Giáo trình Trồng một số loài cây ăn quả trang bị cho người học những hiểu biết rất cơ bản về nhân giống, trồng và chăm sóc một số loài cây ăn quả phổ biến hiện nay (cây quýt, cây xoài, cây nhãn); những biện pháp kỹ thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản cây trồng cũng như những sản phẩm của cây trồng nhằm cho năng suất cao.
Trang 11
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY ĂN QUẢ
NGHỀ: TRỒNG TRỌT TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định sô: /QĐ-CĐLC ngày tháng năm
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)
Lào Cai, năm 2019
Trang 22
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nội bộ phục vụ công tác giảng dạy và đào tạo
hệ Trung cấp trồng trọt Các nội dung trong giáo trình có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích để đào tạo hệ Trung cấp trồng trọt và đào tạo nghề cho nông dân
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 33
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình “Kỹ thuật trồng một số loài cây ăn quả” là một trong số những giáo trình trong chương trình đào tạo hệ Trung cấp trồng trọt Giáo trình này trang bị cho học sinh những hiểu biết rất cơ bản về nhân giống, trồng và chăm sóc một số loài cây ăn quả phổ biến hiện nay (cây quýt, cây xoài, cây nhãn); những biện pháp kỹ thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản cây trồng cũng như những sản phẩm của cây trồng nhằm cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
Giáo trình còn trang bị thêm cho học sinh những kiến thức bổ ích về những vấn đề liên quan đến thời vụ, đất đai, khí hậu, giống cây trồng…, giúp các em ra trường có thể tham gia công tác ở các lĩnh vực Khuyến nông lâm, Bảo vệ thực vật, trồng trọt, chỉ đạo, quản lý sản xuất ở gia đình và địa phương
Bố cục của giáo trình gồm có 5 bài, bao gồm những kiến thức về lý thuyết và thực hành Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách tham khảo của các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan Tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi có những thiếu sót, chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc Xin chân thành cảm ơn./
Trang 4
4
MỤC LỤC
Bài 1: Bài mở đầu
1 Vai trò của cây ăn quả trong nền kinh tế quốc dân
2 Phương hướng phát triển cây ăn quả ở nước ta
Bài 2: Đặc điểm, sinh trưởng phát triển của cây ăn quả thân gỗ
1 Vòng đời cây ăn quả thân gỗ
2 Chu kỳ phát triển hàng năm
3 Đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ cây ăn quả thân gỗ
4 Đặc điểm sinh trưởng thân cành của cây ăn quả thân gỗ
5 Hiện tượng đa phôi và bất duch pr cây ăn quả
Bài 3: Nhân giống cây ăn quả
1 Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt
2 Nhân giống bằng phương pháp tách chồi, chia cây
3 Nhân giống bằng phương pháp giâm hom
4 Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
5 Nhân giống bằng phương pháp ghép
Bài 4: Quy hoạch và xây dựng vườn câu ăn quả
1 Ý nghĩa, mục đích
2 Xây dựng vườn ươm cây ăn quả
3 Quy hoạch vùng trồng cây ăn quả
4 Thiết kế vườn quả
Bài 5: Kỹ thuật trồng một số loài cây ăn quả
1 Trông cây xoài
1.1 Giời thiệu chung về cây xoài
1.1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây xoài
1.1.2 Yêu cầu sinh thái
1.1.3 Giống xoài có giá trị kinh tế được trồng ở nước ta
Trang 55
2.1 Giời thiệu chung về cây nhãn
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây nhãn
2.1.2 Yêu cầu sinh thái
2.1.3 Giống nhãn có giá trị kinh tế được trồng ở nước ta
2.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
2.2.1 Kỹ thuật trồng
2.2.2 Chăm sóc
2.3 Thu hoạch và bảo quản
3 Trồng cây Cam, quýt
3.1 Giời thiệu chung về cây cam quýt
3.1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây cam quýt
3.1.2 Yêu cầu sinh thái
3.1.3 Giống cam quýt có giá trị kinh tế được trồng ở nước ta
Trang 66
CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: Trồng một số loài cây ăn quả
Mã mô đun: MĐ 20
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:
- Vị trí: Trồng một số loài cây ăn quả là một trong những mô đun đạo tạo hệ Trung cấp trồng trọt Mô đun này có liên quan đến các kiến thức như: Nông lâm kết hợp, đất và dinh dưỡng cây trồng, quản lý dịch hại tổng hợp
- Tính chất: Trồng một số loài cây ăn quả là mô đun tích hợp bắt buộc Mô đun này trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng và kỹ năng về Nhân giống và trồng một
số loài cây ăn quả chủ yếu
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: Mô đun này có thể được sử dụng độc lập trong đào tạo hệ Trung cấp trồng trọt theo nhu cầu của người học
Mục tiêu mô đun:
- Về kiến thức: Trình bày những kiến thức về đặc điểm sinh trưởng của cây ăn quả thân
gỗ, xây dựng vườn cây ăn quả và các phương pháp nhân giống cây ăn quả chủ yếu như: chiết, ghép, giâm để chọn những cây trồng phù hợp với điều kiện thực tế
- Về kỹ năng: Thực hiện các công việc: Xác định thời vụ, nhân giống, làm đất, trồng cây ăn quả
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có khả năng học tập độc lập và biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn Mạnh dạn áp dụng khoa học mới vào sản xuất
và vận động người dân tham gia
Trang 77
BÀI 1: BÀI MỞ ĐẦU
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT
1 VAI TRÒ CỦA CÂY ĂN QUẢ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1 Ý NGHĨA VỀ MẶT DINH DƯỠNG
- Các loài quả là nguồn dinh dưỡng quí giá với con người mà các sản pẩm khác khó
có thể thay thế được Quả tươi cung cấp cho chúng ta không chỉ đường (năng lượng) mà còn cung cấp một phần lớn các vitamin và các chất khoáng cho sự phát triển cơ thể, đặc biệt với người cao tuổi, với trẻ nhỏ và những khi cơ thể suy nhược, ốm yếu Trong quả tươi có chứa hầu hết các vitamin A, B, C Đặc biệt vitamin C có ở hầu hết các loại quả
1.2 Ý NGHĨA VỀ MẶT XUẤT KHẨU
Quả tươi là mặt hàng nông sản độc đáo và quan trọng trong xuất khẩu nông sản ở nhiều nước árên thế giới Ở nước ta trong thời gian qua đã xuất khẩu cam, chuối, dứa, vải, xoài…Những năm gần đây hàng năm trị giá xuất khẩu rau quả cả nước đạt 70 – 75 triệu đôla chiếm 5 – 6% giá trị xuất khẩu nông sản toàn quốc
- Việc phát triển cây ăn quả cũng đồng thời thúc đẩy nền công nghiệp chế biếnphát triển, các nhà máy đồ hộp, sản xuất nước quả, bia, rượu mọc lên Bên cạnh đó các ngành khác như bao bì, thủy tinh, sành sứ cũng được phát triển theo, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động
1.3 Ý NGHĨA VỀ PHƯƠNG DIỆN Y HỌC, MỸ HỌC
- Ở các nước khu vực Đông Nam Á nhứ Trung Quốc, Việt Nam…cây ăn quả được đưa vào nhiều bài thuốc đông y cổ truyền để chữa bệnh, để bồi bổ sức khỏe cho con người
- Ngoài tác dụng trực tiếp làm thuốc chữa bệnh Cây ăn quả còn là những cây thường xanh quanh năm, tồn tại lâu dài trên một vị trí, nó có thể là cây tạo bóng mát hạn chế gió bão, giảm cường độ xói mòn, rửa trôi đất Là nguồn mật hoa quí cho nghề nuôi ong
2 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ Ở NƯỚC TA
2.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Khả năng phát triển cây ăn quả ở nước ta rất to lớn Thực trạng phát triển cây ăn quả nước ta mấy năm gần đây đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng hiện
có Vì vậy phương hướng phát triển cây ăn quả ở nước ta là: tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa phát triển cây ăn quả, vừa theo hướng thâm canh tăng năng suất cây trồng, vừa mở rộng diện tích cây ăn quả từng bước xây dựng và hoàn thiện những vùng sản xuất chuyên môn hoá có qui
mô lớn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của nhân dân, nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu ngày càng nhiều với chất lượng sản phẩm cao
Nhằm thực hiện phương châm trên cần thực hiện các biện pháp chủ yếu sau:
- Trên cơ sở lợi thế so sánh từng vùng, tiến hành qui hoạch, phát triển một cách hợp
lý các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung có qui mô lớn nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường
Trang 88
- Xây dựng cơ cấu sản xuất cây ăn quả hợp lý xuất phát từ nhu cầu thị trường, song lại phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế của từng vùng, từng địa phương nhằm sử dụng hiệu quả mọi tiềm năng của vùng và địa phương
- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện thâm canh có hiệu quả, xây dựng
và thực hiện qui trình thâm canh có từng loại cây ăn quả, song lại phù hợp với điều kiện từng địa phương
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ hiện đại để làm tốt các khâu vận chuyển bảo quản chế biến hoa quả, nhằm nâng cao chất lượng và giá trị của hoa quả trên thị trường
- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế phù hợp để thúc đẩy phát triển sản xuất cây ăn quả như: chính sách đất đai, chính sách vay vốn, thị trường đầu ra cho sản phẩm…
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHO PHÁT TRIỂN NGÀNH CÂY
ĂN QUẢ
2.2.1 Thuận lợi
- Nông dân Việt Nam đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, về thiết kế đồng ruộng, cải thiện đặc tính lý hóa đất, áp dụng các kỹ thuật để điều cây ra hoa…
- Quả là một loại nông phẩm có lợi tức cao, trong thời gian qua, diện tích vườn cây
ăn quả đã gia tăng nhanh chóng vì chúng thường đem lại lợi tức lớn hơn nhiều loại hoa màu khác
- Nước ta có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cả các loại cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới
- Nguồn giống phong phú: Chính phủ có nhiều giải pháp khuyến khích phát triển ngành trồng cây ăn quả, hỗ trợ nông dân về tín dụng, miễn giảm thuế trong thời gian đầu lập vườn
- Đã có các viện trưởng nghiên cứu giống, kỹ thuật sản xuất, chế biến quả để giải quyết đầu ra, xây dựng thương hiệu để xuất khẩu
2.2.2 Khó khăn
- Cây ăn quả lâu thu lợi: Phần lớn các cây ăn quả là cây lâu năm đa niên thường phải mất từ 3 tới 5 năm mới cho thu hoạch, như vậy thời kỳ kiến thiết vườn khá dài, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn Nhà vườn phải tính đến biện pháp xen canh, lấy ngắn nuôi dài
- Thị trường bấp bênh: Đầu ra của nhiều loại quả còn bị hạn chế và bấp bênh
- Công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế: Khâu hậu thu hoạch quả tươi chưa phát triển như: phân loại, làm sạch, đóng gói, tồn chữ, xử lý các đối tượng sâu bệnh sau thu hoạch như nấm bệnh trên quả, trứng ruồi đục quả Các nhà máy chế biến quả đã có nhưng chưa hoạt động hết công suất vì thiếu thị trường, vì kỹ thuật lạc hậu, giá nguyên liệu cao…
- Do thu mua ở nhiều vườn khác nhau nên chúng không đồng nhất, đây là một trở ngại khi xuất khẩu quả tươi
- Những vườn cây ăn quả cũ thường có những giống không tốt, cần phải cải thiện giống
Trang 9BÀI 2: ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĂN QUẢ
THÂN GỖ
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT
1 VÒNG ĐỜI CỦA CÂY ĂN QUẢ THÂN GỖ
Vòng đời của cây ăn quả tức là thời gian được kể từ khi trồng, trải qua quá trình sinh trưởng và phát triển khi cây già cỗi, chết hoặc thay thế, thời gian này rất khác nhau giữa các loài Người ta chia vòng đời của chúng ra các thời kỳ khác nhau, ở mỗi thời kỳ, cây có đặc điểm sinh trưởng phát triển riêng và đòi hỏi những biện pháp kỹ thuật khác nhau
Thường chia làm 3 thời kỳ
- Thời kỳ cây con
- Thời kỳ cho thu hoạch sản lượng
- Thời kỳ già cỗi
1.1 THỜI KỲ CÂY CON
Thời gian kể từ sau khi trồng đến khi cây bắt đầu bói quả, ta gọi thời kỳ cây con Thời kỳ này có thể kéo dài từ 3 – 5 năm, có khi tới 7 – 8 năm, tùy vào loài cây, hình thức nhân giống và mức độ chăm bón
Đặc điểm sinh trưởng chủ yếu của cây ở thời kỳ này là phát triển khung cành mạnh
mẽ để hình thành tán cây, một năm nó có thể ra 4 – 6 đợt lộc, đặc biệt vào thời gian có nhiệt
- Chú ý tỉa và tạo hình cho cây theo ý định ban đầu, không để cây mọc tùy tiện
Hai thái cực đều cần tránh ở thời kỳ này là:
- Quá thờ ơ, không chăm bón thâm canh làm cây còi cọc, lâu ra quả
- Quá nóng vội ăn quả, làm cho cây thiếu hụt dinh dưỡng, không ra được lộc, thân cành chậm phát triển
Cả hai trường hợp đó đều làm cây yếu ớt, còi cọc, sau này khó có thể phục hồi
Trang 1010
1.2 THỜI KỲ CHO THU HOẠCH SẢN PHẨM
Thời gian này dài ngắn tùy loài và tùy chế độ canh tác Thời kỳ này kéo dài từ sau
khi cây bói quả đến khi cây cho sản lượng tối đa rồi tiếp đến là suy giảm
Với các loài cây thân gỗ ở các nước ôn đới có thể kéo dài vài chục năm Ở các nước nhiệt đới do sâu bệnh nhiều, phần lớn là các loài có thời gian canh tác ngắn hơn Tuy nhiên
ở ta các cây vải, nhãn, hồng cũng có thể kéo dài vài chục năm
Đặc điểm sinh trưởng phát triển thời kỳ này là: vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa sinh trưởng sinh thực chỉ có 2 – 3 đợt lộc/ năm, cần đặc biệt quan tâm đến các đợt lộc có thể làm cho cành mẹ vụ quả năm sau để tránh mất mùa và ra quả cách năm
Biện pháp kỹ thuật cần chú ý là:
- Bón phân trả lại cho đất tùy theo
sản lượng quả lấy đi hàng năm, đặc biệt
chú ý thúc các đợt cành sẽ làm cành mẹ
cho vụ quả năm sau
- Chú ý biện pháp cắt tỉa, tạo tán
cho cây nhận đủ ánh sáng, giữ lại các
cành hữu hiệu, loại bỏ các cành vô ích
(cành sâu bệnh, cành vượt ) để ổn định
năng suất hàng năm
- Phòng trừ sâu bệnh hại, tưới
nước, trừ cỏ để giúp cây sinh trưởng tốt,
khống chế tỷ lệ cành hoa và cành dinh
dưỡng hợp lý, chú ý bồi dưỡng đợt cành
mẹ để ngăn chặn sự ra hoa cách năm
1.3 THỜI KỲ GIÀ CỖI
Là thời gian kể từ khi năng suất của cây bắt đầu suy giảm liên tục Thời kỳ này dài hay ngắn tùy thuộc vào chủ vườn
Đặc điểm của thời kỳ này là: Sinh trưởng của cây suy giảm, cành già yếu, sâu bệnh nhiều Cho nên số quả ra ít và quả nhỏ hơn, các đợt lộc giảm, chủ yếu chỉ còn lộc xuân, lộc hè
Biện pháp kỹ thuật:
- Nếu còn có ý tận thu, cần phải tỉa đau cho ra cành vượt để quả khá hơn
- Tăng cường bón phân và các biện pháp thâm canh khác để hỗ trợ cho quả phát triển, cho cành đỡ mỡ
- Nếu là giống quý, muốn vườn trẻ lại, ta có thể đốn đau chỉ để lại một đoạn thân chính 30 – 35cm, tăng cường bón phân, tưới nước, thúc các mầm ngủ mọc ra và giữ lại 2 –
3 mầm khỏe để thay thế cây mẹ Không thu hoạch quả một vài năm thân cành phát triển thành một bộ khung tán mới
Hình 2.1: Thời kỳ thu hoạch quả
Trang 1111
- Trường hợp vườn quả quá xấu, già cỗi, sâu bệnh nhiều thì có thể phá đi trồng lại sao cho hiệu quả kinh doanh có lợi nhất Chỉ cần chú ý luân canh và sử lý tàn dư sâu bệnh hại trước khi trồng mới
2 CHU KỲ PHÁT TRIỂN HÀNG NĂM
2.1 GIAI ĐOẠN RA LỘC
Thời gian : Hàng năm cây ăn quả thường ra các đợt lộc: lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông
Đặc điểm sinh trưởng các đợt lộc:
- Các đợt lộc tạo lên khung tán của cây
- Cần điêù chỉnh hợp lý các đợt lộc để không ảnh hưởng đến sự ra hoa và tạo quả
- Các đợt lộc có thể kế tiếp nhau hoặc cách quãng
Kỹ thuật áp dụng:
+ Tỉa cành, tạo tán, bồi dưỡng các cành hữu ích, loại bỏ các cành vô ích
+ Chú ý các đợt lộc xuân, lộc hè và lộc thu Khống chế lộc đông
2.2 GIAI ĐOẠN RA HOA
Thời gian :
- Thường vào vụ xuân (vải, nhãn,
cam quýt, hồng, xoài, mơ mận đào hoặc
các tháng khác trong năm: ổi, táo, doi,
khế
- Có loại có thể ra nhiều vụ hoa
trong năm
Đặc điểm thời kỳ ra hoa:
- Có nhiều loại hoa: đơn tính,
lưỡng tính, cùng cây, khác cây
- Hoa ra nhiều nhưng đậu quả ít Phụ
thuộc vào: đặc điểm giống, truyền phấn, thời
tiết
Kỹ thuật áp dụng:
- Tạo điều kiện cho cây ra hoa: cân đối sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực: tỉa bỏ hoa vô hiệu, dị hình
- Tạo điều kiện cho cây thụ phấn: truyền phấn, hạt phấn nẩy mầm, điều hoà không khí
- Phun chất ĐHST để hạn chế rụng hoa, tăng cường thụ phấn, thụ tinh
2.3 GIAI ĐOẠN MANG QUẢ
Thời gian : Dài ngắn tuỳ thuộc vào loài cây ăn quả: cam quít (6-10 tháng), vải nhãn (3-4 tháng) ổi, doi (2-3 tháng)
Đặc điểm thời kỳ mang quả:
Hình 2.2: Thời kỳ ra hoa của xoài
Trang 1212
- Hoa sau khi thụ phấn, thụ tinh sẽ hình thành lên quả và hạt (có thể không hạt)
- Quả thường hình thành nhiều, nhưng rụng dần Nguyên nhân:
+ Rụng quả sinh lý (yếu tố nội tại): thiếu dinh dưỡng, thiếu chất ĐHST
+ Rụng quả do yếu tố khách quan (gió bão, sâu bệnh, hạn hán )
- Có thể chia thành các giai đoạn nhỏ: quả non, quả lớn và quả chín
- Quả có thể ra ở đầu cành, thành chùm (vải, nhãn, xoài ) hoặc ra trên cành, thân: hồng, mơ, mận, đào, mít
Kỹ thuật áp dụng:
- Điều chỉnh số quả hợp lý: tỉa bỏ quả quá dày, quả khuyết tật
- Tạo điều kiện để quả không bị rụng: đảm bảo đủ dinh dưỡng, chất điều hòa sinh trưởng, phòng chống sâu bệnh, phòng chống gió bão
- Điều hoà lượng nước tưới để quả không bị rụng, nứt
- Thu hoạch quả đúng thời kỳ để đảm bảo chất lượng quả và không ảnh hưởng đến cây
2.4 GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH
Thời gian :
- Từ khi thu hoạch quả đến trước khi cây ra hoa vụ tiếp
- Dài ngắn tuỳ loại cây và kỹ thuật thu hái: cam quýt (1-4 tháng), vải nhãn (5-6 tháng) Đặc điểm thời kỳ sau thu hoạch quả:
- Cây bước vào gai đoạn phục hồi dinh dưỡng để chuẩn bị vụ quả năm sau
- Cây ra các đợt cành quan trọng trong năm: cành mẹ
- Cây phân hoá mầm hoa
- Cây ôn đới bước vào giai đoạn rụng lá
Kỹ thuật áp dụng:
- Tạo điều kiện để cây ra các đợt cành mẹ sớm và khoẻ
- Bón phân phục hồi sau khi thu hoạch quả
- Vệ sinh vườn: cắt tỉa cành bị sâu bệnh, quét vôi gốc cây
- Cắt tỉa cành sâu bệnh, tỉa tán cây
Rễ của cây ăn quả thân gỗ được chia làm 2 loại rễ ngang và rễ đứng
- Rễ ngang: với nhiều rễ tơ và lông hút, phân bố ở tầng đất 10-40 cm và lan xa theo hình chiếu của tán cây
Nhiệm vụ: hút các chất dinh dưỡng và nước cung cấp cho cây
Trang 1313
Sự phân bố của loại rễ này phụ thuộc vào: loại cây ăn quả và đất đai
- Rễ đứng: có thể rễ cọc hoặc rễ chùm, vuông góc với mặt đất Độ sâu tuỳ hình thức nhân giống, loại cây ăn quả và đất đai
Nhiệm vụ: hút nước và giữ vững cây trong đất
Chức năng của bộ rễ :
- Bộ rễ cây ăn quả có cấu tạo chủ yếu như các loại cây trồng khác:
+ Rễ chính mọc ra từ phôi hạt
+ Rễ phụ mọc ra từ các bộ phận khác nhau của cây
- Cơ chế hút nước và chất dinh dưỡng của bộ rễ như các thực vật khác
Một số loại cây ăn quả: vải, nhãn, mận, lê Ngoài lông hút còn có nấm cộng sinh: nấm hút nước và khoáng cho cây và cây cung cấp chất bột đường cho nấm
3.2 SỰ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ RỄ TRONG MỘT NĂM
Sự hoạt động của bộ rễ trong năm phụ thuộc vào:
- Nhiệt độ và ẩm độ đất
- Loài cây
- Qui luật hoạt động của bộ rễ có sự liên quan đến hoạt động của thân lá trên mặt đất: + Rễ và thân lá có thời gian hoạt động xen kẽ nhau: các đợt hoạt động của bộ rễ thường sớm hơn so với thân lá
+ Hàng năm rễ hoạt động mạnh vào 3 kỳ:
Tháng 2 - 3: cung cấp nước và dinh dưỡng cho cành vụ xuân
Tháng 4-5: cung cấp nước và dinh dưỡng cho cành vụ hè
Tháng 7-8: cung cấp nước và dinh dưỡng cho cành vụ thu
4 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG THÂN CÀNH CỦA CÂY ĂN QUẢ THÂN GỖ 4.1 SỰ TĂNG TRƯỞNG
Tăng trưởng chiều cao của cây quả phụ thuộc vào hoạt động của đỉnh sinh trưởng, các tăng trưởng về đường kính của thân cành phụ thuộc vào hoạt động của tượng tầng Pha đầu tiên của sự sinh trưởng bắt đầu có sự phồng lên của mầm, làm cho nó mở ra, cùng thời gian đó, ở đỉnh sinh trưởng bắt đầu phân chia tế bào tạo ra mô phân sinh Như thế là bắt đầu
có sự dài ra của mầm, sự sinh trưởng này mạnh hay yếu phụ thuộc vào sự hấp thụ dinh dưỡng và nước của cây cho nên pha đầu tiên này thường xảy ra bắt đầu vào mùa xuân Một chu kỳ sinh trưởng tiếp theo vào tháng 6 và chu kỳ sinh trưởng thứ 3 vào tháng 9 Quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cành và xuất hiện sớm hay muộn phụ thuộc vào yếu tố môi trường như: nhiệt độ, lượng mưa, dinh dưỡng của cây Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới thì
sự phân biệt này không rõ rệt lắm Cây thường xuyên ở trạng thái sinh trưởng, vì yếu tố nhiệt độ luôn luôn thỏa mãn, yếu tố hạn chế ở đây chỉ là thiếu ẩm độ do lượng mưa phân bố không đều
Tuy nhiên sự tăng trưởng chiều dài của cây ăn quả thường không như các cây khác Đỉnh sinh trưởng không phải cứ tăng trưởng liên tục mà thường có hiện tượng như tự hủy
Trang 1414
đỉnh sinh trưởng hay là hiện tượng ngủ Tức là sau một thời kỳ sinh trưởng, đỉnh sinh trưởng ngừng lại, các mầm bên phát triển và cứ như vậy làm cho tán cây sớm hình thành và thấp, thuận lợi cho việc quản lý chăm sóc, thu hoạch Song cũng có nhược điểm là cây dễ bị quá rậm rạp và là nơi chú ngụ của sâu bệnh Vì vậy hàng năm người ta phải cắt tỉa hợp lý để
cây đạt năng suất cao
4.2 QUY LUẬT RA CÀNH TRONG MỘT NĂM
Căn cứ vào chức năng của các loại cành người ta phân ra:
- Cảnh quả là cành trực tiếp mang quả
- Lộc hè: tháng 5,6,7: to, ít Là cành dinh dưỡng, cành vượt
- Lộc thu: tháng 8, 9, 10, 11: nhiều, dài trung bình Là cành mẹ và cành dinh dưỡng
- Lộc đông: 12, 1: ít, yếu Thường là cành vô hiệu
Chức năng của các loại cành cây ăn quả :
- Cành dinh dưỡng: quang hợp, thường ra ở các vụ trong năm
- Cành vượt: là 1 loại cành dinh dưỡng, thường ra vào vụ hè
- Cành vô hiệu: là cành dinh dưỡng thường ra vào vụ đông hoặc trong điều kiện thiếu sáng, thiếu dinh dưỡng
- Cành mẹ: sinh ra cành quả, thường là cành vụ thu hoặc vụ hè năm trước
- Cành quả: là cành trực tiếp mang quả Thời gian ra gắn liền với thời vụ ra hoa, ra quả
Sự phát triển của các loại cành trong một năm ta có thể thấy được sự ra hoa cách năm thể hiện khá rõ rệt ở cây ăn quả thân gỗ mà được ông cho ta đúc kết trong câu: "năm ăn quả, năm trả cành"
- Nguyên nhân: sự mất cân đối giữa cành dinh dưỡng và cành quả
- Biện pháp khắc phục hiện tượng ra quả cách năm
+ Cắt tỉa hợp lý để điều chỉnh số cành mẹ vụ thu tạo số cành qủa vụ xuân
+ Tỉa hoa, tỉa quả hợp lý để không ảnh hưởng đến dinh dương cây
+ Đầu tư phân bón hợp lý, cần bón bổ sung những năm cây nhiều quả
+ Phòng trừ sâu bệnh kịp thời để không là hại cành, lá trên cây
+ Khi thu hoạch không bẻ cành quá đau, ảnh hưởng tới các mầm hoa sẽ phân hoá trong năm sau
+ Thu hoạch sớm đối với các năm nhiều quả để cây sơm phục hồi cho vụ quả năm sau
Trang 15- Tạo cho cây có bộ khung tán hợp lý, vững chắc ổn định được mật độ, khoảng cách
- Loại bỏ các cành, lá vô hiệu, các đợt lộc không hiệu quả, cành bị sâu bệnh
- Điều chỉnh sinh trường và phát triển, hạn chế hiện tượng ra quả cách năm
- Tạo điều kiện cơ giới hoá và chăm sóc, thu hoạch
Nguyên tắc cắt tỉa:
- Thời kỳ KTCB lấy tỉa cành, tạo tán là chính
- Thời kỳ kinh doanh điều chỉnh cành dinh dưỡng và cành quả
- Thời kỳ già cỗi cần đốn đau, đốn trẻ lại để phục hồi hoặc cải tạo tán cây
- Thường xuyên cắt tỉa loại bỏ cành vô hiệu, cành sâu bệnh
- Kết hợp cắt tỉa và tạo tán cây
- Dụng cụ cắt tỉa phải chuyên dùng, vị trí cắt cành phải đúng
4.3.1 Tạo hình
- Thực hiện ở thời kỳ cây non
- Tiến hành sớm để cây không mất sức, hạn chế đốn đau
Kỹ thuật tạo hình:
- Nuôi dưỡng cây non sinh trưởng khoẻ cao 60-80cm thì bấm ngọn
- Chọn 3-4 cành cấp 1 trên thân chính cách nhau 15-20cn, phân bố đều ra các phía
- Khi cành cấp 1 dài 20-30cm tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2 Chọn để 3-5 cành cấp 2 trên cành cấp 1, phân bố đều
- Khi cành cấp 2 dài 20-25 cm thì bấm ngọn để tạo 3-4 cành cấp 3
- Giữ bộ khung tán với cành cấp 3,4 là cành dinh dưỡng để tạo quả sau này
4.3.2 Cắt tỉa tạo quả
- Thực hiện ở thời kỳ cây đã cho thu hoạch quả
- Tiến hành thường xuyên, nhưng tập trung vào các vụ: vụ xuân, hè, thu và đặc biệt là sau khi thu hoạch quả
- Cắt tỉa vụ xuân: Tiến hành trước khi cây ra hoa đến khi hoa nở: loại bỏ cành xuân kém, cành quả không lá, chùm hoa không lá, cành quả vô hiệu
- Cắt tỉa vụ hè: Tiến hành sau khi đợt lộc hè thứ nhất ổn định Cắt bỏ cành vượt, cành quá dài phá vỡ kết cấu tán
- Cắt tỉa vụ thu: Tiến hành kết hợp với tỉa cành, sửa tán sau thu hoạch quả Loại bỏ các cành thu quá nhiều, tập trung để 2-3 đợt cành thu tốt
- Cắt tỉa vụ tđông: loại bỏ toàn bộ cành đông vô hiệu
4.3.3 Đốn trẻ lại
Trang 1616
- Tiến hành khi cây đã già cỗi, cần tận thu thêm vài vụ hoặc cải tạo giống, thay giống
- Kỹ thuật đốn: cắt ngang gốc cây cách mặt đất 50-60 cm, bịt ngọn, quét vôi gốc, giữ 3-4 mầm ngủ mọc lên từ gốc to Tiến hành ghép lại thay giống hoặc tạo thành tán cây mới như đốn tạo hình
Sau khi đốn biện pháp kỹ thuật quan trọng là: Kết hợp bón phân và phòng trừ sâu bệnh hại để nhanh chóng tạo tán cây
5 HIỆN TƯỢNG ĐA PHÔI VÀ BẤT DỤC Ở CÂY ĂN QUẢ
5.1 HIỆN TƯỢNG ĐA PHÔI
Đa phôi là hiện tượng được tạo ra nhiều phôi trong một hạt
Trong cây ăn quả hiện tượng hình thành cơ thể mới, không thông qua thụ tinh người
ta gọi là hiện tượng trinh sản (kết quả trinh sản)
Trinh sản có thể phân ra mấy loại sau:
- Phôi phát triển từ tế bào trứng không thụ tinh
- Phôi được tạo thành từ trợ bào hay tế bào đối cực đã trải qua hoặc chưa trải qua phân bào giảm nhiễm
- Phát triển túi phôi từ tế bào dinh dưỡng (từ tế bào phôi tâm hay từ màng noãn)
- Phôi phát triển ngoài túi phôi, từ tế bào phôi tâm
Các phôi được hình thành từ con đường trinh sản gọi là phôi vô tính, thường mang tính di truyền đơn thuần của cơ thể mẹ, ít biến dị cho nên trong công tác nhân giống người
ta có thể sử dụng các phôi vô tính này để làm mắt ghép hoặc gieo hạt để phục tráng giống
Ngày nay, người ta có thể chủ động tạo ra các loài bất dục để phục vụ lợi ích cho con người bằng các biện pháp sau:
- Thụ phấn bằng phấn lạ hay phấn chết
- Sử dụng các chất kích thích sinh trưởng phun vào thời kỳ hoa nở
- Dùng phương pháp đa bội thể để tạo ra các dòng không hạt
Các loài bất dục, việc nhân giống chủ yếu bằng phương pháp nhân giống vô tính như: chiết ghép, giâm cành, giâm rễ
Trang 17Số lượng hạt tuỳ theo hạt mới hay cũ, số cây loại không đạt tiêu chuẩn
- Hạt cũ: số lượng thông thường gấp đôi số cây dự định sản xuất
- Hạt mới: số lượng gấp 3 lần hoặc hơn
+ Tro trấu hoặc hỗn hợp mụn xơ dừa,
cát hạt to, tro trấu và trấu mụt theo tỷ lệ
2:2:3:3 trộn sẵn trước khi gieo từ 1-2 tháng,
+ Cát xây dựng được rửa sạch và khử
trùng
- Khử trùng:
Dùng 1 lít Formol 40% pha với 10lít
nước tưới cho 1m3 giá thể có độ dầy 5-7 cm
Phủ kín lại sau 17 ngày sau có thể sử dụng giá
Hình 3.1: Giá thể gieo hạt
Trang 1818
Sự nẩy mầm của hạt cây có múi thường
mất khoảng từ 2 đến 8 hoặc 10 tuần Điều này
sẽ tạo sự cạnh tranh trong sự phát triển của rễ,
ánh sáng và dinh dưỡng đối với hạt nẩy mầm
sau
Hạt gieo trong khay: dưới đáy trải một
lớp sỏi dày 4-5cm, sau đó cho giá thể vào đầy
khay, không nén nhưng tưới nhẹ để làm ẩm
giá thể Nên gieo hạt theo từng hạt, mỗi hàng
cách nhau 8-10cm, hạt cách nhau 2-3 cm, sâu
1-2cm
Gieo trong túi PE: Chọn hạt mẩy, mỗi
bầu gieo một hạt, gieo sâu 1-2cm
1.3 CHĂM SÓC CÂY CON TRƯỚC VÀ SAU KHI NẨY MẦM
1.3.1 Trước khi nảy mầm
Chỉ cần đủ ẩm, không nên tưới vào chiều mát (dịch bệnh dễ phát triển)
Quan sát hạt nẩy mầm và điều chỉnh lượng nước tưới giai đoạn cây con
Kiểm tra côn trùng hại hạt nẩy mầm như kiến, dế
1.3.2 Sau khi nảy mầm
Tưới vừa đủ ẩm để giúp hạt nẩy mầm
tốt Dùng thùng tưới vòi sen có tia nhỏ để tránh
hạt bị nước xói Khi có 50-70% cây con lên thì
giở lưới giảm nắng dần Cây có 2 lá thật dùng
ure pha loãng (0,5%) tưới đểu lên cây mỗi tuần
một lần lúc chiều mát, sáng hôm sau tưới lại
bằng nước sạch
- Lưu ý:
+ Ngăn ngừa chuột, dế ăn hạt, cây con
+ Ngăn ngừa thối cổ rễ ở cây con
1.4 RA NGÔI CÂY CON
Cấy hai lần: sau khi gieo khoảng 8 tuần,
chọn cây tốt cấy vào bầu loại nhỏ Loại bỏ các
cây có hình dạng sau:
- Hình dáng, chiều cao cây, lá, gai không bình thường
- Có rễ uốn cong hoặc bị xoắn, rễ cọc không bình thường
- Có dấu hiệu dịch hại ở rễ, thân, lá
- Thân cây không thẳng, có vết tích ở vỏ, thân, lá
Cấy cây vào bầu theo trình tự sau:
Hình 3.2: Gieo hạt trong khay
Hình 3.3: Cây sau khi nẩy mầm
Trang 1919
+ Nhổ cây lên khỏi khay
+ Cắt ngắn các rễ còn 5-6 cm
+ Đặt rễ xuống lỗ soi sẵn trong bầu, lỗ sâu 7-8cm
+ Lấp và ém giá thể lại rồi kéo nhẹ lên một chút để giúp rễ không bị cong
+ Dùng bình phun nước giữ lá ướt trong 1 đến 2 ngày
Sau khi cấy 3-4 tháng, cây được cấy chuyền qua bầu ươm lớn 3,5-4,5 lít Lần cấy này ngoài các tiêu chuẩn chọn lựa trên, còn phải bỏ các cây kém phát triển.Gốc ghép là chanh Volkamer khoảng 6-8 tháng sau khi gieo hạt là cò thể ghép được, lúc này đường kính gốc ghép 6-8mm tại nơi ghép
Cấy một lần: Chọn cây con như cách trên rồi cấy vào bầu ươm lớn 3,5-4,5 lít và
chăm sóc cho đến khi ghép
1.5 CHĂM SÓC CÂY CON NGOÀI VƯỜN ƯƠM
1.5.1 Bón phân
Trong vườn ươm(nhà lưới) chia 2 giai đoạn:
+Bón căn bản: việc này được thực hiện khi phối hợp giá thể và hoàn tất trước khi sử dụng 1-2 tháng Mỗi m3 giá thể được trộn đều với:
- 2,65- 10 kg phân super lân
- 1 kg vôi
- 2 kg dolomite
- 250 g magiê, 80gFe, 60g Mn, 60gZn, 25g Cu
Có thể phối hợp thêm cho mỗi m3 giá thể phân chứa N, K + Bón bổ sung: bón 1 tuần
1 lần hoặc 2 tuần 1 lần
1.5.2 Tưới nước : Không tưới nhiều, nước đảm bảo chất lượng, khử trùng nguồn
nước tránh các loại nấm bệnh
1.5.3 Kiểm tra sâu bệnh
Dịch hại: quan sát thường xuyên, nhện, bọ trỉ, loét, hiện tượng thối rễ, rệp sáp
1.6 ƯU, KHUYẾT ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP GIEO HẠT
1.6.1 Ưu điểm
- Dễ làm, ít tốn kém
- Hệ số nhân giống cao
- Cây có bộ rễ cọc, thích hợp vùng có mực thuỷ cấp cao, gió mạnh
- Cây con không mang những bệnh virus do cây mẹ truyền sang (các bệnh do virus thường không truyền qua hạt)
1.6.2 Nhược điểm
- Cây có nhiều gai
- Thời gian sinh trưởng dài hơn cây chiết hoặc cây ghép và cây có kích thước lớn
- Cây con không mang những đặc tính giống cây mẹ ban đầu
Trang 2020
Do một số giống cây có múi thuộc nhóm hạt đơn phôi và lại là phôi hợp tử, nên cây con không giống cây mẹ ban đầu Hơn nữa có giống cho trái không hạt hoặc rất ít hạt Vì vậy, việc sản xuất cây con bằng hạt rất khó khăn Do đó, việc trồng cây có múi bằng hạt hiện nay trở nên hạn chế và cũng không nên lập vườn trồng cây bằng cây giống gieo bằng hạt nhằm kinh doanh vì rất khó tiêu thụ
Tuy nhiên, việc sản xuất cây có múi bằng gieo hạt hiện nay rất cần vì sử dụng làm gốc ghép
2 NHÂN GIÓNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁCH CHỒI, CHIA CÂY (Áp dụng đối với cây chuối và cây dứa)
2.1 KHÁI NIỆM
Là phương pháp nhân giống vô tính tự
nhiên, lợi dụng khả năng tự phân chia của
các cơ quan sinh dưỡng, cùng với sự hình
thành các cơ quan mới của cây trồng, tạo
thành một cơ thể mới có khả năng sống độc
lập Việc tách chồi, chia cây thường áp dụng
đối với một số cây ăn quả thuộc lớp đơn tử
diệp (chuối, dứa)
2.1 ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA
PHƯƠNG PHÁP TÁCH CHỒI, CHIA
CÂY
2.1.1 Ưu điểm
- Dễ làm, áp dụng được ở mọi nơi, là
phương pháp cổ truyền mà nhân dân ta vẫn
thường sử dụng đối với chuối, dứa
- Cây giống mang những đặc tính của cây mẹ vì đây là phương pháp nhân giống vô tính
- Cây nhanh ra quả vì ta có thể chọn những chồi to, tốt để trồng
2.1.2 Nhược điểm
- Hệ số nhân giống không cao
- Vườn cây không đồng đều do sức sinh trưởng của các chồi khác nhau
- Có thể gây hại cho cây mẹ nếu khi tách chồi gây những vết thương lớn
2.2 KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG
- Khi tách chồi, chia cây ta phải chọn thời điểm cho thích hợp để không làm cây mẹ
bị ảnh hưởng, thông thường việc tách chồi thường tiến hành sau khi thu hoạch quả của cây
mẹ
- Chỉ tách những chồi đã thành thục để trồng ra sản xuất (chồi nách ở dứa, chồi đuôi chiên ở chuối ) những chồi còn nhỏ, yếu chưa đạt tiêu chuẩn (chồi cuống, chồi đỉnh ở cây
Hình 3.4: Tách chồi dứa
Trang 21+ Chồi loại 3: nhỏ hơn 200g
* Đối với chuối: Sự phân loại chồi chuối nên căn cứ vào đường kính của thân cây và
số lá hiện có của chồi để chọn các cây giống đồng đều trồng trong cùng lô nhằm chăm sóc
và thu hoạch cùng một thời điểm, thuận lợi
3 NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM (Áp dụng đối với thanh long)
3.1 KHÁI NIỆM GIÂM HOM
Là phương pháp cắt rời một phần thân
cây như cành, rễ hoặc lá, đặt trong môi
trường thích hợp để tạo ra rễ, chồi mới, hình
thành cây con sống độc lập và mang những
đặc điểm giống cây mẹ
PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
3.2.1 Ưu điểm
- Cây đồng đều, cho nhiều cây con,
nhanh
- Cây không phân ly, có đặc điểm
giống cây mẹ, nhanh cho trái
- Nhân được các cây không có hạt
Trang 2222
- Cành giâm cắt từ cây gốc ghép Chọn gốc ghép xanh tốt, khỏe mạnh, đồng đều và nhất là phải đúng giống
- Cành giâm là các giống cây có múi phải cây đầu dòng sạch bệnh:
Chọn cây đầu dòng để nhân giống:
- Cây đầu dòng sử dụng nhân giống phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh và côn trùng nguy hiểm Cây đầu dòng dùng để lấy cành không nên sử dụng để khai thác trái, vì làm như vậy cây sẽ kiệt sức rất mau
- Cành được sử dụng để giâm có thể lấy ở hai dạng cành là cành ngang và cành đứng (cành vượt) Cành ngang chỉ lấy từ ngọn vào bên trong khoảng 20-25 cm ở giai đoạn cây không ra hoa Cành vượt có thể lấy từ ngọn vào trong 40-50 cm, cây con từ cành này có sức sống mạnh Cành giâm nên được thu lúc sáng sớm, trong tình trạng trương nước Có thể trữ cành trong các bao plastic lớn, phun nước bên trong và cột miệng bao để tránh mất nước
- Để bao trong mát, tránh ánh sáng làm nhiệt độ bên trong bao tăng cao Chiều dài cành giâm khoảng 15-20cm Tỉa bớt lá dưới đáy cành, giữ lại 5-7 lá Cắt bớt 1/2 của chiều dài lá để giảm thoát hơi nước Vạt xéo đáy cành 1 góc 45 độ, dùng dao rạch vài đường ở đáy cành để tạo mô sẹo, kích thích sự ra rễ
- Khay cao 20-25cm hoặc bao PE nhỏ đường kính 8cm, cao 10cm, Bầu ươm màu đen, đườmg kính 13-14cm, cao 25-30cm, Dao, kéo sắc bén
- Nước Javel 12 0 chlor
- Chất kích thích ra rễ 0,1%
- Giá thể cho giâm cành: dùng loại giá thể gieo hạt nếu giâm cành trong bầu PE nhỏ, hoặc là giá thể bầu ươm nếu bầu lớn (giá thể bầu ươm gồm: mụn xơ dừa + Cát thô đường kính hạt 1-2mm + tro trấu+ trấu mục theo tỷ lệ 2:2:3:3)
3.3.2 Chuẩn bị phương tiện
- Nhà lưới hai cửa có che lưới giảm 50-80% ánh nắng, có hệ thống phun sương tạo
ẩm Nền phải thoát nước tốt và đã tiệt trùng
- Nhà màng làm bằng nhựa PE loại trong, nhà có chiều cao từ 1,5-1,7m, rộng không quá 10m2 Nhà màng đặt trong nhà lưới 2 cửa
3.4 THỰC HIỆN CÁC BƯỚC GIÂM CÀNH
Bước1: Chuẩn bị sẵn các vật liệu:
- Môi trường đã xử lý
- Khay hoặc bầu nilon
Bước 2: Cắt cành theo đúng yêu cầu
Có 2 loại cành cành ngắn và cành dài
+ Giâm cành ngắn: dài 7 - 8cm, đường kính khoảng 5-7mm, vỏ màu xám hoặc màu xanh đậm sắp chuyển sang xám Lá duy nhất giữ lại nên cắt bỏ ½ chiều dài Cắt ngang hoặc vạt xéo hai bên gốc cành nhưng không tạo thành hình nêm nhọn
Sau giâm khoảng 2 tháng chọn giữ lại những cành giâm có 7-10 rễ ở đều 4 phía rồi cấy vào bầu lớn
Trang 23Bước 3:
Nhúng gốc cành giâm sâu 1 cm vào dung dịch chất kích thích ra rễ NAA pha nồng
độ 1.500 ppm trong thời gian 2-3 giây
Bước 4: Giâm cành
Cắm vào giá thể sâu 2-3 cm khoảng cách 15x15 cm rồi nén chặt gốc cho khỏi đổ ngã Đối với cành dài: Chuẩn bị gốc cành giâm và nhúng vào dung dịch ra rễ như cành giâm ngắn, sau đó đem cành giâm trong bầu ươm lớn, sâu khoảng 3-4cm
Chú ý từ lúc cắt cành cho đến lúc đưa vào nhà màng phải giữ lá cành luôn ẩm ướt và nhà màng phải kín để ẩm độ bên trong ổn định
3.5 CHĂM SÓC SAU KHI GIÂM
Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng nhiều
đến tỷ lệ ra rễ, sức sống và tỷ lệ chết của
cành giâm Nhiệt độ trong môi trường tốt
nhất khoảng 300C Nhiệt độ cao làm cho lá
cành giâm trở nên vàng và rụng
Sự hiện diện của lá còn trên cành ảnh
hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của cành giâm
Ẩm độ của nơi giâm cành phải được
duy trì ở mức 85-90% trong suốt thời gian
giâm cành Ánh sáng không quá cao, nên sử
dụng ánh sáng khuếch tán trong khoảng
1.000 - 2.000lux
Tốt nhất, là để trong nhà có mái che,
không có ánh sáng trực tiếp chiếu vào Nên áp dụng chế độ phun sương theo thời gian mỗi lần phun kéo dài 10-15 giây
- Tuần đầu: các lần phun sương cách nhau 10 phút
- Tuần thứ 2: cách nhau 20 phút
- Tuẩn thứ 3: cách nhau 30 phút
Cành sẽ đâm chồi sau 15 ngày
- Tuần thứ 4: khử các chồi mọc ở nách lá, chỉ giữ lại một chồi ở cuối ngọn cành
Hình 3.6: Hom Thanh long giâm 2 tuần
Trang 2424
- Tuần thứ 5, thứ 6 chuyển cây ra khỏi nhà màng và đưa sang nhà lưới, chăm sóc bình thường
- Tưới nước: Chỉ cần tưới đủ ẩm cho cây
Duy trì chế độ bón phân 2 tuần một lần với lượng từ 1kg/2000 cây lúc nhỏ, tăng dần đến 1kg/200cây khi lớn Có thể sử dụng N,P,K 20-20-15 hoặc 20-10-10
Thời gian ra rễ của cành giâm tùy vào sức sống của cành Nếu chọn cành khỏe mạnh
và đồng nhất về kiểu cành thì thời gian ra rễ khoảng 45-50 ngày và tỷ lệ ra rễ đạt khoảng 60-65% Sử dụng cành trung bình thì thời gian ra rễ dài hơn ( 60- 85 ngày) và tỷ lệ ra rễ chỉ khoảng 50% Cành giâm sau khi ra rễ được cấy vào trong các bầu plastic có chứa thành phần đất, mụn xơ dừa và phân chuồng hoai
Cây con vào bầu được để nơi thoáng mát và tưới nước thường xuyên
Mỗi ngày tưới 4 lần, sáng 2 lần, chiều 2 lần Sau 1 tuần bắt đầu tưới thêm phân DAP Ngâm phân DAP vào thùng nước lượng 2g/1lít, tưới vào bầu đất mỗi tuần một lần cho đến khi cành giâm ra lá mới
4 NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT CÀNH (Áp dụng đối với cây Xoài, Mận, Nhãn, Vải và các loại cây có múi)
4.1 THỜI VỤ CHIẾT CÀNH
Trong năm có thể chiết hai vụ chính là vụ thu và vụ xuân
- Vụ xuân chiết vào tháng 2 - 4 để lấy cây chiết trồng vào vụ thu tháng 7 - 8
- Vụ thu chiết vào tháng 8 - 10 để lấy cây chiết vào vụ xuân
Trong thời vụ chiết nên chọn lúc cây ngừng sinh trưởng lá non, lộc non Vì khi đó cây đang tập chung dinh dưỡng cho ra lộc và lá non nên không vân chuyển cho ra rễ
Tuy nhiên cũng có cây có thể chiết được quanh năm vì chúng có khả năng ra rễ mạnh như: cam, quýt…
Chú ý có một số cây nhựa mủ như hồng xiêm, trứng gà, vú sữa …có thể chiết vào tháng 12, 1, 2 khi đó cây ít nhựa
4.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ ĐỐI TƯỢNG CHIẾT CÀNH
4.2.1 Cơ sở khoa học
Trong cơ thể thực vật thân gỗ luôn luôn có hai dòng năng lượng vận chuyển: Dòng dinh dưỡng khoáng đi từ rễ lên lá được gọi là dòng nhựa nguyên, dòng năng lượng được tổng hợp thông qua quá trình quang hợp sẽ từ lá chuyển xuống rễ thông qua mạch libe được gọi là dòng nhựa luyện
Khi tiến hành chiết cành, thao tác khoanh vỏ cây và cạo phần libe sẽ làm tắc dòng nhựa luyện Vết cắt sẽ hình thành nên các mô sẹo
Các chất kích thích sinh trưởng tự nhiên (Auxin) tập trung nhiều ở phần non trong cây sẽ chuyển dần xuống dưới và lắng đọng ở mô sẹo, kích thích cho mô sẹo ra rễ
4.2.2 Đối tượng chiết cành
Áp dụng phổ biến đối với cây ăn quả, cây cảnh thân gỗ
Trang 2525
- Cây có nhựa mủ ( hồng xiêm, mít, xoài ) chiết trong thời kỳ ngừng sinh trưởng Thường áp dụng một số biện pháp hạn chế sự tích lũy nhựa mủ phía trên cành chiết: Cạo nhẹ hoặc không cạo tượng tầng
- Cây không có nhựa mủ (vải, mơ, mận, ổi, chanh, cam ) chiết trong thời kỳ sinh trưởng mạnh áp dụng biện pháp tích luỹ chất dinh dưỡng phía trên cành chiết, cạo sạch tượng tầng
* Chú ý: Chiết cành trong điều kiện thời tiết không mưa
4.3 KỸ THUẬT CHIẾT CÀNH
4.3.1 Ưu điểm của phương pháp chiết cành
- Sớm cho thu hoạch sau khi trồng
- Duy trì được các đặc tính tốt của cây mẹ
- Dễ áp dụng cho nhiều loài cây
- Thời gian tạo cây giống nhanh
- Ngoài ra cây trồng bằng chiết còn có một số ưu điểm khác như: Cây thấp, tán cây gọn, phân cành đều trong không gian thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch
4.3.2 Nhược điểm của phương pháp chiết cành
- Hệ số nhân giống thấp Nếu chiết nhiều cành trên cùng một cây sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây mẹ, đồng thời tốn công, giá thành cao
- Bộ rễ kém phát triển theo chiều sâu mà phát triển mạnh về chiều ngang nên cây dễ
bị đổ do gió, bão
- Tuổi thọ tự nhiên ngắn, nhanh thoái hoá giống
- Khả năng chống chịu bệnh và sinh trưởng kém nơi đất khô và địa hình dốc
* Các hình thức chiết
- Chiết cành bằng biện pháp uốn vít cành
- Chiết cành trên khoảng không
* Sơ đồ trình tự các bước nhân giống cây bằng phương pháp chiết cành
4.3.3 Chuẩn bị dụng cụ, nguyên liệu và hỗn hợp bó bầu
Chuẩn bị
hỗn hợp bó
bầu
Chọn và vệ sinh cành chiết
Khoanh, bóc vỏ
Bó bầu
Chăm sóc cành
giâm
Giâm cành chiết
Cắt cành chiết
Trang 2626
4.3.3.1 Chuẩn bị dụng cụ
- Kéo cắt cành, dao chiết, kìm bóc vỏ, khay đựng dụng cụ, cưa cắt cành
4.3.3.2 Nguyên vật liệu
- Nilon trắng 25 x 30cm, lạt buộc dài 20 - 25cm mềm
- Hỗn hợp đất bó bầu ( đất bùn ao phơi khô đập nhỏ, rơm mục, phân hữu cơ, nước) * Chất kích thích ra rễ như NAA (α- Naphtyl axetic axit), IBA – Idol butyric axit, IAA – Idol axetic axit
4.3.3.3 Chuẩn bị hỗn hợp bó bầu
* Thành phần hỗn hợp
Là hỗn hợp sẽ bó vào chỗ chiết cành Nếu đủ dinh dưỡng thì rễ của cành chiết sẽ ra nhanh và nhiều, cành chiết nhanh chóng được hạ bầu Vì vậy chất độn phải đảm bảo 3 yêu cầu sau:
vào đất bầu hoặc bôi lên cành chiết Cách kiểm
tra độ ẩm là: Nắm hỗn hợp trong tay khi buông
tay ra thấy có vết ngón tay trên nắm hỗn hợp,
nhưng không chảy nước ra kẽ tay Hoặc bằng
cách vê con giun nhưng khi cuộn tròn lại con giun không gẫy Sau đó nặn chất độn thành các khối hình cầu có đường kính 6 - 8 cm, dài 12 - 15cm
* Chú ý: Không lấy đất thịt nặng vì khi bầu chiết khô sẽ bị cứng, rễ không phát triển được
Nhưng nếu đất cát thì rời rạc và không có khả năng giữ nước, bầu dễ vỡ khi hạ bầu
4.3.4 Chọn và vệ sinh cành chiết
- Không nên chọn những cành quá già hoặc quá non (cành già quá thì tượng tầng đã
hoá gỗ, cành non quá thì hệ rễ nguyên thuỷ chưa hình thành, khó ra rễ)
- Vệ sinh cành chiết: dùng kéo bấm những cành tăm gần vị trí khoanh vỏ để không
ảnh hưởng đến thao tác khoanh vỏ
* Chú ý:
- Không nên chiết những cành vượt, loại cành này lâu cho quả, quả ít và thô Cũng không chiết cành la vì loại cành này yếu, rễ mọc kém Không chiết cành nhỏ vì phát triển chậm, cành to quá thì nhanh nhưng hại cây mẹ
Hình 3.7: Hỗn hợp bó bầu
Trang 27- Dùng kéo vệ sinh cành chiết
- Dùng dao sắc khoanh một vòng tròn cắt đứt phần vỏ cây
- Chiều dài khoanh vỏ gấp 1,5 - 2 lần đường kính cành chiết
Chú ý :
- Khi khoanh vỏ không phạm vào phần gỗ
- Không nên để chiều dài đoạn khoanh vỏ lớn quá hoặc nhỏ quá
4.3.5.3 Bóc vỏ
- Dùng mũi dao rạch một đường
dọc theo chiều dài của đoạn khoanh vỏ,
tách lớp vỏ đã khoanh
- Nếu cây không có nhựa mủ như
chanh, ổi, vải, nhãn phải dùng giẻ sạch
hoặc quay sống dao cạo sạch tượng tầng
- Nếu cây có nhựa mủ như mít,
xoài, hồng xiêm cạo nhẹ hoặc không
cạo tượng tầng rồi để ráo nhựa 2 - 10 ngày
tuỳ theo thời tiết
- Dùng mũi dao rạch một đường
dọc theo chiều dài của đoạn khoanh vỏ,
tách lớp vỏ đã khoanh
- Nếu cây không có nhựa mủ như
chanh, ổi, vải, nhãn phải dùng giẻ sạch
hoặc quay sống dao cạo sạch tượng tầng
Hình 3.8: Khoanh, bóc vỏ
- Nếu cây có nhựa mủ như mít, xoài, hồng xiêm cạo nhẹ hoặc không cạo tượng tầng rồi để ráo nhựa 2 - 10 ngày tuỳ theo thời tiết
Bảng 3.1: Thời vụ chiết và thời gian để ngỏ sau khi khoanh vỏ của một số loài cây
TT Loài cây Thời vụ chiết Thời gian để ngỏ sau
khi khoanh vỏ
1 Hồng xiêm Sau đông chí 1 tuần 7 – 10 ngày
2 Vải thiều Tháng 3 – 4 và 8 - 9 4 – 7 ngày
3 Nhãn Tháng 3 – 4 và T10 4 – 7 ngày
Trang 28- Kéo nilon trùm lên hỗn hợp sao cho chỗ nối giữa 2 đầu của mảnh nilon ở phía dưới
để nước mưa không vào trong hỗn hợp bầu
- Khi bó bầu xong kích thước của bầu thường: rộng 8 - 10cm, dài 12-15cm
- Nếu cành chiết ở sát mặt đất, gỗ thuộc loại mềm dễ uốn thì có thể dùng cọc có móc
để hãm cành không bật lên, dùng hỗn hợp bó bầu để đắp kín vị trí đã chiết
4.3.7 Buộc giấy nilon
- Chia chiều dọc của mảnh giấy nilon làm 3 phần, gập 2 đầu chồng lên nhau khoảng 1/2 đến 2/3 chiều dọc mảnh giấy, mảnh ngoài quay xuống phía dưới
- Buộc giấy nilon thật chặt ở đầu trên của vết khoanh vỏ để nước không vào trong bầu
Hình 3.9: Đắp hỗn hợp Hình 3.10: Buộc giấy nilon
Trang 29- Cắt cành chiết xong có thể trồng ngay nếu đúng thời vụ hoặc đối với những loài cây
dễ sống như chanh, ổi Nếu không đúng thời vụ trồng thì phải giâm cho rễ hoàn thiện mới đem trồng
4.3.8.2 Giâm cành chiết
a Giâm cành chiết vào bầu
- Cành chiết sau khi cắt xuống phải cắt bớt lá, tháo bỏ giấy nilon
- Giâm vào bầu đan bằng tre nứa hoặc túi nilon, kích thước 25 x 30cm, hỗn hợp bầu gồm đất bùn ao phơi khô đập nhỏ 80%, phân chuồng hoai 20%, ngoài ra có thêm trấu, mùn cưa hoặc sơ dừa
- Để cành giâm dưới tán cây to hoặc làm dàn che nắng cho cành giâm
b Giâm cành chiết vào cát ẩm
- Giâm cành chiết vào cát ẩm: Độ ẩm của cát khoảng 70%
- Hỗn hợp đắp thêm thường dùng đất bùn ao phơi khô đập nhỏ 80%, phân chuồng hoai 20%, độ ẩm của hỗn hợp 60%, dùng rơm rạ bọc bên ngoài
c Chăm sóc cành giâm
- Hàng ngày tưới ẩm đến khi rễ hoàn thiện mới đem trồng
- Sau khi giâm được 2 tuần thì tưới nước phân chuồng pha loãng cứ 1 tuần/ lần
- Làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh hại, đến thời vụ chọn những cây xanh tốt, không sâu bệnh đem trồng
5 NHÂN GIỐNG CÂY ĂN QUẢ BẰNG PHƯƠNG PHÁP GHÉP (Áp dụng đối với cây Nhãn, Vải, Xoài, Mận, Các loại cây có múi)
Muốn mối ghép thành công cần đảm bảo các điều kiện sau:
- Gốc ghép và cành ghép, mắt ghép phải có quan hệ họ hàng, tốt nhất là trong cùng chi của thang phân loại thực vật
- Gốc ghép và cành ghép, mắt ghép phải sống
- Tượng tầng của cành ghép, mắt ghép và gốc ghép càng tiếp xúc nhiều càng tốt
5.2.1 Ưu điểm
Trang 3030
- Giữ được hầu hết các tính trạng của cây mẹ
- Hệ số nhân giống cao, cây có tuổi thọ dài
- Có khả năng thay đổi giống mà không cần phải trồng mới hoặc cứu chữa các bộ phận bị hỏng
- Khai thác được các ưu điểm của cây làm gốc ghép
- Có thể sử dụng trong công tác lai giống
- Thường là mùa xuân và mùa thu
- Trong mùa sinh trưởng của cây chọn tháng có ẩm độ cao và nhiệt độ mát mẻ để ta ghép
- Ghép tháng 3 - 5 đối với cam, quýt, vải, nhãn, xoài, na, hoa trà, hoa giấy, hoa sứ…
- Ghép vụ thu đối với hồng, cam, quýt, vải, nhãn, xoài…
5.3.1.2 Đối tượng áp dụng: Là những loài cây ăn quả thân gỗ phổ biến như : Vải,
nhãn, xoài, hồng, cam quýt…hay những loài cây rừng như; trám, sấu
* Sơ đồ trình tự các bước nhân giống cây bằng phương pháp ghép nêm
Đặt đoạn cành ghép vào gốc ghép
Trang 3131
- Tiêu chuẩn gốc ghép đối với cây ăn quả: Cây con nuôi dưỡng trong bầu, có kích thước: đường kính đáy 10 - 12cm, chiều cao bầu 14 - 18cm, chiều cao cây khoảng 80 - 100cm, đường kính chỗ ghép 0,8 - 1,5cm
- Muốn cây sinh trưởng tốt, nhanh có gốc ghép thì hỗn hợp ruột bầu nên có: 10 - 15kg supe lân + 200kg phân chuồng hoai + 1kg vôi bột/1000 cây
- Trước khi ghép khoảng 1 tuần bón nước phân chuồng pha loãng hoặc 0,3% phân tổng hợp NPK
- Giữ cho các lá thật tồn tại trên cây đến khi ghép
b Cắt cành ghép
* Chọn cây mẹ: Cây mẹ là những cây ưu trội được sinh trưởng và phát triển khoẻ,
không sâu bệnh, năng suất cao và ổn định (đã cho thu hoạch quả từ 3 năm trở lên), chất lượng quả ngon
* Chọn cành lấy mắt ghép: Chọn những cành có cuống lá mập, không quá thưa hoặc
quá dày, mầm mẩy
Chú ý: Lựa chọn cành lấy mắt ghép một số loài cây
+ Đối với nhãn chọn cành có mắt thức
+ Đối với vải chọn cành có mắt hạt gạo
+ Đối với xoài chọn cành có mắt ngủ
+ Đối với hồng chọn cành có mắt vừa nhủ lên, cành xanh chuyển sang màu nâu tươi
+ Đối với táo chọn cành có mắt ngủ
* Bảo quản cành lấy mắt ghép
Sau khi cắt cành ra khỏi cây mẹ phải cắt bỏ hết lá rồi bảo quản mắt ghép theo các cách sau:
- Rửa sạch những lá vừa cắt, vẩy ráo hết nước, xếp lá và cành ghép theo lớp hoặc dùng khăn mặt ẩm phủ lên
- Chỉ nhúng gốc cành vào nước 3 - 5cm rồi phủ khăn ẩm lên Thường cắt cành từ chiều hôm trước để ghép vào sáng hôm sau Nếu phải vận chuyển cành ghép đi xa không nên để cành ghép quá 3 ngày
Chú ý: Tuyệt đối không được ngâm cành ngập trong nước
Trang 3232
Chú ý: Tay cầm dao thoải mái
- Cắt ngọn của cành ghép
- Lấy ngón tay trỏ của tay không thuận
làm điểm tỳ cùng với ngón tay cái giữ chặt
- Ngón tay trỏ của tay thuận giữ thân cây làm cữ
- Dùng lực của ngón tay cái không thuận ấn mạnh để chẻ gốc ghép, chiều dài của gốc
ghép tương ứng với chiều dài của cành ghép
* Đặt cành ghép vào gốc ghép
- Đặt vết cắt của cành ghép vào phần còn lại nhiều của mặt bổ dọc gốc ghép sao cho tượng tầng của cành ghép và gốc ghép trùng khít nhau
- Nếu đường kính của cành ghép và gốc ghép không bằng nhau thì đặt cành ghép sao
cho tượng tầng của cành ghép và gốc ghép trùng khít một bên
Hình 3.12: Chẻ gốc ghép Hình 3.13: Đặt cành ghép vào gốc ghép
Hình 3.11: Cắt cành ghép
Trang 3333
d Buộc cố định vào gốc ghép
- Thường dùng dây nilon tự hoại dầy 0,005 mm, dài khoảng 30cm để buộc
- Mở rộng dây nilon áp sát vết ghép bằng ngón tay nhẫn và ngón tay giữa của tay không thuận, đầu ngón cái và ngón trỏ cầm chặt vết ghép bên ngoài giây nilon Tay thuận cầm đầu dây để cuốn vết ghép (khoảng 1/3 chiều dài dây nilon) 2/3 dây nilon còn lại cuốn
cành ghép, ngón trỏ và ngón cái của tay không thuận dàn dây nilon (hình 18)
- Buộc dây nilon theo kiểu lợp mái nhà
- Trên đầu cành ghép buộc kín và cuốn 2 vòng dây,ở các mắt của cành ghép chỉ cuốn
1 vòng dây để khi mắt nảy chồi dễ đâm thủng nilon và bật chồi lên
* Chú ý: Khi thao tác ghép cần đảm bảo 4 yêu cầu sau:
+ Nhanh: Từ khi cắt gốc cành ghép đến khi buộc dây nilon xong không quá 60 giây
để nhựa cây không bị ôxi hoá
+ Chuẩn xác: Chiều dài vết cắt gốc cành ghép và chiều dài vết chẻ gốc ghép bằng nhau, tượng tầng của cành ghép và gốc ghép trùng khít nhau ít nhất một bên khi áp vết ghép
+ Phẳng, nhẵn: Vết cắt của gốc cành ghép và gốc ghép phẳng bóng như 2 tấm kính + Chặt kín: Khi buộc vết ghép phải chặt, kín để cố định vết ghép và tránh sự thoát hơi nước
* Ưu điểm của phương pháp ghép nêm: Diện tích tiếp xúc giữa mặt cắt của cành
ghép và gốc ghép lớn nên tỷ lệ sống cao
Hình 3.14: Buộc vết ghép hoàn chỉnh
e Chăm sóc cây sau khi ghép
* Bảo quản giấy nilon
- Giữ cho giấy nilon không bị thủng từ 7 - 10 ngày đầu sau ghép
Trang 3434
- Giấy nilon bị thủng do:
+ Kiến đục: Phòng chống kiến bằng cách dùng bình xịt, thuốc Basudin hoà với nước rồi phun vào gốc cây
+ Đầu cành còn cạnh nhọn do khi cắt
* Tỉa bỏ mầm của gốc ghép (mầm dại)
- Sau ghép 7 ngày trở lên khi thấy mầm của cành ghép đã bắt đầu đâm chồi thì ngắt
bỏ toàn bộ mầm của gốc ghép
* Tưới nước
- Dùng bình phun hoặc hệ thống tưới phun tự động phun mưa để không ảnh hưởng đến cây ghép Thường xuyên tưới nước đủ ẩm, tránh trường hợp tưới quá nhiều dẫn đến đọng nước ở đầu cành ghép sẽ làm cho cành ghép bị hỏng
- Phải có hệ thống thoát nước tốt, tránh đọng nước vì khi đọng nước rễ cây hút nước nhiều sẽ đọng nước trong nilon gặp nhiệt độ cao cành ghép sẽ chết do bị úng nóng
- Hoặc dùng nước phân chuồng pha loãng để tưới cho cây
* Phòng trừ sâu bệnh hại cây sau ghép
- Nếu lá non bị xoăn do vi rút thì cắt bỏ tập trung đốt
- Nếu lá có những chấm đen, nâu hoặc lá bị xoăn do nấm thì dùng Anvil 0,2% hoặc Ridomin pha 1 gói 100 gam trong 24 lít nước để phun
- Sâu đục thân, đục cành: Bơm thuốc trừ sâu vào lỗ đục
- Kiến mối, bọ cánh cứng: Dùng thuốc có mùi để xông hơi như Sheltox, Basudin, Ofatox
- Chăm sóc cây chu đáo đến khi cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn
* Tiêu chuẩn cây con xuất vườn
- Cây có 2 - 3 tầng lộc, tầng lộc trên cùng có lá màu đỏ chuyển sang màu xanh
* Chú ý: Nếu dùng nilon không tự hoại để buộc vết ghép thì sau khi ghép 3 tháng
phải tháo bỏ nilon
Trang 3535
5.3.2.3 Tạo gốc ghép
- Cây làm gốc ghép được sản xuất từ hạt
- Tiêu chuẩn gốc ghép đối với cây ăn quả: Cây con nuôi dưỡng trong bầu, có kích thước, đường kính đáy 10 - 12cm, chiều cao bầu 14 - 18cm, chiều cao cây khoảng 80 - 100cm, đường kính chỗ ghép 0,8 - 1,5cm
- Muốn cây sinh trưởng tốt, nhanh có gốc ghép thì hỗn hợp ruột bầu nên có: 10 - 15kg supe lân + 200kg phân chuồng hoai + 1kg vôi bột/1000 cây
- Trước khi ghép khoảng 1 tuần bón nước phân chuồng pha loãng hoặc 0,3% phân tổng hợp NPK
- Giữ cho các lá thật tồn tại trên cây đến khi ghép
- Vết cắt 1: Từ phía dưới cách cuống lá
khoảng 0,5cm cắt sâu vào lớp gỗ mỏng
- Vết cắt 2: Từ phía trên mắt khoảng
0,5cm, cắt sâu vào phần gỗ một lớp mỏng, khi
mắt ghép đã cắt xong có hình lưỡi có kích thước
đặt mắt ghép xuôi chiều sao cho tượng tầng của
mắt ghép và gốc ghép càng tiếp xúc nhiều càng Hình 3.15: Mắt ghép đã được cắt