Trang 33Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ;
Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ;
Thông tư số 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về kho chuyên dụng;
Quyết định số 1687/QĐ-BKHCN ngày 23/7/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ về công bố tiêu chuẩn quốc gia;
Quyết định số 246/QĐ-LTNN ngày 17/12/2002 của Cục Lưu trữ nhà nước về quá trình tu bổ tài liệu lưu trữ;
Công văn số 111/NVĐP ngày 04/4/1996 của Cục Lưu trữ Nhà nước hướng dẫn để bảo quản tài liệu;
Công văn 287/LTNN - KH ngày 03/07/2020 của Cục Lưu trữ, nhà nước cho hướng dẫn, lập dự án và kế hoạch đầu tư xây dựng, cải tạo kho lưu trữ
Tuy nhiên, việc bảo quản tài liệu lưu trữ hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, đặc biệt là trong thời kỳ BĐKH diễn ra phức tạp ở nước ta Nhà nước cũng chưa có những biện pháp quản lý để hạn chế những tác động của BĐKH tác động đến công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
Điều kiện tự nhiên là nguyên nhân quan trọng gây hư hỏng tài liệu, gây
ra những tác động có hại đến tài liệu lưu trữ Trong khi đó, hiện nay, BĐKH
đã và đang tác động mạnh mẽ tới nước ta nói chung và ngành lưu trữ nói riêng, trong đó chịu ảnh hưởng nhất là công tác bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ Những tác động của BĐKH sẽ ảnh hưởng đến phòng, kho lưu trữ, đến bản thân tài liệu lưu trữ Do vậy những quy định về tiêu chuẩn phòng, kho lưu trữ cũng bị ảnh hưởng như Thông tư số 09/2007/TT-BNV về hướng dẫn về kho chuyên dụng Năm 2010, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1784/QĐ-TTg phê duyệt đề án "Hỗ trợ xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng các tỉnh, TP
Trang 34trực thuộc TƯ" Điều này nhằm hỗ trợ xây dựng được kho lưu trữ chuyên dụng để bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ trong các lưu trữ lịch sử
Do đặc điểm địa hình lãnh thổ Việt Nam trải dài với đường biên giới trên đất liền dài 4.639 km, đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo nên điều kiện tự nhiên ở các miền khác nhau, có sự thay đổi chênh lệch với nhau Điều này đòi hỏi phải có những quy định cụ thể đối với từng vùng miền, khu vực trong thực hiện công tác bảo quản tài liệu lưu trữ Ở mỗi vùng miền khác nhau, địa hình khác nhau việc xây dựng kho phải đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật
mà còn phải phù hợp với thực tế BĐKH đã gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai mà ảnh hưởng nhiều nhất và rõ nét nhất ở khu vực ven biển và vùng núi cao Trong khi đó, một số lưu trữ lịch sử các tỉnh, thành phố lại ở gần biển [Phụ lục 4], sẽ chịu ảnh hưởng nếu xảy ra thiên tai Do vậy, việc bảo quản tài liệu lưu trữ rất khó khăn nhất là hoạt động quản lý công tác này Các Tỉnh, thành cần chủ động, nhanh nhạy trong công tác quản lý, đưa ra những chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời để ứng phó với sự ảnh hưởng của các thiên tai tới công tác lưu trữ, làm giảm đến mức thấp nhất hậu quả do thiên tai gây ra
Trước những ảnh hưởng của thiên tai, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước ban hành văn bản số 579/VTLTNN-NVĐP ngày 22/7/2013 về tăng cường công tác phòng chống lụt bão, bảo vệ an toàn tài liệu lưu trữ Ngày 06/8/2013, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc ban hành văn bản số 819/SNV- CCVTLT về tăng cường công tác phòng chống lụt, bão, bảo vệ an toàn tài liệu lưu trữ; nhằm bảo quản an toàn tài liệu, tránh xảy ra các thiệt hại
do thiên tai gây ra đối với hồ sơ, tài liệu lưu trữ trong mùa mưa bão năm
2013 Nội dung văn bản yêu cầu và đề nghị thủ trưởng các sở, ban, ngành; các
cơ quan, đơn vị là nguồn nộp lưu; UBND các huyện, thành, thị triển khai thực hiện một số công việc cụ thể sau:
Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan về việc bảo quản an toàn hồ sơ, tài liệu trong mùa mưa, bão,
Trang 35đặc biệt là những công chức, viên chức những người thường xuyên tiếp xúc với hồ sơ, tài liệu;
Bố trí các phòng kho, trang thiết bị đảm bảo để bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ trong mùa mưa, bão;
Trên cơ sở các phương án phòng chống lụt, bão chung đã xây dựng của
cơ quan, tổ chức, địa phương cần đôn đốc xây dựng các phương án cụ thể đối với các phòng kho bảo quản an toàn hồ sơ, tài liệu lưu trữ;
Tăng cường việc kiểm tra tại các phòng kho để đảm bảo ứng cứu, xử lý nhanh nhất các tình huống khẩn cấp xảy ra Đặc biệt là đối với các cơ quan, tổ chức, địa phương đang bố trí kho tạm cần tiến hành việc chống thấm, dột, thông gió để tài liệu lưu trữ không bị ướt và ẩm mốc;
Thường xuyên cập nhật diễn biến về mưa, bão trên các phương tiện thông tin đại chúng để chủ động bảo vệ, đảm bảo an toàn tài liệu lưu trữ, hạn chế thiệt hại do mưa, bão gây ra;
Trong trường hợp hồ sơ, tài liệu bị hỏng, mất do mưa, lũ, bão gây ra phải kịp thời báo cáo về Sở Nội vụ để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
có hướng chỉ đạo và tìm biện pháp khắc phục thiệt hại
Ngày 05/8/2014, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình ban hành Công văn số 987/SNV-CCVTLT về việc tăng cường công tác bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ trong mùa mưa, bão, lũ [Phụ lục 5] Để thực hiện tốt công tác bảo vệ, bảo quản an toàn hồ sơ, tài liệu lưu trữ, ngày 10/4/2018 Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình đã ban hành Công văn số 433/SNV-CCVTLT trong đó có nội dung sau:
Rà soát, sửa chữa, nâng cấp hệ thống kho tàng nhằm đảm bảo tốt môi trường trong kho lưu trữ; xây dựng, ban hành hoặc bổ sung phương án, nội quy và trang bị đầy đủ các phương tiện phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy, phòng chống lụt bão và phòng trừ mối, mọt, côn trùng Thường xuyên vệ sinh tài liệu, kiểm tra hệ thống phòng cháy, chữa cháy các thiết bị điện, đảm bảo
an toàn tài liệu lưu trữ; Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các quy
Trang 36định về phòng cháy, chữa cháy và các biện pháp an toàn về điện, phòng chống lụt bão đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, đặc biệt đối với công chức, viên chức và những người trực tiếp làm công việc liên quan tới hồ sơ, tài liệu; định kỳ tổ chức tập huấn, thực hành về công tác phòng cháy, chữa cháy và phòng chống lụt bão
Nhằm chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy, tăng cường bảo quản an toàn hồ sơ, tài liệu lưu trữ trong điều kiện thời tiết mùa khô có nhiều diễn biến phức tạp tại các cơ quan, đơn vị Sở Nội vụ Tỉnh Bình Phước đã ra Công văn số 655/SNV-CCVTLT ngày 03/4/2017 của Sở Nội vụ Tỉnh Bình Phước về việc tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ
Việc quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở các cấp có sự đầu tư khác nhau Đối với những lưu trữ lịch sử, việc bảo quản tài liệu lưu trữ thực hiện đúng quy trình và áp dụng đúng quy định của Nhà nước Do các lưu trữ lịch sử được đầu tư từ việc xây dựng kho chuyên dụng đúng tiêu chuẩn, các trang thiết bị hiện đại hỗ trợ bảo quản, có những biện pháp kỹ thuật tốt và tổ chức sắp xếp khoa học tài liệu trong kho Điều này cho thấy công tác quản lý tại các lưu trữ lịch sử được thực hiện đúng, có sự đầu tư, quan tâm của nhà nước, lãnh đạo cơ quan lưu trữ Tuy nhiên, tài liệu lưu trữ trước khi nộp vào các lưu trữ lịch sử phải được bảo quản tại lưu trữ cơ quan, theo Khoản 1, Điều
21 - Luật Lưu trữ năm 2011 quy định: “Trong thời hạn 10 năm, kể từ năm công việc kết thúc, cơ quan, tổ chức thuộc Danh mục cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu có trách nhiệm nộp lưu tài liệu có giá trị bảo quản vĩnh viễn vào Lưu trữ lịch sử” Trong khi đó, lưu trữ cơ quan lại chưa thực sự
được quan tâm, thực hiện đúng quy định Ở hầu hết các lưu trữ cơ quan, việc quản lý công tác bảo quản còn chưa được đầu tư, quan tâm xác đáng và dễ bị chịu ảnh hưởng của BĐKH hơn Các kho lưu trữ cơ quan còn nghèo nàn về
cơ sở vật chất, nhân sự, chưa có các biện pháp kỹ thuật bảo quản an toàn tài
Trang 37liệu Thực tế cho thấy, các lưu trữ cơ quan hiện nay hầu hết không đạt tiêu chuẩn để thực hiện công tác bảo quản tài liệu lưu trữ, chủ yếu là cải tạo phòng làm việc sẵn có làm kho hoặc thậm chí cả hành lang để bảo quản tài liệu
Ví dụ: Kho lưu trữ của Trường đại học Nội vụ Hà Nội là kho cải tạo đặt tại nhà C phòng C702 của Trường (tầng cao nhất)
Kho lưu trữ của Trung tâm Công nghệ Thông tin Tài nguyên môi trường Hà Nội đang đặt tại tầng 6 trụ sở tại số 18 Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội [Phụ lục 6]
Cả 2 kho lưu trữ trên đều không đảm bảo yêu cầu cho công tác bảo quản tài liệu lưu trữ Từ đó, những ảnh hưởng xấu từ BĐKH sẽ dễ dàng ảnh hưởng trực tiếp đến tài liệu lưu trữ như: nhiệt độ cao sẽ làm tài liệu bị giòn, tăng nhanh phản ứng hóa học làm giấy bị axit hóa, ố vàng; độ ẩm cao làm cho tài liệu bị mục nát, bết dính, tạo điều kiện cho nấm mốc, côn trùng, vi sinh vật phát triển;
Qua đó cho thấy việc quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ hiện nay tại các lưu trữ cơ quan chưa thực hiện tốt, cần có những biện pháp quản
lý kịp thời để nâng cao hiệu quả công tác bảo quản tài liệu lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức Như vậy, BĐKH ảnh hưởng đến những quy định về bảo quản tài liệu lưu trữ của cơ quan quản lý nhà nước, đòi hỏi cần phải có những quy định
cụ thể về bảo quản tài liệu ở các cấp để thực hiện đúng, đầy đủ nghiệp vụ
Qua đây, có thể thấy BĐKH có tác động mạnh như thế nào đến việc quản lý công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam Các biện pháp quản lý cần kịp thời, nhanh chóng bám sát tình hình thực tế nhằm tránh tối đa ảnh hưởng của BĐKH tới công tác bảo quản tài liệu lưu trữ
2.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nghiệp vụ bảo quản tài liệu lưu trữ ở Việt Nam
2.2.1 Vật mang tin, chất liệu ghi tin
Tài liệu lưu trữ là tài sản quý giá của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với