(NB) Giáo trình Phòng trị bệnh nội khoa thú y cung cấp cho người học những kiến thức như: Công tác khám bệnh và chẩn đoán; Bệnh án và bệnh lịch; Một số khái niệm trong chẩn đoán; Các phương pháp khám bệnh cho con vật; Khám hệ tim mạch;..Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: PHÒNG, TRỊ BỆNH NỘI KHOA THÚ Y
NGHỀ: THÚ Y TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐLC
ngày…….tháng….năm
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)
Trang 2Lào Cai, năm 2020
Chương I: ĐIỀU TRỊ HỌC Tóm tắt chương
Nội dung của chương tập trung nói về tầm quan trọng của công tác điều trị bệnh
cả về mặt chuyên môn, khoa học và chính trị; các nguyên tắc trong điều trị bệnh đối với ngành thú y phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam chúng ta Ngoài ra nội dung của bài cũng dành một phần giới thiệu sơ qua nội dung các phương pháp điều trị bệnh cho vật nuôi
Mục tiêu của chương
Sau khi học xong bài này, sinh viên chuyên ngành thú y và chăn nuôi thú y sẽ được cung cấp những kiến thức về tầm quan trọng của công tác điều trị bệnh cho vật nuôi.
Ngoài ra, nội dung của bài cũng nhằm giáo dục sinh viên những tác phong và đức tính cần phải rèn luyện trong suốt quá trình học để sau này trở thành một thầy thuốc thú
y có trình độ tay nghề cao và có lương tâm nghề nghiệp.
1 Bệnh và nguyên nhân gây bệnh
1.1 Khái niệm về bệnh nội khoa:
Bệnh nội khoa còn gọi là bệnh thông thường, bệnh không truyền nhiễm, là những bệnh không có khả năng lan truyền từ cơ thể bệnh sang cơ thể khác.
Môn học “ Bệnh nội khoa gia súc” là môn học chuyên nghiên cứu những bệnh không lây lan của gia súc và chuyên sử dụng những phương pháp nội khoa để can thiệp vào con bệnh, nhưng đôi khi cũng sử dụng những phương pháp ngoại khoa để can thiệp.
Ví dụ: Trong bệnh bội thực dạ cỏ có khi dùng phương pháp nội khoa không
được ( Uống MgSO4, tiêm pilocacpin) ta phải dùng phương pháp ngoại khoa ( Mổ
dạ cỏ lấy bớt thức ăn ra)
1.2 Các nguyên nhân gây nên bệnh nội khoa
1.2.1 Nguyên nhân bên trong:
Là những nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân con vật như: Thể chất yếu, khả năng chống chịu bệnh kém, mẫn cảm với bệnh cao…
1.2.2 Các nguyên nhân bên ngoài:
Nguyên nhân dó các nhân tố vật lý, hóa học: Như điện, ánh sáng, nhiệt độ,
dộ ẩm… các yếu tố khí hậu bất lợi khác
Trang 3Các chất độc hóa học như khí độc, thuốc trừ sâu, thuốc chuột… tác động trực tiếp hay gián tiếp vào cơ thể vật nuôi gây tổn thương cơ thể, làm rối loạn hoạt động của các cơ quan hoặc gây độc cho cơ thể.
Nguyên nhân do các nhân tố sinh vật như các loại độc tố, nọc độc gây tổn thương từng cơ quan hoặc toàn bộ cơ thể.
Nguyên nhân do chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém, khai thác vật nuôi không đúng quy trình kỹ thuật, điều kiện vệ sinh, nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh…
Các nguyên nhân bên trong và bên ngoài có mối liên hệ với nhau Các nguyên nhân bên trong không có tính chất quyết định đến sự xuất hiện của bệnh
mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các nguyên nhân bên ngoài quyết định trực tiếp đến tính chất của bệnh Tuy vậy bệnh thường xảy ra với những cơ thể đã suy yếu.
2 Các thời kỳ tiến triển của một bệnh
3 Điều trị bệnh
3.1 Khái niệm về điều trị học
Khái niệm về điều trị học có liên quan mật thiết với sự hiểu biết của con người vềnguyên nhân và cơ chế sinh bệnh Chính vì vậy, cũng như các khái niệm khác, khái niệm
về điều trị luôn luôn thay đổi qua các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử loài người
- Ở thời kỳ mông muội: Với khả năng tư duy và hiểu biết của co người với thế giới
tự nhiên còn hết sức hạn chế, người ta cho rằng vạn vật đều do đấng thầng linh, siêu nhiêntạo ra Do đó, bệnh tật là sự trừng phạt của đấng thần linh, là sự quấy phá, ám ảnh của ma
tà, quỷ quái Chính vì vậy quan niệm về điều trị ở thời kỳ này là tế lễ, cúng khấn và cầuxin các đấng thần linh hoặc nhờ các đấng thần linh xua đuổi tà ma để ban cho được khỏibệnh
Đât là những quan điểm duy tâm hết sức sai lầm về các vật và hiện tượng trong tựnhiên cũng như về bệnh Quan niệm này hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số các thôn, bản ởcác vùng miền núi, hoặc một bộ phận dân cư trong xã hội văn minh
- Đến thời kỳ văn minh cổ đại: Con người đã biết sản xuất và sử dụng các công cụlao động bằng kim loại, từ đó với trực quan của mình, người Trung quốc cổ đại đã chorằng: vạn vật trong tự nhiên đều được cấu thành bởi 5 nguyên tố; Kim, mộc, thủy, hỏa,thổ Các mối quan hệ này nằm trong mối tương sinh hoặc tương khắc ràng buộc lẫn nhau
và cùng nhau tồn tại Bệnh tật là sự mất cân bằng giữa các mối quan hệ này Từ đó, người
ta cho rằng điều trị là lập lại mối cân bằng giữa các yếu tố này bằng cách kích thích mặtyếu (bổ) và áp chế mặt mạnh (tả)
- Ở thời kỳ hiện đại: Khi trình độ khoa học đã có những bước phát triển vượt bậctrên nhiều lĩnh vực, con người đã có những hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về bệnhnguyên học và sinh bệnh học thì quan niệm vể điều trị cũng chuẩn xác và khoa học hơn,
từ đó người ta đưa ra những khái niệm về điều trị học có tính khoa học
Trang 4Điều trị học là môn học nhằm áp dụng những phương pháp chữa bệnh tốt nhất, antoàn nhất tác động đối với cơ thể bệnh để làm cho cơ thể đang mắc bệnh nhanh chóng hồiphục trở lại bình thường và mang lại sức khỏe và khả năng làm việc, như:
- Dùng thuốc (như dùng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, bổ sung Ca, phốtpho và vitamin D trong bệnh mềm xương, còi xương…)
- Dùng hóa chất (như dùng xanh methylen trong điều trị trúng độc HCN, dùng
Na2SO4 hoặc MgSO4 trong tẩy rửa ruột ở bệnh viêm ruột hay trong bệnh chướng hơi dạ
3.2 Những nguyên tắc cơ bản của điều trị học
Điều trị học hiện đại là kế thừa sự nghiệp của các nhà y học lỗi lạc dựa trên quanđiểm cơ bản là “Cơ thể là một khối thống nhất, hoàn chỉnh, luôn luôn liên hệ chặt chẽ vớingoại cảnh và chịu sự chỉ đạo của thần kinh trung ương” Với sự tiến bộ không ngừng củasinh học, y học, dược học…điều trị học luôn luôn thay đổi về phương pháp và kỹ thuật.Tuy vậy, vẫn có những nguyên tắc không thay đổi và luôn luôn đúng mà người thầy thuốcphải nắm vững Những nguyên tắc chính gồm:
- Điều chỉnh khẩu phần thức ăn (ví dụ: Trong chứng xeton huyết phải tăng lượnggluxit và giảm lượng protein, lipit trong khẩu phần thức ăn; trong bệnh viêm ruột ỉa chảyphải giảm khẩu phần thức ăn xanh nhiều nước và thức ăn tanh…)
- Tạo điều kiện tiểu khí hậu thích hợp (ví dụ: Trong bệnh cảm nóng, cảm nắng phải
để gia súc nơi thoáng và mát)
- Giảm bớt kích thích ngoại cảnh (ví dụ: trong bệnh uốn ván, chó dại thì phải tránhánh sáng, nước, các kích thích tác động mạnh)
- Tìm mọi biện pháp để tăng sức đề kháng của cơ thể, tăng cường sự bảo vệ của da
và niêm mạc (bằng cách dùng vitamin A, vitamin C), tăng cường thực bào của bạch cầu,tăng sự hình thành kháng thể, tăng sự giải độc của gan và thận…
3.2.2 Nguyên tắc chủ động tích cực
Trang 5Theo nguyên tắc này đòi hỏi người thầy thuốc phải thấm nhuần phương châm
“chữa bệnh như cứu hỏa” Tức là phải:
- Khám bệnh sớm
- Chân đoán bệnh nhanh
- Điều trị kịp thời
- Điều trị liên tục và đủ liệu trình
Chủ động ngăn ngừa những diễn biến của bệnh theo các chiều hướng khác nhau (vídụ: trong bệnh chướng hơi dạ cỏ sẽ dẫn tới tăng áp lực xoang bụng và chèn ép phổi làmcho gia súc ngạt thở mà chết Do vậy trong quá trình điều trị cần theo dõi sự tiến triển củaquá trình lên men sinh hơi trong dạ cỏ
Kết hợp các biện pháp điều trị để thu được hiệu quả cao Ví dụ: trong bệnh viêmphổi ở bê, nghé có thể dùng một trong các biện pháp điều trị sau:
- Dùng kháng sinh tiêm bắp kết hợp với thuốc trợ sức, trợ lực và các thuốc điều trịtriệu chứng
- Dùng kháng sinh kết hợp với Novocain ở nồng độ 0,25 – 0,5% phong bế hạchsao Trong 2 phương pháp này thì phương pháp phong bế có hiệu quả điều trị và hiệu quảkinh tế cao nhất Do vậy ta nên chọn phương pháp điều trị thứ hai
3.2.3 Nguyên tắc tổng hợp
Cơ thể là một khối thống nhất và chịu sự chỉ đạo của hệ thần kinh Do vậy, khi mộtkhí quan trong cơ thể bị bệnh đều có ảnh hưởng đến toàn thân Cho nên trong công tácđiều trị muốn thu được hiệu quả cao chúng ta không chỉ dùng một loại thuốc, một biệnpháp điều trị cục bộ đối với cơ thể bệnh mà phải dùng nhiều loại thuốc, nhiều biện pháp,điều trị toàn thân (ví dụ: trong bệnh viêm ruột ỉa chảy do nhiễm khuẩn ở gia súc Ngoàiviệc dùng thuốc diệt vi khuẩn còn phải dùng thuốc nâng cao sức đề kháng, trợ sức, trợlực, bổ sung các chất điện giải cho cơ thể kết hợp với chăm sóc, hộ lý tốt
Trong bệnh bội thực dạ cỏ, ngoài biện pháp dùng thuốc làm tăng nhu động dạ cỏcòn phải dùng thuốc làm nhão thức ăn trong dạ cỏ, trợ sức, trợ lực và tăng cường giải độccho cơ thể còn phải làm tốt khâu hộ lý, chăm sóc (cụ thể: để gia súc ở tư thế đầu cao đuôithấp, xoa bóp vùng dạ cỏ thường xuyên)
3.2.4 Nguyên tắc điều trị theo từng cơ thể (điều trị phải an toàn và hợp lý)
Cùng một loại kích thích bệnh nguyên nhưng đối với từng cơ thể thì sự biểu hiện
về bệnh lý có khác nhau (sự khác nhau đó là do phản ứng của cơ thể và do cơ năng bảo
vệ, loại hình thần kinh của mỗi con vật có khác nhau) Do vậy trong điều trị cần phải chú
ý tới trạng thái của từng con bệnh để đưa ra phác đồ điều trị thích hợp, tránh trường hợpdùng một loại thuốc cho một loại bệnh, một loại thuốc cho tất cả các co bệnh khác nhau
mà không qua khám bệnh, tránh trường hợp nghe bệnh rồi kê đơn
Sử dụng thuốc nào hoặc một phương pháp điều trị nào trước hết phải chú ý đếnvấn đề an toàn (trước hết phải không có hại) Từ lâu đời nay đó vẫn là phương châm hàng
Trang 6đầu mỗi khi tiến hành điều trị Tất nhiên trong quá trình điều trị đôi khi cũng có thể xảy ranhững biến chứng hoặc những tác dụng phụ không mong muốn, nhưng phải lường trước
và phải hết sức hạn chế sự xuất hiện của chúng ở mức tối đa cho phép và phải có sự chuẩn
bị đối phó khi chúng xuất hiện
Mỗi khi tiến hành điều trị cho bất cứ con bệnh nào phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng.Cho thuốc gì phải dựa trên cơ sở chẩn đoán bệnh chính xác và toàn diện, phân biệt bệnhchính và bệnh phụ, nguyên nhân và triệu chứng, thể bệnh và biến chứng, cơ địa và hoàncảnh của con bệnh Điều này làm được tốt hay không là tùy thuộc vào trình độ chuyênmôn của người thầy thuốc, kiến thức và bệnh học, kinh nghiệm hành nghề của từngngười Chất lượng điều trị phụ thuộc phần lớn vào độ chính xác của chẩn đoán, sự theodõi sát sao của người thực hiện y lệnh và khả năng đánh giá tiên lượng bệnh của thầythuốc
Ví dụ: Trong bệnh bội thực dạ cỏ thuốc có tác dụng làm tăng nhu động dạ cỏ mạnh nhất là Pilocarpin, nhưng ở gia súc có chửa thì không dùng được (vì nó gây sảy thai) Cho nên để không gây sảy thai mà con vật vẫn khỏi bệnh thì người bác sỹ phải trực tiếp khám bệnh và đưa ra phác đồ điều trị thích hợp.
Tóm lại, theo nguyên tắc này người ta đã đưa ra những chỉ định và chống chỉ địnhkhi dùng thuốc, liều lượng thuốc cho từng loại, từng cá thể, tuổi của gai súc…nhằm mụcđích là tạo điều kiện cho con bệnh nhanh chóng trở lại khỏe mạnh bình thường và khônggây tác hại gì cho cơ thể
3.2.5 Điều trị phải có kế hoạch
Đánh trận phải có kế hoạch tác chiến, chiến đấu với bệnh tật cũng phải có kế hoạch
cụ thể, tùy theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ, cấp hay mãn tính Muốn làm kế hoạch điềutrị phải dựa trên cơ sở biết bệnh, biết con bệnh, biết thuốc
- Biết bệnh: Là có chẩn đoán rõ ràng, có trường hợp nguyên nhân biết được ngay,
dễ dàng đo đó có thể điều trị ngay nguyên nhân, đó là trường hợp lý tưởng Nhưng cũng
có những trường hợp khi chưa biết ngay nguyên nhân, lúc này phải có hướng tìm bệnhngay từ lúc đầu và sau sẽ điều chỉnh lại để chẩn đoán
- Biết con bệnh: Biết bệnh cũng chưa đủ để điều trị mà còn cần phải biết con bệnh.Trong việc điều trị bệnh thì người thầy thuốc có một vai trò quan trọng Họ phải có kiếnthức y học rộng, phải nắm được những điều cần biết tối thiểu về các chuyên khoa khác cónhư vậy mới tránh được thiếu sót trong công tác hằng ngày nhất là đối với những trườnghợp cấp cứu
- Biết thuốc: Thầy thuốc phải nắm vững những thuốc mình dự định dùng trongđiều trị Do vậy, biết bệnh, biết con bệnh cũng chưa đủ mà cần biết rõ thuốc và phươngpháp điều trị để áp dụng cho đúng chỉ định, đạt hiệu quả tối ưu Cụ thể là phải biết dượctính, liều lượng, khả năng tác dụng của thuốc, nắm chắc cách sử dụng thuốc như uống,tiêm, truyền, thuốc dán, thuốc nhỏ…
3.2.6 Điều trị phải được theo dõi chặt chẽ
Trang 7- Theo dõi tác dụng của thuốc:
Phải theo dõi chặt chẽ để xem thuốc có tác dụng hay không, phải chú ý khi chothuốc đúng quy cách nhưng bệnh không thuyên giảm, không khỏi Trong trường hợp nàynên kiểm tra xem chủ con bệnh có thực hiện đúng như trong đơn thuốc hay không, thuốccòn thời hạn sử dụng hay đã quá hạn, đã bị hư hỏng, thuốc pha chế có đúng tiêu chuẩnhay không Cũng nên kiểm tra lại chế độ ăn uống, chế độ nghỉ ngơi, trường hợp cần thiếtcần chẩn đoán xem có biến chứng mới xuất hiện hay không
- Trường hợp dùng nhiều thuốc cùng một lúc
Khi dùng nhiều thuốc cùng một lúc phair lưu ý đến khả năng tương kỹ thuốc.Tương kỵ thuốc là ảnh hưởng tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều vị thuốc với nhau dẫntới sự biến đổi một phần haowcj toàn bộ các tính chất lý hóa của thuốc trong đơn thuốchoặc tác dụng chữa bệnh của những vị thuốc chính trong đơn thuốc đó
Trước khi pha chế thuốc, cần nghiên cứu kỹ xem có tương kỵ giữa các chất không.Muốn vậy phải vận dụng những kiến thức đã nắm được cũng như kinh nghiệm trong thực
tế pha chế để có thể kết luận đơn thuốc có tương kỵ hay không và từ đó đưa ra cách khắcphục nếu có thể được
- Việc theo dõi các tai biến có thể xảy ra
Công tác điều trị phải là một việc tính toán kỹ lưỡng, cân nhắc giữa nguy hiểm dobệnh và nguy hiểm do thuốc gây ra Có những nguy hiểm bất ngờ không lường trướcđược, cũng có những nguy hiểm có thể biết trước được nhưng thầy thuốc và con bệnh cóthể chấp nhận được vì không thể có giải pháp nào hơn được Có những tai biến do thuốcquá liều, đáng chú ý là những trường hợp không phải là quá liều tối đa quy định trongdược lý, dược điển mà là quá liều so với tình trạng con bệnh Do vậy, khi đã tiến hànhđiều trị phải theo dõi sát sao
3.3 Các phương pháp điều trị
3.3.1 Điều trị theo nguyên nhân bệnh
Loại điều trị này thu được hiệu quả điều trị và hiệu quả kinh tế cao nhất Bởi vì đãxác định chính xác nguyên nhân gây bệnh từ đó dùng thuốc điều trị đặc hiệu đối vớinguyên nhân bệnh đó
Ví dụ: Khi xác định gia súc bị trúng độc sắn (HCN) dúng xanh methylen 0,1% tiêm
để giải độc
Ví dụ: Khi xác định vật nuôi bị mắc bệnh tụ huyết trùng, dùng Streptomycin hoặc Kanamycin để điều trị
3.3.2 Điều trị theo cơ chế sinh bệnh
Đây là loại điều trị nhằm cắt đứt một hay nhiều giai đoạn gây bệnh của bệnh để đốiphó với sự tiến triển của bệnh theo các hướng khác nhau
Ví dụ: Trong bệnh viêm phế quản phổi (quá trình viêm làm cho phổi bị sung huyết
và tiết nhiều dịch viêm đọng lại trong lóng phế quản gây trở ngại cho quá trình hô hấp
Trang 8dẫn đến gia súc khó thở, chảy nước mũi nhiều, ho) Do vậy, khi điều trị ngoài việc dùng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn còn dùng thuốc giảm ho và giảm dịch thẩm xuất để tránh hiện tượng viêm lan rộng.
Trong bệnh chướng hơi dạ cỏ: Vi khuẩn làm thức ăn lên men – sinh hơi và hơi được thải ra ngoài theo 3 con đường (thấm vào máu, ợ hơi, theo phân ra ngoài) Nếu một trong 3 con đường thoát hơi bị cản trở, đồng thời vi khuẩn trong dạ cỏ hoạt động mạnh làm cho quá trình sinh hơi nhanh dẫn đến dạ cỏ chướng hơi, làm tăng áp lực xoang bụng hậu quả là làm cho con vật thở khó hoặc ngạt thở Do vậy, trong quá trình điều trị phải hạn chế sự hoạt động của vi khuẩn trong dạ cỏ, loại bỏ thức ăn đã lên men sinh hơi trong
dạ cỏ, phục hồi lại con đường thoát hơi
3.3.3 Điều trị theo triệu chứng
Loại điều trị này hay được sử dụng, nhất là trong thú y Vì đối tượng bệnh là giasúc, hơn nữa chủ của bệnh súc không quan tâm và theo dõi sát sao gia súc cho nên việcchẩn đoán đúng bệnh ngay từ ban đầu là rất khó Do vậy, để hạn chế sự tiến triển củabệnh và nâng cao sức đề kháng của con vật bệnh trong thời gian tìm ra nguyên nhân gâybệnh người ta phải điều trị theo triệu chứng lâm sàng thể hiện trên con vật bệnh
Ví dụ: Khi gia súc có triệu chứng phù, triệu chứng này do rất nhiều nguyên nhân:
Do bệnh viêm thận, do bệnh tim, do bệnh ký sinh trùng đường máu, do bệnh sán lá gan,
do suy dinh dưỡng do vậy, trong thời gian xác định nguyên nhân chính người ta vẫn phải dùng thuốc lợi tiểu, giảm phù và thuốc trợ sức, thuốc nâng cao sức đề kháng cho cơ thể Khi đã xác định được rõ nguyên nhân thì dùng thuốc điều trị đặc hiệu đối với nguyên nhân đó.
3.3.4 Điều trị mang tính chât bổ sung
Loại điều trị này dùng để điều trị những bệnh mà nguyên nhân là do cơ thể thiếuhoặc mất một số chất gây nên
Ví dụ: Bổ sung Vitamin (trong các bệnh thiếu vitamin); bổ sung máu, chất Fe (trong bệnh thiếu máu và mất máu); bổ sung các nguyên tố vi lượng (trong các bệnh thiếu các nguyên tố vi lượng); bổ sung Ca, P trong các bệnh còi xương, mềm xương, bổ sung nước và các chất điện giải trong bệnh viêm ruột ỉa chảy
3.3.6 Điều trị bằng Novocain
a) Sơ lược tính chất dược lý và các đường dùng thuốc Novocain
- Tính chất dược lý: Novocain gồm 250 chất gần giống nhau, chất chúng ta thườngdùng là procain Novocain vào cơ thể sẽ thủy phân ra làm 2 chất:
+ Axit para – amino – benzoic (PABA có tác dụng giúp cho quá trình tổng hợp axitfolic)
+ Dietyl – amino – ethanol (phần này không có tác dụng gì nên loại ra ngoài)
Trang 9- Các đường dùng thuốc: Người ta dùng Novocain bằng cách cho uống, tiêm nội
bì, tiêm dưới da, bắp thịt, tĩnh mạch, động mạch, phong bế, gây tê, tiêm vào màng bụng,khí quản… Các đường đưa thuốc khác nhau thì thuốc cũng có tác dụng khác nhau
- Ứng dụng: Novocain thường được dùng trong điều trị ngoại khoa (Chẩn đoánquè, gây tê thấp) Trong sản khoa dùng kết hợp với kháng sinh trong điều trị (viêm vú,viêm tử cung, âm đạo) trong nội khoa dùng kết hợp với kháng sinh để điều trị (tiêm tĩnhmạch, phong bế các hạch)
b) Trong nội khoa dùng dể phong bế Novocain trên các hạch thần kinh và các dây thần kinh
* Cơ sở lý luận: Phong bế nghĩa là ngăn chặn các xung động bệnh lý truyền vềthần kinh trung ương, do đó các hệ thần kinh trung ương được hồi phục lại, khả năng dinhdươcngx, khả năng đề kháng của cơ thể được hồi phục, hoạt động của các cơ quan trong
cơ thể trở lại bình thường
- Novocain khi kết hợp với kháng sinh nó sẽ kéo dài thời gian tác dụng của khángsinh
* Ứng dụng trong điều trị nội khoa
+) Phong bế dây thần kinh phó giao cảm (mê tẩu)
- Vị trí: Chia đoạn cổ ra làm 3 phần, điểm phong bế thứ 1 ở phần dưới của 1/3đoạn cổ trên, cách tĩnh mạch cổ về phía trên 2cm Điểm thứ 2 cách điểm 1 từ 6 – 7cm
- Kim đâm vuông góc và sâu 2 – 4cm
- Phương pháp: Kéo chân trước gia súc về phía sau hết cỡ, dùng kim dài 8 – 12cm,hướng kim từ trước ra sau và chếch từ dưới lên, sau đó xoay ngang mũi kim theo dọc thâncon vật Đối với gia súc nhỏ thì để nằm độ sâu của kim 5 – 6cm
- Nồng độ và liều lượng: 0,25 – 0,5%; 150 – 200ml
+) Phong bế dây giao cảm trên màng phổi: Để ngăn chặn một số kích thích bệnh lýtới một số cơ quan đường hô hấp và tiêu hóa (dạ dày, ruột, phổi…) đây là phương phápchủ yếu đối với dây thần kinh giao cảm, đồng thời cũng là sự phong bế đám thần kinh tụytạng trong xoang bụng
Trang 10- Vị trí:
+ Ngựa: Phong bế cả 2 bên (trái và phải) điểm đâm kim là giao điểm của 2 đường
- Gian sườn cuối cùng
- Mép dưới cổ dài lưng+ Trâu bò: Phong bế 1 bên (bên phải) điểm đâm kim là gian sườn (12 - 13) và mépdưới cơ dài lưng
- Tiến hành: Dùng kim dài 10 – 12cm, đường kính 1,5mm đâm kim chếch 1 góc sovới mặt phẳng nằm ngang 30 – 350 hướng về dưới cột sống Khi kim chạm tới mặt bên cộtsống ta rút kim ra 1cm và đưa kim lên một góc 5 – 100 nữa, với hướng đó ta đâm sâu tiếp
- Vị trí:
+ Trâu bò: Chủ yếu phong bế thận phải, vị trí là giao điểm của 2 đường
- Mỏm ngang đốt hông 1
- Sau xương sườn cuối cùng
(giao điểm của 2 đường và cách cột sống từ 8 – 10cm)
- Hướng kim: Đâm thẳng góc với mặt da, sâu từ 8 – 11cm
+ Ngựa: Phong bế cả 2 bên nhưng vị trí khác nhau
Thận phải: Là giao điểm của 2 đường
- Khe sườn cuối cùng
- Cách sống lưng 10 – 12cm(Hướng kim: Đâm hơi chếch về phía trước, sâu 8 – 10cm)Thận trái: Là giao điểm của 2 đường
- Mỏm ngang đốt hông 1
- Sau sườn cuối cùng cách cột sống 8 – 10cm(Hướng kim: đâm thẳng góc với mặt da, sâu 6 – 8cm với kim dài 10 –12cm, đường kính 1,5mm)
- Liều lượng: 0,5ml/kgP
- Nồng độ: 0,5%
Trang 11- Ứng dụng: Điều trị các bệnh (chướng hơi dạ cỏ, ruột, dạ dày, bội thực dạ cỏ,nghẽn dạ lá sách, viêm thận, bàng quang, sinh dục…)
3.3.7 Điều trị bằng yếu tố vật lý
Người ta sử dụng các yếu tố vật lý sau: ánh sáng, dòng điện, nhiệt độ, nước….Trong quá trình điều trị những yếu tố này thông qua phản xạ thần kinh làm tăng cườngtrao đổi chất cục bộ, tăng cường tuần hoàn cục bộ, giảm đau cục bộ, làm tiêu viêm, tăngquá trình lành vết thương
a) Điều trị bằng ánh sáng
* Ánh sáng tự nhiên (ánh sáng mặt trời)
- Cơ chế: Trong ánh sáng mặt trời có tia hồng ngoại và tử ngoại có tác dụng giúpcho quá trình hấp thu Ca++ và quá trình tạo xương Ngoài ra nó còn gây xung huyết mạchquản ngoại biên làm tăng cường tuần hoàn máu dẫn đên tăng cường trao đổi chất do vậychúng diệt được vi khuẩn và ký sinh trùng ngoài da và môi trường
- Ứng dụng: Được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh cho gia súc như (còi xương,mềm xương, phòng bệnh bại liệt trước và sau khi đẻ, lợn con phân trắng…)
- Thời gian tắm nắng: Tùy theo mức độ phân bố ánh sáng mặt trời của từng vùng,từng mùa, cụ thể ở nước ta
- Khoảng cách: Cách mặt da khoảng 50 – 70cm, mỗi lần chiếu 20 – 40’
+) Đèn tử ngoại: Phát ra từ bóng đèn bằng thạch anh, trong bóng đèn có chứa khí
Ar (Acgong) và thủy ngân Nơi thủy ngân có áp suất là 1/1000 atmotphe
Trang 12- Cơ chế: khi có dòng điện chạy qua thì khí Ar sinh ra hiện tượng điện ly và phóngđiện bắn vào các phân tử của hơi thủy ngân làm cho một phần phân tử của thủy ngân ionhóa còn một phần phát ra ánh sáng và ánh sáng này gọi là tia tử ngoại
- Cách chiếu:
+ Đại gia súc: Xác định hàm lượng ánh sáng bằng cách dùng tấm bìa dài20cm, rộng 7cm có đục 5 lỗ, mỗi lỗ diện tích là 1cm2 sau đó đặt một tấm bìa lên thân giasúc, tiếp theo lấy tấm bìa khác che lên lần lượt cho hở 1 lỗ rồi chiếu 3 giờ liền dến thờigian mà mặt da đỏ lên thì thôi
+ Tiểu gia súc và gia cầm: Chiếu toàn thân, thời gian 10 – 15’ cách xa 1m vàngày chiếu 3 lần
- Những chú ý khi chiếu:
+ Đề phòng điều trị thoáng khí sau khi chiếu xong (vì đèn chiếu thường xuyên sinh
ra khí ozon (03) mà khí này kích thích niêm mạc cơ thể rất lớn (chủ yếu niêm mạc đường
- Tác dụng:
+ Cải thiện quá trình trao đổi chất của cơ thể, làm hồi phục chức năng tế bào, dâythần kinh Do vậy thường được ứng dụng trong các trường hợp kích thích tê liệt dây thầnkinh
+ Gây sung huyết ở nơi đặt điện cực làm tiêu viêm, giảm đau ở nơi cục bộ
+ Làm hồi phục chức năng của dây thần kinh ngoại biên, do vậy ứng dụng điều trịcác chấn thương, viêm xoang, viêm màng phổi, màng bụng, màng ngực
+ Chú ý: Không dùng trong các trường hợp gia súc bị viêm mãn tính, viêm hóa
Trang 13+ Xúc tiến quá trình tuần hoàn cục bộ dẫn đến tiêu viêm, giảm đau cục bộ.
+ Xúc tiến quá trình trao đổi chất cơ thể, kích thích tiết dịch hoocmon, do vậy cótác dụng diệt trùng và làm tan vết sẹo trong các vết thương ngoại khoa
- Thời gian chạy: 20 – 30’, ngày chạy 1 lần
- Ứng dụng: Điều trị các bệnh nội khoa (viêm phế quản, viêm màng phổi, phổi)điều trị các vết thương ngoại khoa, làm giảm đau trong trường hợp đau bụng
3.3.8 Những điều cần biết khi dùng kháng sinh trong điều trị
a) Choáng phản vệ do kháng sinh
- Những năm gần đây, khi sử dụng kháng sinh tiêm, uống hoặc tiếp xúc với khángsinh (penicillin, streptomycin…) chúng ta thường gặp hiện tượng choáng phản vệ dokháng sinh gây ra Tuy nhiên ta có thể gặp hiện tượng này ở chó nhất là chó Nhật và chólai, còn các gia súc khác ít gặp hơn
- Triệu chứng choáng phản vệ: Sau khi tiêm hay uống kháng sinh ít phút con vậtchoáng váng, loạng choạng, khó thở, mạch nhanh, không đều, huyết áp tụt thấp, có con cóbiểu hiện co giật, nổi ban khắp cơ thể, tiểu tiện bừa bãi sau đó hôn mê và chết Nhẹ hơn làxuất hiện những phản ứng dị ứng Phản ứng dị ứng có thể xuất hiện ở nhiều cơ quan khácnhau như: trên da, hô hấp, tim mạch, gan, thận, thần kinh với các mức độ khác nhau từnhẹ đến nặng, cũng có khi dẫn đến chết
b) Dị ứng do kháng sinh
+) Bệnh huyết thanh: Sau khi dùng kháng sinh (penicillin, streptomycin,sulfamide…) vào ngày thứ 2 đến thứ 14 Con vật bỏ ăn, mệt mỏi, ủ rũ, buồn bã, có triệuchứng buồn nôn, chân đi loạng choạng, siêu vẹo do đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao,mẩn đỏ toàn thân Nếu chẩn đoán chính xác thì ngừng ngay kháng sinh con vật sẽ mất dầncác triệu chứng đó Trái lại, nếu cứ tiếp tục dùng kháng sinh và tăng liều lượng sẽ làmbệnh ngày càng nặng và dẫn đến trụy tim mạch và chết
+) Biểu hiện ở da: Nổi mề đay, mẩn ngứa, phù mặt, phù mí mắt, phù môi, phùthanh quản, viêm da, có các chấm xuất huyết ngoài da
+) Biểu hiện ở hệ máu: Khi dùng kháng sinh liều cao gây thiếu máu tán huyết cấptính
- Triệu chứng: Con vật sốt cao, run rẩy do rét, buồn nôn và nôn, kêu rên do đauđầu, chảy máu mũi, vàng da, đau bụng, gan và tứ chi
- Xét nghiệm máu: Lúc này hồng cầu giảm, bạch cầu trung tính giảm, số lượngbạch cầu khác lại tăng lên
+) Biểu hiện ở nhiều thể bệnh khác: Con vật khò khè, khó thở, thở rít, viêm phổi,viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim dị ứng
c) Hiểu biết tối thiểu khi dùng kháng sinh
* Phải dùng kháng sinh đúng chỉ định
Trang 14- Hầu hết các kháng sinh có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn, chỉ có một
số rất ít có tác dụng điều trị các bệnh do nấm, ký sinh trùng và siêu vị trùng Do vậy, nếuchưa thật cấp bách, khi chưa xác định đúng bệnh chưa nên dùng kháng sinh
- Phải chọn kháng sinh đúng với bệnh vì mỗi loại kháng sinh có tác dụng đặc hiệuvới một loại vi khuẩn nhất định
(ví dụ: Ampicillin có tác dụng tốt với bệnh đóng dấu lợn, nhiệt thán, phó thươnghàn, bệnh đường hô hấp và sinh dục
Erythromycin: Có tác dụng tốt với nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm phổi,viêm phế quản phổi, viêm màng phổi; bệnh đường sinh dục – tiết niệu như bệnh viêm âmđạo, viêm tử cung, viêm niệu đạo…)
* Không sử dụng kháng sinh trong các trường hợp sau
- Penicillin: Không dùng cho những gia súc có tiền sử choáng, dị ứng
- Penicillin chậm, Chloramphenicol, tetracyclin, streptomycin, gentamycin,kanamycin, sulfamide: Không dùng cho gia súc sơ sinh
- Sulfamide, tetracyclin, colistin, streptomycin, kanamycin: Không dùng cho giasúc mắc bệnh thận
* Sớm dùng kháng sinh khi đã có chỉ định
- Ngay từ đầu dùng kháng sinh với liều cao, không dùng liều nhỏ tăng dần để tránhhiện tượng vị khuân nhờn thuốc, sau đó mới giảm liều dần khi bệnh đã đỡ
- Dùng thuốc đủ liều cho cả đợt
(ví dụ: Sulfamide, tetracyclin dùng liên tục từ 6 – 8 ngày, chloramphenicol dùngliên tục từ 4 – 6 ngày
- Dùng kháng sinh liên tục cho đến khi hết các biểu hiện nhiễm khuẩn (sốt, sưngkhớp, sưng hạch, ho, ỉa chảy…) Sau đó dùng tiếp tục thêm 2 – 3 ngày rồi mới ngừngthuốc với liều thấp hơn chút ít
- Nếu sau 5 – 6 ngày điều trị ít có hiệu quả nên thay thuốc kháng sinh hoặc phốihợp với các kháng sinh khác
* Dùng kháng sinh với thời điểm thích hợp trong ngày
- Căn cứ vào dặc điểm của thuốc mà uống trước hay sau bữa ăn, tiêm một lần haychia thành nhiều lần
Ví dụ: Căn cứ vào đặc điểm của thuốc
- Có phân hủy trong dịch vị không?
- Tốc độ hấp thu nhanh hay chậm?
- Đào thải nhanh hay chậm?
- Bài tiết qua cơ quan nào?
* Cần phối hợp kháng sinh thích hợp với từng loại vị khuẩn
Ví dụ:
Trang 15- Ỉa chảy do Samonella: Nên phối hợp Chloramphenicol và Tetracyclin.
- Sảy thai truyền nhiễm do Bruccella nên phối hợp Tetracyclin vàstreptomycin
- Viêm phổi do phế cầu nên phối hợp Penicillin G hoặc Ampicillin vớisulfamid
* Cần chọn kháng sinh thích hợp để tránh các hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
* Xác định đùng liều lượng với từng loại gia súc (Xem lại)
4.1 Các dung dịch thường dùng trong điều trị bệnh cho gia súc
- Dung dịch muối đẳng trương (nướ muối sinh lý 0,9%): Dùng trong các trườnghợp khi cơ thể bị mất máu cấp tính, viêm ruột ỉa chảy cấp, nôn mửa nhiều) Tiêm dưới dahoặc truyền vào tĩnh mạch Liều lượng tùy thuộc vào mục đích điều trị
- Dung dịch muối ưu trương (NaCl 10%): Có tác dụng làm tăng cường tuần hoàncục bộ và phá vỡ tiểu cầu Do vậy, dung dịch này thường được dùng trong các trường hợp(liệt dạ cỏ, nghẽn dạ lá sách, chảy máu mũi, tích thức ăn trong dạ cỏ) Tiêm truyền trựctiếp vào tĩnh mạch
- Dung dịch Glucoza ưu trương (10 – 40%): Dùng trong trường hợp khi gia súcquá yếu, tăng cường giải độc cho cơ thể (khi cơ thể bị trúng độc), tăng cường tiết niệu vàgiảm phù Tiêm truyền trực tiếp vào tĩnh mạch Liều lượng tùy mục đích điều trị
- Dung dịch Glucoza đẳng trương (5%): Dùng trong trường hợp khi cơ thể bị suynhược và mất nước nhiều Tiêm dưới da hoặc tiêm truyền trực tiếp vào tĩnh mạch
- Dung dịch Oresol: Dùng trong trường hợp bệnh làm cho cơ thể bị mất nước vàchất điện giải Cho uống
4.2 Phương pháp truyền dịch
- Dụng cụ truyền dịch: Bộ dây truyền và chai dịch truyền
- Phương pháp truyền dịch: Trước tiên cắm bộ dây truyền vào chai dịch truyền, sau
đó lấy máu ở tĩnh mạch rồi đưa dịch truyền vào cơ thể
4.3 Một số chú ý trong khi truyền dịch
Trang 16- Dung dịch truyền phải được tuyệt đối vô trùng
- Không có bọt khí ở dây truyền dịch
- Nhiệt độ của dịch truyền phải bằng nhiệt độ cơ thể
- Tốc độ của dịch truyền tùy thuộc vào trạng thái cơ thể (Nếu trạng thái cơ thể yếuthì truyền dịch với tốc độ chậm)
Chuẩn bị các thuốc cấp cứu: Có thể dùng một trong các loại thuốc (Cafein natribenzoat 20%, lang não nước 10%, Adrenalin 0,1%, Canxi clorua 10%)
- Theo dõi con vật trong khi truyền dịch và sau khi truyền dịch 30 phút
- Khi con vật có hiện tượng sốc, choáng thì ngừng truyền dịch và tiêm thuốc cấpcứu
Câu hỏi ôn tập
-
- Trình bày những nguyên tắc cơ bản của điều trị học?
- Trong thú y có các phương pháp điều trị bệnh như thế nào? Phương pháp điều trị bệnh nào có hiệu quả nhất? Tại sao?
Trang 17- Quá trình viêm làm cho niêm mạc bị sung huyết, tiếtư dịch do vậy trên lam sàng ta thấy gia súc hay bị ho
- Dịch viêm đọng lại ở lòng phế quản làm cho lòng phế quản hẹp Do vậy trên lâm sàng ta thấy gia súc có hiện tượng khó thở.
Tùy theo vị trí của bệnh mà người ta chia bệnh làm 2 thể:
* Nguyên nhân kế phát:
- Do ký sinh trùng sống ký sinh ở phổi ( như giun phổi), hoặc do ấu trùng giun đũa di hành gây tổn thương niêm mạc phế quản dẫn đến vi khuẩn xâm nhập vào gây viêm.
- Do kế phát từ một số bệnh như: Cúm, viêm hạch truyền nhiễm, lao, tụ huyết trùng…
- Do viêm lan từ một số khí quan bên cạnh như viêm thanh quản, viêm họng
1.3 Cơ chế sinh bệnh
- Những kích thích bệnh lý thông qua hệ thống thần kinh TW tác động vào
hệ thống thụ cảm của đường hô hấp làm rối loạn tuần hoàn dẫn đến sung huyết niêm mạc và gây viêm Niêm mạc phế quản có thể bị viêm cục bộ hoặc viêm tràn lan, dịch rỉ viêm tiết ra và đọng lại ở vách phế quản kết hợp với phản ứng viêm thường xuyên sẽ kích thích niêm mạc phế quản và gây nên phản xạ ho Do vậy trên lâm sàng ta thấy gia súc ho nhiều.
- Những chất độc sinh ra trong quá trình viêm kết hợp với một số độc tố của
vi khuẩn sẽ thấm vào máu làm cho con vật bị sốt.
- Một số dịch rỉ viêm đọng lại ở vách phế quản gây nên hiện tượng xẹp phế nang hoặc gây nên viêm phổi làm cho tình trạng bệnh của con vật càng trở nên trầm trọng hơn
1.4 Triệu chứng
Trang 18* Đối với trường hợp bị viêm phế quản lớn:
- Con vật không sốt hoặc sốt nhẹ
- Tần số hô hấp không tăng
- Kiểm tra đờm thấy có tế bào thượng bì, hồng cầu và bạch cầu
* Đối với trường hợp bị viêm phế quản nhỏ:
- Con vật sốt ( nhiệt độ cao hơn bình thường từ 1- 20C
- Tần số hô hấp thay đổi: Con vật thở nhanh và khó, có nhiều con phải hóp bụng, há mồm ra để thở.
- Nếu có hiện tượng khí phế thì trở ngại về hô hấp càng lớn, kiểm tra niêm mạc mắt thấy có hiện tượng niêm mạc tím bầm, mạch nhanh và yếu
- Ho khan, tiếng ho yếu và ngắn, sau khi ho con vật thở rất khó và mệt
- Nước mũi không có hoặc có nhưng rất ít
- Nghe phổi thấy có âm ran ướt Nếu hiện tượng viêm lan sang phổi sẽ làm cho gia súc có triệu chứng của bệnh phế quản phế viêm
- Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh như: Gia súc ho nhiều,
ho có cảm giác đau, chảy nước mũi nhiều, nước mũi có màu vàng hay xanh, nghe phổi thấy có âm ran Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều bệnh có triệu chứng như vậy do vậy cần chẩn đoán chính xác phân biệt với một số bệnh đường hô hấp khác của gia súc như:
* Bệnh phế quản phế viêm:
- Con vật sốt cao và sốt có quy luật ( Sốt lên xuống theo hình sin), gia súc bỏ
ăn hoặc kém ăn, nghe phổi có âm ran
* Bệnh phổi xuất huyết:
Trang 19- Bệnh phát triển nhanh, nước mũi lỏng và có màu đỏ, ho ít, nghe phổi có âm ran
- Giữ ấm cho gia súc, chuồng trại sạch sẽ và thoáng khí, kín gió
- Không cho gia súc ăn những thức ăn bột khô
- Nên cho gia súc ăn những thức ăn lỏng, thức ăn dễ tiêu hóa
- Dùng dầu nóng xoa 2 bên ngực
- Dùng dầu nóng xông mũi cho gia súc( Cho 4ml dầu nóng vào 1 lít nước sôi, sau đó cho vào chậu, để chậu cách mũi 1 mét, thời gian từ 30 – 50 phút)
* Dùng thuốc điều trị:
+) Dùng thuốc giảm ho và long đờm:
C1: Chorua amon: - Đại gia súc: 8 – 10 g
- Tiểu gia súc: 5 – 8 g
- Lợn: 1 – 2g
- Chó: 0,2 – 1g ( Hòa với nước sạch, cho uống ngày 1 lần)
+) Trên thực tế lâm sàng người ta có thể dùng đơn thuốc sau:
- Ichthyol 2%: 5ml
- Cafein natribenzoat 20%: 10ml ( Trộn đều tiêm chậm vào tĩnh mạch cho đại gia súc ngày 1 lần Tiêm
2 – 3 lần)
+) Dùng thuốc trợ tim, trợ sức để nâng cao sức đề kháng như: Cafein natribenzoat, Vit B1, B – Complex, Vit C)
Trang 202.1.2 BỆNH XUNG HUYẾT VÀ PHÙ PHỔI:
2
a) Đặc điểm:
- Bệnh có đặc điểm là ứ máu phổi dẫn đến sung huyết phổi làm cho mạch máu trong phổi giãn trong chứa nhiều tương dịch làm trở ngại quá trình trao đổi khí
ở phổi Có 2 thể sung huyết:
- Sung huyết chủ động ( Sung huyết động mạch)
- Sung huyết bị động ( Sung huyết tĩnh mạch)
- Gia súc bị bệnh sung huyết phổi sinh ra hiện tượng phù phổi làm cản trở quá trình hô hấp của gia súc và gia súc thường bị chết do ngạt thở
b) Nguyên nhân:
* Sung huyết bị động:
- Do thiểu năng tim ( hở, hẹp van tim, suy tim)
- Do viêm thận gây thủy thũng toàn thân
- Do bị các bệnh gây liệt cho gia súc làm cho gia súc nằm quá lâu
- Do bội thực dạ cỏ hay chướng hơi dạ cỏ
- Tất cả các nguyên nhân bệnh đều làm cho tuần hoàn phổi bị ứ trệ, dịch tiết
ra tràn vào các phế nang và các tổ chức liên kết của phế nang làm cho phế nang thường bị viêm nhẹ
* Sung huyết chủ động:
- Cũng tương tự như sung huyết bị động, nhưng nếu trong trường hợp do vi trùng tác động thì những huyết quản ở những chỗ bị đau to lên rất nhiều và tràn vào phế nang nên thường làm cho phổi bị xơ hóa.
* Phù phổi:
- Chủ yếu là tăng huyết áp tiểu tuần hoàn làm cho vách mạc quản bị phá vỡ làm cho phổi bị thủy thũng ( phù) Vì vậy trên thực tế ta thường thấy gia súc bị bệnh thở khó thậm chí chết do ngạt thở.
d) Triệu chứng:
Trang 21- Gia súc không sốt nhưng nếu bệnh là do kế phát từ bệnh truyền nhiễm hoặc
do say nắng, cảm nóng thì gia súc có bị sốt.
- Gia súc khó thở đột ngột, tần số hô hấp tăng
- Niêm mạc mắt tím bầm
- Chảy nước mũi có màu hồng hoặc có nhiều bọt trắng
- Nếu bệnh nặng gia súc ngạt thở, 4 chân lạnh và có triệu chứng thần kinh như sợ hãi, run rẩy
- Nghe vùng phổi: Có âm ran ướt và âm ran khô
- Nghe tim: Tim đập nhanh và mạnh
- Nếu sung huyết phổi chủ động thì dễ hồi phục
- Nếu sung huyết phổi bị động thì khó hồi phục
Viêm tiểu phế quản
Viêm phổi Phổi xuất huyết Say nắng, cảm
- Ho nhiều
- Có âm ran, khi
ho âm ran giảm
rũ, mệt mỏi.
Gõ vùng phổi Khi sung huyết
phổi có âm trong, khi phù thì có âm đục
Không có gì đặc biệt Vùng âm đục phân tán Không có gì
Nước mũi Nước mũi có
màu hồng hay bọt trắng
Trang 22- Cho gia súc nghỉ ngơi, đưa gia súc vào nơi mát, thoáng khí
- Nếu bị sung huyết thì chủ động dùng nước đá chườm vào vùng đầu, phun nước lạnh lên da
- Nếu sung huyết phổi nặng thì phải dùng biện pháp chích máu ở tĩnh mạch
+ Đối với tiểu gia súc: lấy ra 100 – 200 ml + Đối với đại gia súc: lấy ra 1 – 3 lít nước
* Dùng thuốc điều trị:
+) Dùng thuốc trợ tim, trợ sức, trợ lực như: Cafein natribenzoat, dung dịch glucoza 10%.
+) Dùng thuốc để làm giảm dịch thẩm xuất.
C1 – Canxyclorua 10%: - Đại gia súc: 100ml
- Tiểu gia súc: 50ml ( Tiêm thật chậm vào tĩnh mạch ngày 1 lần)
C2: - Atropin sulphat 1%: - Đại gia súc: 10ml
- Tiểu gia súc: 5 ml ( Tiêm dưới da ngày 1 lần)
2.1.3 BỆNH VIÊM PHỔI HOẠI THƯ VÀ HÓA MỦ:
a) Đặc điểm:
- Bệnh thường phát trên cơ sở của các loại viêm phổi khác hoặc do bị kích ứng trực tiếp bởi ngoại vật, từ đó làm cho vách phế nang và phế quản bị tổn thương, trên cơ sở đó làm cho vi khuẩn hoại thư và vi khuẩn sinh mủ phát triển làm cho tổ chức phổi bị phân hủy.
- Nếu vi khuẩn gây hoại thư phát triển, tác động vào phổi sẽ gây viêm phổi hoại thư, làm cho tổ chức phổi bị phân hủy Trên lâm sàng ta thấy gia súc thở ra có múi thối đặc biệt, nước mũi màu xám nâu hay xanh nhạt và rất thối.
- Nếu vi khuẩn gây mủ phát triển và tác động vào phổi sẽ gây nên viêm phổi hóa mủ, do vậy trên phổi sẽ xuất hiện các ổ mủ to, nhỏ khác nhau do vậy người ta còn gọi là áp xe phổi
b) Nguyên nhân:
* Viêm phổi hoại thư:
- Do tác động cơ giới ( Thức ăn hay thuốc sặc vào khí quản, hoặc gia súc ngã gây gãy sườn…)
- Kế phát từ những bệnh làm cho vùng họng và thực quản bị tê liệt ( Chó dại, uốn ván, xạ khuẩn, viêm hạch truyền nhiễm) làm cho thức ăn và nước uống vào khí quản phổi gây tổn thương khí quản, phế quản.
Trang 23- Kế phát từ một số bệnh tim gây nên hiện tượng nhồi máu động mạch phổi, các phế nang không được cung cấp máu làm cho phế nang bị hoại tử, từ đó vi khuẩn xâm nhập vào gây viêm.
- Kế phát từ một số bệnh phổi khác
* Viêm phổi hóa mủ:
- Do viêm lan từ một số khí viêm khác trong cơ thể, từ đó vi khuẩn sinh mủ theo máu vào phổi gây viêm
- Đối với viêm phổi hóa mủ thì ranh giới giữa vùng không bệnh và vùng có bệnh là rất rõ ràng, mỗi khi ổ mủ được hình thành thì gia súc sốt, khi mụn mủ đã chín thì gia súc sốt Nếu sức đề kháng của cơ thể yếu thì vi khuẩn sinh mủ từ ổ mủ
có sắn sẽ vào máu, sau đó vào phổi gây nên các ổ mủ mới làm cho gia súc bị sốt,
do vậy trên lam sàng ta thấy gia súc sốt không theo quy luật.
d) Triệu chứng:
* Đối với viêm phổi hoại thư:
- Gia súc sốt 40 – 410, sốt lên xuống không đều
- Gia súc uể oải, ủ rũ, kém ăn hay không ăn
- Mạch nhanh và yếu, huyết áp giảm
- Khi mới phát bệnh gia súc thở ra có mùi thối khó chịu
- Chảy nước mũi nhiều, có màu xám nâu và có mùi thối khó chịu
- Gia súc thở nhanh và khó thở
- Ho, tiếng ho dài, ướt và có cảm giác đau
- Khi gõ vùng phổi: Có âm bùng hơi
- Lấy máu kiểm tra thấy có hiện tượng: Số lượng hồng cầu giảm, số lượng bạch cầu tăng gấp đôi
- Lấy đờm và dịch mũi kiểm tra thấy có sợi chun của tổ chức phổi
* Đối với viêm phổi hóa mủ:
Trang 24- Nếu vi trùng gây mủ theo đường tuần hoàn vào phổi thì bệnh phát ra kịch liệt, nhanh chóng, nhưng nếu bệnh kế phát từ thùy phế viêm thì bệnh tiến triển chậm Biểu hiện của bệnh như sau:
- Gia súc sốt cao và sốt không theo quy luật, gia súc mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn hay không ăn.
- Gia súc thở khó
- Nước mũi ít, có màu xanh nhưng không thối.
- Nghe phổi: Nghe có âm ran khô và ướt
- Lấy máu kiểm tra thấy số lượng bạch cầu tăng
- Lấy đờm, mũi kiểm tra thấy có sợi chun của tổ chức phổi.
e) Tiên lượng:
- Tùy theo tính chất của bệnh nguyên, sức đề kháng của cơ thể và ổ hoại thư,
ổ mủ to hay nhỏ quyết định.
f) Chẩn đoán: Chủ yếu dựa vào đặc điểm của bệnh Trên thực tế cần chẩn
đoán phân biệt với các bệnh sau:
+) Viêm hủy hoại ở phế quản:
- bệnh này sốt không cao, trong nước mũi không tìm thấy mô bào phổi và sợi chun
+) Bệnh giãn phế quản: Bệnh này gia súc thở ra cũng có mùi thối nhưng trong đờm và nước mũi không thấy có mô bào phổi và sợi chun
+) Bệnh biêm mũi và xoang mũi hoại thư: Bệnh này nước mũi chỉ chảy ra ở một bên mũi, lỗ mũi đau.
- Để ngăn chặn quá trình viêm lan tràn và giảm dịch thẩm xuất, nâng cao sức
đề kháng của cơ thể ta dùng đơn thuốc sau:
* Đối với đại gia súc:
Trang 25- Dùng thuốc trợ sức, trợ lực, tim như: Dung dịch Glucoza 30%, Cafein natribenzoat
* Chú ý: Nếu trong trường hợp ổ mủ to và nông ta tiến hành chọc dò, hút
mủ ra, sau đó dùng dung dịch sát trùng để rửa ổ mủ và cuối cùng dùng dung dịch kháng sinh bơm vào ổ mủ.
Bài 3: Bệnh ở hệ tiêu hóa
1 Bệnh viêm miệng (Chưa có)
2 Bệnh Bội thực dạ cỏ
2.1 Đặc điểm
- Bệnh bội thực dạ cỏ là do trong dạ cỏ chứa nhiều thức ăn làm cho thể tích của dạ dày tăng lên gấp bội, vách dạ dày căng Đây là bệnh mà trâu bò hay mắc nhất
2.2 Nguyên nhân
- Do gia súc ăn quá no: Trâu bò ăn quá no các loại thức ăn thô như rơm, cỏ khô, cây họ đậu, bã đậu hoặc do gia súc bị nhịn đói lâu ngày đột nhiên được ăn no,
ăn xog lại uống nhiều nước lạnh ngay có thể dẫn đến dạ cỏ bội thực.
- Do chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém hoặc thay đổi thức ăn đột ngột, trâu
bò cày kéo làm việc quá mệt nhọc hoặc ăn xong đi làm ngay, bò sữa mắc bệnh là
do thiếu vận động.
- Do cơ thể gia súc suy yếu, bộ máy tiêu hóa hoạt động kém hoặc do kế phát
từ các bệnh khác như nghẽn dạ lá sách, liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ ong…
2.3 Cơ chế phát bệnh
- Hoạt động của dạ cỏ là do hệ thần kinh thực vật chi phối vì vậy những nhân
tố gây bệnh ở bên ngoài hay bên trong cơ thể đều làm trở ngại đến hoạt động của
hệ thần kinh, làm giảm vận động của dạ cỏ, cuống hạ vị co thắt làm cho thức ăn
Trang 26tích lại ở dạ cỏ Do thức ăn bị tích lại ở dạ cỏ sẽ lên men, thối rữa sinh ra nhiều hơi, những chất này sẽ kích thích vào vách dạ cỏ làm cho dạ cỏ co giật từng cơn làm cho con vật đau đớn không yên Nếu hơi sinh ra nhiều sẽ gây chướng hơi, hơn nữa thức ăn sẽ lên men làm trương to vách dạ dày dẫn tới giãn dạ dày Bệnh tiến triển làm cho cơ trơn co bóp yếu dần, bệnh sẽ nặng thêm, vách dạ cỏ bị kích thích gây viêm hoại tử.
- Gõ vào vùng dạ cỏ thấy âm đục lấn âm bùng hơi
- Nghe thấy âm nhu động dạ cỏ giảm hẳn, nếu bụng nặng thì vùng bụng trái chướng to, con vật thở nhanh, tim đạp mạnh, chân đi loạng choạng, run rẩy, mệt mỏi hoặc nằm mê mệt không muốn dậy
- Lúc đầu con vật đi táo, sau đi lỏng, sốt nhẹ.
2.5 Tiên lượng
- Nếu bệnh nhẹ, không kế phát sang bệnh khác thì sau 3 – 5 ngày sẽ khỏi, nếu kế phát chường hơi, viêm ruột hay nhiễm độc thì gia súc có thể bị chết.
2.6 Chẩn đoán
- Trâu bò mắc bệnh có những đặc điểm sau đây:
+ Bụng trái căng to, sờ vào chắc dùng tay ấn vào vùng dạ cỏ sẽ để lại vết tay, gia súc không ăn hoặc giảm ăn, nhai lại giảm Cần nhận biết để chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
- Chướng hơi dạ cỏ: Bệnh này bệnh phát ra nhanh, vùng bụng trái căng to, sờ
dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc thở khó, chết nhanh.
- Liệt dạ cỏ: Bệnh này khi nắn vùng bụng cảm thấy thức ăn nát như cháo, nhu động dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc thở khó, chết nhanh.
- Viêm dạ tổ ong ngoại vật: Con vật có triệu chứng đau khi khám vùng dạ tổ ong.
- Những ngày sau cho gia súc ăn một ít thức ăn mềm, dễ tiêu và cho ăn làm nhiều lần trong ngày, đồng thời thụt ruột cho gia súc bằng nước ấm.
Trang 27- Để tống chất chứa trong dạ cỏ ra ngoài cho uống: Sulfat natri, dầu thầu dầu, pilocacpin để tiêm dưới da cho trâu bò.
- Nếu bệnh chuyển biến tốt dùng HCl lòa vào nước cho uống Đề phòng thức
ăn lên men dùng Ichthyl cho trâu bò dê cừu uống
- Có thể dùng lý liệu pháp để kích thích nhu động dạ cỏ, nếu bệnh nặng phải can thiệp bằng phẫu thuật ngoại khoa bằng cách mổ dạ cỏ lấy thức ăn ra.
- Nếu gia súc có hiện tượng suy tim thì dùng cafein hoặc long não để trợ tim.
- Nếu bội thực dạ cỏ phải dùng troca choch dạ cỏ để thoát hơi ra.
Trong thực tế lâm sàng bệnh có thể chữa bằng cách cho gia súc uống dung dịch bằng cách: 100g muối ăn giã với tỏi hòa vào 1 lít nước cho uống, dùng biện pháp moi phân hay thụt ruột để kích thích nhu động dạ cỏ.
3 Bệnh chướng hơi dạ cỏ cấp tính
3.1 Đặc điểm
Bệnh chướng hơi dạ cỏ là bệnh do gia súc ăn nhiều thức ăn dễ lên men, sinh
ra nhiều hơi sẽ tích lại trong dạ cỏ làm cho dạ cỏ chướng hơi phình to, ép vào cơ hoành làm trở ngại tới hô hấp tuần hoàn.
3.2 Nguyên nhân
- Do gia súc ăn nhiều thức ăn dễ lên men, sinh khí như những loại thức ăn xanh chứa nhiều nước, những cây cỏ thuộc họ đậu, thân cây ngô non, cây lạc tươi… hoặc gia súc ăn phải những thức ăn đang lên men dở ( cây cỏ, rơm mục) Bê nghé mắc bệnh này là do bị bú sữa không tiêu.
- ở Việt Nam trâu bò hay mắc bệnh này vào vụ Đông – Xuân nhất là lúc cây
cỏ non mới mọc và còn nhiều sương giá.
- Do gia súc ăn phải những thức ăn có chứa chất độc.
- Do gia súc làm việc quá sức hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột làm ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hóa.
- Bệnh phát sinh còn do kế phát từ bệnh liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ ong… hoặc do gia súc bị nằm liệt lâu ngày.
3.3 Cơ chế sinh bệnh
- Dưới tác động của các vi sinh vật có trong dạ cỏ làm cho thức ăn trong dạ
cỏ bị lên men và sản sinh ra các loại khí, những thức ăn còn thừa sẽ được ợ ra ngoài, một phần nhỏ thấm vào máu, phần còn lại theo đường ruột thải ra ngoài Khi thức ăn lên men phản xạ ợ hơi bị nhưng trệ gây nên chướng hơi dạ cỏ.
- Cũng có ý kiến cho rằng hơi tích lại trong dạ cỏ không chỉ là do thức ăn và điều kiện khí hậu gây ra mà còn do những bọt hơi hình thành trong dạ cỏ và dịch nhày của nước bọt.
- Cũng có ý kiến cho rằng hơi tích trong dạ cỏ là do chất glycozit gây ức chế trong dạ cỏ làm cho nhu động dạ cỏ giảm và tích hơi lại.
Song cho dù là do nguyên nhân nào đi nữa thì bệnh gây ra vẫn là do thức ăn lên men và chứa nhiều nước làm cho hơi sản sinh ra nhiều, làm rối loạn tuần hoàn ở
Trang 28vách dạ cỏ và ức chế thần kinh làm trở ngại đến sự nhai lại và ợ hơi, vách dạ cỏ bị thiếu máu, nhu động dạ cỏ giảm.
- Hơi tích lại làm cho thể tích dạ cỏ tăng lên đột ngột ép vào cơ hoành làm cho gia súc khó thở, máu về tim bị trở ngại sinh ra ứ huyết ở não, cơ năng giải độc của gan giảm, con vật có những cơn co thắt Đến cuối kỳ bệnh, dạ cỏ bị tê liệt, quá trình ợ hơi hoàn toàn bị ngừng trệ nên gia súc lâm vào trạng thái trầm trọng và gia súc có thể chết do khó thở và tuần hoàn trở ngại.
3.4 Triệu chứng
- Bệnh xuất hiện rất nhanh
+ Khi bệnh mới phát con vật tỏ ra không yên, bồn chồn, bụng ngày càng phình to và có triệu chứng đau bụng, con vật ngoảnh lại nhìn bụng, vẫy đuôi, cong lưng, 2 chân sau thu vào bụng.
+ Quan sát vùng bụng: Vùng bụng trái chướng to, hõm hông trái căng phồng
có khi vươn cao hơn cột sống.
- Khi gõ bụng trái thấy âm trống
- Nghe vùng dạ cỏ thấy lúc đầu nhu động dạ cỏ tăng sau giảm dần rồi mất hẳn, chỉ nghe thấy tiếng nổ lép bép do thức ăn tiếp tục lên men.
- Bệnh càng nặng gia súc đau bụng càng rõ rệt, biểu hiện gia súc vã mồ hôi,
uể oải, con vật ngừng ăn, ngừng nhai lại.
- Gia súc khó thở, tần số hô hấp tăng thường dạng hai chân trước để thở hoặc thè lưỡi ra để thở.
- Hệ thống tuần hoàn bị rối loạn, máu không dồn về tim được nên tĩnh mạch
cổ phồng to, tim đập nhanh, mạch yếu, huyết áp giảm, gia súc đi tiểu liên tục
Khi mổ gia súc thấy có hiện tượng chảy máu ở mũi và hậu môn, có hiện tượng lòi rom, mồm đầy bọt, thực quản vít chắc làm cho thức ăn lên đến tận miệng, phổi sung huyết, máu tím bầm.
3.5 Tiên lượng
Bệnh này thường xảy ra ở thể cấp nên rất nguy hiểm, khi gia súc phát bệnh nếu không kịp thời cứu chữa thì gia súc sẽ bị ngạt thở, trở ngại tuần hoàn và xuất huyết não làm cho gia súc chết nhanh.
* Chẩn đoán phân biệt
Cần nắm được đặc điểm chính của bệnh như bệnh phát triển rất nhanh, vùng bụng trái chướng to, trong dạ cỏ chứa đầy hơi, gia súc khó thở, tĩnh mạch cổ phồng to.
Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh bội thực dạ cỏ là bệnh này thì bệnh tiến triển chậm.
3.6 Điều trị
- Điều trị theo nguyên tắc: Tìm mọi biện pháp làm thoát hơi trong dạ cỏ, ức chế sự lên men, tăng cường nhu động dạ cỏ đòng thời chú ý trợ tim, trợ lực.
Trang 291 Làm thoát hơi trong dạ cỏ bằng cách dùng tay xoa bóp dạ cỏ nhiều lần, mỗi lần từ 10 – 15 phút, để gia súc đứng trên nền dốc ( đầu cao mông thấp) cho dễ thở, dội nước lạnh vào nửa thân sau, bôi Ichthyol vào lưỡi hoặc dùng tay kéo lưỡi
4 Trường hợp chướng hơi quá cấp phải dùng troca để chọc thoát hơi trong
dạ cỏ tuy nhiên chú ý khi chọc phải để hơi thoát ra từ từ.
5 Dùng thuốc trợ tim như: Cafein natri benzoat 20% - Tiêm dưới da liều lượng 10 – 15ml cho trâu bò.
4 Chứng không tiêu ở gia súc non (Chưa có)
5 Viêm ruột cấp tính
6 Viêm phúc mạc
7 Viêm dạ dày – ruột
8 Hội chứng đau bụng ngựa
Bài 4: Phòng, trị một số bệnh nội khoa khác
2.2.1 BỆNH VIÊM MÀNG NGOÀI TIM ( HAY VIÊM NGOẠI TÂM MẠC)
a) Đặc điểm:
- Quá trình viêm xảy ra ở màng bao tim
- Quá trình viêm hình thành tương dịch, fibrin, máu, mủ… chứa trong bao tim
- Trong thực tế có 2 trường hợp viêm ngoại tâm mạc ( Viêm ngoại tâm mạc
do ngoại vật và viêm ngoại tâm mạc không do ngoại vật)
- Bệnh này có tỷ lệ chết khá cao 90 – 95%
b) Nguyên nhân:
* Trường hợp viêm do ngoại vật:
- Trường hợp này thường xảy ra đối với động vật nhai lại Do đặc điểm cấu tạo gai lưỡi cũng như đặc điểm sinh lý của loài nhai lại mà dị vật lẫn vào thức ăn xuống dạ dày sau đó đâm thủng dạ dày vào cơ hoành, vào bao tim và gây viêm bao tim.
* Trường hợp viêm không do ngoại vật:
- Trường hợp này xảy ra đối với mọi loại gia súc nhưng lợn hay bị mắc nhất
Trang 30- Bệnh có thể do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm ( như bệnh lao, bệnh đóng dấu, tụ huyết trùng…)
- Bệnh có thể do quá trình viêm lan ở các cơ quan khác như viêm gan, viêm phổi… sở dĩ có hiện tượng viêm lan là do vi khuẩn di chuyển theo máu vào tim gây viêm bao tim.
c) Cơ chế sinh bệnh:
- Khi gia súc bị bệnh các kích thích bệnh lý sẽ thông qua thần kinh TW tác động vào ngoại tâm mạc làm cho ngoại tâm mạc xung huyết, dịch rỉ viêm tiết ra, đọng lại trong xoang bao tim Nếu dịch rỉ viêm tiết ra nhiều đồng thời trong ổ dịch
có nhiều fibrin thì dịch đọng lại trong bao tim làm cho hoạt động của tim bị trở ngại gây nên hiện tượng ứ huyết tĩnh mạch ( Do vậy trên lam sàng ta thấy gia súc bị phù vùng đầu và tĩnh mạch cổ phồng to)
- Phổi bị xung huyết và hệ thống tùân hoàn bị trở ngại gây nên hiện tượng rối loạn hô hấp Do vậy trên lam sàng ta thấy gia súc có hiện tượng thở khó.
- Mặt khác gia súc có phản xạ đau làm cho nhu động ruột và dạ dày giảm gây nên hiện tượng rối loạn tiêu hóa Do vậy trên lam sàng ta thấy lúc đầu gia súc bị táo bón sau đó bị viêm ruột ỉa chảy.
- Máu về thận ít làm cho khả năng siêu lọc của thận kém Do vậy trên lam sàng ta thấy gia súc đi tiểu ít Mặt khác, máu vào gan ít nên khả năng giải độc của gan kém cho nên gia súc dễ bị trúng độc cơ thể Trên lâm sàng ta thấy lúc sắp chết gia súc hôn mê hoặc coa giật
- Đồng thời do vi khuẩn tiết ra nhiều độc tố, độc tố này vào máu tác động vào trung khu điều tiết nhiệt Do vật trên lam sàng ta thấy gia súc bị sốt cao.
d) Triệu chứng: Có 2 giai đoạn
* Giai đoạn đầu:
- Con vật sốt cao 41 – 420C, kém ăn hoặc bỏ ăn, con vật có phản xạ đau ( Biểu hiện nghiến răng, đầu ngoảnh về phía vùng tim, khi nằm thường rất cẩn thận)
- Nhu động ruột và dạ dày giảm, con vật bị táo bón Đối với động vật nhai lại thì dạ cỏ thường bị chướng hơi mãn tính.
- Con vật tiểu ít.
- Khi sờ nắn vùng tim con vật có phản xạ đau ( Biểu hiện con vật né tránh) Đối với giai đoạn này thì việc chẩn đoán bệnh là rất khó khăn.
* Giai đoạn cuối:
- Con vật có hiện tượng phù vùng đầu, tĩnh mạch cổ nổi to, bỏ ăn, thở khó
- Dùng kim chọc dò xoang bao tim thấy có nhiều dịch chảy ra, khi lấy dịch kiểm tra thì cho kết quả dương tính
- Gia súc ỉa chảy ( Phân lỏng như bùn, màu đen, thối khắm)
- Cuối cùng con vật hôn mê rồi chết.
Trang 31- Lấy máu kiểm tra số lượng bạch cầu thấy bạch cầu tăng cao
- Lấy nước tiểu kiểm tra thì cho kết quả dương tính.
e) Bệnh tích:
- Bao tim chứa đày nước vàng đục hoặc có mủ.
- Giữa lá thành và lá tạng có nhiều sợi fibrin bám
- Xoang bao tim và xoang ngực tích nước ( lượng nước có thể từ 19 – 20 lít)
f) Chẩn đoán:
- Bệnh ở thời kỳ đầu rất khó chẩn đoán, vì vậy để chẩn đoán được chính xác cần phải nắm rõ các đặc điểm của bệnh như sau:
+ Con vật có phản xạ đau khi sờ nắn vùng tim
+ Khi gõ vùng tim thấy vùng tim mở rộng ( Âm phát ra là âm đục tuyệt đối hoặc là âm bùng hơi)
+ Khi nghe tim thấy có tiếng cọ ngoại tâm mạc hoặc là âm bơi
+ Có hiện tượng phù trước ngực, tĩnh mạch cổ nổi rõ, con vật có hiện tượng thở khó.
Trên thực tế lam sàng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh sau:
* Bệnh phù bao tim:
- Tuy nhiên ở bệnh này gia súc không sốt, vùng tim không đau.
* Bệnh tim to hay tim giãn:
- Tuy nhiên ở bệnh này bao tim và xoang bao tim không tích nước, khi nghe vùng tim không thấy có âm bơi và tiếng cọ màng tim.
kỳ đầu.
* Hộ lý:
- Cho gia súc nghỉ ngơi, ăn thức ăn dễ tiêu hóa và giàu dinh dưỡng, tránh cho
ăn những thức ăn dễ lên men sinh hơi.
- Dùng nước đá chườm vào vùng tim
- Để gia súc ở nơi yên tĩnh
* Điều trị bằng thuốc:
- Nếu gia súc bị viêm do ngoại vật thì ta nên loại thải
- Nếu viêm không do ngoại vật và bệnh mới ở thời kỳ đầu thì ta dùng phác
đồ điều trị như sau:
+) Dùng thuốc điều trị nguyên nhân chính:
Trang 32Ví dụ: - Nếu bệnh kế phát từ bệnh đóng dấu thì ta dùng Penicillin
- Nếu bệnh kế phát từ bệnh tụ huyết trùng thì ta dùng Streptomycin +) Dùng thuốc đề phòng nhiễm khuẩn kế phát:
- Dùng kháng sinh tiêm bắp ( Penicillin, gentamycin, lincocin, ampicillin…)
- Dùng Penicillin + Dung dịch Novocain 0,25% tiêm phong bế vào hạch sao hay hạch cổ dưới.
+) Dùng thuốc để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể, tăng cường giải độc của gan, tăng cường lợi tiểu và giảm dịch thẩm xuất.( Dung dịch Glucoza, Cafein natribenzoat, canxiclorua, urotropin, Vit C.)
+) Dùng thuốc điều trị triệu chứng:
- Nếu giai đoạn đầu gia súc bị táo bón ta dùng NaSO4 hoặc MgSO4 hòa với nước thường cho uống.
- Đại gia súc: 100 – 200 g/ con
- Tiểu gia súc: 50 – 100g/ con
- Lợn: 5 – 10 g/ con
- Chó: 2 – 5 g/ con ( Cho uống ngày 1 lần, liệu trình 2 ngày liền)
- Nếu gia súc ỉa chảy thì ta dùng thuốc cầm ỉa chảy ( Sulfuaguanidin, tetracyclin, Chloramphenicol…)
- Nếu bao tim và xoang bao tim tích nhiều dịch thì ta dùng kim chọc dò và hút bớt dịch đi rồi dùng dung dịch sát trùng rửa xoang bao tim, cuối cùng dùng dung dịch kháng sinh bơm vào xoang bao tim ( Liệu trình điều trị bệnh từ 5 – 7 ngày có thể 10 ngày).
2.2 2 BỆNH VIÊM CƠ TIM CẤP TÍNH:
a) Đặc điểm:
- Quá trình viêm xảy ra trong cơ tim, ở trạng thái cấp tính.
- Khi mới viêm, tim co bóp mạnh sau đó bị suy tim.
b) Nguyên nhân:
- Thường kế phát từ các bệnh khác:
+) Kế phát từ bệnh truyền nhiễm ( Dịch tả, nhiệt thán, đóng dấu…)
+) Kế phát từ các bệnh ký sinh trùng ( Lê dạng trùng, tiên mao trùng…) +) Do sự di chuyển của vi trùng từ các ổ viêm khác trong cơ thể ( Viêm tử cung, viêm phổi hoại thư…) đi đến và gây viêm cơ tim.
+) Do gia súc bị trúng độc một số loại hóa chất
+) Do bị viêm lan từ ngoại tâm mạc hoặc nội tam mạc sang.
Trang 33+) Do hiện tượng cơ thể bị dị ứng
c) Cơ chế sinh bệnh:
- Giai đoạn đầu của quá trình viêm, các kích thích bệnh lý tác động vào cơ tim và thần kinh điều khiển tự động của tim làm cho cơ tim xung huyết dẫn đến tim đập nhanh làm cho huyết áp tăng.
- Nếu bệnh tiếp tục tiến triển thì cơ tim bị thoái hóa làm cho cơ tim không đủ năng lượng dẫn đến hoạt động của tim bị yếu dẫn đến mạch yếu, huyết áp hạ, vùng
xa tim có hiện tượng thủy thũng Do tim yếu làm cho tuần hoàn bị trở ngại sinh ra hiện tượng ứ huyết ở gan, ruột làm cho nhu động ruột và sự tiết dịch giảm gây nên hiện tượng viêm ruột Cata làm cho con vật bị ỉa chảy.
- ở giai đoạn cuối của bệnh do lượng máu vào thận ít làm cho khả năng siêu lọc của thận giảm, hmà lượng urê trong máu tăng cao, con vật gầy yếu co giậit rồi chết.
d) Bệnh tích:
- Nếu ở giai đoạn đầu thì cơ tim có vệt hoặc điểm xuất huyết
- Cơ tim bị nhão, lòng quả tim ở to, thành tim mỏng.
- ở giai đoạn cơ tim thoái hóa màu quả tim trắng bệch, xám hay có màu đất sét, có khi có ổ mủ to bằng hạt gạo hay hạt đậu.
e) Triệu chứng:
- Con vật sốt, ủ rũ, kém ăn hoặc bỏ ăn.
- Sau 1 – 2 ngày mắc bệnh thì tim đập nhanh, sau 3 – 4 ngày sau khi mắc bệnh thì tim đập yếu dần, con vật bồn chồn khó chịu, đầu lắc lư, đi lại chậm chạp
- ở giai đoạn cuối có hiện tượng phù tổ chức dưới da, tĩnh mạch cổ phồng to Trong trường hợp bệnh quá nặng thì khi nghe tim có hiện tượng rung tim, huyết áp tĩnh mạch tăng cao ở giai đoạn đầu Sau đó do tim co bóp yếu dẫn đến tim đập chậm và huyết áp hạ Càng về cuối thời kỳ bệnh nhịp tim ngoại tâm thu xuất hiện ngày càng nhiều.
f) Chẩn đoán:
- Đối với bệnh này thì việc chẩn đoán là rất khó Do vậy để chẩn đoán có hiệu quả chúng ta nên tiến hành theo các bước như sau:
+ Trước tiên nghe tim và đếm tần số tim đập, sau đó cho gia súc vận động từ
5 – 10 phút rồi lại nghe tim và đếm tần số tim đập và theo dõi thời gian bao lâu thì tim trở lại hoạt động bình thường.
* Chú ý: Đối với tim bình thường thì sau khi vận động tim sẽ đập nhanh lên nhưng khoảng 2 phút sau thì tim trở lại hoạt động bình thường.
- Tuy nhiên trong trường hợp gia súc bị bệnh thì sau khi vận động thì tim đập nhanh lên và nó kéo dài từ 3 – 4 phút sau, đồng thời khi nghe tim có lẫn những tạp âm.
- Lấy máu kiểm tra thấy số lượng bạch cầu trung tính tăng
g) Điều trị:
Trang 34* Hộ lý:
- Để gia súc yên tĩnh, cho ăn thức ăn giàu dinh dưỡng và dễ tiêu.
- Lấy nước đá hay nước lạnh đắp vào vùng tim.
* Điều trị bằng thuốc:
* ở thời kỳ suy tim ta dùng thuốc trợ tim
- Đại gia súc: Dùng Cafein natribenzoat hay long não nước: Liều lượng: 10 –
15 ml/ con, cứ 3 – 4h tiêm 1 lần, tiêm 2 – 3 ngày liền.
- Tiểu gia súc và lợn: Dùng Cafein natribenzoat hay long não nước: Liều lượng 5 – 10 ml/ con, cứ 3 – 4h tiêm 1 lần, tiêm 2 – 3 ngày liền.
* Dùng thuốc lợi niệu:
- Dùng Diuretin với liều:
+ Đại gia súc: 5 ml/ con + Tiểu gia súc và lợn: 2ml/ con + Chó: 1ml/ con
( Tiêm dưới da ngày 1 lần)
* Chú ý: Không nên dùng thuốc lợi tiểu quá lâu, do vậy khi sử dụng nên
dùng cách quãng.
* Dùng thuốc trợ sức, trợ lực, giảm phù:
+ Glucoza, Cafein natribenzoat, urotropin, Vit C…
( Tiêm chậm vào tĩnh mạch ngày 1 lần)
Trang 35- Do chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém hoặc thay đổi thức ăn đột ngột, trâu
bò cày kéo làm việc quá mệt nhọc hoặc ăn xong đi làm ngay, bò sữa mắc bệnh là
do thiếu vận động.
- Do cơ thể gia súc suy yếu, bộ máy tiêu hóa hoạt động kém hoặc do kế phát
từ các bệnh khác như nghẽn dạ lá sách, liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ ong…
c) Cơ chế phát bệnh:
- Hoạt động của dạ cỏ là do hệ thần kinh thực vật chi phối vì vậy những nhân
tố gây bệnh ở bên ngoài hay bên trong cơ thể đều làm trở ngại đến hoạt động của
hệ thần kinh, làm giảm vận động của dạ cỏ, cuống hạ vị co thắt làm cho thức ăn tích lại ở dạ cỏ Do thức ăn bị tích lại ở dạ cỏ sẽ lên men, thối rữa sinh ra nhiều hơi, những chất này sẽ kích thích vào vách dạ cỏ làm cho dạ cỏ co giật từng cơn làm cho con vật đau đớn không yên Nếu hơi sinh ra nhiều sẽ gây chướng hơi, hơn nữa thức ăn sẽ lên men làm trương to vách dạ dày dẫn tới giãn dạ dày Bệnh tiến triển làm cho cơ trơn co bóp yếu dần, bệnh sẽ nặng thêm, vách dạ cỏ bị kích thích gây viêm hoại tử.
- Gõ vào vùng dạ cỏ thấy âm đục lấn âm bùng hơi
- Nghe thấy âm nhu động dạ cỏ giảm hẳn, nếu bụng nặng thì vùng bụng trái chướng to, con vật thở nhanh, tim đạp mạnh, chân đi loạng choạng, run rẩy, mệt mỏi hoặc nằm mê mệt không muốn dậy
- Lúc đầu con vật đi táo, sau đi lỏng, sốt nhẹ.
e) Tiên lượng:
- Nếu bệnh nhẹ, không kế phát sang bệnh khác thì sau 3 – 5 ngày sẽ khỏi, nếu kế phát chường hơi, viêm ruột hay nhiễm độc thì gia súc có thể bị chết.
f) Chẩn đoán:
- Trâu bò mắc bệnh có những đặc điểm sau đây:
+ Bụng trái căng to, sờ vào chắc dùng tay ấn vào vùng dạ cỏ sẽ để lại vết tay, gia súc không ăn hoặc giảm ăn, nhai lại giảm Cần nhận biết để chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
- Chướng hơi dạ cỏ: Bệnh này bệnh phát ra nhanh, vùng bụng trái căng to, sờ
dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc thở khó, chết nhanh.
- Liệt dạ cỏ: Bệnh này khi nắn vùng bụng cảm thấy thức ăn nát như cháo, nhu động dạ cỏ căng như quả bóng, gia súc thở khó, chết nhanh.
Trang 36- Viêm dạ tổ ong ngoại vật: Con vật có triệu chứng đau khi khám vùng dạ tổ ong.
g) Điều trị: Nguyên tắc phải làm hồi phục và tăng cường nhu động dạ cỏ,
tìm cách thải thức ăn tích lâu ngày trong dạ cỏ.
- Cho gia súc nhịn ăn 2 – 3 ngày ( không hạn chế uống nước) tăng cường xoa bóp vùng dạ cỏ, dắt cho gia súc vận động để tăng cường cơ năng vận động của dạ cỏ.
- Những ngày sau cho gia súc ăn một ít thức ăn mềm, dễ tiêu và cho ăn làm nhiều lần trong ngày, đồng thời thụt ruột cho gia súc bằng nước ấm.
- Để tống chất chứa trong dạ cỏ ra ngoài cho uống: Sulfat natri, dầu thầu dầu, pilocacpin để tiêm dưới da cho trâu bò.
- Nếu bệnh chuyển biến tốt dùng HCl lòa vào nước cho uống Đề phòng thức
ăn lên men dùng Ichthyl cho trâu bò dê cừu uống
- Có thể dùng lý liệu pháp để kích thích nhu động dạ cỏ, nếu bệnh nặng phải can thiệp bằng phẫu thuật ngoại khoa bằng cách mổ dạ cỏ lấy thức ăn ra.
- Nếu gia súc có hiện tượng suy tim thì dùng cafein hoặc long não để trợ tim.
- Nếu bội thực dạ cỏ phải dùng troca choch dạ cỏ để thoát hơi ra.
Trong thực tế lâm sàng bệnh có thể chữa bằng cách cho gia súc uống dung dịch bằng cách: 100g muối ăn giã với tỏi hòa vào 1 lít nước cho uống, dùng biện pháp moi phân hay thụt ruột để kích thích nhu động dạ cỏ.
2.3.2 BỆNH CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ CẤP TÍNH:
Bệnh chướng hơi dạ cỏ là bệnh do gia súc ăn nhiều thức ăn dễ lên men, sinh
ra nhiều hơi sẽ tích lại trong dạ cỏ làm cho dạ cỏ chướng hơi phình to, ép vào cơ hoành làm trở ngại tới hô hấp tuần hoàn.
a) Nguyên nhân:
- Do gia súc ăn nhiều thức ăn dễ lên men, sinh khí như những loại thức ăn xanh chứa nhiều nước, những cây cỏ thuộc họ đậu, thân cây ngô non, cây lạc tươi… hoặc gia súc ăn phải những thức ăn đang lên men dở ( cây cỏ, rơm mục) Bê nghé mắc bệnh này là do bị bú sữa không tiêu.
- ở Việt Nam trâu bò hay mắc bệnh này vào vụ Đông – Xuân nhất là lúc cây
cỏ non mới mọc và còn nhiều sương giá.
- Do gia súc ăn phải những thức ăn có chứa chất độc.
- Do gia súc làm việc quá sức hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột làm ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hóa.
- Bệnh phát sinh còn do kế phát từ bệnh liệt dạ cỏ, viêm dạ tổ ong… hoặc do gia súc bị nằm liệt lâu ngày.
Trang 37b) Cơ chế sinh bệnh:
- Dưới tác động của các vi sinh vật có trong dạ cỏ làm cho thức ăn trong dạ
cỏ bị lên men và sản sinh ra các loại khí, những thức ăn còn thừa sẽ được ợ ra ngoài, một phần nhỏ thấm vào máu, phần còn lại theo đường ruột thải ra ngoài Khi thức ăn lên men phản xạ ợ hơi bị nhưng trệ gây nên chướng hơi dạ cỏ.
- Cũng có ý kiến cho rằng hơi tích lại trong dạ cỏ không chỉ là do thức ăn và điều kiện khí hậu gây ra mà còn do những bọt hơi hình thành trong dạ cỏ và dịch nhày của nước bọt.
- Cũng có ý kiến cho rằng hơi tích trong dạ cỏ là do chất glycozit gây ức chế trong dạ cỏ làm cho nhu động dạ cỏ giảm và tích hơi lại.
Song cho dù là do nguyên nhân nào đi nữa thì bệnh gây ra vẫn là do thức ăn lên men và chứa nhiều nước làm cho hơi sản sinh ra nhiều, làm rối loạn tuần hoàn ở vách dạ cỏ và ức chế thần kinh làm trở ngại đến sự nhai lại và ợ hơi, vách dạ cỏ bị thiếu máu, nhu động dạ cỏ giảm.
- Hơi tích lại làm cho thể tích dạ cỏ tăng lên đột ngột ép vào cơ hoành làm cho gia súc khó thở, máu về tim bị trở ngại sinh ra ứ huyết ở não, cơ năng giải độc của gan giảm, con vật có những cơn co thắt Đến cuối kỳ bệnh, dạ cỏ bị tê liệt, quá trình ợ hơi hoàn toàn bị ngừng trệ nên gia súc lâm vào trạng thái trầm trọng và gia súc có thể chết do khó thở và tuần hoàn trở ngại.
c) Triệu chứng:
- Bệnh xuất hiện rất nhanh
+ Khi bệnh mới phát con vật tỏ ra không yên, bồn chồn, bụng ngày càng phình to và có triệu chứng đau bụng, con vật ngoảnh lại nhìn bụng, vẫy đuôi, cong lưng, 2 chân sau thu vào bụng.
+ Quan sát vùng bụng: Vùng bụng trái chướng to, hõm hông trái căng phồng
có khi vươn cao hơn cột sống.
- Khi gõ bụng trái thấy âm trống
- Nghe vùng dạ cỏ thấy lúc đầu nhu động dạ cỏ tăng sau giảm dần rồi mất hẳn, chỉ nghe thấy tiếng nổ lép bép do thức ăn tiếp tục lên men.
- Bệnh càng nặng gia súc đau bụng càng rõ rệt, biểu hiện gia súc vã mồ hôi,
uể oải, con vật ngừng ăn, ngừng nhai lại.
- Gia súc khó thở, tần số hô hấp tăng thường dạng hai chân trước để thở hoặc thè lưỡi ra để thở.
- Hệ thống tuần hoàn bị rối loạn, máu không dồn về tim được nên tĩnh mạch
cổ phồng to, tim đập nhanh, mạch yếu, huyết áp giảm, gia súc đi tiểu liên tục
Khi mổ gia súc thấy có hiện tượng chảy máu ở mũi và hậu môn, có hiện tượng lòi rom, mồm đầy bọt, thực quản vít chắc làm cho thức ăn lên đến tận miệng, phổi sung huyết, máu tím bầm.
d) Tiên lượng:
Trang 38Bệnh này thường xảy ra ở thể cấp nên rất nguy hiểm, khi gia súc phát bệnh nếu không kịp thời cứu chữa thì gia súc sẽ bị ngạt thở, trở ngại tuần hoàn và xuất huyết não làm cho gia súc chết nhanh.
e) Chẩn đoán phân biệt:
Cần nắm được đặc điểm chính của bệnh như bệnh phát triển rất nhanh, vùng bụng trái chướng to, trong dạ cỏ chứa đầy hơi, gia súc khó thở, tĩnh mạch cổ phồng to.
Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh bội thực dạ cỏ là bệnh này thì bệnh tiến triển chậm.
4 Trường hợp chướng hơi quá cấp phải dùng troca để chọc thoát hơi trong
dạ cỏ tuy nhiên chú ý khi chọc phải để hơi thoát ra từ từ.
5 Dùng thuốc trợ tim như: Cafein natri benzoat 20% - Tiêm dưới da liều lượng 10 – 15ml cho trâu bò.
2.3.3 BỆNH VIÊM DẠ TỔ ONG DO NGOẠI VẬT
Loài động vật nhai lại trong quá trình ăn thường nhai nuốt phải những dị vật sắc nhọn như đinh, dây thép, chìa khóa làm chọc thủng dạ tổ ong gây nên viêm.
Trang 39tích nhỏ lực co bóp lớn nên ngoại vật ở trong đó dễ đam thủng vào vách dạ dày, nếu ngoại vật nằm dọc thì dễ đâm thủng còn ngoại vật nằm ngang thì dắt vào vách
dạ tổ ong, ngoại vật theo sự co bóp của dạ tổ ong sẽ đâm vào vách cơ hoành xuyên vào ngoại tâm mạc, có khi vào tới cơ tim, khi đó sự hoạt động của tim bị trở ngại, máu ứ lại trong tĩnh mạch gây nên phù ở trước bụng
Bệnh kéo dài gây nên viêm cục bộ, có hiện tượng dính dạ tổ ong với cơ hoành
Khi mắc bệnh co vật đau đớn ảnh hưởng đễn tiêu hóa nên thường gây nên liệt dạ cỏ, khi cơ hoành bị kích thích cũng gây nên ho ngoài ra bệnh còn có thể gây nên hiện tượng nhiễm trùng huyết làm cho con vật chết nhanh.
c) Bệnh tích:
Thành dạ tổ ong dính liền với cơ hoành và ngoại tâm mạc có khi còn có nhiều tổ chức liên kết bao bọc lấy ngoại vật ngoài ra còn gây nên viêm phúc mạc, phế mạc cấp hoặc mãn tính.
d) Triệu chứng:
1 Bệnh thường phát ra mạnh khi gia súc vận động mạnh hay khi rặn đẻ Khi bệnh mới phát gia súc thường có biểu hiện giảm nhai lại, luôn ợ hơi, nhu động ruột giảm, táo bón, năng suất sữa giảm, con vật đau đớn Bệnh ngày càng nặng và điều trị không có hiệu quả.
2 Con vật đau đớn nên thường đứng, ngại nằm xuống đứng lên, chân khuỳnh lưng cong Khi vận chuyển, dắt xuống dốc, nhảy qua rãnh hoặc đi vòng quanh đều làm cho con vật rất khó chịu, đau đớn Biểu hiện của gia súc là đứng yên, mắt lim dim, 2 chân trước dạng ra, khi mệt quá con vật nằm xuống một cách thận trọng, khi đứng lên thì cơ chân run rẩy, con vật rên rỉ, giảm nhai lại.
3 Khi bệnh nặng dần thì các biểu hiện triệu chứng toàn thân là rõ ràng, nhiệt
độ lên cao, mũi khô, mắt sung huyết, chảy nước mắt, tĩnh mạch cổ phồng to, gia súc thở nông và ngắn, tim đạp nhanh, cuối cùng gia súc kiệt sức, gầy rộc, tiêu hóa đình trệ, suy tim, rối loạn về tuần hoàn, hiện tượng phù xuất hiện.
4 Kiểm tra máu thấy số lượng bạch cầu tăng rõ, trong nước tiểu xuất hiện albumin niệu
5 Dùng các phương pháp khám dạ tổ ong như thúc vào vùng mỏm kiếm, ấn
u vai và kéo da vùng dạ tổ ong thì biểu hiện con vật rất khó chịu, nếu dùng thuốc làm tăng nhu động dạ cỏ thì con vật rất đau
e) Tiên lượng:
- Bệnh thường tiến triển chậm, khi khỏi, khi không và thường gây nên những bệnh kế phát như dính dạ tổ ong với các cơ quan khác, mưng mủ ở gan, lách, phổi
và cuối cùng gia súc thường bị nhiễm độc rồi chết.
- Nếu ngoại vật đâm vào vách dạ tổ ong mà tổ chức liên kết tăng sinh bao bọc lấy ngoại vật thì con vật có thể khỏi bệnh.
f) Chẩn đoán:
Trang 40- Bệnh này thường có các đặc điểm sau: Bệnh nổi lên một cách đột ngột sau khi gia súc vận động mạnh (như trong trường hợp gia súc cái rắn đẻ), những rối loạn về tiêu hóa thì biểu hiện không rõ Con vật có biểu hiện đau đớn, khó chịu, đi đứng và nằm luôn ở các tư thế khác thường
g) Điều trị: Điều trị theo nguyên tắc là hạn chế sự phát triển của bệnh đề
2.3.4 BỆNH VIÊM RUỘT CATA CẤP TÍNH.
Viêm ruột Cata là thể viêm xảy ra trên lớp biểu mô của vách ruột làm ảnh hưởng tới nhu động và hấp thụ của ruột.
Trong ruột chứa nhiều dịch nhày, tế bào biểu mô ở vách ruột long ra, bạch cầu xâm nhiễm những thức ăn chưa kịp tiêu hóa cùng với các sản phẩm phân giải kích thích vào vách ruột làm tăng nhu động sinh ra ỉa chảy.