Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm làng nghề Việt Nam
2.1.1.1 Ngành nghề ở nông thôn và sự phát triển của làng nghề
Ngành nghề nông thôn bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống Chủ yếu, các hoạt động này được thực hiện bởi các hộ gia đình, cơ sở hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn với quy mô sản xuất nhỏ Kinh tế hộ và doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quan trọng trong ngành nghề nông thôn, sử dụng nguồn lực địa phương như đất đai, lao động và nguyên liệu, từ đó ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Các thành phần kinh tế ở nông thôn tham gia vào các ngành nghề khác nhau tùy thuộc vào lợi thế so sánh của từng vùng và quy mô sản xuất của các hộ Hiện nay, khoảng 35% số hộ nông thôn tham gia vào ngành nghề phi nông nghiệp, trong đó 30% hộ làm nông nghiệp kết hợp với ngành nghề khác và khoảng 5% hộ chuyên về ngành nghề.
Ngành nghề truyền thống bao gồm các nghề thủ công và tiểu thủ công nghiệp có nguồn gốc từ thời Pháp thuộc, vẫn tồn tại cho đến ngày nay Những nghề này có thể đã được cải tiến hoặc sử dụng máy móc hiện đại trong quá trình sản xuất, nhưng vẫn giữ nguyên các công nghệ truyền thống.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế - 15
* Quan niệm về làng nghề
Nông thôn Việt Nam gắn liền với các thôn làng và làng nghề, phản ánh đặc trưng văn hóa và kinh tế truyền thống của xã hội nông thôn.
Đến nay, khái niệm "làng nghề" vẫn chưa được định nghĩa một cách chính thống Tuy nhiên, có thể hiểu rằng làng nghề là một thiết chế bao gồm hai yếu tố cấu thành cơ bản.
Làng là một khu vực địa lý nơi cư dân sống và làm việc cùng nhau, trong khi các làng nghề thường liên quan đến các ngành nghề phi nông nghiệp và thủ công truyền thống Các làng nghề đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương và bảo tồn văn hóa truyền thống.
Làng nghề có thể được hiểu là những làng nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công nghiệp hoạt động độc lập với nông nghiệp Thu nhập từ các nghề này chiếm hơn 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương, và ít nhất 50% số hộ dân cũng như số lượng lao động trong làng tham gia vào các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.
Định nghĩa về làng nghề chỉ mang tính tương đối và không đầy đủ Trong phân loại làng nghề, có thể thấy sự đa dạng với các loại hình như làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống, làng một nghề và làng nghề mới.
Làng nghề truyền thống là những cộng đồng sản xuất lâu đời, tồn tại hàng trăm đến hàng ngàn năm, gắn liền với văn hóa và kinh nghiệm dân gian được truyền lại qua nhiều thế hệ Những làng nghề này không chỉ giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương.
Làng nghề mới xuất hiện từ sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Làng một nghề là những làng mà ngoài nghề nông, chỉ có một nghề thủ công duy nhất chiếm ưu thế, như là Làng La Cả nổi tiếng với nghề làm lụa Vạn.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế - 16
Phúc, gốm Bát Tràng, chạm bạc Đồng Sâm, thêu Quất Động, làng sắt Đa Hội, chạm khắc Kim Thiều, Phú Khê
Làng nhiều nghề là những cộng đồng không chỉ chuyên về nông nghiệp mà còn phát triển các nghề thủ công truyền thống, điển hình như Ninh Hiệp, Kiêu Kị (Hà Nội), Trai Trang (Hưng Yên) và Đình Bảng (Bắc Ninh).
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, làng nghề được định nghĩa là một hoặc nhiều cụm dân cư như thôn, ấp, bản, làng, buôn, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự, nằm trong một xã hoặc thị trấn, nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông thôn với nhiều loại sản phẩm khác nhau Các tiêu chí công nhận làng nghề bao gồm việc đảm bảo hoạt động sản xuất và sự đa dạng trong sản phẩm.
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận
Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà n−ớc
Những làng nghề truyền thống phải đạt tối thiểu 30% số hộ tham gia và có ít nhất 2 năm sản xuất kinh doanh ổn định, đồng thời sở hữu ít nhất 1 nghề truyền thống để được công nhận.
* Một số khái niệm khác
Trong làng nghề, nhiều hộ gia đình tham gia sản xuất các ngành nghề phi nông nghiệp, bên cạnh các cơ sở chuyên ngành Hiện nay, hộ gia đình nông nghiệp kiêm ngành nghề đang chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hộ tham gia.
Các công trình nghiên cứu liên quan
Trong những năm qua ở Việt Nam đ? có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng nh− về ngành nghề và làng nghề nh−:
Phát triển làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, góp phần bảo tồn văn hóa và nâng cao đời sống người dân Nghiên cứu của Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hoà và Vũ Văn Phúc (2003) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để phát triển bền vững Việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất làng nghề không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ Hơn nữa, việc phát triển làng nghề còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giúp giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
- Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá - D−ơng Bá Ph−ợng, NXB Khoa học x? hội, Hà Nội, 2001
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp sẽ giúp nâng cao và đa dạng hóa thu nhập cho các hộ gia đình Những giải pháp này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mà còn khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong sản xuất, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững tại địa phương Việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại và đào tạo kỹ năng cho người lao động sẽ tăng cường năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã công bố luận văn thạc sỹ về khoa học kinh tế, tập trung vào tình hình kinh tế nông thôn tại vùng Đồng bằng Sông Hồng Nghiên cứu của Phạm Minh Đức và các cộng sự từ Viện Kinh tế Nông nghiệp, thực hiện năm 2000, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và cơ hội phát triển kinh tế trong khu vực này.
Ngành nghề truyền thống trong nông nghiệp nông thôn ở Huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp và sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng Để phát triển bền vững, cần triển khai một số giải pháp chính như nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường đào tạo nghề cho người dân, và khuyến khích liên kết giữa các hộ sản xuất Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ mới và phát triển thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp truyền thống cũng là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường.
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Ninh về phát triển ngành nghề thủ công nghiệp tại Huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, trình bày thực trạng và đưa ra giải pháp khả thi Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, năm 2003, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các ngành nghề này trong bối cảnh kinh tế địa phương Các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện.
- Phát triển nghề truyền thống ở Đồng bằng sông Cửu Long – Nguyễn Đình Luận, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 64, tháng 10/2002, Đại học kinh tÕ quèc d©n
- Phát triển thủ công nghiệp nông thôn Đồng bằng Sông Hồng – Nguyễn Thị Miền, Tạp chí kinh tế và dự báo số 1/2003, Bộ Kế hoạch và đầu t−
- Làng nghề ở Đồng bằng Sông Hồng - Đỗ Quang Trung, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 299, tháng 4/2003
- Phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam – Hoàng Văn Xô, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 41, tháng 10/2002, Đại học kinh tế quốc dân
- Phát triển làng nghề ở nông thôn – Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí cộng sản số 12, tháng 6/2001
Làng nghề ở Đồng bằng Sông Hồng đang trải qua quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế và xã hội Nghiên cứu của Nguyễn Đình Phan trong Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 45 (tháng 3/2001) chỉ ra rằng sự chuyển mình này không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ mới cũng đặt ra thách thức về môi trường và sự bền vững của các làng nghề.
Nhiều nghiên cứu hiện nay tập trung vào việc mô tả thực trạng và đề xuất giải pháp cho sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã tồn tại lâu đời Tuy nhiên, nghiên cứu về phát triển làng nghề trồng nấm vẫn còn hạn chế, mặc dù có một số tác giả đã đề cập đến vấn đề này Chẳng hạn, Thân Đức Nh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện công nghệ sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm hàng hóa theo mô hình làng nghề trong dự án sản xuất thử nghiệm thuộc Chương trình Khoa học công nghệ phục vụ cộng đồng.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã thực hiện luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế về nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Dự án này, được thực hiện bởi Trung tâm công nghệ sinh học thực vật vào năm 2004, đã hoàn thiện mô hình và đưa ra các chỉ tiêu cơ bản để xây dựng làng nghề tại địa phương.
Nghề trồng nấm đang phát triển mạnh mẽ tại các làng nghề, với tốc độ tăng trưởng nhanh và tiềm năng bền vững Việc trồng nấm không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần vào sự phát triển của cộng đồng Tuy nhiên, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề này, bao gồm điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác và thị trường tiêu thụ Để đạt được sự phát triển bền vững, cần chú trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng các phương pháp canh tác hiện đại.
Nghiên cứu về hiệu quả trồng nấm tại các địa phương không theo mô hình làng nghề đã được thực hiện qua các công trình như luận án của Nguyễn Hữu Ngoan về nấm mỡ xuất khẩu ở đồng bằng sông Hồng (1996), nghiên cứu của Bùi Thị Thu H−ơng về sản xuất và tiêu thụ nấm ăn tại huyện Yên Khánh, Ninh Bình, và luận văn của Đỗ Thu H−ơng về nâng cao hiệu quả sản xuất nấm tại Vĩnh Phúc (2003) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chưa đề cập đến phát triển nấm theo kiểu làng nghề Do đó, đề tài này sẽ tập trung vào việc phát triển sản xuất nấm ăn và nấm d−ợc liệu theo mô hình làng nghề nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo sự phát triển bền vững tại địa phương.
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm chung
Yên Khánh là huyện đồng bằng châu thổ Sông Hồng, nằm ở phía Nam tỉnh Ninh Bình, với vị trí thuận lợi dọc theo quốc lộ 10 kết nối thị xã Ninh Bình và huyện Kim Sơn Huyện giáp thị xã Ninh Bình ở phía Bắc, tỉnh Nam Định ở phía Đông qua sông Đáy, huyện Yên Mô ở phía Tây qua sông Vạc, và huyện Kim Sơn ở phía Nam Địa hình này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu với các vùng lân cận Hệ thống sông Đáy và sông Vạc hỗ trợ nông nghiệp, đặc biệt trong sản xuất lúa và ngô, đồng thời cung cấp nguyên liệu phong phú cho nghề trồng nấm.
Huyện Yên Khánh có 20 đơn vị hành chính cấp x?, bao gồm 19 x? và một thị trấn
Địa hình của khu vực này tương đối bằng phẳng, đặc trưng của đồng bằng châu thổ Sông Hồng, và được chia thành hai vùng nông nghiệp Vùng phía Nam giáp Kim Sơn có đất thịt, trong khi vùng phía Bắc chủ yếu là đất cát và đất cát pha Đất ở đây giàu chất dinh dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng.
Yên Khánh, thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của Việt Nam.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế - 41
Việt Nam có khí hậu phân hóa theo mùa, với mùa hè nóng và mưa từ tháng 4 đến tháng 10, trong khi mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Đầu mùa đông thường hanh khô, nhưng cuối mùa lại ẩm ướt do mưa phùn kéo dài Sự thay đổi này đã hình thành các vụ sản xuất nông nghiệp trong huyện, bao gồm vụ đông xuân và vụ mùa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực này dao động từ 23,5°C đến 24,5°C Gần đây, vào mùa hè, nhiệt độ có thể đạt đến 39°C, trong khi mùa đông có thể giảm xuống thấp nhất là 8°C Sự biến đổi nhiệt độ giữa các mùa và sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm không đáng kể.
Bảng 1: Nhiệt độ trung bình các tháng qua các năm (0 0 C)
Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ninh Bình [41]
Vào mùa hè, nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của nấm rơm thường rơi vào các tháng 6, 7, 8 và nửa đầu tháng 9 Ngược lại, trong mùa đông, nhiệt độ có thể giảm thấp do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nghiên cứu về ảnh hưởng của khí hậu đến nghề trồng nấm, đặc biệt là trong điều kiện nhiệt độ dưới 15°C và mưa phùn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 Thời tiết lạnh không chỉ gây hại cho cây trồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại nấm ăn lạnh như nấm sò tím và nấm mỡ Trong giai đoạn giao mùa, nấm được trồng xen kẽ, như nấm sò trắng vào mùa đông và nấm trà tân, linh chi vào mùa hè và thu Khí hậu bốn mùa rõ rệt tại Việt Nam giúp nghề trồng nấm phát triển quanh năm, với độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 82% đến 85%, và có thể lên tới 90% vào cuối mùa đông, tạo điều kiện ẩm ướt cho sự phát triển của nấm.
Bảng 2: Độ ẩm không khí trung bình (%)
Nguồn : Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Bình [41]
Độ ẩm không khí tại đồng bằng Bắc Bộ rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại nấm đặc trưng Điều kiện ánh sáng và lượng mưa cũng góp phần quan trọng vào quá trình này.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế - 43
Bảng 3: Số giờ nắng trung bình (giờ)
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Bình [41]
Số giờ nắng trung bình trong năm dao động từ 89,3h đến 131h, với tháng 6, 7 và 8 có số giờ nắng cao nhất, từ 153h đến 170h, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nấm rơm Ngược lại, vào mùa đông, số giờ nắng hàng ngày giảm xuống dưới 5h, với mây mù bao phủ kéo dài, làm gia tăng sự phát triển của sâu bệnh, đặc biệt trong các tháng 12, 1 và 2 năm sau Tuy nhiên, thời điểm này lại rất thích hợp cho sự phát triển của nấm mỡ.
Bảng 4: L−ợng m−a trung bình các tháng trong năm (mm)
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế - 44
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Bình [41]
Lượng mưa hàng năm dao động từ 1560 mm đến 1900 mm nhưng phân bố không đều trong các tháng Mùa đông chủ yếu có mưa phùn với lượng mưa thấp, trong khi mùa hè chiếm tới 70% tổng lượng mưa năm, có thể gây lũ lụt ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa, cũng như chất lượng nguyên liệu trồng nấm.
Huyện có điều kiện khí hậu thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là trong việc phát triển các loại nấm ăn Việc phát triển ngành sản xuất nấm không chỉ giúp tận dụng nguồn phế liệu nông nghiệp dồi dào mà còn tối ưu hóa diện tích canh tác trong các vụ đông xuân và hè thu.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Yên Khánh là 13779,3 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng lớn khoảng 70% Nó có hướng
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nghiên cứu về việc huyện đã chuyển đổi một số diện tích đất nông nghiệp, với đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ từ 87,09% đến 88,14% Phần còn lại bao gồm diện tích đất vườn và ao hồ được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản.
Bảng 5: Tình hình sử dụng đất đai
Năm Tốc độ phát triển (%) chỉ tiêu ĐVT
2003 2004 2005 04/03 05/04 BQ Tổng diện tích đất tự nhiên ha 13779,3 13779,3 13779,3 100,0 100,0 100,0
I Đất nông nghiệp, thủy sản ha 9770,8 9750,7 9730,5 99,8 99,7 100,0
1 Đất trồng cây hàng năm ha 8563,2 8510,5 8457,5 99,9 99,7 99,8
- Màu và cây công nghiệp ha 721,2 710,5 702,5 98,5 98,8 99,6
3 Đất có mặt n−ớc trồng thủy sản ha 612,5 646,5 679,8 105,6 105,2 105,3
II Đất chuyên dùng ha 2171,4 2137,0 2156,4 100,9 100,7 100,8 III §Êt khu d©n c− ha 846,1 848,5 849,3 100,3 100,1 100,2
IV Đất ch−a sử dụng ha 990,9 986,3 978,4 99,5 99,2 99,3
V Tổng diện tích gieo trồng lúa ha 14615,0 14585,0 14560,5 99,8 99,8 99,8 VII Hệ số sử dụng đất trồng lúa lần 1,4 1,4 1,4 - - -
- Đất canh tác/ khẩu NN m 2 645,3 642,4 635,0 99,5 98,9 99,2 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Yên Khánh [34], [35], [36]
Theo số liệu điều tra, diện tích cây lúa tại huyện Yên Khánh chiếm tỷ trọng lớn, dao động từ 91,68% đến 91,69%, trong khi phần còn lại là cây công nghiệp Điều này cho thấy cây lúa vẫn là cây trồng chủ lực trong nông nghiệp địa phương, dẫn đến nguồn nguyên liệu rơm rạ dồi dào.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu về nuôi trồng nấm ăn tại địa phương, cho thấy đây là một lợi thế lớn trong phát triển nghề nấm Việc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp không chỉ tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế mà còn góp phần nâng cao thu nhập trên mỗi đơn vị canh tác.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xF hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Dân số và lao động, hay nguồn lực con người, đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội Nguồn lực này không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, cần phải cân bằng giữa tăng dân số và phát triển kinh tế; nếu không, sự gia tăng dân số quá nhanh sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như giảm diện tích đất ở và đất sản xuất, khó khăn trong việc tạo công ăn việc làm, cũng như ảnh hưởng đến giáo dục và y tế.
Ph−ơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Khái quát về các ph−ơng pháp sử dụng trong nghiên cứu
Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bài viết này phân tích các vấn đề một cách khoa học và khách quan, đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp để làm rõ nội dung đề tài.
Phương pháp thống kê kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu về sự phát triển sản xuất tại các làng nghề Qua đó, hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng nhằm phản ánh một cách đầy đủ và khách quan tình hình tổ chức sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm nấm ăn và nấm dược của các nông hộ trong huyện trong thời gian qua.
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu không thể tách rời mà cần kết hợp hài hòa nhiều phương pháp, tùy thuộc vào nội dung và mục tiêu của nghiên cứu, nhằm đạt được những kết luận chính xác nhất cho đề tài.
3.2.2.1 Chọn địa bàn và điểm nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nghề trồng nấm tại tỉnh Ninh Bình, đặc biệt là huyện Yên Khánh, đã phát triển mạnh mẽ với sự gia tăng số hộ trồng nấm Huyện Yên Khánh nổi bật với tốc độ phát triển cao, tạo thành phong trào trồng nấm rộng khắp ở các xã và thị trấn Phong trào này đã chuyển mình sang chuyên môn hóa, từ cung cấp nguyên liệu đầu vào như rơm rạ, mùn cưa, đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm Kết quả là đã hình thành các làng sản xuất nấm với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường Do đó, huyện Yên Khánh được chọn làm địa điểm nghiên cứu cho đề tài này.
Sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu đang phát triển mạnh mẽ tại 5 xã: Khánh An, Khánh Nhạc, Khánh Vân, Khánh Cư và Khánh Phú, cùng với một số xã khác đang trong quá trình phát triển Để đánh giá tốc độ phát triển cũng như hiệu quả sản xuất của các hộ nông dân điển hình, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 5 xã này, nơi có lịch sử sản xuất nấm lâu nhất trong huyện, với quy mô hộ và sản lượng ổn định, cùng hệ thống dịch vụ phụ trợ tốt trong ít nhất 3 năm qua.
3.2.2.2 Ph−ơng pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu thứ cấp
Tài liệu tổng kết các công trình nghiên cứu của Trung tâm công nghệ sinh học thực vật, cùng với các công trình liên quan đến đề tài tại huyện Yên Khánh, đã được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Các số liệu được lấy từ sách báo, tạp chí và các cơ quan như Phòng thống kê huyện, Phòng Nông nghiệp & Địa chính, UBND huyện Yên Khánh, và Sở NN & PTNT Ninh Bình thông qua các báo cáo thống kê và niên giám Những tài liệu thứ cấp này đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ nghiên cứu đề tài.
STT Số liệu cần điều tra Nơi thu thập
1 Tìm hiểu thông tin về nấm ăn, nấm d−ợc liệu:
- Giá trị của nấm (dinh d−ỡng và làm thuốc)
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trong và ngoài n−ớc
- Các quy trình công nghệ nuôi trồng nấm cũng nh− các yếu tố ảnh h−ởng đến năng suất và chất l−ợng nấm
- Sách báo, tạp chí khoa học chuyên ngành
- Tài liệu kỹ thuật của Trung tâm công nghệ sinh học thực vật
- Báo cáo thống kê của các cơ sở trồng nấm
2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – x? hội của địa bàn nghiên cứu
- Niên giám thống kê huyện, tỉnh
- Các phòng: Nông nghiệp & Địa chÝnh, Thèng kÕ
3 Tình hình phát triển sản xuất nấm trong huyện nói chung và các làng nghề nói riêng
- Phòng Nông nghiệp & Địa chính
- Một số báo cáo tại các hội nghị
4 Chủ tr−ơng phát triển nghề trồng nấm trong huyện và các làng nghề
UBND huyện qua các báo cáo hàng năm và nghị quyết phát triển kinh tÕ – x? héi
* Thu thập số liệu sơ cấp: thông qua tài liệu điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra một số nông hộ trồng nấm đại diện tại 5 xã, sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình dựa trên thực tế tại các làng nghề và sự phối hợp với Ban chỉ đạo trồng nấm của các xã.
Tất cả các hộ điều tra đều có kinh nghiệm sản xuất nấm ổn định trong ít nhất 3 năm qua, được phân chia thành 3 loại theo quy mô sản xuất: loại nhỏ (3-5 tấn nguyên liệu/năm), loại vừa (5-10 tấn nguyên liệu/năm), và loại lớn (trên 10 tấn nguyên liệu/năm) Dữ liệu điều tra được thu thập từ năm 2003 đến nay, nhằm tìm hiểu tình hình tiêu thụ và chế biến nấm ăn, nấm dược liệu tại các hộ, cũng như từ các đơn vị thu mua và các chợ đầu mối phân phối nấm đến các vùng lân cận trong và ngoài tỉnh.
Phiếu điều tra được xây dựng nhằm thu thập thông tin về nhân khẩu, lao động, giới tính, độ tuổi và các chỉ tiêu liên quan đến chi phí đầu tư, chế biến, cơ cấu chủng loại sản phẩm, cũng như kết quả sản xuất và thị trường tiêu thụ của từng loại nấm trong hộ Đồng thời, phiếu cũng gợi mở về việc phát triển làng nghề thông qua việc tăng cường liên kết giữa các hộ và chuyên môn hóa, hướng tới việc mở rộng quy mô và hợp tác với các làng nghề lân cận.
Phương pháp điều tra bao gồm phỏng vấn trực tiếp các hộ dân sản xuất nấm và một số chuyên gia từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như Phòng Nông nghiệp và Địa chính huyện, những người có chuyên môn về chương trình nấm.
3.2.2.3 Ph−ơng pháp xử lý thông tin
Sau khi hoàn thành việc điều tra và phỏng vấn, chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu và xử lý thông tin bằng phần mềm Excel Trong quá trình này, chúng tôi phân loại các hộ dân dựa trên quy mô sử dụng nguyên liệu sản xuất nấm, các loại nấm được nuôi trồng như nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ, mộc nhĩ và linh chi Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân loại theo các biện pháp khoa học kỹ thuật được áp dụng và năng suất nấm tính trên một tấn nguyên liệu.
3.2.2.4 Ph−ơng pháp phân tích số liệu
Dựa trên số liệu thu thập được, bài viết tiến hành tổng hợp và phân tích bằng phương pháp phân tổ thống kê với các tiêu chí như quy mô nguyên liệu dùng để trồng nấm, cơ cấu và sản lượng từng loại nấm, mức độ áp dụng khoa học công nghệ qua năng suất nấm trên một tấn nguyên liệu, và liên kết tiêu thụ sản phẩm Qua đó, bài viết mô tả hiện tượng, so sánh và đối chiếu để nhận diện sự biến động của hiện tượng qua các năm, từ đó rút ra kết luận chung.
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài
3.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển sản xuất nấm
- L−ợng nguyên liệu sử dụng trong trồng nấm
- Số lao động đ−ợc đào tạo nghề nấm
- Số lao động sản xuất nấm bao gồm sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm
- Số lao động hoạt động dịch vụ cho sản xuất nấm
- Số hộ tham gia sản xuất nấm ăn, nấm d−ợc liệu
- Trình độ công nghệ trong sản xuất nấm, chế biến nấm
- Đầu t− chi phí cho sản xuất
Hiệu suất sử dụng nguyên liệu trong sản xuất nấm tươi được tính bằng năng suất trung bình trên mỗi tấn nguyên liệu hoặc trên mỗi đơn vị diện tích trồng nấm.
- Sản l−ợng nấm hàng năm gồm: nấm t−ơi và nấm chế biến
- Giá trị sản xuất các loại nấm ăn, nấm d−ợc liệu
- Cơ cấu giá trị nấm trong giá trị sản xuất của các hộ sản xuất nấm 3.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tiêu thụ nấm
- Chỉ tiêu phản ánh cung, cầu nấm
- Chỉ tiêu phản ánh l−ợng sản phẩm tiêu thụ trong và ngoài n−ớc
- Chỉ tiêu phản ánh kênh tiêu thụ sản phẩm
3.2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế sản xuất nấm
- Giá trị sản xuất tính trên một đồng chi phí trung gian
- Giá trị nấm hàng hóa
- Giá trị gia tăng tính trên một đồng chi phí trung gian
- Tỷ suất hàng hóa nấm
- Thu nhập hỗn hợp tính trên một đồng chi phí trung gian
- Lợi nhuận tính trên một đồng chi phí trung gian
- Giá trị sản xuất tính trên một ngày – người lao động
- Giá trị gia tăng tính trên một ngày – người lao động
- Thu nhập hỗn hợp tính trên một ngày – người lao động
Lợi nhuận hàng ngày của người lao động được xác định dựa trên các chỉ tiêu sản xuất một tấn nguyên liệu nấm tươi và một tấn sản phẩm nấm đã qua sơ chế Việc tối ưu hóa quy trình sản xuất không chỉ giúp tăng năng suất mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người lao động trong ngành nấm.