1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phản ứng của một số giống lạc với che phủ bằng nilon và vật liệu hữu cơ trên đất chuyên màu huyện quảng xương tỉnh thanh hoá

138 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phản Ứng Của Một Số Giống Lạc Với Che Phủ Bằng Nilon Và Vật Liệu Hữu Cơ Trên Đất Chuyên Màu Huyện Quảng Xương, Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Nguyễn Duy Bách
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Đình Hòa
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 9,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu - Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển và mức ñộ nhiễm sâu bệnh của một số giống lạc trên ñất chuyên màu của huyện Quảng Xương trong vụ thu ñông năm 2009.. Yêu cầu sinh thái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM đOAN

Tôi xin cam ựoan rằng, ựây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện trong vụ thu ựông 2009 và vụ xuân 2010, dưới sự hướng dẫn của PGS-TS Vũ đình Hoà Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là hoàn toàn trung thực, chưa từng ựược công bố, sử dụng trong một luân văn nào trong và ngoài nước

Tôi xin cam ựoan rằng, mọi trắch dẫn trong luận văn ựã ựược thông tin

ựầy ựủ, trắch dẫn chi tiết và chỉ rõ nguồn ngốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Bách

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các thầy cô giáo Khoa Nông học, ựặc biệt

là các thầy cô giáo trong bộ môn Di truyền - Chọn giống - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Thầy giáo PGS-TS Vũ đình Hoà người ựã hướng dẫn, giúp ựỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện ựề tài và trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cho phép tôi bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và nhân dân xã Quảng Minh, Trạm khuyến nông, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quảng Xương, nơi tôi thực hiện ựề tài, ựã tạo mọi ựiều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của nhà trường ựề ra Tôi xin chân thành cảm ơn gia ựình, bạn bè ựồng nghiệp ựã

ựộng viên khắch lệ giúp tôi hoàn thành ựề tài này

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Bách

Trang 4

2.4 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 142.5 Hiện trạng sản xuất và các yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Thanh Hoá 222.6 Tình hình sản xuất lạc tại huyện Quảng Xương 25

3.2 Thí nghiệm so sánh che phủ nilon và vật liệu hữu cơ 40

4.1 Kết quả so sánh một số giống lạc trong ñiều kiện vụ thu ñông 44

Trang 5

4.1.1 Thời gian, tỷ lệ mọc mầm và thời gian sinh trưởng 44

4.2 So sánh che phủ bằng vật chất hữu cơ với che phủ bằng nilon

4.2.2 Ảnh hưởng của che phủ bằng nilon và chất hữu cơ ñến thời gian và

4.2.3 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến chỉ số diện tích lá 614.2.4 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến sự hình thành chất khô 644.2.5 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến số lượng nốt sần 674.2.6 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến mức ñộ cỏ dại 714.2.7 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến sự phân cành 724.2.8 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến mức ñộ nhiễm sâu

Trang 6

CPxG Tương tác che phủ với giống

Trang 7

4.5 Tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống 454.6 Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 ñất) ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả

4.7 Tích luỹ chất khô (g/cây) ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả và

4.8 Tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu ở thời kỳ ra hoa, hình thành

4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống 55

4a Bình phương trung bình của vật liệu che phủ (CP), giống (G),

tương tác che phủ với giống (CPxG) ở một số tính trạng 594b Bình phương trung bình của vật liệu che phủ (CP), giống (G),

tương tác che phủ với giống (CPxG) ở một số tính trạng 594.12 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến thời gian và tỷ lệ mọc

4.13 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến chỉ số diện tích lá của

Trang 8

4.14 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến sự hình thành chất

4.15 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến số lượng sần của các giống 684.16 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến mức ñộ cỏ dại 724.17 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến sự phân cành của

4.18 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến mức ñộ nhiễm sâu

4.19 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến các yếu tố cấu thành

4.20 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến năng suất của các giống 814.21 Hiệu quả kinh tế của các biện pháp che phủ cho các giống 83

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ðỒ

4.1 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc 584.2 Ảnh hưởng của các biện pháp che phủ ñến năng suất của các

Trang 10

1 MỞ đẦU

1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị

kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị trắ quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do ựược gieo trồng trên diện tắch lớn ở hơn 100 nước, mà còn vì hạt lạc chứa 22- 26% prôtêin và 45- 50% lipắt, là nguồn bổ sung ựạm, chất béo quan trọng cho con người Hạt lạc ựược sử dụng rất rộng rãi ựể làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Cây lạc còn là cây trồng quan trọng nhất trong hệ thống luân canh cây trồng ựạt hiệu quả cao vì có tác dụng cải tạo ựất rất tốt Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng ựã và ựang khuyến khắch ựầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng ở các quốc gia trên thế giới

Cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng luôn cần ựủ ựộ ẩm ựất ựể hình thành năng suất Che phủ ựất từ lâu ựược coi là một biện pháp quan trọng ựể duy trì và cải thiện ựộ ẩm ựất Che phủ là quá trình hoặc biện pháp che phủ ựất tạo ra ựiều kiện thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây và trồng trọt hiệu quả Che phủ tự nhiên chẳng hạn như bằng lá cây, rơm rạ, rác mục ựã ựược áp dụng hàng thế kỷ nhưng từ những năm 1960 của thế kỷ 20 che phủ bằng vật liệu tổng hợp ựối với nhiều cây rau màu ựã làm thay ựổi phương pháp và ắch lợi của che phủ Che phủ nilon ựã và ựang ựược phát triển mạnh trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc Từ năm 1974 Trung Quốc ựã áp dụng che phủ nilon ựối với lạc trên 16 tỉnh và năng suất bình quân ựạt từ 37-45 tạ/ha Năm 1995 diện tắch trồng lạc có che phủ nilon ựã chiếm tới 80-90%, diện tắch trồng lạc của tỉnh Sơn đông trở thành cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc ở Trung Quốc (Sun Yanhao và Wang Caibin, 1995)[44]

Trang 11

Ở nước ta, kỹ thuật che phủ nilon cho lạc ựược Trung tâm nghiên cứu Thực nghiệm ựậu ựỗ ựưa vào thử nghiệm từ năm 1996 Che phủ nilon làm tăng năng suất, chất lượng lạc (Nguyễn Thị Chinh và CS, 1996) [9], góp phần mở rộng diện tắch lạc vụ thu ựông Che phủ nilon ngăn ngừa thoát hơi nước từ ựất

và hạn chế cỏ dại Tuy nhiên, che phủ nilon thể hiện một số hạn chế, cụ thể là chi phắ sản xuất cao, tốn nhiều công lao ựộng, tàn dư khó phân hủy tồn tại lâu, làm ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, gây khó khăn trong việc canh tác ở các

vụ tiếp sau Trong thực tế vật chất hữu cơ như rơm rạ, bã mắa, bèo tây, mùn cưa, v.v thường sẵn có ở vùng nông thôn Sử dụng tàn dư thực vật, vật chất hữu cơ làm thảm che phủ không những giúp giữ ẩm ựất, cải tạo thành phần cơ giới, kiểm soát cỏ dại hiệu quả, cải thiện ựộ phì và tắnh chất của ựất, chống sói mòn (Dao, 1987 [41]; Gupta, 1991 [42]; (Hà đình Tuấn và CS., 1995) [34]; (Nguyễn Quang Tin và CS., 1995) [33] Tuy nhiên, nghiên cứu che phủ bằng vật chất hữu cơ cho lạc còn rất hạn chế, ựặc biệt ở những vùng ựất nhẹ pha cát

và ựất cát như các vùng ven biển Chắnh vì vậy việc nghiên cứu sử dụng các loại vật chất hữu cơ (rơm rạ, bèo tây, bã mắa, v.v.) che phủ cho lạc ở những vùng ựất cát có cường ựộ bay hơi nước cao ven biển có thể cải thiện ựộ ẩm, ựộ phì của ựất, ựiều hòa nhiệt ựộ ựất và nâng cao năng suất lạc Hơn nữa, tận dụng vật chất hữu cơ cũng góp phần hạ giá thành sản xuất, giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi ựến môi trường sinh thái, góp phần sản xuất lạc bền vững

1.2 Mục ựắch - yêu cầu của ựề tài

Trang 12

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển và mức ñộ nhiễm sâu bệnh của một số giống lạc trên ñất chuyên màu của huyện Quảng Xương trong vụ thu ñông năm 2009

- Tìm hiểu ảnh hưởng của việc che phủ nilon và che phủ bằng vật chất hữu cơ về sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc trên ñất chuyên màu huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá ở vụ xuân 2010

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

2009, góp phần hoàn thiện quy trình gieo trồng lạc trong ñiều kiện khí hậu và ñất ñai của huyện Quảng Xương

- Kết quả nghiên cứu của ñề tài ñóng góp và bổ sung vào tài liệu phục

vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, và chỉ ñạo sản xuất tại ñịa phương

- Kết quả nghiên cứu góp phần mở rộng diện tích, tăng năng suất lạc tại ñịa phương, hạn chế rủi ro trong sản xuất, nâng cao thu nhập cho người nông dân

Trang 13

1.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu

- ðề tài ñược nghiên cứu trong vụ thu ñông năm 2009 và vụ xuân năm

2010 tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá

- Sử dụng vật liệu nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ñậu ñỗ cung cấp

- Sử dụng các biện pháp kỹ thuật như che phủ nilon và che phủ bằng vật chất hữu cơ cho lạc trong thí nghiệm theo qui trình kỹ thuật sản xuất lạc cho các tỉnh Bắc Trung Bộ do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ñậu ñỗ khuyến cáo làm cơ sở khoa học ñể thực hiện thí nghiệm

Trang 14

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây lạc

Cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ, Braxin hoặc Pêru, Mêhicô, vùng biển đông - đông Bắc Braxin, trên những vùng ấm áp thuộc lòng chảo Rio-Plata bao gồm: Achentina, Paragoay, Bolivia, Cực Tây Nam Braxin, Pêru Sau ựó cây lạc ựược phổ biến sang Châu Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu

Á (Trung Quốc, Indonesia, Ấn độ), tới quần ựảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng đông Nam Hoa Kỳ Tuy nhiên, giới hạn sản xuất rộng rãi của cây lạc ở khoảng 400 Bắc ựến 400 Nam (Vũ Công Hậu và CS, 1995) [22] Tại Hoa Kỳ, thành công trồng lạc sớm nhất là ựối với các giống quả

nhỏ, dạng cây bò và có thời gian sinh trưởng dài (Var hypogeae) ựược ựưa từ

châu Phi tới Còn dạng quả nhỏ, có thời gian sinh trưởng ngắn thuộc dạng

Spanish (Var vulgaris) có thể do Thomat B.Rowland ựưa từ Tây Ban Nha tới năm 1871 (Anonymous, 1918), Dạng Valencia (Var.fastigiata) ựược ựưa từ

Paragoay và trung tâm Braxin

Lịch sử Việt Nam tới nay chưa xác minh ựược rõ ràng nguồn gốc Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét ựoán danh từ ỘLạcỢ có thể do từ Hán ỘHoa sinhỢ là người Trung Quốc gọi là cây lạc Như vậy cây lạc có thể từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XVII, XVIII (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979) [17]

Tóm lại, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con ựường, lạc ựã ựược ựưa ựi khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thắch ứng với các vùng nhiệt ựới, á nhiệt ựới và các vùng có khắ hậu ẩm đặc biệt lạc ựã tìm ựược mảnh ựất phát triển thuận lợi ở châu Phi và vùng nhiệt ựới châu Á Lạc ựược trồng rộng rãi ở châu Phi rồi từ ựây, theo các thuyền buôn nô lệ, lạc lại ựược ựưa trở lại châu Mỹ và châu Âu Chắnh vì vậy ựã hình thành nhiều vùng gen

Trang 15

thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gen của lạc Hiện nay, lạc ñược trồng nhiều

ở các nước Ấn ðộ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Braxin và Achentina, Thái Lan, Việt Nam, (Vũ Công Hậu và CS, 1995) [22]

2.2 Yêu cầu sinh thái của cây lạc

Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt ñộ và chế ñộ nước ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng phát triển và khả năng cho năng suất của lạc thì yếu tố khí hậu là nhân tố quyết ñịnh sự phân bố lạc trên thế giới

+ Nhiệt ñộ

Nhiệt ñộ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan ñến thời gian sinh trưởng của lạc.Tổng tích ôn hữu hiệu của lạc biến ñộng từ 2.600- 4.800oC thay ñổi tuỳ theo giống (Nguyễn Thế Côn, 1996) [11] Nhiệt ñộ và ñộ ẩm ñất

là hai yếu tố chính ảnh hưởng ñến thời gian mọc của lạc, cũng như thời gian

từ mọc ñến thời kỳ cây con

Nhiệt ñộ trung bình thích hợp cho suốt ñời sống của cây lạc là khoảng 25-300c và thay ñổi theo từng giai ñoạn sinh trưởng của cây lạc.Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250-320oc, nhiệt ñộ trung bình thích hợp ở thời kỳ này từ 25-

30oc, tốc ñộ nảy mầm nhanh nhất ở nhiệt ñộ 32-34oc Ở nhiệt ñộ trên 34oc, sức sống của hạt giảm ñi và hạt mất sức nảy mầm ở nhiệt ñộ 54oc Nhiệt ñộ thấp kéo dài thời gian nảy mầm, nhiệt ñộ tối thấp ở thời kỳ nảy mầm là 12oc, hạt có thể chết ở nhiệt ñộ 5oc trong thời gian ngắn Trong ñiều kiện ñồng ruộng, nhiệt ñộ 28- 300c là thích hợp nhất với quá trình nảy mầm; với nhiệt ñộ trên lạc có thể mọc sau gieo 5- 6 ngày là thích hợp Thời gian mọc quá ngắn

do nhiệt ñộ cao có thể dẫn tới làm yếu cây con, vì cường ñộ hô hấp của hạt quá lớn dưới ảnh hưởng của nhiệt ñộ cao, làm tiêu hao dinh dưỡng của hạt trong thời kỳ nảy mầm (Nguyễn Thế Côn, 1984)[12],

Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, tổng tích ôn yêu cầu 700- 1.000oc Khi nhiệt ñộ trung bình 20- 30oc, các quá trình sinh trưởng dinh dưỡng

Trang 16

ựược tiến hành thuận lợi, nhất là sự phân cành và phát triển bộ rễ Thời gian trước

ra hoa của lạc ựược kéo dài thắch hợp (30- 35 ngày) ở nhiệt ựộ trung bình 25- 28oc khi ựó khả năng tắch luỹ chất khô ở các bộ phận dinh dưỡng ựược tiến hành thuận lợi, thời kỳ phân hoá mầm hoa cũng ựược kéo dài hơn tạo ựiều kiện tăng số hoa,

số quả và trọng lượng hạt của lạc

Nếu nhiệt ựộ không khắ quá cao (30- 35oc) sẽ rút ngắn thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, làm giảm lượng chất khô tắch luỹ và giảm số hoa trên cây,

do ựó làm giảm số lượng quả và trọng lượng của hạt

Khả năng chịu rét của lạc cao nhất là ở thời kỳ trước ra hoa, tuy nhiên nhiệt ựộ dưới 18- 20oc làm ức chế sinh trưởng, phát triển của lạc, cản trở sự phân hoá mầm hoa và giảm trọng lượng khô của cây Nhiệt ựộ xuống quá thấp dù trong thời gian ngắn cũng có thể làm chết cây (Gillier, 1968)

Quá trình ra hoa của lạc ựòi hỏi nhiệt ựộ tương ựối cao, theo Gillier (1968) nhiệt ựộ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24- 33oc, và hệ số hoa có ắch cao nhất 21% ựạt ựược ở nhiệt ựộ ban ngày 29oc, ban ựêm 23oc

Thời kỳ ra hoa kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt ựộ cao nhất, thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng của lạc nhưng tắch ôn ựòi hỏi bằng 2/3 tổng tắch ôn của cả ựời sống cây lạc Nhiệt ựộ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15- 20oc

Quá trình chắn ựòi hỏi nhiệt ựộ giảm hơn so với thời kỳ trước Trong thời kỳ chắn, nhiệt ựộ trung bình 25- 28oc là thắch hợp Theo ý kiến của nhiều tác giả, trong ựiều kiện nhiệt ựộ ban ựêm 19oc, ban ngày 28oc có lợi cho quá trình tắch luỹ chất khô vào hạt Trong thời kỳ này, sự chênh lệch nhiệt ựộ giữa ngày và ựêm lớn (khoảng 8-10oc) có lợi cho quá trình vận chuyển vật chất vào hạt

+ Ánh sáng

Nghiên cứu của tác giả Bùi Huy đáp, Nguyễn Danh đông, 1961) [18] cho thấy thời gian sinh trưởng của lạc hầu như chỉ phụ thuộc vào nhiệt ựộ không khắ

Trang 17

mà không phụ thuộc vào quang chu kỳ

Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc, quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng ñạt khoảng 200 giờ/tháng

Ở các tỉnh phía Bắc, trong ñiều kiện vụ xuân, nên bố trí thời vụ ñể lạc ra hoa vào tháng tư, nếu lạc ra hoa sớm hơn, số giờ nắng thấp, làm giảm số hoa nở/ngày, kéo dài thời gian ra hoa, làm giảm tổng số hoa

+ Yêu cầu về nước

Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất ñến năng suất của lạc, tuy lạc ñược coi là cây trồng chịu hạn, song thực tế lạc chỉ chịu hạn ở một giai ñoạn nhất ñịnh

ðộ ẩm ñất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70- 80% ñộ ẩm giới hạn ñồng ruộng, yêu cầu này cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa kết quả cần ẩm ñộ ñất 80- 85% và giảm ở thời kỳ chín của hạt

Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời kỳ sinh trưởng của lạc từ mọc ñến thu hoạch là 450- 700mm (Gillier, 1968), nhu cầu này thay ñổi tuỳ giống

và thời kỳ sinh trưởng khác nhau

Thời kỳ khủng hoảng nước của lạc ñược nhiều tác giả công nhận là thời

kỳ ra hoa rộ, thời kỳ ñâm tia, thời kỳ hình thành quả và hạt, trong ñó thời kỳ

ra hoa rộ mẫn cảm nhất nếu thiếu nước Nếu ñược cung cấp ñủ nước trong thời kỳ ra hoa - làm quả và hạt, năng suất tương ñương với cây ñược cung cấp nước trong cả quá trình sinh trưởng

Thời kỳ cây lạc cần ít nước nhất và cũng là thời kỳ lạc có khả năng chịu hạn tốt nhất là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng Tuy nhiên nếu hạn kéo dài cũng ảnh hưởng xấu ñến sinh trưởng và năng suất lạc Khi cây bị thiếu ñộ ẩm, chiều cao cây giảm rõ rệt, lá nhỏ và dày hơn, cứng hơn trong ñiều kiện bình thường Lin (1963) thấy rằng ở ñiều kiện hạn, rễ có thể ăn sâu hơn 5 - 10%, nhưng bán kính phân bố rễ giảm 2/3 Theo dõi ở vùng Bambe (Senegal) cho thấy: nếu lượng mưa giảm từ 700 mm xuống còn 400 mm, năng suất lạc giảm 50%

Trang 18

Vùng Luga lượng mưa trung bình 450 mm/năm, khi lượng mưa tăng lên 100

mm, năng suất lạc tăng 150kg/ha [11]

+Yêu cầu về ñất ñai

Cây lạc không yêu cầu khắt khe về mặt ñộ phì của ñất Do ñặc ñiểm sinh

lý của lạc, ñất trồng lạc phải luôn tơi xốp ñể thoả mãn ba yêu cầu là giúp bộ rễ phát triển, tăng cường hoạt ñộng của vi sinh vật cố ñịnh ñạm, thuận lợi cho quá trình hình thành quả và thu hoạch Do vậy tiêu chuẩn ñầu tiên trong chọn ñất trồng lạc là thành phần cơ giới ñất: ñất thích hợp trồng lạc phải là ñất nhẹ có thành phần cát thô mịn nhiều hơn ñất sét, nói chung các loại ñất pha cát, ñất thịt nhẹ, có kết cấu viên, dung trọng ñất 1,1- 1,35; ñộ hổng 38- 50% là thích hợp với trồng lạc, những loại ñất này dễ tơi xốp, khả năng giữ nước và thoát nước tốt

Cây lạc yêu cầu về ñất có pH hơi chua, gần trung tính (pH từ 5,5- 7,0)

là rất thích hợp Tuy nhiên, khả năng chịu ñựng với pH ñất của lạc rất cao, lạc

có thể chịu ñược pH từ 4,5- 8,9 (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [10]

Trên thế giới lạc ñược trồng trên nhiều loại ñất khác nhau, ñiều ñó chứng tỏ khả năng thích ứng rộng của cây lạc ñối với các ñiều kiện ñất ñai Nhiều nước (nhất là Ấn ðộ, các nước ñang phát triển ở châu Phi) ñã trồng lạc trên những vùng ñất xấu, ñất nhiệt ñới khô cằn và bán khô cằn, không ñược tưới; do ñó ñã hạn chế nhiều tới khả năng hình thành năng suất của lạc Tuy nhiên trên loại ñất này, lạc là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng khác-ở ñây lạc là cây trồng tiên phong trên ñất mới khai phá, ñất khô cằn ðiều này chứng minh khả năng thích ứng rộng của cây lạc với ñiều kiện ñất ñai

Về ñất ñai, ở một số vùng trồng lạc có truyền thống của miền Bắc là phù hợp Suy xét về một số ñặc ñiểm nổi bật của một số loại ñất chính của các vùng chuyên canh lạc như ñất cát ven biển Thanh Hoá, Nghệ An, ñất bạc màu

ở vùng trung du Bắc Bộ cho thấy ở hầu hết các chân ñất này có thể sử dụng

Trang 19

nhiều cơ cấu cây trồng khác nhau và chỉ có những cây trồng có thể tồn tại khi gặp thời kỳ khô hạn (Nguyễn Thị Dần, 1991) [14]

Nhìn chung lạc ưa ñất sáng màu, hàm lượng chất hữu cơ dưới 2%, trên những ñất này, lạc thường ñạt kích thước quả lớn và vỏ quả sáng màu, thu hoạch dễ, chất lượng quả và hạt ñều cao

* Tiềm năng phát triển lạc ở Việt Nam

- Về nguồn lợi tự nhiên: lạc là cây trồng nhiệt ñới và á nhiệt ñới, nên khả năng thích ứng với ñiều kiện sinh thái khá rộng Với ñiều kiện khí hậu của Việt Nam khá phù hợp ñể cây lạc có thể phát triển tốt, mặc dù có một số vùng sự phân bố lượng mưa và nhiệt ñộ không ñều trong năm ảnh hưởng ñến năng suất lạc Theo tài liệu ñánh giá ñất ở 9 vùng sinh thái nông nghiệp của viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp, ñối chiếu với nhu cầu về ñất của cây lạc thì diện tích từ rất thích hợp ñến ít thích hợp cho ñậu ñỗ trên cả nước là 4,592 triệu ha Trong ñó diện tích có thể trồng lạc là 1,814 triệu ha và ñược phân bố trên một số loại ñất chính như: ñất cát ven biển từ Thanh Hoá ñến Ninh Thuận, ñất bạc màu, ñất xám, ñất ñỏ bazan, ñất dốc tụ miền núi, ñất phù

sa, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước [10]

2.3 Yêu cầu dinh dưỡng

+ Vai trò của ñạm

Nhu cầu ñạm của cây lạc cao hơn nhiều so với các loại cây ngũ cốc vì hàm lượng protein trong hạt (15-23%) cao hơn 1,5 lần ở hạt ngũ cốc Lượng ñạm ñược hấp thụ rất lớn, ñể ñạt 1 tấn quả khô cần sử dụng tới 50-75 kg N Thời kỳ lạc hấp thu nhiều ñạm nhất là thời kỳ ra hoa làm quả và hạt Thời kỳ này chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc, nhưng hấp thu tới 40- 45% nhu cầu ñạm của cả chu kỳ sinh trưởng (Nguyễn Như Hà, 2006)[21]

Vì vậy thiếu ñạm cây sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, chất khô tích luỹ giảm, số quả và trọng lượng quả ñều giảm, nhất là thiếu N ở thời kỳ sinh trưởng cuối Thiếu ñạm nghiêm trọng dẫn tới ngừng phát triển quả và hạt (Reid và

Trang 20

York) Bón ñạm hợp lý vào giai ñoạn ñầu là cần thiết và xúc tiến quá trình cố ñịnh ñạm ñược sớm hơn (Thái Phiên & CS)[30]

Có hai nguồn cung cấp ñạm cho cây lạc là do bộ rễ hấp thu từ ñất và ñạm cố ñịnh ở nốt sần do hoạt ñộng của vi khuẩn cộng sinh cố ñịnh ñạm

Nguồn N cố ñịnh có thể ñáp ứng ñược 50- 70% nhu cầu ñạm của cây ngoài ra, lá cũng có khả năng hấp phụ N Vì vậy phương pháp bón bổ xung N qua lá rất có ý nghĩa, nhất là thời kỳ sinh trưởng cuối,

+ Vai trò hấp thu lân

Lân (P) là một trong ba nguyên tố dinh dưỡng chính (NPK) của cây trồng Hàm lượng lân trong cây chiếm khoảng 0,3-0,4% so với trọng lượng chất khô, ñóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình trao ñổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất ñó trong cây (ðường Hồng Dật 2003)[15]

Thiếu lân bộ rễ kém phát triển, ảnh hưởng hoạt ñộng cố ñịnh ñạm Lân còn ñóng vai trò quan trọng ñối với sự cố ñịnh N và sự tổng hợp lipít ở hạt trong thời kỳ chín Ngoài ra, bón lân còn kéo dài thời kỳ ra hoa và tăng tỷ lệ hoa có ích ðối với quá trình cố ñịnh ñạm, lân trong thành phần của mối liên kết cao năng ATP, chuyển năng lượng cho hoạt ñộng cố ñịnh Các loại ñất bạc màu, ñất khô cằn nhiệt ñới thường thiếu lân, bón phân lân thường là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc [4]

Lạc hấp thu lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa- hình thành quả, trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng lân hấp thu của cả thời kỳ sinh trưởng của lạc Trên nhiều loại ñất trồng lạc ở Việt Nam với liều lượng bón 60 kg lân, 10 tấn phân chuồng, 30 kg ñạm và 30 kg kali thì ñạt hiệu quả cao nhất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [14]

+ Vai trò hấp thu kali

Kali trong cây dưới dạng muối vô cơ hoà tan và muối của axít hữu cơ trong tế bào Kali không trực tiếp ñóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây,

Trang 21

nhưng tham gia vào hoạt ñộng của các enzim, nó ñóng vai trò chất ñiều chỉnh xúc tác Chính vì vậy kali tham gia chủ yếu vào các hoạt ñộng chuyển hoá chất ở cây Vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả, ngoài ra kali còn làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống

ñổ của cây

Trong cây kali tập trung chủ yếu ở các bộ phận non, lá non và lá ñang hoạt ñộng quang hợp mạnh Cây hấp thu kali tương ñối sớm và tới 60% nhu cầu kali của cây ñược hấp thu trong thời kỳ ra hoa - làm quả Thời kỳ chín, nhu cầu về kali hầu như không ñáng kể (5- 7% nhu cầu kali)

Thiếu kali, thân cây chuyển thành màu ñỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỷ lệ quả một hạt tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm rõ rệt Bón kali cho ñất bạc màu ñã mang lại hiệu quả, hiệu suất 1 kg

K2SO4 trên ñất bạc màu là 8- 10 kg lạc vỏ (Nguyễn Thị Dần, 1991) [14]

Lạc có thể hút lượng kali rất lớn, trong môi trường giàu kali, nó có khả năng hấp thu kali quá mức cần thiết Lượng kali thích hợp cho các tỉnh phía bắc là 40kg/ha trên nền 20 kg N + 80 kg P2O5 (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979) [17]

Vai trò và sự hấp thu can xi:

Canxi là nguyên tố rất phổ biến trong tự nhiên, dinh dưỡng canxi ñối với lạc ñược coi là nguyên tố trung lượng Lượng canxi lạc hấp thu gấp gần 2- 3 lần lượng lân hấp thu Các nhà khoa học ñã ñánh giá vai trò của can xi giúp ngăn ngừa tích luỹ nhôm và các cation gây ñộc, tăng hoạt ñộng của vi khuẩn nốt sần, tăng hấp thu ñạm ðể quả phát triển bình thường, can xi phải có

ở quả ñang phát triển (Collwell & Brady, 1945; Bledso & harrit, 1960) [ 46]

Hiện tượng quả lép, ốp thường xảy ra khi lượng can xi hữu hiệu trong ñất thấp và do ảnh hưởng xấu có thể gây ra bởi các loại phân khoáng hoặc thời tiết ñến sự hút can xi của quả Bón 60 kg CaSO4 có tác dụng

Trang 22

ngang với bón 1000 kg vôi bột [4] Tuy nhiên, ở hầu hết các vùng trồng lạc, nhất là ở các nước nghèo, dạng can xi phổ biến bón cho lạc vẫn là vôi bột

- Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axit amin quan trọng trong cây, vì vậy S có mặt trong thành phần prôtêin của lạc Thiếu S sự sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển (Gopalakrishnan và Nagarajan, 1958) Sự hút S có liên quan ñến sự hút N và

P2O5 ñể hình thành các axit amin, S có thể hấp thu bằng cả rễ và quả, lượng S lạc hấp thu tương ñương lân Reich xác ñịnh hàm lượng S trong lá trong chu

kỳ sinh trưởng của lạc là khoảng 0,2% (Reid P.H and Cox F.R, 1973) [43]

Như vậy ñối với lạc, có thể coi 6 nguyên tố dinh dưỡng: N, P, K, Ca,

Mg, S là những nguyên tố ña và trung lượng trong cây Ngoài ra các nguyên

tố vi lượng như: Mo, Bo, Fe, Cu, Zn ñóng vai trò là chất xúc tác, hoặc là một phần của các enzim hoặc các chất hoạt hoá của hệ enzim cho các quá trình sống của cây và có vai trò rất quan trọng ñối với năng suất lạc [4]

- Bo ñóng vai trò quan trọng trong sự thụ phấn, thụ tinh của lạc và giúp cho bộ rễ phát triển, tăng khả năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, hạn chế bệnh xâm nhập (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [10] Phun dung dịch axit boric có thể làm tăng năng suất lên 4- 10%

Sử dụng sunphat mangan cũng góp phần làm tăng năng suất lạc (Trần Văn Lài, 1993) [25]

- Molipñen (Mo) là nguyên tố vi lượng nằm trong thành phần của men

Trang 23

nitrogenaza, có tác dụng làm tăng hoạt tính của vi khuẩn nốt sần, tăng việc ñồng hoá ñạm Mặc dù rất quan trọng nhưng lượng Mo cây cần là rất ít, vì thế theo ñịnh luật tối thiểu về dinh dưỡng của cây trồng, Mo ñược coi là nguyên

tố vi lượng quan trọng nhất (Nguyễn Tuấn Lê, 1993)[26]

Hàm lượng Mo trong cây rất thấp, khoảng 0,1- 0,93 mg/kg chất khô Việc cung cấp Mo cho cây bằng con ñường qua lá là biện pháp kỹ thuật quan trọng ñể lạc ñạt năng suất cao [39] Nhìn chung trên nền ñất có pH thấp, thì việc bón Mo có hiệu quả rõ nhất (Vũ Hữu Yêm, 1996) [39] Một số nguyên tố

vi lượng khác như Fe, Zn, Mn cũng có vai trò rất quan trọng với năng suất lạc; tuy nhiên, các nguyên tố dinh dưỡng này có sẵn trong ñất và lạc có khả năng hấp thu mạnh các nguyên tố này nên trong sản xuất ít khi phải bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng này

2.4 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn

ngày Mặc dù ñã có từ rất lâu ñời nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ ñược xác ñịnh trên 100 năm trở lại ñây Trên thế giới, hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng và ñang khuyến khích nhiều nước ñầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới có xu hướng tăng, diện tích trung bình 6 năm gần ñây (2000 - 2006) là 22,42 triệu ha, tăng so với những năm 70 của thế kỷ trước là 24,8%, so với những năm 90 là 8,7% Năm 2006, diện tích trồng lạc của thế giới ñạt 21,67 triệu ha, năng suất bình quân ñạt 15,6 tạ/ha và sản lượng ñạt 33,8 triệu tấn So với năm 1994, diện tích lạc tăng 10,3%, năng suất tăng 28,8% và sản lượng tăng 42,3%, (FAOSTAT Database Wibsite) [48], (USDA, 2000-2006) [45] Theo thống kê của FAO (FAOSTAT Database Wibsite) [75], USDA (USDA, 2000-2006) [45], châu Á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới - năm 2005)

Trang 24

Trong ựó, diện tắch khu vực đông Á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực đông Nam Á tăng 15,5%, Tây Á tăng 14,1%

Bảng 2.1 Diện tắch, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới

giai ựoạn 2000 - 2006

Chỉ

Tiêu

đV tắnh 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Diện tắch Triệu ha 24,10 24,04 24,10 26,46 22,73 25,22 21,67 Năng suất tạ/ha 14,50 15,00 13,48 14,03 14,71 14,47 15,6 Sản lượng Triệu tấn 34,90 36,08 33,30 35,66 33,45 36,49 33,8

Nguồn: FAOSTAT, 2007

Ấn độ là nước có diện tắch sản xuất lạc lớn nhất trên thế giới Do lạc chủ yếu ựược trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất lạc rất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tắch trồng lạc của Ấn độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tắch trồng lạc trên thế giới, năng suất ựạt 9,5 tạ/ha và sản lượng ựạt 7,3 triệu tấn (Florkowski V.J., 1994) [50] Từ năm 2000-2004 diện tắch lạc trung bình hàng năm của Ấn độ

là 8,2 triệu ha (chiếm 36,2%), năng suất trung bình là 8,6 tạ/ha, giảm 8,5% so với những năm 90 của thế kỷ 20 (USDA, 2000-2006) [45]

Trung Quốc là nước ựứng thứ hai về diện tắch trồng lạc (USDA, 2006) [45] Những năm gần ựây trung bình diện tắch trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,03 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tắch lạc toàn thế giới Năng suất lạc trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp ựôi năng suất lạc trung bình của toàn thế giới Sản lượng là 14,16 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới Tỉnh Sơn đông là tỉnh có diện tắch trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23% diện tắch, 33,3% tổng sản lượng lạc của cả nước, năng suất lạc trung bình ở Sơn đông cao hơn năng suất trung bình của cả nước là 34% [47] Có ựược những thành tựu này là do Trung Quốc ựặc biệt quan tâm ựến

Trang 25

2000-công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua Có tới 60 viện, trường và trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc triển khai các hướng nghiên cứu trên cây lạc Trong giai ñoạn 1982- 1995 ñã

có trên 82 giống mới có nhiều ưu ñiểm nổi bật như năng suất, ngắn ngày, chống chịu sâu bệnh và các ñiều kiện bất thuận, thích ứng rộng, ñã ñược chọn tạo và ñưa ra sản xuất ñại trà Diện tích gieo trồng các giống lạc mới năng suất cao ở Trung Quốc ñạt 90- 95% tổng diện tích lạc cả nước nhờ mạng lưới khuyến nông hoạt ñộng rất có hiệu quả Cùng thời gian này, nhiều biện pháp

kỹ thuật nhằm ñạt năng suất cao ñã ñược phát triển và áp dụng rộng rãi Các biện pháp ñó là cày sâu, bón phân cân ñối, mật ñộ gieo trồng hợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và ñặc biệt kỹ thuật che phủ nilon ñược coi là cuộc cách mạng trắng góp phần tăng năng suất, sản lượng lạc của Trung Quốc

Mỹ là nước có diện tích, năng suất lạc khá ổn ñịnh, sản lượng ñứng thứ

ba sau Trung Quốc và Ấn ðộ Những năm 90 của thế kỷ 20, diện tích lạc hàng năm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng suất là 27,9 tạ/ha ( Ceasar.L.Revoredo et al., 2002) [40] Giai ñoạn từ 2000-2004, diện tích trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm Năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000-2006) [45]

Achentina cũng là một nước thành công trong nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ ñể phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc Trong suốt

50 năm (1932- 1982) năng suất lạc của Achentina chỉ ở mức khiêm tốn, trên dưới 700 kg lạc hạt tương ñương 1,0 tấn lạc vỏ/ha Từ năm 1982 nghiên cứu

và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ñã ñược tăng cường Năm 1991 năng suất lạc bình quân của Achentina ñã ñạt 2,0 tấn/ha, gấp 2 lần so với năm

1980 Các giống mới chất lượng cao ñược gieo trồng trên 70% diện tích lạc cả nước, ñã ñưa Achentina trở thành nước xuất khẩu lạc ñứng thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Trung Quốc, mặc dù diện tích trồng lạc của nước này không

Trang 26

lớn, chỉ khoảng 180.000 ha/năm (Ngô Thế Dân và CS, 2000) [13]

Hàn Quốc là một nước khá phát triển ở châu Á, nổi tiếng về ñầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc Chương trình nghiên cứu khoa học trên cây lạc ở Hàn Quốc ñược tăng cường rất sớm, bắt ñầu từ những năm 1960 Nhờ kết hợp giống mới, với biện pháp kỹ thuật che phủ nilon ñến ñầu những năm 1990, năng suất lạc của Hàn Quốc ñã tăng gấp 4 lần

so với năm 1960 Hiện nay trên những nông trại lớn của Hàn Quốc có sử dụng giống lạc mới và kỹ thuật tiến bộ, năng suất lạc ñã ñạt trên 6,0 tấn/ha Những thông tin trên ñây cho thấy, tất cả các nước ñã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc ñều rất chú ý ñầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tiềm năng to lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể ñược khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật trên ñồng ruộng

2.4.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Những năm trước ñây Việt Nam do còn thiếu về lương thực nên trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào sản xuất cây lương thực,

do ñó cây lạc chưa ñược quan tâm chú trọng ñúng mức Diện tích, năng suất, sản lượng cây lạc còn thấp Những năm gần ñây do có sự chuyển dịch

cơ cấu giống cây trồng và sản xuất hàng hoá ñã góp phần thúc ñẩy tăng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc Năm 2005 Việt Nam ñứng thứ 12 về diện tích, ñứng thứ 9 về sản lượng lạc trên thế giới

Sự biến ñộng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc từ những năm

1970 ñến nay như sau:

Trong thập kỷ 70 diện tích lạc từ 97.100 ha giảm xuống còn 91.800 ha, giảm 5%, năng suất từ 10,3 tạ/ha giảm xuống còn 8,8 tạ/ha, giảm 14,6% ðến những năm 80 diện tích, năng suất và sản lượng bắt ñầu tăng từ 97.100 ha lên 237.800 ha Thập kỷ 90, trong vòng 10 năm, diện tích, năng suất và sản lượng

Trang 27

tăng rất nhanh, riêng năng suất lạc tăng gần 30% Diện tích lạc tăng mạnh nhất là giai ñoạn 1990- 1995, diện tích năm 1991 ñạt 210.900 ha thì năm 1995 ñạt 259.900 ha, tăng 23,2% Năm 1996- 2000 diện tích trồng lạc cũng có biến ñộng, năm 2005 diện tích trồng lạc ñạt 263.680 ha

Việt Nam, từ những năm 1980 sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng Trong 10 năm từ 1981 ñến năm 1990, diện tích lạc tăng bình quân 7% trên năm, sản lượng tăng 9% trên năm Từ năm 1990 ñến 1995, sản xuất lạc tăng về diện tích và sản lượng song năng suất vẫn còn thấp, chỉ ñạt khoảng 1,0 tấn/ha Nhưng những năm gần ñây diện tích và sản lượng lạc tăng

rõ rệt, năng suất ñạt gần 1,5 tấn/ha Một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần nâng cao năng suất lạc là do việc áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật

Từ năm 1990 ñến nay công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc ở nước ta ñã ñược quan tâm hơn trước Các ñề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước, quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc ñã ñược triển khai thu hút sự tham gia của một ñội ngũ ñông ñảo các cán bộ nghiên cứu và khuyến nông trong cả nước Phát triển cây lấy dầu, trong ñó có cây lạc ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác ñịnh là một trong những vấn ñề trọng ñiểm trong chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn của nước ta Hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển cây lạc ñã ñược tăng cường Thông qua chương trình hợp tác với ICRISAT và mạng lưới ñậu ñỗ và cây ngũ cốc châu Á (CLAN), Việt Nam ñã có ñiều kiện cử cán bộ nghiên cứu và khuyến nông ñi ñào tạo nâng cao trình ñộ, ñồng thời tiếp thu ñược các thành tựu mới, học hỏi, trao ñổi kinh nghiệm nghiên cứu phát triển sản xuất lạc của các nước trên thế giới và khu vực Một số tiến bộ phổ biến của các nước ñã ñược chọn lọc, thử nghiệm và ứng dụng ñem lại hiệu quả ở Việt Nam Bên cạnh ñó việc

áp dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc cũng ñã ñược áp dụng như

Trang 28

bón phân cân ñối, mật ñộ gieo thích hợp, kỹ thuật che phủ nilon ñã làm tăng năng suất lạc lên 30- 40% (Ngô Thế Dân và CS, 2000)[13], [8] Nhiều mô hình thâm canh lạc ñạt năng suất cao trên 3,0 tấn/ha ñã ñược trình diễn trên ñồng ruộng nông dân ở nhiều ñịa phương

Tiềm năng ñể nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn Kết quả nghiên cứu trong những năm gần ñây cho thấy trên diện tích rộng hàng chục

ha, gieo trồng giống mới với các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, nông dân có thể

dễ dàng ñạt năng suất lạc 4,0-5,0 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất lạc bình quân trong sản xuất ñại trà ðiều ñó chứng tỏ rằng nếu các kỹ thuật tiên tiến ñược áp dụng rộng rãi trong sản xuất sẽ góp phần ñáng kể trong việc tăng năng suất và sản lượng lạc ở nước ta Vấn ñề chính hiện nay là làm sao ñể các giống mới và các kỹ thuật tiên tiến ñến ñược với nông dân và ñược nông dân chấp nhận

Nhà nước ta ñã ñề ra chỉ tiêu ñưa diện tích cây lạc lên 400.000 ha, với năng suất bình quân 2,0 tấn/ha ðể ñạt ñược mục tiêu ñó, trước hết cần ñẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất Trên cơ sở áp dụng hệ thống các giải pháp kỹ thuật tổng hợp, ñồng bộ, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, trong thời gian tới sản xuất lạc ở nước ta sẽ có ñiều kiện ñể ñạt ñược những thành tựu mới, góp phần phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập và ñời sống nhân dân [5]

Trước thời kỳ ñổi mới ñất nước, nền nông nghiệp Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, còn là nước thiếu về lương thực, hầu hết diện tích gieo trồng cây hàng năm tập trung chủ yếu trồng cây lương thực do vậy diện tích lạc chưa ñược chú trọng, năng suất, sản lượng thấp Từ khi thực hiện công cuộc ñổi mới ñất nước, ñặc biệt là ñổi mới về chính sách phát triển nông nghiệp, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ñể nâng cao thu nhập trên diện tích gieo trồng thì

Trang 29

cây lạc càng ñược quan tâm phát triển Theo số liệu của tổng cục thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng lạc giai ñoạn 1995- 2006 cho thấy:

Năm 1995 diện tích lạc là 259,9 nghìn ha, năm 1996 diện tích 262,8 nghìn ha tăng 2.800 ha Năm 1997 diện tích giảm xuống còn 253,5 nghìn ha, giảm so với năm 1995 là 6.400 ha, năm 1998 diện tích lạc tăng lên 269.400 ha cao hơn năm 1995 là 9.500 ha, năm 1999 diện tích giảm mạnh 21.800 ha còn 247.600 ha Năm 2000 diện tích tiếp tục giảm xuống còn 244.900 ha, năm

2001, 2002 và 2003 diện tích lạc dao ñộng từ 243.800 ha ñến 246.700 ha, năm có diện tích gieo trồng thấp nhất là 2003 diện tích 243.800 ha giảm hơn so với năm 1995 là 16.100 ha Năm 2004 diện tích lạc tiếp tục ñược tăng lên 263.700 ha cao hơn so với năm 2003 là 19.900 ha năm 2005 diện tích tăng lên 269.600 ha cao hơn 9.700 ha, nhưng năm 2006 diện tích lại giảm xuống còn 246.700 ha, năm 2007 diện tích lạc lại ñược tăng lên là 254.500 ha, ñến năm 2008 diện tích lạc lại ñược tăng lên là 256.000 ha

Nhìn chung diện tích lạc trong giai ñoạn 1995- 2008 có sự biến ñộng

và thiếu tính ổn ñịnh do các nguyên nhân như thời tiết khí hậu, tình hình giá

cả và tiêu thụ cũng làm ảnh hưởng ñến diện tích trồng lạc qua các năm

Về năng suất lạc khác với diện tích, năng suất lạc tăng tương ñối ñều qua các năm và từ năm 1990, năng suất lạc ñạt 10,6 tạ/ha/, năm 1995 sau 5 năm năng suất tăng lên 12,9 tạ/ha, tăng 21,7%, năm 2000 năng suất lạc ñạt 14,5 tạ/ha, tăng 12,4% so với năm 1995 Năm 2005 năng suất lạc tiếp tục tăng

và ñạt 18,1 tạ/ha, tăng so với năm 2000 là 29,7% và tăng so với năm 1995 là 40,3%, so với năm 1990 là 70,8% Năm 2006 năng suất lạc ñạt 18,7 tạ/ha/, tăng so với 2005 là 2,8%, năm 2007 năng suất lạc tiếp tục tăng và ñạt 20,0 tạ/ha, tăng so với năm 2006 là 6,9%, nhưng ñến năm 2008 năng suất ñạt 20,9 tạ/ha, tăng so với năm 2007 là 4,5%

Như vậy trong vòng 18 năm từ năm 1990- 2008 diện tích biến ñộng

Trang 30

không ựáng kể, nhưng năng suất lạc năm sau thường tăng cao hơn năm trước,

từ 1990- 2008 năng suất tăng 97,16% so với năm 1990

Về phân bố, lạc ựược trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Diện tắch lạc chiếm 28% tổng diện tắch cây công nghiệp hàng năm (ựay, cói, mắa, lạc, ựậu tương, thuốc lá), tuy nhiên, có 6 vùng sản xuất chắnh như sau:

Vùng đồng bằng sông Hồng: lạc ựược trồng chủ yếu ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam định, Ninh Bình với diện tắch 31.400 ha, chiếm 29,3%

Vùng đông Bắc: lạc ựược trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ Thái Nguyên với diện tắch 31.000 ha, chiếm 28,9%

Vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng ựiểm lạc của các tỉnh phắa Bắc với diện tắch 74.000 ha (chiếm 30,5%), tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá (16.800 ha), Nghệ An (22.600 ha), Hà Tĩnh (19.900 ha)

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: diện tắch trồng 23.100 ha (chiếm 9,5%), ựược trồng tập trung ở 2 tỉnh Quảng Nam, Bình định

Vùng Tây Nguyên: diện tắch trồng lạc 22.900 ha (chiếm 9,4%), chủ yếu

Hà Tĩnh và Phú Thọ Diện tắch trồng lạc ở các tỉnh phắa Nam giảm từ 133,6 ngàn ha năm 1995 xuống 98,5 ngàn ha năm 2003, diện tắch giảm mạnh nhất ở

Trang 31

tỉnh Tây Ninh (từ 41,1 ngàn ha năm 1995 xuống còn 19,8 ngàn ha năm 2003)

và tiếp ñó ở tỉnh Long An Diện tích lạc ở các tỉnh phía Nam giảm do cây ăn quả và cây cà phê phát triển ồ ạt

Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, bước ñầu ñã có một số tỉnh ñạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam ðịnh 37,7 tạ/ha (nhờ áp dụng giống lạc mới và kỹ thuật che phủ nilon); Hưng Yên 27,7 tạ/ha; thành phố Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha; Trà Vinh 28,8 tạ/ha; Khánh Hoà 26,0 tạ/ha, Thanh Hoá 18,6 tạ/ha

2.5 Hiện trạng sản xuất và các yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Thanh Hoá

2.5.1 Hiện trạng sản xuất lạc ở Thanh Hoá

ðối với ñất chuyên màu của Thanh Hóa, lạc là cây trồng chiếm vị trí hàng ñầu trong cơ cấu cây trồng, là nguồn nông sản xuất khẩu chính, có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo ñất (Lê Hữu Cần (1998)[6] Ngày nay, khi ðảng và Nhà nước ñang chú trọng ñầu tư phát triển cây lạc, diện tích, năng suất, sản lượng lạc trong những năm gần ñây không ngừng tăng lên thì lại càng khẳng ñịnh vai trò của cây lạc trong cơ cấu cây trồng trên vùng ñất chuyên màu

Về mặt nông học, lạc là cây trồng có nhiều ý nghĩa ñối với các vùng ñất nghèo dinh dưỡng như ñất cát pha, ñất bạc màu do khả năng cố ñịnh ñạm của nó Cũng nhờ khả năng này mà sau khi thu hoạch, thành phần hoá tính ñất trồng ñược cải thiện rõ rệt, lượng N trong ñất tăng, khu hệ vi sinh vật hảo khí trong ñất ñược tăng cường có lợi ñối với cây trồng sau, nhất là ñối với cây trồng cần nhiều N

Về hiệu quả kinh tế, lạc là cây trồng ñạt hiệu quả kinh tế rất cao trên loại ñất này Với những ưu ñiểm trên, cây lạc xứng ñáng là cây trồng chủ lực trên vùng ñất cát ven biển, vốn là vùng có ñiều kiện kinh tế khó khăn trong sản xuất nông nghiệp

Trang 32

2.5.2 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Thanh Hoá

Lạc là cây trồng quen thuộc và lâu ñời của nông dân Thanh Hoá Là cây công nghiệp ngắn ngày, dễ làm, nhu cầu ñầu tư chi phí chỉ bằng 65-70% mức ñầu tư cho cây trồng khác như mía, ngô, lúa nước song hiệu quả kinh

tế, giá trị thu nhập, cải tạo ñất lại rất cao, góp phần tăng thu nhập cho hộ nông dân và là cây trồng mang tính sản xuất hàng hoá sớm trong hệ thống cây trồng chính tại ñịa phương Cây lạc ñược gieo trồng chủ yếu trong vụ xuân (diện tích lạc gieo trồng trong vụ xuân chiếm 92,6%, sản lượng chiếm 96,8% của cả năm), ngoài ra còn ñược gieo trồng trong vụ hè, vụ thu ñông, trên chân ñất chuyên màu, ñất bãi, ñất một lúa-một màu Tuy nhiên diện tích và năng suất lạc ở vụ hè thu và vụ thu ñông còn thấp

Hàng năm diện tích trồng cũng như năng suất và sản lượng liên tục có biến ñộng do việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, việc ñưa các giống mới vào sản xuất ñã góp phần làm tăng sản lượng lạc của tỉnh trong một số năm gần ñây

Thanh Hoá là một tỉnh Bắc Trung Bộ có ñiều kiện khí hậu ñặc biệt mang tính chất chuyển tiếp giữa Miền Bắc và Miền Trung Theo niên giám thống kê của tỉnh (Bảng 2.2) trong một thời gian dài từ năm 1980 ñến năm

1997 năng suất lạc của Thanh Hoá chỉ dao ñộng trên 10tạ/ha chưa vượt qua ngưỡng 11tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình của toàn quốc [28]

ðến năm 1998 là năm ñầu tiên năng suất lạc của Thanh Hoá ñạt 13,4 tạ/ha, vượt xa ngưỡng 11 tạ/ha, nhưng vẫn thấp hơn năng suất của toàn quốc Năm 1999, do ñiều kiện thời tiết khó khăn năng suất lạc lại giảm xuống chỉ còn 11,7 tạ/ha Năm 2000, năng suất lạc của Thanh Hoá ñạt 15 tạ/ha, là năm ñầu tiên Thanh Hoá vượt năng suất trung bình của toàn quốc Niên vụ năm 2002 năng suất lạc của Thanh Hoá ñã ñạt tới 16,2 tạ/ha Tuy nhiên so với năng suất của một

số tỉnh trong khu vực như Nam ðịnh 31,6 tạ/ha năm 2001 và 35 tạ/ha năm 2002 thì năng suất lạc của Thanh Hoá còn rất thấp và không ổn ñịnh Từ năm 2003-

2008 năng suất lạc của tỉnh có sự tăng mạnh, năm 2003 năng suất ñạt 16,4 tạ/ha

Trang 33

thì ñến năm 2008 năng suất trung bình toàn tỉnh ñạt 18,5 tạ/ha; nhưng còn thấp hơn rất nhiều so với năng suất trung bình của toàn quốc năm 2008 ñạt 20,9 tạ/ha

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất sản lượng lạc của Việt Nam

và Thanh Hoá (1980-2008)

Năm

Diện tích

(1000ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản lượng

(1000ha)

Diện tích

(1000ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản lượng

Yếu tố nào ñã làm hạn chế năng suất lạc của Thanh Hoá? ðây là những câu hỏi ñược các nhà quản lý và các nhà khoa học quan tâm nhằm ñưa ra

Trang 34

những giải pháp ựể ựẩy mạnh sản xuất lạc của Thanh Hoá Theo thống kê, Thanh Hoá là một trong 5 tỉnh của cả nước có diện tắch trồng lạc tập trung khá lớn từ 10.000 Ờ 20.000 ha Năng suất lạc có thể ựạt ựược 25-30 tạ/ha, nếu chú ý ựúng mức ựến các biện pháp kỹ thuật tiên tiến và áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật về giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh gây hại (Trần đình Long và CS, 1999) [27]

Trong những năm tới tỉnh Thanh Hóa có nhiều chắnh sách ựầu tư phát triển vùng chuyên canh cây rau màu cao cấp, vùng sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày, ựầu tư khoa học kỹ thuật, áp dụng giống mới và kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý sẽ hứa hẹn năng suất, diện tắch, sản lượng lạc tiếp tục tăng cao phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có của ựịa phương

có truyền thống cần cù lao ựộng sáng tạo, vượt khó ựi lên trong thời kỳ hội nhập và phát triển

2.6 Tình hình sản xuất lạc tại huyện Quảng Xương

Quảng Xương là huyện ựồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, nơi có ựiều kiện khắ hậu, ựất ựai tương ựối thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng phát triển Chủ trương của huyện trong những năm tới sẽ ựẩy mạnh sản xuất những cây trồng có giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người nông dân, trong

ựó cây lạc là một loại cây trồng có vai trò rất quan trọng trong công thức luân canh tăng vụ, cho hiệu quả kinh tế cao và tăng thu nhập trên ựơn vị diện tắch

để ựạt ựược mục tiêu ựó huyện Quảng Xương phải không ngừng phát triển về mọi mặt, ựặc biệt là kinh tế, trong ựó sản xuất nông nghiệp cần ựược ựầu tư thâm canh, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác giống, kỹ thuật bón phân, công tác phòng trừ sâu bệnh hại, các biện pháp canh tác có hiệu quả, v.v

Huyện Quảng Xương có tổng diện tắch ựất tự nhiên là 22.764,20 ha; Trong ựó diện tắch ựất nông nghiệp là 15.526,33 ha, diện tắch ựất trồng cây

Trang 35

hàng năm là 12.294,85 ha, riêng diện tích ñất có thể trồng lạc là 782.1 ha Trong những năm qua diện tích trồng lạc của huyện vẫn ñược duy trì ổn ñịnh mặc dù việc chuyển ñổi mục ñích sử dụng ñất tăng mạnh, cụ thể diện tích gieo trồng lạc qua một số năm gần ñây là:

Cây lạc ñược trồng ở hầu hết các xã trong huyện Trong ñó, các xã có diện tích trồng lạc lớn như Quảng Minh (120-140 ha), Quảng Giao (100-130 ha), Quảng ðại ( 90-120ha), Quảng Vinh (80- 115ha), Quảng Hùng (60-90 ha), Quảng Hải (50-80 ha)[2] Qua số liệu ở bảng 2.3 cho thấy, từ năm 2003 trở lại ñây, diện tích trồng lạc của huyện có tăng nhưng tốc ñộ chậm, thậm chí

có năm diện tích còn giảm (năm 2004) Sản lượng lạc của huyện tăng từ 14.687,40 tấn năm 2003 lên 18.692,19 tấn năm 2008, chủ yếu là do năng suất lạc tăng Về năng suất lạc của huyện qua các năm cũng luôn có sự phát triển

do việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, ñưa một số giống lạc mới có năng suất cao vào sản xuất như: L23, TB25, L14 , áp dụng kỹ thuật che phủ nilon và che phủ bằng vật chất hữu cơ, thực hiện qui trình và kỹ thuật bón phân cho lạc

ñã góp phần tăng năng suất lạc qua các năm [29]

Năm 2003 năng suất lạc ñạt 19,5 tạ/ha, thì năm 2004 năng suất là 20,1tạ/ha tăng 3,1% so với năm 2003 Năm 2005 năng suất ñạt 20,6 tạ/ha, tăng so với năm 2003 là 5,7% Năm 2006 năng suất lạc là 18,5 tạ/ha, giảm so với năm 2003 là 5,1% và từ năm 2007-2008 năng suất lạc ñều tăng ñạt từ 22,6-23,9 tạ/ha, tăng so với năm 2003 là 15,9 ñến 22,6% Năm 2008 năng suất lạc ñạt 23,9 tạ/ha, là huyện có năng suất lạc cao nhất trong toàn tỉnh Thanh Hoá Như vậy sau sáu năm, diện tích lạc của huyện Quảng Xương tăng 3,8%, năng suất tăng 22,6%, sản lượng lạc tăng 27,3%

Lạc ñược gieo trồng chủ yếu trên ñất chuyên màu, các ñịa phương có diện tích trồng lạc cao và nông dân có nhiều kinh nghiệm trồng lạc là Quảng Minh, Quảng Giao, Quảng ðại, Quảng Hải, Quảng Hùng, Quảng Vinh v.v

Trang 36

Bảng 2.3: Diện tắch, năng suất, sản lượng lạc của huyện Quảng Xương

Nguồn: Phòng thống kê, phòng NN&PTNT huyện Quảng Xương

Hiện nay ở vùng ựất chuyên màu lạc ựược trồng vào 2 vụ chắnh:

+ Vụ lạc xuân: ựây là vụ lạc chắnh ở Thanh Hoá, thời vụ gieo từ

20/1-20/2, thu hoạch vào cuối tháng 5 ựầu tháng 6 Là vụ có ựiều kiện thời tiết thắch hợp ựể cây lạc sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của vụ xuân là thời kỳ gieo trồng trùng với thời kỳ nhiệt ựộ

và ẩm ựộ không khắ thấp do ựó lạc nẩy mầm kém, mật ựộ không ựảm bảo, thời kỳ ra hoa rộ vào tháng 3 có thể gặp gió mùa đông Bắc kéo dài, nhiệt ựộ thấp, lạc thụ phấn thụ tinh kém, năng suất giảm, thời kỳ chắn trùng với những ngày nắng nóng, nhiệt ựộ cao, có thể có gió Tây Nam khô nóng, xen kẽ các ựợt mưa (lụt tiểu mãn) dễ làm cho lạc bị chết khô, chắn ép, biến màu hoặc nảy mầm trên ruộng làm giảm năng suất và chất lượng

+ Vụ lạc thu ựông: vụ lạc này mới bắt ựầu ựưa vào trồng tại huyện từ

năm 2003 Thời vụ gieo trồng từ 5/9 ựến 20/9, thu hoạch khoảng 15/12 ựến 25/12 Vụ này có ý nghĩa quan trọng cho việc cung cấp giống cho vụ lạc xuân, vì không mất thời gian bảo quản, tỷ lệ nảy mầm của giống rất cao, sức

Trang 37

nảy mầm khoẻ Tuy nhiên trong vụ này thường gặp khó khăn ở ựầu vụ là thường gặp mưa, bão gây thối mầm hoặc thời kỳ lạc ra hoa hình thành quả nếu gặp gió mùa đông Bắc sớm, rét, hoặc hạn ảnh hưởng ựến ựâm tia và hình thành quả Các tiến bộ kỹ thuật ựược áp dụng như sử dụng giống mới như L14, L23, TB25,v.v Tỷ lệ diện tắch sử dụng giống mới chiếm trên 70% diện tắch trồng lạc của huyện (theo báo cáo của phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện năm 2008)

* Giống lạc: Trước năm 2000 diện tắch trồng lạc của huyện thường

sử dụng chủ yếu các giống như đỏ Bắc Giang, sen lai 75/23 [37], ựây là các giống lạc ựịa phương, quả nhỏ, chất lượng tốt, tuy nhiên năng suất không cao, ựã bị thoái hoá và lẫn tạp nhiều Từ năm 2000 ựến năm 2003,

cơ cấu giống lạc ựịa phương ựã giảm dần và thay vào ựó là những giống như L14, L12, MD7 Tuy nhiên, các giống lạc trên vẫn chưa thực sự tạo ra các bước nhảy vọt về năng suất do còn nhiễm nhiều loại sâu bệnh Từ năm

2003 ựến nay, với sự chỉ ựạo của các cấp uỷ ựảng, chắnh quyền từ huyện tới cơ sở người nông dân trong huyện ựã sử dụng các giống lạc mới có tiềm năng năng suất cao như L14, MD7, L18, L23, L08, TB25 chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu, chiếm trên 90% diện tắch Do vậy năng suất và sản lượng lạc trên toàn huyện có mức tăng khá Bên cạnh ựó các ựịa phương cũng ựã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật khác ựể tăng năng suất lạc như áp dụng qui trình

kỹ thuật trồng lạc che phủ nilon, các biện pháp canh tác hợp lý

2.6.1 Các yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Quảng Xương

Kết quả phân tắch ở trên cho thấy, diện tắch và năng suất lạc của huyện Quảng Xương còn thấp Kết quả ựiều tra tình hình sản xuất lạc ở một số xã ựiển hình của huyện cho thấy nguyên nhân hạn chế sản xuất lạc ở Quảng Xương là:

- Thiếu bộ giống có năng suất cao phù hợp cho các tiểu vùng sinh thái khác nhau trong huyện

Trang 38

- Lượng phân hữu cơ, phân khoáng (ựặc biệt là hàm lượng K20) và vôi bón bổ sung cho lạc còn thấp so với khuyến cáo của Trung tâm Nghiên cứu

và Phát triển ựậu ựỗ (7000 kg phân chuồng + 30 kg N + 90 kgP205 + 60 kg

K20 + 500 kg vôi bột cho 1 ha) Hầu hết, các hộ nông dân không quen bón vôi cho lạc, bón phân theo cảm tắnh chứ không bón theo nhu cầu của cây Do vậy, không ựáp ứng ựược nhu cầu dinh dưỡng cung cấp cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây lạc dẫn ựến năng suất thấp và nhiều sâu bệnh

- Trong vụ xuân lạc thường bị một số loại sâu gây hại như: sâu khoang, sâu xanh, sâu xám, và một số loại bệnh hại như: gỉ sắt, ựốm lá, héo xanh vi khuẩn Nông dân ở ựây không quan tâm, phát hiện và phun thuốc phòng trừ kịp thời dẫn ựến giảm năng suất và phẩm chất lạc

- Hạn ựầu vụ kết hợp với nhiệt ựộ không khắ thấp làm ảnh hưởng ựến tỷ

lệ nảy mầm và tốc ựộ sinh trưởng của cây

- đất chủ yếu là cát pha, hàm lượng ựạm, lân, kali dễ tiêu trong ựất nghèo so với nhu cầu của cây trồng, ựây là nguyên nhân làm cho năng suất lạc giảm

- Vụ lạc thu ựông thường thời kỳ gieo trồng trùng với thời kỳ mưa muộn Khi lạc ra hoa, hình thành quả: các ựợt gió mùa đông Bắc, nhiệt ựộ không khắ thấp ảnh hưởng tới việc thụ phấn, thụ tinh Khi thu hoạch thời tiết

âm u, không có nắng ảnh hưởng ựến việc phơi và bảo quản, làm giảm chất lượng lạc, nhất là lạc giống Do vậy việc mở rộng diện tắch, nâng cao năng suất lạc thu ựông còn gặp nhiều khó khăn

- Giá cả vật tư ựầu tư cho sản xuất thường cao, nông dân thiếu vốn ựể ựầu tư mua phân bón và giống mới

- Giá sản phẩm không ổn ựịnh, lúc cao, lúc thấp làm hạn chế ựến ựầu tư thâm canh Sản phẩm làm ra chủ yếu tiêu thụ trên thị trường tự do

Trang 39

2.6.2 Những giải pháp khắc phục yếu tố hạn chế năng suất lạc ở Quảng Xương

- Huyện cần có cơ chế chính sách khuyến khích nông dân phát triển cây lạc trong những năm tới Giao chỉ tiêu về diện tích, sản lượng cho các xã ñể các ñịa phương phấn ñấu phát triển Hỗ trợ một phần giống, vật tư cho nông dân

- Tiếp tục củng cố hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi nội ñồng ở các xã ñể phục vụ công tác tưới tiêu chủ ñộng cho cây trồng trong mùa khô, sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả

- Huyện cần hợp tác nhiều hơn nữa với các Viện khoa học kỹ thuật, với các trường ñại học nông nghiệp Xây dựng các mô hình lạc giống mới chọn ra những giống có năng suất cao, kháng bệnh khá, phù hợp với ñiều kiện sinh thái ñịa phương bổ sung vào cơ cấu giống của huyện

- Quy hoạch vùng trồng lạc lớn, tập trung ñể dễ quản lý và tiện cho việc ñưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất

- ðẩy mạnh và phát triển vụ lạc thu ñông ñể cung cấp nguồn giống chất lượng tốt phục vụ sản xuất vụ xuân năm sau

- Bón bổ sung phân hữu cơ và các loại phân khoáng cân ñối và hợp lý, ñặc biệt phải quan tâm ñến bón vôi cho lạc

2.6.3 Tiềm năng phát triển lạc của huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá

Cây lạc ñã ñược gieo trồng từ rất lâu ñời ở huyện Quảng Xương, nó ñã ñem lại lợi ích cho người nông dân như nâng cao thu nhập trên ñơn vị diện tích canh tác, là cây thích hợp trong hệ thống luân canh cây trồng, góp phần cải tạo ñất canh tác tại ñịa phương ðại hội ðảng Bộ huyện Quảng Xương lần thức XXIV xác ñịnh: mục tiêu phát triển kinh tế giai ñoạn 2010- 2015 thì cây lạc vẫn là cây trồng ñược ưu tiên phát triển và là một trong những cây trồng cho thu nhập cao, góp phần xây dựng thành công những cánh ñồng có giá trị thu nhập cao trên một ñơn vị diện tích canh tác

ðể ñạt ñược mục tiêu ñó trong những năm tới cần tập trung vào một số

Trang 40

biện pháp như:

- Cần nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp như bón phân hợp lý, lựa chọn các giống lạc có năng suất cao, phù hợp với ñiều kiện sinh thái của ñịa phương, giống chống chịu sâu bệnh, bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp

và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới ñể nâng cao năng suất và sản lượng lạc

- Chuyển dịch dần cơ cấu cây trồng, chuyển ñổi một số diện tích ñất cao, hạn không chủ ñộng nước, từ trồng lúa kém hiệu quả sang trồng lạc Áp dụng kỹ thuật che phủ nilon, che phủ bằng vật chất hữu cơ và mở rộng diện tích trồng lạc trong vụ thu ñông, ñây là vụ có nhiều tiềm năng phát triển cả về diện tích và năng suất ở ñịa phương

Với ñiều kiện sinh thái thuận lợi và người dân chịu khó, cần cù lao ñộng sáng tạo kết hợp với kinh nghiệm ñược tích luỹ lâu ñời nhất ñịnh cây lạc

sẽ có chỗ ñứng xứng ñáng trong hệ thống cây trồng tại huyện Quảng Xương, góp phần thúc ñẩy nền nông nghiệp huyện nhà vững bước ñi lên trên con ñường hội nhập và phát triển

2.7 Kỹ thuật che phủ cho cây trồng và lạc

* Biện pháp che phủ bằng nilon

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của Nhật Bản, kỹ thuật che phủ nilon cho lạc ñã ñược ñưa vào nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1978, năm 1984, kết quả khảo nghiệm trên 16 tỉnh thành ñã cho năng suất bình quân từ 37- 45 tạ/ha Ước tính ñến năm 1995, diện tích trồng lạc có che phủ nilon ñã chiếm tới 80 – 90%, diện tích trồng lạc của tỉnh Sơn ðồng, ñã thực sự tạo ra cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc ở Trung Quốc (Sun Yanhao và Wang Caibin, 1995) [70] Ở Việt Nam, biện pháp này ñược Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm ñậu ñỗ tiến hành ñưa vào thử nghiệm từ năm 1996 Qua nhiều năm nghiên cứu kết quả cho thấy như sau:

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cây trồng chịu tác ñộng trực tiếp

Ngày đăng: 23/07/2021, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w