Do vậy, một bộ phận lao động trong nông thôn có xu hướng dịch chuyển hoàn toàn từ sản xuất nông nghiệp sang các làng nghề thủ công truyền thống nhưng cũng có không ít số lao động vẫn duy
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
trường đại học nông nghiệp i
- -
nguyễn đình hùng
Nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan x1 Phú nghĩa – chương mỹ – hà tây
Trang 2Mục lục
1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 9
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 10
2.1 Một số vấn đề chủ yếu về lao động, việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động .10
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về lao động và việc làm 10
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa và tính tất yếu của chuyển đổi cơ cấu lao động 16
2.1.3 Mối quan hệ giữa lao động và thu nhập 18
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao động trong làng nghề 20
2.2 Một số bài học kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu lao động 23
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động ở Trung Quốc 23
2.2.2 Chuyển đổi cơ cấu lao động ở Thái Lan và Inđônêxia 25
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động ở Hàn Quốc 27
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Đặc điểm làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xR Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây 35
3.1.1 Đặc điểm làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xR Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây 35
3.1.2 Đặc điểm về sản phẩm 36
3.1.3 Đặc điểm về công nghệ, công cụ 37
3.1.4 Đặc điểm về lao động 37
3.1.5 Đặc điểm về nguyên, nhiên liệu 38
3.1.6 Đặc điểm về hình thức tổ chức sản xuất 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 39
Trang 33.2.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 39
3.2.3 Phương pháp phân tích 41
4 Kết quả nghiên cứu 43
4.1 sự chuyển đổi cơ cấu lao động tại làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan43 4.1.1 Tình hình dân số và lao động 43
4.1.2 Chuyển đổi lao động trong các ngành kinh tế tại làng nghề 43
4.2 Chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập ở các nhóm hộ điều tra 49
4.2.1 Hiện trạng và điều kiện chuyển đổi lao động và thu nhập tại làng nghề 49
4.2.2 Chuyển đổi cơ cấu lao động ở các nhóm hộ điều tra 59
4.2.3 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập của lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ 65
4.2.4 Chuyển đổi cơ cấu thời gian lao động và thu nhập tại làng nghề 69
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao động 73
4.3.1 Mất đất sản xuất là yếu tố lực đẩy lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp ở làng nghề 73
4.3.2 Trình độ văn hoá tương quan khá chặt với chuyển dịch cơ cấu lao động và thu nhập trong làng nghề 74
4.3.3 Trình độ chuyên môn kỹ thuật là yếu tố quyết định mức thu nhập của người lao động 74
4.3.4 Yếu tố khu vực người lao động đang sinh sống 75
4.3.5 Số lượng, chất lượng, giá cả nguyên liệu và giá bán sản phẩm ảnh hưởng khá mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu thu nhập trong làng nghề 76
4.3.6 Cơ sở hạ tầng là yếu tố tác động khá mạnh đến chi phí sản xuất 76
4.4 Một số giải pháp chuyển đổi cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động trong làng nghề 78
4.4.1 Nâng cao chất lượng nguồn lao động 78
4.4.2 Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ khuyến khích doanh nhân đầu tư phát triển sản xuất tại làng nghề 79
4.4.3 Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ nhu cầu sản xuất của làng nghề 79
4.4.4 Phát triển và bảo vệ thị trường tiêu thụ sản phẩm 80
4.4.5 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng thương mại 80
5 Kết luận và đề nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Đề nghị 83
Trang 4Danh mục các chữ viết tắt dùng trong luận văn
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 5XH XR hội
Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Cơ cấu lực lượng lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây
tre đan xR Phú Nghĩa 38
Bảng 3.2 Lượng mẫu điều tra 40
Bảng 3.3 Cơ cấu hộ điều tra phân theo tình trạng kinh tế 41
Bảng 3.4 Cơ cấu hộ điều tra phân theo ngành nghề 41
Bảng 4.1 Chuyển đổi lao động nông nghiệp tại làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xR Phú Nghĩa 38
Bảng 4.2 Chuyển đổi lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xR Phú Nghĩa 46
Bảng 4.3 Chuyển đổi lao động thương mại – dịch vụ ở làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xR Phú Nghĩa 48
Bảng 4.4 Đất đai bình quân/hộ điều tra năm 2006 51
Bảng 4.5 Nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ năm 2006 48
Bảng 4.6 Cơ cấu độ tuổi của lao động trong các nhóm hộ so với tổng số lao động điều tra năm 2006 49
Bảng 4.7 Cơ cấu trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn của lao động trong các nhóm hộ so với tổng số lao động điều tra năm 2006 52
Bảng 4.8 Chuyển đổi lao động theo trình độ văn hoá ở các hộ điều tra 53
Bảng 4.9 Chuyển đổi cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá của lao động trong các nhóm hộ điều tra 54
Bảng 4.10 Chuyển đổi lao động theo trình độ chuyên môn ở các hộ điều tra 55
Bảng 4.11 Chuyển đổi cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn của lao động trong các nhóm hộ điều tra 56
Bảng 4.12 Cơ cấu lao động trong hộ theo mức độ đáp ứng việc làm
ở các hộ điều tra 57
Trang 6Bảng 4.13 Cơ cấu lao động theo địa điểm làm việc ở các hộ điều tra 58 Bảng 4.14 Cơ cấu thu nhập bình quân 1 ngày công lao động trong các ngành sản xuất tại làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan 60 Bảng 4.15 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập theo trình độ văn hoá của lao động trong các nhóm hộ điều tra 67 Bảng 4.16 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập theo trình độ chuyên môn của lao động trong các nhóm hộ điều tra 69 Bảng 4.17 Chuyển đổi cơ cấu thời gian lao động và cơ cấu thu nhập của hộ nông dân trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan 70 Bảng 4.18 Độ co giRn thu nhập của người lao động theo trình độ văn hoá của người lao động ở các nhóm hộ điều tra 68 Bảng 4.19 Độ co giRn thu nhập của người lao động theo trình độ chuyên môn của người lao động ở các nhóm hộ điều tra 69 Bảng 4.20 Phân tích SWOT đối với biến đổi cơ cấu lao động và thu nhập ở làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan 77
Trang 7Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 4.1 So sánh tình hình nhân khẩu giữa các nhóm hộ điều tra 48
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu độ tuổi của lao động trong các nhóm hộ khá, giàu 50
Biểu đồ 4.3 Cơ cấu độ tuổi của lao động trong các nhóm hộ trung bình 50
Biểu đồ 4.4 Cơ cấu độ tuổi của lao động trong các nhóm hộ trung bình 57
Biểu đồ 4.5 Chuyển đổi cơ cấu lao động trong theo trình độ văn hoá 60
Biểu đồ 4.6 Chuyển đổi cơ cấu lao động trong theo trình độ chuyên môn 62
Biểu đồ 4.7 Chuyển đổi cơ cấu lao động trong theo trình độ chuyên môn 59
4.2.3 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập của LĐ trong làng nghề thủ công mỹ nghệ 59
Biểu đồ 4.8 Tốc độ tăng thu nhập của lao động trong các ngành kinh tế 60
Biểu đồ 4.9 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập theo trình độ VH của LĐ trong các nhóm hộ điều tra 62
Biểu đồ 4.10 Chuyển đổi cơ cấu thu nhập theo trình độ chuyên môn của lao động trong các nhóm hộ điều tra 63
Biểu đồ 4.11 Cơ cấu thời gian lao động bình quân 1hộ/năm 65
Biểu đồ 4.12 So sánh thu nhập bình quân 1hộ/năm (1000đồng) 65
Biểu đồ 4.13 Cơ cấu lao động và thu nhập của hộ năm 2004 66
Biểu đồ 4.14 Cơ cấu lao động và thu nhập của hộ năm 2005 66
Biểu đồ 4.15 Cơ cấu lao động và thu nhập của hộ năm 2006 66
Trang 81 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước, Việt Nam đR đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xR hội, trong đó phải kể đến những thành tựu về lao động - việc làm Mỗi năm, cả nước tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị đR giảm từ 10% vào những năm 1990 xuống 5,6% năm 2004; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn tăng lên và đạt 79% năm 2004 so với 77,88% năm 1998 [22]
Đứng trước những yêu cầu mới của tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực thì đất nước ta vẫn còn nhiều vấn đề giải quyết, trong đó vấn đề đáng quan tâm, lực cản lớn nhất chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng GDP, tỷ trọng lao
động công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng GDP, tỷ trọng lao động nông nghiệp còn chậm, năng suất lao động còn thấp
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước là con đường tất yếu để đưa nước ta thoát khỏi nhóm các nước kém phát triển Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta cần phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề, trong đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nông thôn là giải pháp vừa có tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa chiến lược
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình đô thị hoá, HĐH đất nước dẫn đến chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động trong các ngành kinh tế khác nhau So với các ngành công nghiệp và dịch vụ, tiền công lao động trong sản xuất nông nghiệp đang ở mức thấp nhất Do đó xu hướng
Trang 9CNH-chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, chuyển từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị là xu hướng tất yếu
Một trong những giải pháp tích cực nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động, từng bước tăng thu nhập cho người lao động trên địa bàn nông thôn là phát triển các làng nghề, đặc biệt là phát triển các làng nghề thủ công truyền thống
Đây là loại hình sản xuất kinh doanh thu hút rất nhiều lao động nông nhàn, lao
động ngoài độ tuổi và lao động có trình độ văn hoá thấp So với sản xuất nông nghiệp thì thu nhập của người lao động trong các làng nghề cao hơn, đều hơn
Do vậy, một bộ phận lao động trong nông thôn có xu hướng dịch chuyển hoàn toàn từ sản xuất nông nghiệp sang các làng nghề thủ công truyền thống nhưng cũng có không ít số lao động vẫn duy trì song song giữa sản xuất nông nghiệp
và làm nghề thủ công mỹ nghệ tại địa phương, một bộ phận không nhỏ khác lại lựa chọn phương án bỏ sản xuất nông nghiệp và ngành nghề tại địa phương
để đến làm tại các khu công nghiệp hay các đô thị lớn nhằm kiếm được khoản thu nhập cao hơn
Quá trình chuyển dịch lao động này diễn ra như thế nào? Người lao
động có sự lựa chọn (ứng xử) như thế nào trước những cơ hội về việc làm và thu nhập? Tại sao người lao động lại có những sự lựa chọn khác nhau như vậy? Trong các sự chọn lựa đó sự chọn lựa nào là tốt nhất? Để xem xét các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao
động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan x& Phú Nghĩa – Chương Mỹ – Hà Tây”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về lao động, việc làm, thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động trong các làng nghề thủ công mỹ nghệ
Trang 10- Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm, thu nhập, phản ứng của người lao động trước những sự lựa chọn về thu nhập của người lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho người lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao động và cơ cấu lao động, cơ cấu thu nhập trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu tại làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre
đan xR Phú Nghĩa – Chương Mỹ – Hà Tây
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp theo hệ thống
số liệu điều tra Lao động- Việc làm của Bộ Lao động – Thương binh và XR hội và Tổng cục Thống kê từ năm 2004 đến năm 2006
- Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập bằng việc phỏng vấn, điều tra
60 hộ nông dân, 30 cán bộ quản lý địa phương tại 3 cấp: tỉnh, huyện, xR
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu sự biến đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan ở xR Phú Nghĩa – huyện Chương Mỹ – tỉnh Hà Tây
Trang 112 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Một số vấn đề chủ yếu về lao động, việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về lao động và việc làm
2.1.1.1 Lao động và lực lượng lao động
* Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người Lao động là hoạt
động của con người diễn ra giữa con người với tự nhiên Trong quá trình lao
động, con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để làm ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người
Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng sức lao động của chính mình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên [4]
* Khái niệm lực lượng lao động
Lực lượng lao động là toàn bộ những người trong, trên và dưới độ tuổi lao
động có nhu cầu về việc làm hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế hoặc
đang tìm kiếm việc làm [4]
Theo khái niệm trên đây, những đối tượng sau không thuộc lực lượng lao động: (i) Những người trong độ tuổi lao động đang làm các công việc nội trợ hoặc đang học tập, không tham gia làm việc; (ii) Những người mất khả năng lao động; (iii) Những người không chịu làm việc
2.1.1.2 Việc làm và thất nghiệp
* Khái niệm việc làm
Khái niệm về việc làm thường gắn với khái niệm về chỗ làm việc và tạo
ra nguồn thu nhập Hoạt động tìm kiếm thu nhập lao động của con người rất phong phú, có những công việc được xR hội thừa nhận thông qua hệ thống luật pháp, có những công việc cũng tạo ra nguồn thu nhập nhưng không được pháp luật thừa nhận (buôn lậu, buôn bán các hàng quốc cấm, kinh doanh các hoạt
Trang 12động văn hoá đồi truỵ…) Như vậy có thể hiểu các hoạt động tạo ra nguồn thu nhập nhưng bị pháp luật cấm không phải là việc làm
ở Việt Nam, Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà xR hội chủ nghĩa Việt Nam qui định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm
đều được thừa nhận là việc làm" [6] Khái niệm này đR phản ánh đầy đủ nội dung, bản chất của thuật ngữ “việc làm”
* Khái niệm người có việc làm
ở nước ta trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung đR quan niệm: “Người có việc làm là người nằm trong biên chế nhà nước hoặc làm việc trong hợp tác xR” [16] Theo chúng tôi thì khái niệm này có phần cứng nhắc, không phù hợp thực tế vì khi đó trong nền kinh tế Việt Nam vẫn tồn tại thành phần kinh tế cá thể và những người lao động trong khu vực kinh tế cá thể vẫn có được thu nhập từ các hoạt động không bị pháp luật cấm
Đến nay, quan niệm về người có việc làm đR thay đổi Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý cho rằng "người có việc làm là người đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xR hội" [13]
Từ khái niệm về việc làm như trên, căn cứ vào tính chất công việc và nguồn thu nhập, có thể phân loại người có việc làm như sau:
- Người lao động làm công ăn lương: Đây là những người lao động có nguồn thu nhập không phải từ việc làm tự tạo Thu nhập của họ được tính bằng tiền hoặc bằng hiện vật do chủ sử dụng lao động thanh toán cho họ theo
số lượng và chất lượng công việc hoàn thành
- Lao động gia đình là lao động thực hiện các công việc tự tạo ra (có thể tạo việc làm cho cả người khác), tự hạch toán để thu lợi cho bản thân và gia
đình hoặc là lao động làm cho cơ sở sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương, tiền công
Trang 13* Khái niệm thất nghiệp
Khi nghiên cứu về việc làm và thất nghiệp, các học giả đR tìm tòi bản chất của vấn đề và cho rằng không thể có một khái niệm về thất nghiệp đúng cho mọi trường hợp mà phải phân loại từng trường hợp để đi đến một số khái niệm về thất nghiệp như sau:
* Phân theo thời gian có 2 loại thất nghiệp: Thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp vĩnh cửu, trong đó:
+ Thất nghiệp tạm thời là thất nghiệp xảy ra khi người lao động bị mất chỗ làm việc nhưng chưa tìm được việc làm mới phù hợp
+ Thất nghiệp vĩnh cửu là thất nghiệp xảy ra khi người lao động không thể tìm được việc làm ở bất kỳ lĩnh vực nào
* Theo mức độ tự nguyện của người lao động có 2 loại thất nghiệp: là thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp tự nguyện, trong đó:
+ Thất nghiệp tự nhiên là thất nghiệp không thể giảm được trong bất kỳ một xR hội năng động nào Điều này cũng có nghĩa là ở bất kỳ một xR hội ưu việt nào cũng không thể tránh khỏi tình trạng thất nghiệp
+ Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp xuất hiện khi người lao
động không chấp nhận làm việc với mức tiền công được trả
2.1.1.3 Cơ cấu lao động và chuyển đổi cơ cấu lao động
- Phân theo lRnh thổ, cơ cấu lao động được xem xét theo các vùng, các
địa phương, hoặc xét theo khu vực nông thôn và thành thị
Trang 14- Phân theo thành phần kinh tế, lực lượng lao động được xem xét trên 2 khía cạnh: lao động trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước
- Phân theo tình trạng việc làm, lực lượng lao động được xem xét trên 2 khía cạnh: lao động có việc làm thường xuyên và lao động không có việc làm thường xuyên
- Cơ cấu lao động phân theo tính chất lao động đối với sản phẩm: Lao
động trực tiếp và lao động gián tiếp
+ Phân theo chất lượng lao động, lực lượng lao động được xem xét trên 2 khía cạnh: lao động được đào tạo và lao động không được đào tạo
+ Phân theo kỹ năng, lực lượng lao động được xem xét theo các khía cạnh: Lao động có trình độ cao đẳng trở lên, lao động có trình độ có trình độ trung cấp, lao động có trình độ công nhân kỹ thuật, lao động là nghệ nhân (được sắc phong) và lao động chưa qua đào tạo
Tóm lại, nghiên cứu về lao động và cơ cấu lao động là vấn đề mang đầy tính nhân văn và nhạy cảm Suy cho cùng thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều nhằm mục tiêu cải thiện, nâng cao đời sống của con người
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, do hạn chế về các điều kiện nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài lĩnh vực về cơ cấu lao động và biến đổi cơ cấu lao động ở làng nghề
* Chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề
Chuyển đổi cơ cấu lao động thực chất là quá trình vận động, thay đổi của cơ cấu lao động và sự thay đổi ấy phụ thuộc nhiều yếu tố tác động khác nhau Xét về tổng thể nguồn lao động xR hội, chuyển đổi cơ cấu lao động thực chất là
sự biến đổi cấu trúc bên trong của lực lượng lao động Trong nghiên cứu này, đề tài quan niệm chuyển đổi cơ cấu lao động là sự thay đổi cấu trúc bên trong của lực lượng lao động nhằm đạt năng suất lao động cao hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của mọi thành viên trong xR hội”
Trang 15Chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề truyền thống là sự thay đổi cấu trúc bên trong của lực lượng lao động trong các làng nghề truyền thống nhằm đạt năng suất lao động cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của các thành viên tham gia các hoạt động kinh tế trong làng nghề truyền thống”
Khi nghiên cứu về sự chuyển đổi cơ cấu lao động trong các làng nghề truyền thống cũng cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau Trong phạm vi đề tài luận văn này, do hạn chế về các điều kiện nghiên cứu, đề tài luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh sau:
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo tình trạng kinh tế của các nhóm hộ vì tình trạng kinh tế của hộ nông dân quyết
định khả năng đầu tư của bản thân nông hộ, khả năng đầu tư về vốn sản xuất, khả năng đầu tư về phát triển trí tuệ sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu lao động
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo độ tuổi của lao động vì sự khác nhau về độ tuổi dẫn đến sự khác nhau về sức khoẻ, và khả năng tiếp nhận các loại tri thức mới
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn vì người lao động có trình độ văn hoá và trình
độ chuyên môn cao sẽ mở ra nhiều cơ hội chọn lựa việc làm với các điều kiện làm việc khác nhau và mức thu nhập khác nhau
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo địa điểm làm việc vì sự chuyển dịch lao động từ địa điểm này đến địa điểm khác góp phần làm thay đổi cơ cấu lao động
- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo mức độ
đáp ứng việc làm vì khả năng đáp ứng việc làm của các ngành kinh tế trong làng nghề dẫn đến việc có cơ hội việc làm cho lao động tại làng nghề hay không, từ đó xem xét đánh giá được mức độ chuyển dịch lao động từ nơi khác
đến làng nghề và từ làng nghề đi đến nơi khác
Trang 16- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu lao động trong làng nghề theo thu nhập vì đây chính là phản ứng của người lao động trước các sự chọn lựa khác nhau
về việc làm và thu nhập, phản ứng này như thế nào chính là mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài
2.1.1.4 Thu nhập và cơ cấu thu nhập
* Thu nhập
Đối với hộ nông dân, người ta thường quan tâm đến thu nhập hỗn hợp Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần thu nhập của hộ bao gồm lRi và công lao động gia đình nằm trong giá trị sản xuất sau khi trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định, thuế
MI = GO - (IC + A + T) Trong đó: MI : Là thu nhập hỗn hợp
GO : Là giá trị sản xuất
IC : Chi phí trung gian
A : Khấu hao tài sản
T : Thuế
* Cơ cấu thu nhập
Thu nhập của hộ nông dân gồm các phần chủ yếu sau: Thu nhập từ ngành nông nghiệp + thu nhập từ ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp + Thu nhập từ ngành thương mại và dịch vụ + Thu từ tiền công, tiền lương + Thu từ các nguồn tài trợ, quà biếu…
Trong nghiên cứu này chúng tôi nghiên cứu sự thay đổi thu nhập của người lao động từ 3 nguồn chính: thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thu nhập từ thương mại và dịch vụ
Như vậy sự thay đổi cơ cấu thu nhập của người lao động là sự thay đổi
tỷ lệ thu nhập của người lao động giữa các khoản kiếm được từ việc lựa chọn các hoạt động sản xuất
Trang 172.1.2 Vai trò, ý nghĩa và tính tất yếu của chuyển đổi cơ cấu lao động
ở nước ta, trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung trước đây quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động diễn ra xuất phát từ ý chí chủ quan của người quản lý, lRnh đạo Trong nền kinh tế thị trường, quá trình chuyển
đổi đó xuất phát từ nhu cầu thực tiễn khách quan trong quá trình phát triển của nền kinh tế yêu cầu phải giải quyết các vấn đề bức xúc về lao động, việc làm, thu nhập và đời sống người lao động
Chiến lược 10 năm 2001-2010 phát triển kinh tế-xR hội đặt ra nhiệm
vụ trọng tâm và có tính đột phá là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát huy lợi thế, tăng sức cạnh tranh, tính hiệu quả của từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm và trong toàn bộ nền kinh tế; khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước để phát triển nhanh và bền vững; tạo nhiều việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư; chủ động trong lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; cơ cấu GDP năm 2010 dự kiến phải đạt được như sau: nông, lâm, ngư nghiệp 16-17%; công nghiệp-TTCN và xây dựng khoảng 40-41%; các ngành dịch vụ, thương mại 42-43% Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50% [15]
Điều này đòi hỏi phải có cuộc cách mạng về phân công lại lao động trong toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch kinh tế và lao động nông nghiệp, nông thôn Đây là một thách thức cực kỳ to lớn đối với nước ta trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập Nếu chúng ta không có giải pháp khả thi để mỗi năm giảm trên 1% lao động nông nghiệp thì không thể thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế mà chúng ta đR đề ra trong chiến lược Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những giải pháp cơ bản của chiến lược phát triển “rút ngắn” ở Việt Nam
Trang 18Thực trạng yếu kém của nông nghiệp và kinh tế nông thôn về trình
độ phát triển, hiệu quả và chất lượng là nguyên nhân cơ bản của sự bất cập
về kinh tế và lao động nông thôn hiện nay Điều đó thể hiện rất rõ ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn diễn ra rất chậm; đặc biệt là so với yêu cầu của tiến trình đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn còn quá thấp; tiến bộ đạt được về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn chưa tạo ra bước đột phá về chất lượng và hiệu quả của phát triển Bài toán đặt ra ở đây cho phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, cho các vùng nông thôn có lợi thế và vùng còn nhiều khó khăn là phải có các giải pháp đột phá để chuyển dịch mạnh
mẽ cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, năng suất lao
động nông nghiệp, giảm chi phí trung gian để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và kinh tế nông thôn trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế
Chuyển đổi cơ cấu lao động còn xuất phát từ đòi hỏi khách quan giải quyết các vấn đề bức xúc về lao động, việc làm, thu nhập và đời sống của dân cư Xét ở tầm quốc gia, khu vực nông thôn chịu sức ép rất lớn về lao
động, việc làm Hiện nay, tốc độ tăng nguồn lao động trên phạm vi cả nước cũng như khu vực nông thôn vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng dân số và việc làm Bởi vậy, khu vực nông thôn luôn luôn đứng trước các bức xúc về sự dư thừa lao động Khu vực nông thôn nước ta hiện nay chỉ có trên 9,3 triệu ha
đất nông nghiệp, trên 11,5 triệu ha đất lâm nghiệp có rừng và do đó tạo việc làm trong nông nghiệp tối đa chỉ sử dụng hết khoảng 19 triệu lao động, nếu không chuyển dịch được lao động sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp thì sẽ dư thừa rất lớn lao động nông thôn (khoảng 9-10 triệu lao động) [1] Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, việc làm trong nông nghiệp tạo ra giá trị rất thấp, do năng suất lao động thấp Nếu làm nông nghiệp thuần (thuần nông),
Trang 19nhìn chung cùng lắm cũng chỉ giải quyết được vấn đề đói và thoát được nghèo, khó có thể vươn lên làm giàu Thực tế bức tranh nông thôn hiện nay cho thấy, tình trạng thiếu việc làm và việc đơn giá lao động thấp là vấn đề rất bức xúc, làm mất ổn định xR hội nông thôn Khoảng 90% người nghèo vẫn thuộc khu vực nông thôn [1] Bởi vậy, vấn đề đặt ra cho sự phát triển kinh tế-
xR hội nông thôn, một mặt phải nâng cao hiệu quả việc làm trong nông nghiệp, mặt khác phải tạo nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động phi nông nghiệp tạo ra sức hút lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các ngành phi nông nghiệp Chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động nông nghiệp Trong giai đoạn tới, cơ cấu lao động nông thôn có thể chuyển dịch theo hai hướng:
- Một là, chuyển dịch cơ cấu lao động trên cơ sở thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế để tăng trưởng, phát triển kinh tế-xR hội nông thôn, nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và lao động nông thôn, tạo nhiều việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
- Hai là, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng nâng cao chất lượng nguồn lao động, đáp ứng được các yêu cầu ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, phát triển thị trường lao động
2.1.3 Mối quan hệ giữa lao động và thu nhập
Lao động và thu nhập là 2 mặt của một vấn đề Nếu không lao động chắc chắn sẽ không có thu nhập và ngược lại Tuy nhiên, cùng 1 loại công việc nhưng giữa những người lao động lại có các mức thu nhập khác nhau Sự khác nhau về thu nhập của người lao động làm cùng một loại công việc phụ thuộc
Trang 20nhiều yếu tố, trong đó 2 yếu tố quan trọng nhất là: (i) Năng suất lao động; (ii) Quan hệ phân phối thành quả lao động
Năng suất lao động phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố quan trọng nhất là: (i) Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động; (ii) Dây chuyền công nghệ; (iii) Sức khoẻ của người lao động
Quan hệ phân phối thành quả lao động chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố quan trọng nhất là: (i) Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; (ii) Quan hệ giữa người lao động với chủ sử dụng lao động; (iii) Chính sách vĩ mô của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, mối quan hệ giữa lao động và thu nhập được thể hiện trên các khía cạnh:
- Mức độ tích cực của người lao động trong việc tìm kiếm việc làm để tạo ra thu nhập
- Mức độ đáp ứng về trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động Trong bối cảnh khoa học-kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bRo hiện nay, người lao động nếu không muốn rơi vào tình trạng thất nghiệp tự nhiên hoặc thất nghiệp tự nguyện thì phải tích cực tự đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của mình Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của giới chủ sử dụng lao động
và Nhà nước trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng lao động là hết sức quan trọng và cần thiết
- Người sử dụng lao động luôn tìm cách nâng cao năng lực của đội ngũ lao động để sử dụng có hiệu quả hơn nữa lực lượng lao động của mình và luôn
có xu hướng sẵn sàng trả mức thu nhập cao hơn nếu người lao động làm việc
có hiệu quả hơn
- Mối quan hệ giữa lao động và thu nhập trong điều kiện kinh tế tốt: Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, cơ hội tìm kiếm việc làm nhiều thì người lao động có rất nhiều sự chọn lựa cho công việc của mình Thông thường người lao động có 2 xu hướng chọn lựa công việc: Một là, chọn công
Trang 21việc có thu nhập cao hơn công việc hiện tại; Hai là, chọn công việc phù hợp với tay nghề và điều kiện của hoàn cảnh sống như gần gia đình, tính ổn định của công việc cao
Khi thu nhập của người lao động ngày càng cao, các điều kiện về kinh
tế và mức sống của lao động ổn định, việc tăng cường thời gian nghỉ ngơi, hưởng thụ bắt đầu được tính đến Lúc này người lao động sẽ chọn lựa công việc phù hợp, ít thời gian, ít nặng nhọc… thay thế vào đó là việc hưởng thụ như tăng cường ăn uống, sắm sửa quần áo đắt tiền, đi du lịch…
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cơ cấu lao động và thu nhập của lao động trong làng nghề
Sự chuyển đổi cơ cấu lao động trong các làng nghề truyền thống chính
là sự thay đổi cấu trúc bên trong của lực lượng lao động trong các làng nghề
và sự thay đổi đó phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng mang tính quyết định và quan trọng đối với sự biến đổi cơ cấu lao động trong các làng nghề truyền thống
Sự phát triển của các làng nghề truyền thông chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do có những
đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xR hội, văn hóa nên sự tác
động của các nhân tố không giống nhau Tuy nhiên, hiểu một cách tổng quát chúng gồm có các nhân tố cơ bản sau:
Thị trường tiêu thụ là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các làng nghề: Chúng ta đR biết các sản phẩm sản xuất ra tại làng nghề thủ công mỹ nghệ là không phải là các mặt hàng lương thực, thực phẩm nên tỷ lệ tiêu dùng tại chỗ rất thấp Hầu hết sản phẩm của các làng nghề được tiêu thụ tại thị trường ngoài địa phương (cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài) Thị trường thực sự là yếu tố bên trong của quá trình sản xuất tại các làng nghề truyền thống, nó tác động rất mạnh đến sự hình thành phương hướng sản xuất, cách
Trang 22thức tổ chức, cơ cấu sản phẩm và là động lực thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển Thị trường tiêu thu quyết định sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường Những làng nghề có sản phẩm độc đáo, kỹ thuật tinh xảo và luôn đổi mới để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng sẽ có khả năng thích ích và đủ sức cạnh tranh trên thị trường Ngược lại có những làng nghề không phát triển, mai một, thậm chí có nguy cơ mất đi là do sản phẩm không đủ sức cạnh tranh hoặc nhu cầu của thị trường không cần đến sản phẩm đó nữa (như nghề sản xuất giấy dó, tranh dân gian )
Vốn là yếu tố quyết định qui mô và công nghệ sản xuất trong các làng nghề: Vốn đầu tư là nguồn lực vật chất quan trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Để phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ thể sản xuất phải có một lượng vốn nhất định để đầu tư phát triển sản xuất, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, công nghệ Do vậy sự phát triển thịnh vượng của làng nghề cũng thụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn được huy động Trong nền kinh tế tự cấp tự túc, vốn phục vụ cho sản xuất thường nhỏ bé, vốn chủ yếu là tự có hoặc huy động từ người thân trong gia đình Ngày nay để đáp ứng với nền sản xuất quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu cao của nền kinh tế thị trường thì lượng vốn cần lớn hơn để đầu tư đổi mới công nghệ, đưa thiết bị, máy móc vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề Một hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, các công trình hạ tầng thương mại, dịch vụ công cộng hoàn hảo sẽ tạo động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các làng nghề và ngược lại Cơ sở hạ tầng là yếu tố tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, khai thác và phát huy tiềm năng sẵn có của mỗi làng nghề, đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên liệu cho sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm cũng như mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, đồng thời
Trang 23làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các làng nghề truyền thống vẫn còn trong tình trạng cơ sở hạ tầng còn yếu kém thiếu
đồng bộ, tác dụng phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố nguồn lực quan trọng tạo ra giá trị gia tăng ở các làng nghề truyền thống Những làng nghề truyền thống có nhiều nghệ nhân, có đội ngũ thợ thủ công giỏi đông đảo, có tâm huyết và gắn bó với nghề sẽ có nhiều thuận lợi trong việc phát triển sản xuất các loại sản phẩm tinh hoa và phát triển sản phẩm mới Quá trình lưu giữ và phổ biến các kỹ thuật tinh hoa cổ truyền có ý nghĩa rất quan trọng trong các làng nghề, một mặt khơi dậy được các kỹ thuật tinh hoa đứng trước nguy cơ thất truyền, mặt khác sự kết hợp giữa kỹ thuật cổ truyền với công nghệ hiện
đại sẽ tạo ra tính đa dạng của sản phẩm, từ đó tạo thêm các cơ hội phát triển
và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Trên thực tế, hiện nay vẫn còn nhiều nghệ nhân tâm huyết với nghề, có ý thức bảo tồn tinh hoa văn hóa dân tộc và truyền thống ông cha Việc truyền nghề trong các làng nghề hiện nay không còn phải tuân theo các quy định khắt khe như thời phong kiến (bí quyết gia truyền không được phổ biến ra ngoại tộc) Chính vì vậy, những bí quyết kỹ thuật, mẫu mR sáng chế có giá trị kinh tế cao vừa được phổ biến rộng rRi nhưng vẫn được bảo vệ bản quyền Song, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chất lượng nguồn lao động chưa cao (cả về trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật), nhất là đối với các chủ doanh nghiệp đR ảnh hưởng đáng kể
đến sự phát triển của các làng nghề trước những nhu cầu ngày cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế cả về chủng loại, chất lượng và mẫu mR
Trình độ kỹ thuật và công nghệ là yếu tố quyết định năng suất lao động trong các làng nghề Nếu như trước đây, gần như trong các làng nghề chỉ hoàn toàn sản xuất thủ công thì đến nay đR có một số khâu công việc thủ công được thay thế bằng công nghệ hiện đại hoặc công nghệ bán thủ công Sự xuất hiện
Trang 24của các công nghệ mới trong sản xuất của các làng nghề đR dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt giữa các cơ sở sản xuất thủ công là chính với các cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập kinh
tế thế giới đR tạo ra những thuận lợi cho sản phẩm cùng loại sản xuất từ nước ngoài tràn vào chiếm lĩnh thị trường càng đòi hỏi các làng nghề trong nước phải chú trọng phát triển công nghệ hiện đại kết hợp với tinh hoa cổ truyền để chiếm lĩnh thị trường
2.2 Một số bài học kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu lao động
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động ở Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh, dân
số và lực lượng lao động cũng tập trung rất lớn ở khu vực nông thôn, năm 2001, lao động thành thị chiếm 32,8%, lao động nông thôn 67,2% Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc đR tác động tích cực đến lao động-việc làm và đặc biệt là có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu lao động Xuất phát điểm của cải cách lao động Trung Quốc giống như lao động Việt Nam trước đổi mới: dân số vào lao động tập trung ở khu vực nông thôn và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; loại hình kinh tế phổ biến là hợp tác xR kiểu cũ Sau 20 năm cải cách kinh tế tỷ trọng lao động ở khu vực nông thôn ở Trung Quốc giảm mạnh, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đR chỉ còn chiếm 50% Lao động trong các thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể giảm mạnh; Năm 1978 có tới 99,8% ở khu vực thành thị làm việc trong các xí nghiệp Nhà nước hoặc hợp tác
xR thì năm 2001 chỉ tỷ lệ này chỉ còn 37,3% Lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân Hương trấn đR tăng lên đáng kể cả về số lượng lẫn cơ cấu Năm 2000, trong 128,195 triệu lao động tăng lên ở Hương trấn chỉ có 30% lao
động hoạt động ở thành phần kinh tế Nhà nước, còn 70% lao động hoạt động ở thành thần kinh tế tư nhân và cá thể Chỉ trong vòng 4 năm (1998-2001) đR có trên 25,5 triệu lao động phải chuyển đổi từ các doanh nghiệp Nhà nước do sự
Trang 25sắp xếp lại lao động ở khu vực này, cũng thời gian đó có khoảng 150 triệu lao
động nông thôn di chuyển ra thành thị hoạt động ở khu vực phi kết cấu
Nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
ở Trung Quốc trong 2 thập kỷ qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:
Thực hiện cơ chế kinh tế mở, dần tháo bỏ các rào cản, trở ngại cho phát triển nền kinh tế thị trường Đây là một chiến lược kinh tế bản lĩnh Nhờ vậy, kinh tế Trung Quốc đR và đang vận hành đúng theo cơ chế tự nhiên-cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng và tiến bộ, kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý và hiện đại
Coi trọng phát triển chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng cho phát triển kinh tế xR hội ổn định và bền vững Để nâng cao trình độ văn hoá và kỹ thuật, Trung Quốc đR cho phép và khuyến khích tất cả các loại hình đào tạo thông qua nhiều kênh khác nhau và chú trọng xây dựng một hệ thống giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật; đào tạo toàn diện, nhiều cấp độ; thực hiện xR hội hoá công tác đào tạo; phát triển các tổ chức đào tạo nghề do cộng đồng đảm nhiệm hoặc đào tạo tại chỗ tại doanh nghiệp…
Tập trung mạnh vào điều chỉnh cơ cấu việc làm thông qua việc tăng cường đầu tư, định hướng phát triển ngành, khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật…, chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (phát triển các doanh nghiệp Hương trấn)
Tạo lập thị trường lao động tự do, khuyến khích và bảo đảm việc làm thông qua cạnh tranh bình đẳng Sự di chuyển lao động giữa thành thị và nông thôn, giữa khu vực kinh tế Nhà nước với khu vực kinh tế ngoài Nhà nước rất linh hoạt
Khuyến khích lao động nông thôn tạo và tìm việc làm tại địa phương;
điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, phát triển các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn, quan tâm xây dựng các thành phố nhỏ, thị trấn; tăng cường giáo dục tiểu học và đào tạo nghề cho vùng nông thôn…
Trang 26Hướng dẫn cho người lao động nông thôn tìm việc làm ở vùng khác bằng cách tăng cường mạng thông tin, xây dựng các tổ chức dịch vụ việc làm,
đào tạo cho người lao động trước khi chuyển đổi nghề nông…
Quan tâm thích đáng đến công tác đào tạo để tái tạo việc làm, đào tạo nghề cho người thất nghiệp giúp họ tiếp cận được với yêu cầu công việc, cho người thất nghiệp vay vốn để học nghề và tìm việc…
Tóm lại, trong quá trình chuyển đổi, phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động, Trung Quốc luôn chú trọng đến phát triển chất lượng lao
động Trung Quốc luôn có những giải pháp mạnh mẽ và đột phá để phát triển kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Trung Quốc chủ trương thị trường hoá các nguồn lực, nhất là tự do hoá di chuyển lao động để đáp ứng nhanh yêu cầu phát triển đa dạng và mạnh mẽ của nền kinh tế Mặt khác, Trung Quốc có nhiều biện pháp phát huy và khuyến khích đào tạo lao động bằng nhiều hình thức, đa dạng về
tổ chức đào tạo Nhà nước phối hợp với cộng đồng trong việc nâng cao trình
độ văn hoá, trình độ kỹ thuật cho người lao động, hỗ trợ hướng dẫn tìm việc và tạo việc làm, hỗ trợ tài chính cho người thất nghiệp… Điều này giúp cho cơ cấu lao động chuyển đổi khá linh hoạt, đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh của Trung Quốc
2.2.2 Chuyển đổi cơ cấu lao động ở Thái Lan và Inđônêxia
Thái Lan và Inđônêxia là hai nước lớn, dân số khá đông ở vùng Đông Nam á Nền kinh tế Thái Lan và Inđônêxia đều xuất phát từ nền kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp, nghèo nàn lạc hậu Vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ 20, kinh tế hai nước đều thấp kém, chủ yếu nhập khẩu và phụ thuộc nhiều vào nước ngoài Tuy nhiên, từ giữa thấp kỷ 60 này hai nước cải cách phát triển kinh tế Thu hút đầu tư nước ngoài, nền kinh tế hướng tới xuất khẩu và tăng cường lĩnh vực dịch vụ Kinh tế Thái Lan và Inđônêxia có những bước phát
Trang 27triển nhanh trong thời gian này, cơ cấu kinh tế cũng chuyển dịch tiến bộ kéo theo cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh và chất lượng lao động cao hơn
Đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở hai nước là giảm mạnh tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP Cơ cấu kinh tế chuyển dịch kinh tế theo hướng Công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp, ngành dịch
vụ có tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng dần
Trong khoảng 2 thập kỷ qua, các nước này đR thoát khỏi kinh tế nông nghiệp, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP thấp Cùng với sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở các nước này cũng có sự chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷ trọng lao động phi nông nghiệp Lao động trong ngành nông nghiệp từ chỗ chiếm 61% lực lượng lao động ở Inđônêxia vào năm 1977 thì đến năm 1990 còn 55,87%, các chỉ tiêu tương ứng cùng thời
điểm của Thái Lan là 73,48% và 63,95%
Thái Lan và Inđônêxia rất quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực Trình độ học vấn của các nước này tương ứng với Việt Nam nhưng chất lượng kỹ thuật của lao động thì hơn hẳn Thái Lan và Inđônêxia đều là nước
có thị trường giáo dục-đào tạo mở, nhất là hệ dạy nghề và cao đẳng đại học Các quốc gia này thực hiện chủ trương khuyến khích công dân đi du học ở những nước tiên tiến để quay về phục vụ đất nước
* Những kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động ở Thái Lan và Inđônêxia:
Mở của nền kinh tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài, thúc đẩy nội lực phát triển Kinh tế hướng xuất khẩu, phục vụ nhu cầu quốc tế nhất là đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực du lịch: du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá… Phát triển các ngành dịch vụ cao và cho phép các tổ chức lớn của quốc tế cũng như các ngân hàng, tài chính lớn kinh doanh thuận tiện, biến đất nước họ thành nơi phục vụ các hội nghị, cuộc họp, khoá học của thế giới-nơi tiêu tiền của nhiều người trên thế giới
Trang 28Cởi bỏ mọi rào cản phát triển kinh tế cũng như sự tự do của người dân, dân cư có di chuyển dễ dàng, cơ hội tìm kiếm việc làm thuận lợi, sự chuyển
đổi nghề, ngành làm việc dễ dàng
Chú trọng đào tạo nghề cho người lao động, chú trọng đào tạo tác phong lao động công nghiệp, ý thức lao động…
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động ở Hàn Quốc
Hàn Quốc được mệnh danh là con rồng Châu á, đR đạt được những thành tựu huyền diệu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động diễn ra nhanh chóng Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, Chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động nông thôn vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như ngành dệt may, giầy da, công nghiệp chế biến…(cuối những năm 1960) Thời kỳ sau, công nghiệp phát triển mạnh mẽ, lao động nông thôn được đào tạo với quy mô lớn trong các lĩnh vực sắt thép, hoá chất, đóng tàu, xây dựng, điện tử viễn thông…Sự phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp xuất khẩu, dịch vụ đR giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; trong lực lượng lao động, lao
động nông nghiệp đR giảm từ 74,1% năm 1950 xuống còn 38,6% năm 1980
Đời sống của dân cư và người lao động không ngừng được nâng cao nhờ tăng nhanh lao động kỹ năng và việc làm có năng suất lao động cao hơn nhiều so với hoạt động thuần nông [7]
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Harumi Befu và Trần Quang Minh đR nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động nông thôn của Nhật Bản trong thời kỳ 1950-
2000, bao gồm xu thế chuyển dịch, những nhân tố tác động tới chuyển dịch (chính sách kinh tế-xR hội, vốn đầu tư, đất đai, lực lượng lao động ) và kết
Trang 29luận: (1) nhờ thúc đẩy cơ khí hóa, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và các chính sách cải cách ruộng, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên, dẫn đến lao động trong nông nghiệp giảm xuống; (2)
Xu hướng dịch chuyển lao động nông nghiệp là từ lao động thuần nông chuyển sang lao động kiêm ngành nghề và cuối cùng là thoát ly hẳn nông nghiệp; (3) Để giải quyết việc làm trong nông nghiệp, nông thôn vấn đề quan trọng là phải bảo đảm việc làm thường xuyên cho người lao động ở khu vực phi nông nghiệp; (4) quá trình công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn tới sự phân bố lại một cách cơ bản cơ cấu lực lượng lao động giữa các khu vực của nền kinh tế và thúc đẩy quá trình di chuyển lao động Phần lớn số lao
động tăng thêm hàng năm của Nhật bản hiện nay đều đi vào làm việc trong các ngành dịch vụ; (5) chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ dẫn tới chuyển dịch cơ cấu lao động làm việc theo khu vực mà còn dẫn tới chuyển dịch cơ cấu lao động làm việc theo hình thức trả lương (làm công ăn lương, tự tạo việc làm
và lao động gia đình ) [10]
Matin Rama (2001) với công trình nghiên cứu “Globalization and workers in developing countries” cho rằng phát triển kinh tế thị trường tự do, phát triển khu vực kinh tế tư nhân là nhân tố quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế các nước đang phát triển và thúc đẩy nhanh chóng sự chuyển dịch tối ưu cơ cấu lao động [7]
Susan E Skeath (Wellesley College) "Industrialization and Labor Demand" cho rằng xu hướng chuyển dịch từ ngành nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và dịch vụ là xu hướng phát triển của các nền kinh tế chuyển đổi [8] David Fretwell, Jacob Benus và Christopher O’Leary
đR xây dựng những phương pháp kinh tế lượng để mô hình hóa các yếu tố tác
động đến chuyển dịch cơ cấu lao động, dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động, các yếu tố tác động mạnh tới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
Trang 30Lý Thành Luân trong nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế-xR hội thời kỳ 1996-2050 ở Trung Quốc đR chỉ ra rằng sức ép về việc làm của Trung Quốc trong thời kỳ tới là rất lớn (cần phải tạo ra được 18 triệu việc làm mới hàng năm), song chất lượng lực lượng lao động yếu kém là một trong những khó khăn lớn cần phải khắc phục Mặt khác, chiến lược này cũng đR đề cập tới những mâu thuẫn của việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế tới những biến đổi xR hội như: (1) kết cấu ngành nghề còn lạc hậu là một nhân tố quan trọng làm cho chất lượng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không cao, việc điều chỉnh kết cấu ngành nghề trong tương lai (nâng cao hàm lượng kỹ thuật) sẽ mâu thuẫn với việc tạo thêm việc làm (mặt khác, nếu chỉ chạy theo mục tiêu tăng thêm việc làm sẽ khiến cho kết cấu ngành nghề chậm tiến bộ, cũng không có lợi cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế-điều này cũng được nhà nghiên cứu Susan E Skeath, đại học Wellesley trong nghiên cứu của mình về tác động của công nghiệp hóa tới cầu lao động chỉ ra) [8]; (2) trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, sức đẩy chủ yếu của sự phát triển kinh tế Trung Quốc hiện nay vẫn là đầu tư về vốn và sức lao động, mức đóng góp của khoa học kỹ thuật chỉ là 28% (chênh lệch rất lớn so với mức tiên tiến quốc tế) Điều này làm cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế Trung Quốc không cao, khả năng cạnh tranh yếu; (3) các mâu thuẫn trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế-xR hội tăng lên khiến các khó khăn càng chồng chất Tuy Trung Quốc có
điều kiện giữ cho xR hội ổn định lâu dài, nhưng việc chuyển đổi từ một xR hội truyền thống sang xR hội công nghiệp hóa-hiện đại hóa và việc thay đổi thể chế kinh tế kế hoạch hóa quá độ sang kinh tế thị trường xR hội chủ nghĩa là những quá trình chứa đựng nhiều đụng độ lợi ích và các loại mâu thuẫn
Surichai wun gaeo trong nghiên cứu về "Sự chuyển đổi trong kinh tế thị trường ở Thái Lan"cho rằng toàn cầu hóa là sự hợp nhất của những quá trình vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và cơ cấu trong nước, cho phép kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của một quốc gia thâm nhập vào quốc gia khác Được định
Trang 31hướng bởi sự thay đổi về hình thức cạnh tranh, toàn cầu hóa đR làm rút ngắn lại các mặt của quan hệ xR hội cả về không gian và thời gian Toàn cầu hóa hiện nay thúc đẩy tăng trưởng cũng như làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn Cụ thể, kinh
tế tăng trưởng với tốc độ cao (8.5%/năm trong thời kỳ 1986-1995) và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp (từ 18.2% năm
86 xuống còn 10.9% năm 1995) và tăng dần tỷ trọng công nghiệp và thương mại-dịch vụ, tuy nhiên Thái lan cũng đang đối mặt với những vấn đề: phân tầng
xR hội ngày càng gia tăng (thu nhập của tầng lớp trên tăng 20%, trong khi thu nhập của tầng lớp dưới giảm 20%); môi trường bị xuống cấp và tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt; khoảng cách về đầu tư-tiết kiệm phụ thuộc vào công nghệ, phương tiện sản xuất nước ngoài [9]
Kết quả nghiên cứu ba nước Châu á (Thái Lan, Hàn Quốc và Inđônexia) của Bourguignon và Goh (2002) cho thấy có bằng chứng về việc tự do hóa thương mại kéo theo sự thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế dẫn đến thay đổi về cầu lao động có kỹ năng, tức là có thay đổi lớn về cơ cấu lao động theo kỹ năng 2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề lao động - việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động, thị trường lao động được chú ý nghiên cứu từ nhiều năm nay, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và XR hội (Bộ LĐ-TB
& XH), Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Bùi Ngọc Thanh, (1996) trong nghiên cứu chính sách xR hội nông thôn Việt Nam đR đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, đR rút ra một số nhận
định: (i) phần lớn dân cư nông thôn vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu,
có nguy cơ tụt hậu so với các vùng đô thị, khu công nghiệp tập trung; (ii) chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn phù hợp với nền kinh tế thị trường và
Trang 32phát triển sản xuất hàng hoá là vấn đề then chốt và có tính chiến lược để phát triển kinh tế-xR hội nông thôn Song quá trình này diễn ra chậm chạp và thiếu những điều kiện cơ bản (iii) Mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xR hội, trong đó những cái được về mặt kinh tế thường tác động vào khu vực thành thị mạnh hơn nông thôn, còn hậu quả về mặt xR hội thì nông thôn lại gánh chịu nặng nề hơn Nghiên cứu đưa ra một trong những phương hướng cơ bản giải quyết việc làm và thiếu việc làm ở nông thôn là chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, phát triển mạnh việc làm phi nông nghiệp, chuyển mạnh nông thôn sang sản xuất hàng hoá, kết hợp với quá trình đô thị hoá nhỏ [12]
Nguyễn Hữu Dũng và các tác giả khác (1997) trong nghiên cứu "Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” đR đề cập đến chính sách giải quyết việc làm của nước ta trong thời kỳ đầy mạnh CNH- HĐH đất nước đR nêu khá chi tiết về phương pháp luận, cách tiếp cận về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động-việc làm và phương pháp tính, khái niệm thị trường lao động, mối quan hệ giữa cầu-cung lao động và vai trò đối với giải quyết sức ép về việc làm Tác giả đR phân tích đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta nói chung, trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng và những nguyên nhân chủ yếu; khái quát dòng di chuyển lao động trên thị trường lao
động, nhất là di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm Trên cơ sở đó
đưa ra hệ thống quan điểm giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta [13]
Nguyễn Hữu Dũng (2000) trong công trình nghiên cứu “Những biện pháp chủ yếu giải quyết lao động thiếu việc làm ở vùng thuần nông” đR nhận
định: Khả năng tạo việc làm ở khu vực nông thôn hiện nay rất phong phú và
đa dạng, tạo việc làm phi nông nghiệp ngay tại địa phương, tăng cường dạy nghề cho lao động nông thôn, ưu tiên các dự án quốc gia và quốc tế cho việc giải quyết việc làm, dạy nghề và nâng cao dân trí [18]
Trang 33Về mối quan hệ hữu cơ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động, Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ trong nghiên cứu "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và trên thế giới" đR nhận định: chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn bó hữu cơ với chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực, có cơ cấu lao động hợp lý mới phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững Chuyển dịch cơ cấu lao
động phải bám sát mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành, lao động nông nghiệp phải giảm cả về tương đối lẫn tuyệt đối, chuyển dịch cơ cấu lao động về trình
độ tay nghề, theo vùng và chuyển dịch cơ cấu đào tạo [14]
Nguyễn Hữu Dũng chỉ ra rằng sự chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm hơn chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cần phải tiếp tục đổi mới chính sách
và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhất là chính sách, thể chế vĩ mô của nhà nước; cơ cấu đầu tư của toàn xR hội; sự lựa chọn và áp dụng công nghệ mới, chuyển giao công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào nông thôn; sự năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế ở nông thôn (hộ gia đình, trang trại, hợp tác xR, doanh nghiệp nhỏ và vừa…) [1]
Trường Đại học Kinh tế quốc dân trong đề tài độc lập cấp Nhà nước mR
số KX 01 -2005 đR đề cập đến vấn đề việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hoá Về mặt lý luận nghiên cứu đR đề cập đến sự cần thiết phải thu hồi đất, CNH-HĐH và đô thị hoá tất yếu sẽ dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp và do đó một bộ phân dân sẽ mất việc làm trong nông nghiệp Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển Về mặt thực tiễn nghiên cứu chỉ ra những bất cập về vấn đề đảm bảo thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi Việc thu hồi đất là điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ nhưng
kế hoạch thu hồi đất không gắn với kế hoạch đào tạo nghề nên người dân mất
Trang 34đất không có việc làm và thu nhập, đời sống người dân tiềm ẩn sự bất ổn bên trong Nghiên cứu dự báo nhu cầu thu hồi đất và đưa ra khung chính sách
đồng bộ bao gồm: Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việc làm; Chính sách tái định cư; Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị và các chính sách xR hội liên quan để đảm bảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị thu hồi đất [17]
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương trong khuôn khổ dự án IAE- MISPA đR nghiên cứu về các yếu tố tác động đển chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam đR đưa ra khung lý thuyết của mô hình chuyển dịch lao
động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp dựa trên mô hình liên giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp, yếu tố "kéo" và "đẩy" và mô hình kinh tế
hộ của Chayanov và các mô hình kinh tế hộ cải tiến
Như vậy, đR có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Có thể thấy rằng các nghiên cứu trên
đR làm rõ một số vấn đề sau:
Trang 35đó xác định những yếu tố tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động
+ Nêu bật được thực trạng và những cơ hội, thách thức của từng quốc gia, khu vực (có các điều kiện và bối cảnh kinh tế-xR hội-chính trị khác nhau) trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động
+ Đưa ra những kết luận, khuyến nghị làm cơ sở cho việc hoạch định các chương trình, chính sách và giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế-cơ cấu lao động
Điều dễ nhận thấy là hầu hết các nghiên cứu liên đến chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn chưa đề cập sâu vào vấn đề thực trạng biến đổi cơ cấu lao động trước những sự chọn lựa khác nhau về thu nhập, đặc biệt là trong làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan ở đồng bằng sông Hồng và những khó khăn vướng mắc hiện nay trong vấn đề này Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng sự biến đổi cơ cấu lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ
và đề xuất các giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy quá trình biến đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng thu nhập là rất cấp bách và cần thiết
Trang 363 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xC Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
3.1.1 Đặc điểm làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
XR Phú Nghĩa thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, có tổng diện tích
đất tự nhiên là 821,56 ha XR Phú Nghĩa nằm trên Quốc lộ 6, cách Thành phố
Hà Đông 10km về phía Tây Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,5-24,40C, cao nhất là tháng 6 (29,30C), thấp nhất vào tháng 1 (15,70C) Lượng mưa cả năm
đạt 1170mm, cao nhất là tháng 8 (355mm), thấp nhất vào tháng 1 (13,8 mm)
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm từ 83-86%
XR Phú Nghĩa có Làng nghề thủ công mỹ nghệ Phú Vinh được hình từ hơn 300 năm trước đây, làng nghề Phú Vinh chuyên sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre đan từ các nguyên liệu song, mây, tre, giang, nứa Làng nghề Phú Vinh hiện nay đR được UBND tỉnh Hà Tây công nhận là làng nghề truyền thống với sự góp sức các nghệ nhân nổi tiếng Làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan mang đầy đủ các đặc điểm của làng nghề thủ công
mỹ nghệ ở Đồng bằng sông Hồng Các sản phẩm của làng nghề được sản xuất bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, các sản phẩm này hiện nay đR có mặt
ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, được nhiều người ưa chuộng và tin dùng Hiện nay, nhiều gia đình đR sử dụng đồ nội thất bằng mây, tre đan để bày biện trong nhà Đồ mây tre có rất nhiều chủng loại từ ghế ngồi, bàn cho phòng khách, kệ, tủ đựng đồ cho đến những chiếc giỏ mây bày hoa và những tấm thảm trải xinh xắn Đồ mây tre có thể kết hợp cùng những chiếc tủ hay giá gỗ
đơn giản, đựng được rất nhiều đồ mà lại đẹp, thanh mảnh và giản dị Sản phẩm của làng nghề không chỉ là sản phẩm dùng tại các hộ gia đình trong nước mà
nó còn được người tiêu dùng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn
Trang 37Lao động trong làng nghề ít được đào tạo một trường lớp, trẻ nhỏ ở làng nghề lớn lên tự biết làm nghề mà không cần phải có sự dạy dỗ chỉ bảo một cách cẩn thận bài bản
Hiện nay số lượng lao động trong làng nghề ngày một nhiều, nhưng kỹ năng lao động và trình độ dân trí ở một số nơi còn chưa cao Đặc điểm của làng nghề là có lao động cần cù, chịu khó, nhưng giữa các thành viên trong làng không liên kết được với nhau, thậm chí chống lại lẫn nhau
Trình độ kiến thức chưa cao cũng là lý do khiến người lao động gặp nhiều trở ngại khi phải đối mới công nghệ, kỹ nghệ, thay đổi mẫu mR hay nâng cao chất lượng sản phẩm Hơn nữa ở ngay trong mỗi hộ gia đình, tay nghề thợ không đồng đều, chính vì vậy khi cung cấp sản phẩm cho thị trường với số lượng lớn thì chất lượng không đảm bảo yêu cầu
Làng nghề ở xR Phú Nghĩa là nơi thu hút các lao động từ sản xuất nông nghịêp tại địa phương sở tại và nhiều địa phương khác đến
Làng nghề tạo công ăn việc làm và thu nhập chính cho người dân ở địa phương Làng nghề ở xR Phú Nghĩa cũng là cái nôi đào tạo nghề tự do cho lực lượng lao động đóng trên địa bàn xR
3.1.2 Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm làng nghề mây tre đan rất đa dạng và phong phú, nó có thể
được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc Việc sản xuất hàng loạt sản phẩm giống nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa Sản phẩm mang tính
đơn chiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, bởi những nét hoa văn, những phần tinh của chúng luôn được cải biến thêm thắt nhằm thu hút sự thưởng thức của những người sành chơi Nhìn chung, trong giá trị sản phẩm của làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan có phần đóng góp lớn của lao động thủ công
mỹ nghệ
Sản phẩm của làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan thường được chia làm 3 loại:
Trang 38- Sản phẩm xuất khẩu là chủ yếu, chiếm 88,18% tổng giá trị sản phẩm
- Sản phẩm mỹ nghệ được tiêu dùng bởi những người sành chơi, những người thuộc tầng lớp thượng lưu và những người có thu nhập cao chiếm 8,20% tổng giá trị sản phẩm
- Sản phẩm dân dụng được tiêu dùng phổ biến trong dân chiếm khoảng 3,62% tổng giá trị sản phẩm
3.1.3 Đặc điểm về công nghệ, công cụ
Hệ thống công cụ của làng nghề xưa thường là các công cụ thủ công và
đơn giản Nhưng nay nhiều khâu trong sản xuất của của làng nghề thủ công
mỹ nghệ đR được trang bị máy móc như máy cưa, máy bào, máy phun sơn…
Mặt khác, trong các làng nghề, các nghệ nhân với các bí quyết nhà nghề đR tạo nên sản phẩm độc đáo của riêng mình Việc “học mót” công nghệ rất khó khăn
và các công nghệ thường được duy trì lâu bền một cách bí mật trong từng gia đình hoặc từng dòng họ, thậm chí qua nhiều hế hệ và các làng nghề mới chỉ có thể tạo
ra được các sản phẩm thông dụng cấp thấp hoặc phần thô của sản phẩm
đan gắn kết với lao động nông nghiệp Lúc này, giờ này sản xuất mây tre đan nhưng lúc khác giờ khác lại làm nông nghiệp Lao động trong làng nghề đôi khi tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn
Do nhu cầu mở rộng quy mô, trong nguồn lao động nông thôn có một
bộ phận lao động được tách ra để chuyên sản xuất mây tre đan Ngoài lao
động gia đình, các cơ sở sản xuất còn phải thuê lao động Điều đặc biệt, trong
Trang 39các làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan là tỷ suất sử dụng lao động rất cao và hầu như tất cả mọi người (từ trẻ em đến người già) đều có việc làm Bảng 3.1 Cơ cấu lực lượng lao động trong làng nghề thủ công mỹ nghệ
mây tre đan xã Phú Nghĩa
Nguồn: Số liệu thống kê x Phú Nghĩa 2004-2006
Trong những năm qua lực lượng lao động trong làng nghề liên tục tăng
và có xu hướng tăng lao động ngành CN – TTCN và thương mại, dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp Đây là một xu thế tốt và phù hợp với điều kiện phát triển của làng nghề
3.1.5 Đặc điểm về nguyên, nhiên liệu
Tính chất đa dạng của sản phẩm làng nghề thủ công mỹ nghệ mây tre
đan tạo nên sự phong phú về các loại nguyên liệu đầu vào Những nguyên liệu chính chiếm tỷ trọng lớn về khối lượng vật chất và chi phí sản xuất là: giang, nứa, tre, mây, song… chiếm khoảng trên 80% tổng giá trị nguyên liệu đầu vào Các nguyên liệu khác tuy chỉ chiếm khoảng 5% tổng giá trị nguyên liệu
đầu vào nhưng không thể thiếu cho một sản phẩm trọn vẹn (sơn, các chất bảo quản…) Bên cạnh đó, sản phẩm của làng nghề đôi khi còn sử dụng một số nguyên liệu khác như sắt, thép để sản xuất các loại bàn nghế, các loại đồ sứ… chiếm khoảng 15% tổng giá trị nguyên liệu đầu vào
Phần lớn nguyên liệu phục vụ làng nghề là nguyên liệu được khai thác
từ rừng tự nhiên một cách bừa bRi nên tỷ lệ tái sinh rừng thấp Nhu cầu sử dụng nguyên liệu ngày càng cao nhưng hiện nay vẫn chưa quy hoạch được
Trang 40nguyên liệu tập trung làm cho các nguyên liệu ngày càng trở nên khan hiếm, giá cả không ổn định
* Theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; các cơ sở vừa làm hàng thủ công mỹ nghệ vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; các cơ sở vừa sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp
* Theo hình thức tổ chức sản xuất có: Cơ sở sản xuất toàn bộ mọi chi tiết của sản phẩm, sản xuất gia công một bộ phận sản phẩm hay một công
đoạn sản phẩm
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các loại sách báo, các đề tài dự
án trong và ngoài nước, tài liệu in sẵn, internet…
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng các phương pháp: Phỏng vấn điều tra theo hệ thống biểu mẫu soạn sẵn; Phương pháp nghiên cứu tham gia (PRA); Hội thảo lấy ý kiến các cán bộ quản lý, chuyên gia nghiên cứu, cán bộ chỉ
đạo, điều hành sản xuất
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Phương pháp chọn mẫu Thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra các
hộ ở các điểm đại diện Khi tiến hành điều tra, vì không có điều kiện về nhân lực, vật lực nên đề tài áp dụng chọn mẫu điều tra như sau: