(NB) Giáo trình Trồng một số loài cây lương thực trang bị cho người học những hiểu biết rất cơ bản về một số loài cây lương thực hiện nay (cây lúa, cây ngô, cây khoai lang và cây sắn); những biện pháp thiệu kỹ thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự trồng, chăm sóc 4 loài cây lương thực đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương, từ làm đất, trồng, chăm sóc đến thu hoạch và bảo quản những sản phẩm của cây trồng nhằm cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.
Trang 11
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI
TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LƯƠNG THỰC
NGHỀ: KHUYẾN NÔNG LÂM TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
Lưu hành nội bộ
Trang 33
LỜI GIỚI THIỆU
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Sau hơn
30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước-góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Chính vì vậy, Mô đun “Trồng một số loài cây lương thực” là mô đun bắt buộc quan trọng trong chương trình đào tạo hệ trung cấp ngành/nghề Trồng trọt của Trường Cao đẳng Lào cai Mô đun này trang bị cho học sinh những hiểu biết rất cơ bản về một số loài cây lương thực hiện nay (cây lúa, cây ngô, cây khoai lang và cây sắn); những biện pháp thiệu kỹ thuật, kỹ năng nghề quan trọng để người học có thể tự trồng, chăm sóc 4 loài cây lương thực đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương, từ làm đất, trồng, chăm sóc đến thu hoạch và bảo quản những sản phẩm của cây trồng nhằm cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
Mô đun còn trang bị thêm cho học sinh chuyên ngành Trồng trọt có những kiến thức
bổ ích về những vấn đề liên quan đến thời vụ, đất đai, khí hậu, kỹ thuật trồng và chăm sóc…, giúp các em ra trường có thể tham gia công tác ở các lĩnh vực Trồng trọt, Khuyến nông lâm, Bảo vệ thực vật, chỉ đạo, quản lý sản xuất ở gia đình và địa phương
Bố cục của giáo trình mô đun gồm có 4 bài, trong mỗi bài bao gồm 2 phần: phần kiến thức lý thuyết và phần hướng dẫn thực hành Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo nhiều giáo trình, sách tham khảo của các trường đại học và của các tác giả có chuyên môn sâu về những lĩnh vực có liên quan Tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi có những thiếu sót, chúng tôi rất mong muốn nhận được những ý kiến tham gia, đóng góp của các chuyên gia và đông đảo bạn đọc
Xin trân thành cảm ơn./
Lào Cai, ngày…tháng 11 năm 2019 Tham gia biên soạn
Bùi Quang Trung
Trang 44
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: Trồng một số loài cây lương thực
Mã mô đun: MĐ17
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:
- Vị trí: Mô đun Trồng một số cây lương thực được bố trí giảng dạy sau khi sinh viên
đã tích lũy đủ các kiến thức cơ sở, ngành như: nhân giống cây trồng, đất và dinh dưỡng cây trồng, phòng trừ dịch hại…
- Tính chất: Mô đun Trồng một số cây lương thực là mô đun chuyên môn bắt buộc trong chương trình đào tạo nghề Trồng trọt trình độ Trung cấp
- Ý nghĩa và vai trò của mô đun: mô đun Trồng một số loài cây lương thực trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết của quy trình kỹ thuật trồng một số loài cây lương thực (lúa, ngô, khoai lang, sắn) từ việc xác định được các thời kỳ sinh trưởng phát triển và yêu cầu sinh thái tương ứng với từng thời kỳ; thời vụ trồng; kỹ thuật làm đất, bón phân và chăm sóc để đạt được năng suất, chất lượng cao
Mục tiêu của mô đun: Sau khi học xong mô đun “Trồng một số loài cây lương thực”,
Học viên có khả năng:
- Về kiến thức: Trình bày được giá trị kinh tế, điều kiện ngoại cảnh, các giai đoạn sinh trưởng-phát triển, kỹ thuật trồng và chăm sóc và thu hoạch một số loài cây lương thực chủ yếu (lúa, ngô, khoai lang, sắn)
- Về kỹ năng: Trồng, chăm sóc lúa, ngô, khoai lang, sắn đúng yêu cầu kỹ thuật
- Về năng lực tự chủ và chịu trách nhiệm:
+ Làm việc độc lập trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm một phần đối với nhóm
+ Hướng dẫn, giám sát những người khác thực hiện công việc đã định sẵn
+ Đánh giá hoạt động của nhóm và kết quả thực hiện
Trang 55
BÀI 1: TRỒNG LÚA
Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT 1.1 GIÁ TRỊ KINH TẾ, ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY LÚA 1.1.1 Giá trị kinh tế
* Giá trị kinh tế: Lúa là một trong ba loài cây lương thực hàng đầu thế giới (lúa mì,
lúa gạo, ngô) ba loài cây này cung cấp trên 50% năng lượng cho toàn thế giới
Lúa đứng thứ hai về diện tích và sản lượng, về diện tích lúa giao động trong khoảng 145-155 triệu ha, về sản lượng giao động trong khoảng 550-600 triệu tấn Người châu Á sử dụng lúa làm lương thực chính Khoảng 35% sản lượng lúa trên thế giới được dùng làm thức
ăn gia súc.; Lúa còn làm nguyên liệu chế biến rượu, cồn, bánh, kẹo…; các sản phẩm phụ như rơm, rạ dùng làm nấm, chất đốt, phân bón…; làm nguyên liệu xuất khẩu góp phần mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
* Giá trị dinh dưỡng: Lúa cung cấp khoảng 23% năng lượng cho con người, trong lúa
có đầy đủ các chất dinh dưỡng, khoáng và các vitamin
- Tinh bột: Chiếm khoảng 62,4%
- Protein: khoảng 6-10%
- Lipit: 0,52%
- Vitamin và khoáng: Lúa cung cấp nhiều vitamin nhất là vitamin nhóm B: B1, B6…
(B1 chiếm 0,45 mg/100g hạt tương đương lúa mì và ngô)
1.1.2 Điều kiện ngoại cảnh
a) Nhiệt độ
- Nhiệt độ thích hợp nhất cho lúa sinh trưởng là 25-28oC, nếu nhiệt độ < 17oC cây lúa sinh trưởng chậm lại, nếu nhiệt độ < 13oC cây lúa ngừng sinh trưởng, nhiệt độ > 40oC cây lúa sinh trưởng nhanh nhưng mềm yếu Ở vụ xuân, nếu trời rét, thời tiết âm u kéo dài thì cây lúa có thể chết
- Ở thời điểm phân hoá đòng và thời kỳ trỗ bông phơi màu nếu nhiệt độ < 22oC, sẽ làm tăng tỉ lệ lép
b) Ánh sáng
* Cường độ ánh sáng: Ảnh hưởng đến quang hợp của cây lúa, nếu thiếu ánh sáng vào
thời kỳ phân hoá đòng thì năng suất lúa sẽ giảm sút nghiêm trọng
* Thời gian chiếu sáng: Ảnh hưởng đến sự phát dục (ra hoa kết quả) Số giờ chiếu
sáng trong ngày trên 13 giờ gọi là ánh sáng ngày dài, dưới 13 giờ gọi là ánh sáng ngày ngắn Lúa nguyên thuỷ là cây trồng phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, mức độ phản ứng với ánh sáng ngày ngắn khác nhau tuỳ theo giống
Trang 61.2.1 Một số nhóm giống lúa được sử dụng vào sản xuất
a) Phân nhóm theo thời gian sinh trưởng
* Nhóm giống ngắn ngày: Thời gian sinh trưởng < 130 ngày như các giống CR203,
DH60, CN2, Sán ưu 63, Sán ưu quế 99… Các nhóm giống ngắn ngày thường được sử dụng
để gieo cấy trong vụ lúa mùa sớm, xuân muộn hoặc vụ hè thu
* Nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình (trung ngày): Thời gian sinh
trưởng từ 130-160 ngày như các giống V14, C17, C71… Các nhóm giống trung ngày thường được sử dụng để gieo cấy trong vụ lúa mùa, trà xuân chính vụ
* Nhóm giống dài ngày: Thời gian sinh trưởng > 165 ngày như DT10, IRI 7494
(13/2), VN10, 314, C180, Bao thai lùn… Các giống dài ngày thường được gieo cấy trong vụ mùa chính vụ, mùa muộn
b) Phân nhóm theo đặc điểm phản ứng với ánh sáng và nhiệt độ
* Nhóm giống lúa cảm ôn: Gồm các giống lúa trồng ở vụ chiêm xuân và vụ mùa sớm như:
+ Trà xuân sớm: DT10, IRI 7494 (13/2), VN10, xuân số 2…
+ Trà xuân chính vụ: C70, C71, NN8…
+ Trà xuân muộn: CR203, DH60, IRI 35-2…
+ Trà lúa mùa trung: C70, C71…
* Nhóm giống lúa cảm quang: Gồm các giống lúa trồng ở trà lúa mùa muộn như:
Bao thai lùn, Mộc tuyền, Nếp cái hoa vàng…chỉ ra hoa kết quả trong điều kiện ánh sáng ngày dài (vụ mùa)
c) Phân nhóm theo yêu cầu sinh thái
Trang 77
* Lúa nước- lúa cạn, lúa chịu hạn:
- Lúa nước gồm các loại hình lúa có tưới, lúa nổi, lúa nước sâu…Trên mặt ruộng luôn luôn có một lớp nước che phủ
- Lúa cạn là lúa trồng trong mùa mưa trên chân đồi bãi không giữ nước, thời gian sinh trưởng rút ngắn, gieo sớm và chịu được hạn
- Lúa chịu hạn là lúa nước chịu được hạn, có thể trồng trên các bãi hoặc ruộng không chủ động nước Nếu ruộng cạn lúa vẫn sinh trưởng bình thường, nếu giữ nước có thể thâm canh cho năng suất cao hơn Lúa chịu hạn có thể gieo thẳng trên ruộng khô, hoặc gieo mạ dược và cấy như lúa nước
- Lúa nước có thể trồng trên cạn bình thường, những giống lúa cạn khi đưa xuống nước có thể bị chết
* Lúa mùa, lúa xuân:
- Lúa mùa: Được trồng trong mùa mưa nhiệt độ cao, nắng nhiều, là loại hình lúa đầu tiên
- Lúa xuân: Do những tiến bộ khoa học kỹ thuật, người ta đã chọn được những giống
lúa chịu rét, thời gian sinh trưởng ngắn để gieo trồng vào vụ xuân
Ngoài ra, phân loại theo phẩm chất hạt: có lúa tẻ, lúa nếp Phân nhóm theo đặc điểm chọn tạo có lúa thuần, lúa lai
* Một số giống lúa hiện trồng ở Lào cai:
- Có thể sử dụng các giống lúa chịu lạnh (ĐS1, J01, J02), Bắc thơm 7, Tám thơm; các giống lúa bản địa như Séng Cù, Khẩu Nậm Xít, nếp Thẩm Dương Giống DS3, Nghi Hương 2308…thích hợp trồng ở những địa phương vùng cao chỉ trồng được 1 vụ lúa
- Một số giống lúa do Trung tâm giống nông nghiệp Lào Cai chọn tạo và khảo nghiệm cho năng suất cao: VL20, Tân thịnh, LC212, LC18, LC25, LC270
1.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa
1.2.2.1 Mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
- Sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là hai thời kỳ độc lập nhưng chúng
có mối quan hệ mật thiết với nhau
- Giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau: Nếu có hạt giống tốt thì cây mạ sẽ sinh trưởng khoẻ, ruộng mạ đồng đều tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng mạnh, cây to đẻ nhánh khoẻ, đó là cơ sở để cây lúa bông to, hạt mẩy
- Ở các giống lúa khác nhau, khoảng thời gian từ kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng đến bắt đầu sinh trưởng sinh thực khác nhau rõ rệt
+ Đối với các giống ngắn ngày, cây lúa chưa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng đã bước vào sinh trưởng sinh thực (chưa kết thúc đẻ nhánh đã bước vào làm đòng)
+ Đối với các giống trung ngày, cây lúa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng thì bước vào
sinh trưởng sinh thực (kết thúc đẻ nhánh đã bước vào làm đòng)
Trang 88
+ Đối với các giống dài ngày, sau khi cây lúa kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng vẫn tiếp tục phân hoá đốt một thời gian rồi mới chuyển sang phân hoá đòng (kết thúc đẻ nhánh
sẽ phân hoá đốt rồi bước vào làm đòng)
- Do 2 thời kỳ có mối quan hệ mật thiết như trên nên trong kỹ thuật trồng lúa, chúng
ta cần phải chú ý:
+ Tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp vào mỗi thời kỳ để cây lúa phát triển cân đối + Với các giống ngắn ngày, nên chú ý chăm bón sớm, tập trung để lúa đẻ nhánh tốt + Với các giống dài ngày, nên rút nước phơi ruộng ở thời kỳ phân hoá đốt để tăng khả năng chống đổ
1.2.2.2 Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng
a) Thời kỳ mạ
* Thời kỳ từ nảy mầm đến ba lá: Cây lúa sống nhờ chất dinh dưỡng trong hạt, sức
sống của cây mạ phụ thuộc vào chất lượng hạt giống
* Thời kỳ từ 3 lá đến khi nhổ cấy: Cây lúa hút dinh dưỡng trong đất, quang hợp tạo ra
chất hữu cơ để nuôi cây, do đó việc bón phân thúc giai đoạn cây được 3 lá cực kỳ quan trọng
b) Thời kỳ đẻ nhánh
Ở lúa gieo thẳng, lúa đẻ nhánh khi có 4 lá Ở lúa
cấy, lúa bắt đầu đẻ nhánh khi cây bén rễ hồi xanh Điều
kiện thời tiết, đất đai, chất lượng mạ… có ảnh hưởng lớn
đến thời gian bén rễ hồi xanh Thông thường lúa cấy vụ
mùa, vụ hè thu sớm bén rễ hồi xanh nhanh hơn vụ chiêm
xuân Mạ nền sớm bén rễ hồi xanh nhanh hơn mạ dược
Trong thời kỳ đẻ nhánh, giai đoạn đầu (20-25 ngày)
các nhánh đẻ ra sẽ hình thành bông Giai đoạn sau các
nhánh đẻ ra không hình thành bông (vô hiệu) Vì vậy, cần
xúc tiến cho lúa đẻ nhánh sớm để tập trung vào ức chế đẻ
nhánh vô hiệu
1.2.2.3 Giai đoạn sinh trưởng sinh thực
a) Thời kỳ phân hoá đòng: Thông thường, sau khi kết thúc giai đoạn sinh trưởng sinh
dưỡng, điểm sinh trưởng ở đầu thân chuyển chất và bắt đầu phìng to lên để hình thành đòng
Theo Đinh Dĩnh, quá trình hình thành đòng gồm 8 bước như sau:
* Bước 1 Điểm sinh trưởng bắt đầu phân hoá: Điểm sinh trưởng tròn lại, xuất hiện
các u nhỏ, thời gian của bước 1 khoảng 1-2 ngày, lúc này mắt thường chưa phân biệt được, chỉ số lá 76-80%, lá thứ tư đang kéo dài
Hình 1.1 Cây mạ
Trang 99
* Bước 2 Phân hoá gié cấp 1: Các u nhỏ xuất hiện và kéo dài ra, lúc này mắt thường
chưa nhìn thấy, chỉ số lá 80-83%, thời gian bước 2 kéo dài 2-4 ngày Bước 1 và 2 chỉ quan sát được trên kính hiển vi
* Bước 3 Phân hoá gié cấp 2 và hoa: Trên các rãnh u xuất hiện nhiều cụm hoa nhỏ
có lông trắng phủ trên bề mặt, cuối bước này số lượng hoa đã ổn định chỉ số lá 85-90%, lá thứ 2 đang thoát Đòng có chiều dài 0,5-3,5 mm, có nhiều lông trắng phủ kín bông non (lúa cứt gián hay lúa có rệu), lúc này có thể quan sát bằng kính lúp, cuối bước có thể quan sát bằng mắt thường Bước này kéo dài khoảng 4-6 ngày
* Bước 4 Phân hoá, hình thành nhị và nhụy: Lúc này số hoa trên đòng đã được xác
định, trục bông các gié lớn lên rõ rệt, hoa hình thành nhụy, nhị và bao phấn Chỉ số lá 91- 95%, lá thứ 2 tiếp tục kéo dài, chiều dài đòng khoảng 3,5-15 mm Bước 4 kéo dài 5 - 6 ngày
* Bước 5 Hình thành tế bào mẹ hạt phấn: Khi nhụy, nhị xuất hiện thì vỏ trấu lớn
nhanh, độ dài nhị vượt quá 1/2 vỏ trấu Đến lúc vỏ trấu trong và ngoài gần sát nhau thì bao phấn chia 2 phòng rồi 4 phòng
Nhuỵ phân hoá thành đầu núm nhụy, vỏ trấu lớn nhanh gấp đôi chiều dài mày trấu, xuất hiện tế bào mẹ hạt phấn, hoa lúa dài 1-3 cm Chỉ số lá 95-97%, chiều dài đòng 1,5-5
cm Bước này kéo dài 4-5 ngày
* Bước 6 Tế bào mẹ hạt phấn phân bào giảm nhiễm: Bước này bắt đầu khi tai lá
đòng từ (–3) đến (+ 5) so với tai lá thứ hai, chiều dài đòng 5-10cm Hai lần phân bào đã tạo thành 2 rồi 4 tế bào hạt phấn
Bao phấn có màu vàng rõ rệt, đầu nhuỵ nổi lên hình núm nhỏ, chiều dài của hoa đạt 1/2 chiều dài cuối cùng 3-5 mm
Chỉ số lá 97-100%, lá đòng đang thoát Bước này dễ mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nhất, thời gian kéo dài 1-3 ngày
* Bước 7 Tích luỹ các chất trong hạt phấn: Màng ngoài tế bào hạt phấn hình thành,
thể tích hạt phấn tăng lên, xuất hiện lỗ nảy mầm, các chất trong hạt phấn dần đầy lên, chiều dài vỏ trấu tăng nhanh, chỉ số lá đạt 100%, chiều dài đòng hoàn chỉnh, hoa lúa dài 5-6 mm
và có mầu trắng, thời gian này kéo dài 6-7 ngày
* Bước 8 Hoàn thành hạt phấn: Lúc này bông lúa đã thành thục, bông và hoa có độ
dài tối đa, hoa có mầu xanh, thời gian kéo dài 3-4 ngày
b) Thời kỳ trỗ bông phơi màu: Hiện tượng đòng thoát ra khỏi bẹ lá gọi là hiện tượng
lúa trỗ Thời gian để một bông lúa trỗ là từ 2-6 ngày Thời gian để một ruộng lúa trỗ là từ 10-14 ngày, tuỳ theo giống và điều kiện thời tiết, chế độ chăm sóc… Thời gian lúa trỗ càng ngắn càng tránh được các điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Trong điều kiện thời tiết thuận lợi như trời quang, gió nhẹ, nhiệt độ từ 28- 32oC thì hoa lúa bắt đầu phơi màu vào 8-9 giờ sáng và rộ vào lúc 10-11 giờ trưa
Trang 10c) Thời kỳ chín: Sau khi cây lúa hoàn thành quá trình thụ phấn thụ tinh và tích ôn
được 1000oC thì chuyển sang thời kỳ chín, thời gian kéo dài từ 30-35 ngày
* Chín sữa: + Kéo dài 7-10 ngày Hạt gạo là chất trắng đặc như sữa
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 25% vật chất khô, 75% nước
* Chín sáp: + Kéo dài 7-10 ngày Hạt gạo cứng hơn, chất khô tăng dần
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 50% vật chất khô, 50% nước
* Chín hoàn toàn:
+ Kéo dài 7-10 ngày Vỏ chấu chuyển sang màu vàng sáng, chất khô trong hạt tăng
+ Cuối thời kỳ này, hạt gạo chứa 75% vật chất khô, 25% nước
* Chú ý: Đảm bảo đủ nước đặc biệt từ 15-20 ngày sau lúa trỗ
1.3 GIEO CẤY LÚA
1.3.1 Làm mạ
a) Thời vụ
* Vụ lúa xuân: Từ năm 1974 trở về đây lúa xuân đã được đưa vào thay thế lúa chiêm
và đã nhanh chóng trở thành vụ chủ lực, tuỳ từng vùng mà có lịch gieo cấy khác nhau
- Vùng núi bắc bộ: bao gồm cả tiểu vùng ấm tiếp giáp trung du, và tiểu vùng rét đông bắc
Việc bố trí thời vụ lúa cần đảm bảo: Vùng núi ấm lúa trỗ từ 1-15/5; vùng rét lúa trỗ từ 5-10/6
Ở vụ này có 3 trà lúa xuân đó là:
+ Trà xuân sớm: Gieo mạ từ 20-25/11, cấy vào những ngày ấm đầu tháng 2
+ Trà xuân chính vụ (trà xuân trung): Gieo mạ từ 25/11- 5/12, cấy xong trước ngày 05/3
+ Trà xuân muộn: Gieo mạ nền từ 15/2-20/2, cấy xong trước ngày 10/3
- Vùng núi rét trà xuân muộn gieo mạ sân, mạ xúc từ ngày 10-20/3, cấy xong chậm
nhất ngày 10/4
- Về cơ cấu giống: Trên cơ sở thời gian gieo và thời gian dự định cho lúa trỗ có thể tìm ra giống có thời gian sinh trưởng phù hợp để gieo cho từng trà Về giống, ngoài giống đang sử dụng rộng rãi như CR203, Khang dân 18, ải 32, cần gieo các giống lúa lai như San
ưu 63, Nhị ưu 63, Cương ưu 63 và một số giống chịu hạn CH2, CH133…
* Vụ lúa mùa: Là vụ có diện tích lớn nhất ở miền bắc, có ba trà là mùa sớm, mùa
trung và mùa muộn
Trang 1111
* Trà lúa mùa sớm và cực sớm: Trà này được cấy trên chân đất để trồng cây vụ đông sớm
hoặc chính vụ Giống lúa được sử dụng là giống có thời gian sinh trưởng ngắn và chịu nóng
Trà lúa mùa cực sớm được gieo từ 25/5-10/6, tuổi mạ từ 18-20 ngày, giống được sử dụng thường dưới 100 ngày như CN2, OMCS7, ĐH60, Nếp 352…
Trà lúa mùa sớm được gieo từ ngày 25/5-10/6, tuổi mạ từ 20-25 ngày, giống sử dụng
có thời gian sinh trưởng từ 100-120 ngày như Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, San ưu 63, Bồi tạp sơn thanh, Khang dân 18, Lưỡng quảng, CR203, A20, CH2, CH3, N28…trà này cần tính toán để
có thể thu hoạch vào 25/9 đến đầu tháng 10 để kịp làm vụ đông
* Trà lúa mùa trung: Được gieo trồng trên chân ruộng hai vụ lúa, hoặc trồng cây vụ
đông muộn Gieo mạ từ ngày 10-25/6, cấy xong trước ngày 25/7, tuổi mạ từ 25-30 ngày Sử dụng giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 120-145 ngày như C70, C71, CR203, Nhị Ưu 63, Shan ưu 63, Nhị ưu 838…
* Trà mùa muộn: Bố trí gieo cấy trên chân vàn thấp hoặc trũng với các giống lúa có
thời gian sinh trưởng từ 145 ngày trở lên (sử dụng giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn) Gieo mạ từ 25/5-20/6, cấy xong trong tháng 7, chậm nhất là 7/8 Các giống sử dụng là Bao thai, Mộc tuyền, Hồng Công 1, Bac ưu 64, C15, U17, Tám, Dự, Nếp cổ truyền…
b) Làm đất, bón phân
* Làm đất
- Yêu cầu: Dù áp dụng phương thức nào đi nữa thì đất gieo mạ cũng phải đạt được yêu cầu phẳng và nhuyễn để mạ sinh trưởng trên đó thuận lợi, không bị khô hạn hoặc ngập cục bộ
Đất mạ ruộng được cày bừa nhiều lần, làm luống rộng từ 1,2 - 1,4m, rãnh sâu 0,2m, rộng 0,2m để tiện đi lại chăm sóc và tưới nước
- Mạ sân, mạ bờ: Trên nền đất cứng hoặc nền gạch của sân nhà, bờ ruộng, đổ bùn lên thành luống rộng từ 1,2m - 1,4m, ở giữa 2 luống để rãnh rộng 15cm hoặc đặt gạch để tiện đi lại Sau khi đổ bùn, san mỏng dày từ 1,5 - 3cm, tạo cho mặt luống phẳng và thoát nước khi t-
ới Nên chọn nền đất có độ nghiêng nhất định, có lợi cho quá trình chăm sóc hơn
- Mạ không đất: Tìm nơi đất bằng, tránh được chim, chuột hoặc tốt nhất là có những chiếc khay nhựa, khay gỗ có mặt phẳng để gieo mạ Trên nền đất mới đó có thể lót lá hoặc lót nilon rồi gieo hạt giống vào Khi tiến hành gieo mạ trên nền đất cứng và mạ không đất vì diện tích không lớn, thời gian lại ngắn nên cần chọn nơi gieo thật thuận lợi cho việc tưới nước và phòng chống chim chuột
* Bón phân
- Lượng phân bón cho 1 sào ruộng mạ: Tuỳ đất mà sử dụng lượng phân bón khác nhau Có thể bón với lượng 3- 4 tạ phân chuồng thật hoại mục + (3-4)kg đạm urê + (10-15)kg supe lân + (2-3)kg kali Clorua/sào (360m2), ngoài ra nếu đất chua có thể bón thêm (20-25)kg vôi bột/sào
Trang 1212
- Cách bón: Bón lót: Sau khi làm đất kỹ thì bón lót sâu 2 tạ phân chuồng/sào, sau đó
bừa lại 1 lượt, lên luống, dùng phân chuồng thật hoai mục bỏ rải đều trên mặt luống mỗi sào 1- 2 tạ, dùng cào răng dài vùi trộn phân vào đất, bón tiếp trên mặt luống mỗi sào (10-15)kg supe lân + (1-2)kg kali Clorua + (2-3)kg đạm urê Bón xong dùng cào răng hoặc bằng tay vùi khoả phân vào đất ở độ sâu từ 3-4cm
c) Chọn hạt giống, xử lý, ngâm, ủ hạt giống
* Chọn hạt giống: Hạt giống tốt là hạt giống còn nguyên vẹn, không sâu bệnh, chín
kỹ, mẩy, có sức nẩy mầm tốt, mầm mập có mầu trắng ngà
* Xử lý thóc giống: Nhằm chọn ra 100% hạt chắc, loại bỏ toàn bộ hạt lép lửng, diệt
một số mầm bệnh ký sinh trên vỏ hạt để tránh lây lan ra cây mạ và cây lúa
- Trong điều kiện cho phép nên phơi hạt giống dưới nắng nhẹ từ 2-3 giờ, quạt để loại
bỏ hạt lép trước khi ngâm để xúc tiến hoạt động của các hệ men, tăng khả năng nảy mầm
- Loại bỏ hạt lửng bằng cách: Dùng nước muối tỷ trọng 1,1 để xử lý thóc giống sẽ loại bỏ được toàn bộ hạt lép lửng
- Phương pháp xử lý tiến hành như sau:
+ Pha dung dịch nước muối: Dùng 10 lít nước sạch hoà vào 2,3kg muối ăn, khuấy đều cho tan hết muối
+ Cách thử nồng độ: Dùng tỷ trọng kế hoặc trứng gà tươi để thử Thả quả trứng gà mới đẻ vào dung dịch nước muối đó pha, quả trứng nổi lập lờ, nửa chìm nửa nổi là được Nếu quả trứng chìm trong nước là dấu hiệu thiếu muối thì cho thêm muối, nếu trứng nổi trên mặt nước là tỷ trọng quỏ cao cần cho thêm nước
+ Cho thóc vào dung dịch trên, sau 5-10 phút vớt những hạt lép lửng ra, lấy những hạt chìm đãi sạch đem đi ngâm ủ để gieo mạ sẽ được những cây mạ khoẻ đảm bảo chất lượng và sạch bệnh
+ Định lượng muối cần: 1lít nước cần 230gam muối để pha dung dịch một lần, sau mỗi lần dùng lại cần bổ sung thêm 5% lượng muối ban đầu Xử lý 10kg thóc (cần san làm 3 lần)10 lít nước và 2,53kg muối
* Xử lý thóc giống để diệt mầm bệnh
- Xử lý bằng nước nóng (54oC): Pha 2 phần nước lạnh với 3 phần nước sôi (3 sôi 2 lạnh) ngâm trong vòng 5-10 phút, lượng nước xử lý cần gấp 3-5 lần lượng thóc cần xử lý để
có nhiệt độ 54oC (10kg thúc giống cần 30 lít nước núng 54oC) (Chú ý: Trước và sau khi cho
thóc giống vào xử lý cần dùng nhiệt kế kiểm tra để luôn đảm bảo nhiệt độ 54 o C mới đảm bảo
đủ nhiệt để diệt được nấm Nếu chưa đủ 54 o C cho thêm nước sôi vào, vừa đổ vừa khuấy đều)
- Xử lý bằng nước vôi trong (2-3%): Dùng 200-300g vôi cục hoặc 400-500g vôi mới tôi hoà tan trong 10 lít nước sạch, để lắng 15- 20 phút rồi lọc lấy 6-7 lít nước vôi trong để ngâm 6kg đến 7 kg thóc giống trong thời gian từ 10-12 giờ
Trang 1313
- Xử lý bằng các thuốc trừ nấm: CuSO4 (1-4%), Bavistin, Daconil, Captan…Pha nồng
độ 0,3% ngâm trong 12 giờ
d) Ngâm, ủ hạt giống
* Ngâm hạt giống: Thóc giống sau khi xử lý vớt ra, rửa sạch và đưa vào ngâm nước
lã Đối với vụ Hè thu, vụ Mùa ngâm 24-36 giờ đối với lúa thuần và 12-18 giờ đối với lúa lai.; Đối với vụ Xuân ngâm 48-72 giờ đối với lúa thuần và 24-36 giờ đối với lúa lai (vụ xuân thời tiết lạnh ngâm lâu hơn vụ mùa) Ngâm đến khi hạt thóc có phôi mầm màu trắng là được Thay nước 6-8 giờ/1 lần trong quá trình ngâm
* Ủ hạt giống: Sau khi ngâm xong, vớt thóc ra đãi sạch nước chua và đem ủ bằng
thúng, bằng bao tải gai, một ngày đảo từ 2-3 lần, trời rét cần tưới nước ấm thường xuyên, kết hợp ngâm, ủ, đảo sẽ điều chỉnh được quá trình phát triển của mầm và rễ
e) Gieo mạ
- Khi gieo mạ cần gieo sấp tay, đảm bảo gieo đều, chia mộng mạ thành 2-3 phần để sau khi ném mộng mạ nằm đều trên mặt ruộng, ném mạnh tay để gieo chìm 1/3 mộng mạ xuống
- Với các giống lúa thuần: Gieo từ 30-35kg hạt giống cho 1 sào mạ
- Với các giống lúa lai: Gieo từ 8-10kg hạt giống/1sào mạ, để mạ ra được ngạnh trê
g) Chăm sóc mạ
Do đặc điểm của từng giai đoạn mà có cách chăm sóc phù hợp
- Giai đoạn mạ non: Từ khi nảy mầm đến khi mạ được 3 lá, đặc điểm của giai đoạn
này là mầm, rễ phát triển được là nhờ những chất phân giải ra từ phôi nhũ Ở giai đoạn này chúng ta giữ nước cho đủ ẩm, tránh để nước ngập thời gian dài, không để quá khô hạn giúp cho hạt thóc và mầm, rễ mạ có đủ nước, đủ ôxy để hạt phân giải từ từ, cung cấp chất cho mầm và rễ phát triển
Nếu gặp nhiệt độ thấp, ta gieo với mật độ dày hơn và có thể phủ tro bếp để làm tăng nhiệt độ cho ruộng mạ, ở cuối giai đoạn này có thể bón bổ sung một ít phân nếu ruộng mạ chưa được bón đủ phân chuồng, phân lân và kali
- Giai đoạn mạ khoẻ (> 4 lá đến khi nhổ cấy): Mạ chuyển sang giai đoạn sống nhờ
dinh dưỡng từ đất Rễ và lá hoạt động mạnh giúp mạ
sinh trưởng nhanh và đẻ nhánh, vì thế cần phải làm
đất gieo mạ kỹ, bón lót đủ phân (nhất là phân chuồng
và lân, bón đủ kali) để mạ quang hợp được tốt và
chống chịu sâu bệnh bại Ở giai đoạn này cần căn cứ
vào sự sinh trưởng của mạ mà điều khiển sinh trưởng
Trang 14Mạ thường bị các loại sâu bệnh như: Sâu đục thân, sâu năn, bọ trĩ, bệnh von, bệnh tuyến trùng, bệnh tiêm lửa
Ngoài ra cần phòng chống mạ khỏi bị chết rét trong vụ xuân bằng biện pháp gieo đúng thời vụ, gieo mật độ dày, bón tro bếp, điều chỉnh nước Mạ mùa cần phòng chống mạ già ống bằng cách cho ruộng thoát nước, gieo mạ thưa và cấy đúng tuổi, phải làm đất kỹ và lọc hạt giống cẩn thận trước khi gieo Gieo mạ đúng mật độ, tránh để cỏ dại lấn át Chế độ nước đúng cũng giúp cho việc phòng trừ cỏ dại Người ta tiến hành loại bỏ cỏ dại vào lúc nhổ mạ và lúc cấy, đặc biệt loại trừ cỏ lồng vực, muốn vậy phải lưu ý đến đặc điểm sinh vật học của lá lúa và lá cỏ
Mạ đạt tiêu chuẩn là cứng cây, bộ rễ khoẻ, đủ số lá, chiều cao vừa phải, sạch sâu bệnh, sạch cỏ dại Cấy mạ đúng tiêu chuẩn lúa sẽ nhanh hồi xanh, đẻ nhánh sớm, đẻ tập trung có lợi cho năng suất sau này
Nếu gieo mạ vào vụ đông xuân ta cần:
- Chống rét cho mạ bằng các biện pháp như che phủ ni lông, rắc tro bếp, hun khói cung cấp nhiệt gạt sương buổi sớm, đêm tháo nước vào ngày tháo nước đi
- Tưới nước cho mạ: Thực hiện chế độ tưới rãnh để giữ ẩm mặt luống
- Bón thúc cho mạ: Có thể bón thúc cho mạ khi đạt 3 lá thật
- Mạ đạt tiêu chuẩn: Cứng cây, đanh dảnh, không bị sâu bệnh, đúng tuổi
1.3.2 Cấy
a) Thời vụ
- Lúa chiêm cấy tốt nhất vào cuối tháng 12 đầu tháng 1
- Lúa xuân sớm cấy tốt nhất là vào cuối tháng 1 đến ngày 5/2
- Lúa xuân chính vụ cấy tốt nhất từ ngày 5/2-20/2
- Lúa xuân muộn cấy từ ngày 20/2 – trước ngày 10/3
- Lúa mùa sớm cấy từ cuối tháng 6- đầu tháng 7
- Lúa mùa trung cấy từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 7
- Lúa mùa muộn (với giống có thời gian sinh trưởng trên 165 ngày), cấy từ cuối tháng
6 đến đầu tháng 7
Với các giống cảm quang cấy kết thúc trước ngày 20/8
b) Làm đất, bón lót phân
Trang 1515
* Làm đất:
- Làm ải: Thường được làm trong vụ đông không gieo trồng các loại cây khác
- Cày ải: Cày khi đất còn đủ ẩm để tạo ra tầng đất theo đường cày, cày luống rộng 1,2 m phơi ải khoảng 10 ngày
1 Đổ ải: Khoảng 10 1 15 ngày trước cấy cho nước vào ngập luống, ngâm 21 3 ngày cho
ải vỡ vụn rồi bừa ngả
- Làm dầm: Những nơi không chủ động tưới tiêu, nếu tháo cạn nước để làm ải sẽ
không có nước để cấy lúa Trong trường hợp này chỉ có thể áp dụng biện pháp làm dầm ruộng cấy Quá trình làm dầm phải trải qua các khâu sau đây:
- Ngả dầm: Bừa hoặc cuốc sâu ruộng để rạ được vùi vào bùn, ngâm nước cho rạ thối kỹ
- Bừa lại: khi rạ đã thối bừa lại cho rạ nát, vùi sâu vào đất và ruộng nhuyễn bùn
- Thau chua, rửa mặn, xổ phèn:
+ Những vùng bị nhiễm chua, sau khi bừa ngả để lắng trong rồi tháo kiệt ra kênh, sông, sau đó cho nước phù sa vào bừa thật nhuyễn
+ Đất chuyên lúa là những chân đất trũng khó thoát nước làm 2-3 vụ/năm Loại đất này thường làm dầm, nếu có điều kiện thì làm ải, cần phải làm sớm để dầm ngấu, ải nỏ
+ Trường hợp đang phơi ải gặp phải mưa lớn thì chuyển ngay sang giữ nước làm dầm + Đất luân canh lúa mầu là những chân cao thường cấy vụ mùa, làm mầu vụ xuân, đất này không phơi ải mà cần làm dầm để trừ cỏ dại
+ Đất thịt nhẹ pha cát: Là đất thích hợp cho sinh trưởng của cây lúa nhất, nên cày 2-3 lần, bừa 2-3 lần (gồm cày vỡ, lật úp gốc rạ), cày ngả nhằm đảo đất; cày cấy nhằm làm đất nhỏ, nhuyễn, dễ cấy
+ Độ cày sâu nên cày hết tầng canh tác từ 10-15cm, không cày phá vỡ tầng đế cày vì như vậy sẽ như chiếc nồi thủng đáy Các lần cày giáp nhau nên cày vuông góc với nhau để tránh bị lỏi
* Bón phân
- Tổng lượng phân bón/ha là: 10-15 tấn phân hữu cơ, 100-140kg N, 80-120kg P2O5, 50-60kg K2O
Trang 1616
- Bón lót: Bón toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, khi cày lần 3 Bón 30% đạm và 30% kali trước khi bừa cấy
- Lưu ý: lượng phân thương phẩm cần bón tùy thuộc vào đất và giống khác nhau Ví
dụ lượng phân bón cho lúa thuần Séng cù Lào Cai như sau: 300-350 phân chuồng, 15-20kg phân lân supe, 6-8kg đạm urê, 4-6kg kali
Cách bón:
+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng, phân lân + 40% Đạm urê + 30% kg Kali
+ Bón thúc lần 1 (Sau khi cấy 7 ngày) 40% Đạm urê + 40% kg Kali
+ Bón thúc lần 2 ( Bón đón đòng) : Bón 20% Đạm urê + 30% kg Kali
c) Tiêu chuẩn cây mạ đem cấy
* Tuổi mạ: Tuổi mạ ở vụ xuân và vụ mùa được tính khác nhau
- Ở Vụ xuân, tuổi mạ được tính theo lá vì vụ xuân nhiệt độ ngày thay đổi thất thường Tuổi mạ được tính bằng 35% số lá trên thân chính để vẫn còn mắt đẻ và đỡ bị dập nát khi nhổ cấy
+ Mạ xuân chính vụ: Từ 5,5-6 lá
+ Mạ nền: Từ 2,5-3 lá
- Ở vụ mùa, tuổi mạ được tính theo ngày
Công thức: Tuổi mạ = (n-1) x 7 ngày (trong đó n là thời gian sinh trưởng tính bằng tháng)
- Tuổi cụ thể: Mạ mùa: Từ 35-40 ngày, mạ hè thu: Từ 18-20 ngày
- VD: giống lúa có thời gian sinh trưởng 120 ngày thì n = 4 và tuổi mạ = 21 ngày
* Hình thái cây mạ: Cứng cây, đanh dảnh màu xanh vàng, không bị ống, không sâu bệnh
+ Đất xấu cấy dày hơn đất tốt; mạ già cấy dày hơn non
- Mật độ cấy được xác định bằng số dảnh cơ bản trên đơn vị diện tích
+ Lúa chiêm cao cấy với mật độ từ 30 - 35 khóm/m2, 4 - 6 dảnh/khóm
+ Lúa xuân thấp cây cấy với mật độ từ 40 - 45 khóm/m2, 4 - 6 dảnh/khóm, nếu cây
mạ gieo trên nền đất cứng thì cấy thưa hơn
+ Lúa mùa cao cây cấy với mật độ từ 30 - 35 khóm/m2, 4 - 6 dảnh/khóm
Trang 17- Di chuyển giật lùi trong khi cấy
Hình 1.3 Cấy ngửa tay
1.4 CHĂM SÓC LÚA
1.4.1 Điều tiết nước
- Giai đoạn sau cấy: Giữ nước 4-5 cm đến khi lúa bén rễ hồi xanh
- Giai đoạn lúa đẻ nhánh: Khi lúa bắt đầu đẻ nhánh để nước 2-3cm, để lúa đẻ nhánh khoẻ Có thể rút hết nước trong 4-5 ngày sau đó lại cho nước 5-6cm
- Giai đoạn sau khi lúa đẻ nhánh: Nên giữ nước ở mức 6-10cm Không nên để ruộng khô vì cỏ sẽ mọc Mức nước cao có tác dụng hạn chế cây lúa đẻ nhánh vô hiệu
1.4.2 Làm cỏ sục bùn, bón phân
a) Làm cỏ sục bùn
* Ý nghĩa: Làm cỏ sục bùn có tác dụng diệt trừ cỏ dại, vùi phân tránh mất đạm, đất
lúa thông thoáng, giải phóng khí độc, làm đứt rễ già, kích thích ra rễ mới
* Biện pháp kỹ thuật: Làm cỏ đợt một khi lúa bén rễ hồi xanh từ 9-12 ngày sau cấy
Trước khi làm cỏ nên rút bớt nước (khoảng 2-3 cm) để dễ làm cỏ và tránh mất phân Lần này kết hợp với bón phân thúc đẻ nhánh, cần bón phân trước sau đó mới dùng cào làm cỏ để vùi phân Các đợt làm cỏ sau cách đợt trước từ 12-15 ngày, làm cỏ 1-3 lần tuỳ thuộc vào chất
lượng cỏ trong ruộng Khi lúa làm đòng thì kết thúc làm cỏ (Yêu cầu: diệt cỏ dại, đưa phân
xuống sâu, không ảnh hưởng đến rễ lúa) Đẩy cào cỏ cải tiến dọc theo khoảng cách giữa 2
hàng lúa, vừa đẩy vừa sục bùn, vơ cỏ đặt lên bờ
b) Bón phân cho lúa
Trang 18+ Đợt 1: Lúc lúa bén rễ hồi xanh bón 50% đạm kết hợp làm cỏ sục bùn
+ Đợt 2: Khi lúa bắt đầu phân hoá đòng (trước khi trỗ 25-30 ngày), bón 70% kali và 20% đạm
* Bón phân cho lúa mùa: Tổng lượng phân bón/ha là: 10-15 tấn phân hữu cơ;
* Các loại sâu bệnh thường gặp:
- Sâu đục thân: Dùng Padan 10g (khoảng 1 thìa cà phê) pha với 1 bình nước (8-10 lít), và phun 2 - 3 bình cho 1 sào
Hình 1.4 Bướm 2 chấm và sâu đục thân lúa
Trang 1919
- Sâu cuốn lá: Dùng Ofatox liều lượng từ 10-20 ml (khoảng 1-2 lọ Pelicilin) pha 1 bình (8-10 lít) và phun 2 bình cho một sào
Hình 1.5 Sâu cuốn lá lúa
- Rầy: Dùng Trebon 10ml (khoảng 1 lọ Pelicilin) pha 1 bình (8-10 lít) và phun 3 bình cho một sào, hoặc Bassa 50EC từ 20 - 25 ml (khoảng 02 lọ Pelicilin) pha 1 bình (8-10 lít) và phun 3 bình cho một sào
Hình 1.6 Rầy nâu hại lúa
- Bệnh khô vằn: Dùng 20 - 22 ml thuốc Validacin (khoảng 2 lọ Pelicilin) pha 1 bình (10 lít) và phun 3 bình cho một sào
- Bệnh bạc lá: Phải sử dụng cân đối các loại phân NPK để phòng bệnh : Khi bị bệnh bạc lá thì không được bón đạm và dùng Starner 20WP phun 13 - 15g (khoảng 1 thìa cà phê đầy pha vào một bình nước và phun 3 bình cho 1 sào)
Trang 2020
Hình 1.7 bệnh bạc lá lúa
1.5 Thu hoạch, bảo quản sản phẩm
1.5.1 Thu hoạch
- Cần thu hoạch đúng độ chín để đảm bảo năng suất và phẩm chất của gạo
- Chọn ngày nắng ráo để thu hoạch lúa Có thể dùng máy hoặc dùng liềm để gặt Gặt đến đâu hết đến đó, không để sót bông, rụng hạt ngoài đồng Nếu là lúa mùa thì để chín kỹ hơn vụ xuân (lúa đã hoàn toàn chuyển sang màu vàng
- Đối với lúa lai, thời gian để kết hạt và chín kéo dài hơn so với các giống lúa truyền thống Do đó nên thu hoạch lúa lai muộn một vài ngày trong trường hợp gieo và cấy luân phiên không gặp trở ngại và không bị kết hạt muộn
phải được xử lí chống mối mọt
- Bảo quản thóc trong Silo (thùng Inox)
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày giá trị kinh tế, yêu cầu sinh thái của cây lúa
2 Sự sinh trưởng phát triển của cây lúa có thể phân chia thành những giai đoạn, thời
kỳ nào? Dựa vào các thời kỳ này, anh chị hãy đề xuất biện pháp chăm sóc nhằm nâng cao năng suất cây lúa?
3 Có những phương pháp làm mạ nào? Trình bày kỹ thuật làm mạ dược và mạ nền?
4 Trình bày kỹ thuật cấy lúa ngoài ruộng cấy?
5 Địa phương anh (chị) hiện đang trồng những giống lúa nào? Tại sao lại trồng giống lúa đó? Nêu kỹ thuật trồng lúa đang được áp dụng tại địa phương?
Trang 2121
Phần 2: HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÔNG VIỆC: NGÂM, Ủ HẠT LÚA GIỐNG 1/B1/MĐ17 Bước
công
việc
Nội dung
trang thiết bị Ghi chú
- Phơi hạt dưới nắng nhẹ 2 – 3 giờ, quạt
để loại bỏ hạt lép trước khi ngâm
- Loại bỏ hạt lửng bằng cách dùng nước muối tỷ trọng 1,1 (dùng nước sạch hoà vào 2,3kg muối)
- Thử nồng độ: Dùng nhiệt kế hoạch trứng gà tươi
- Cho thóc vào dung dịch sao 5-10 phút thì vớt ra
- Định lượng muối cần: 1lít nước cần 230gam muối
Thóc giống,
- Bằng nước vôi trong (2-3%): Dùng 200-300g vôi cục mới tôi hoà trong 10lít nước sạch để lắng 15-20 phút rồi lọc lấy 6-7 lít nước vôi trong ngâm 6-7kg thóc trong 10-12 giờ
Thóc giống, nước nong và lạnh, gáo, xô, vôi
+ Vụ Xuân: ngâm 48-72 giờ đối với lúa thuần và 24-36 giờ đối với lúa lai
- Thay nước 6-8 giờ/ lần trong quá trình ngâm
đã được xử
lý, chậu, nước lạnh và nóng, thúng, bao tải
Trang 2222
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÔNG VIỆC: NGÂM, Ủ HẠT LÚA GIỐNG 1/B1/MĐ17 Bước
công
việc
Nội dung
trang thiết bị Ghi chú
- Vớt ra rửa sạch đem ủ bằng thúng, bao tải gai
- Mỗi ngày đảo 2-3 lần trời rét kết hợp với tưới nước thường xuyên
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÔNG VIỆC: SẢN XUẤT MẠ 2/B1/MĐ17 Bước
công
việc
Nội dung
trang thiết bị Ghi chú
* Mạ khô Cuốc cho đất tơi, nhỏ, sạch cỏ dại Lên luống rộng từ 1 – 1,2m, cao 0,15 -0,20m, rãnh rộng 0,20 – 0,25m, mặt luống phẳng
* Mạ nền Chọn nơi có nền đất cứng hoặc sân gạch,
xi măng Tốt nhất là gieo trên nền đất, dùng giấy hoặc lá chuối lót trước khi đưa bùn tạo nền gieo Nền gieo đảm bảo độ dày 2-3cm
- Cách bón: Có thể bón lót toàn bộ (trộn với đất) hoặc để lại 1/2 lượng đạm + 1/2
- Cuốc, xẻng, phân bón
- BHLĐ
- Các loại phân bón
Trang 2323
PHIẾU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÔNG VIỆC: SẢN XUẤT MẠ 2/B1/MĐ17 Bước
công
việc
Nội dung
trang thiết bị Ghi chú
lượng kali để bón thúc khi cây có 2-3,5 lá
* Mạ khô Khi gieo mạ gieo sÊp tay, cần đảm bảo gieo đều, gieo song phủ 1 lớp đất nhỏ, dày 1cm
* Mạ nền
- Khi gieo mạ gieo sÊp tay, cần đảm bảo gieo đều, chia mộng mạ thành 2 – 3 phần để sau khi ném mộng mạ nằm đều trên ruộng, ném mạnh tay để gieo chìm 1/3 mộng mạ xuống
Thóc giống đã
ủ
Trang 2424
BÀI 2: TRỒNG NGÔ Phần 1: KIẾN THỨC LÝ THUYẾT 2.1 GIÁ TRỊ KINH TẾ, ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY NGÔ 2.1.1 Giá trị kinh tế
a) Giá trị kinh tế: Các nước tiên tiến trên thế giới dùng 20% sản lượng ngô làm
lương thực Ngô còn được dùng làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, dùng để chế biến bánh kẹo
Dầu ngô dùng trong công nghiệp thực phẩm, chất tẩy rửa, sơn, chế biến tinh bột,
rượu, cồn, bánh kẹo
b) Giá trị dinh dưỡng: Hạt ngô là nguồn cung cấp năng lượng tốt cho con người vì
có chứa nhiều chất dinh dưỡng: tinh bột, chất béo, đạm… Thành phần dinh dưỡng của ngô
so với các loại cây ngũ cốc khác có giá trị tương đương
- Thành phần dinh dưỡng của hạt ngô có mặt các a xít amin, Lizin, Tryptophan, Isolizin…
1.1.2 Điều kiện ngoại cảnh
* Nhiệt độ
- Cây ngô có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nhưng qua quá trình chọn lọc và thuần hoá, ngày nay ngô có thể trồng được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau
- Nhiệt độ tối thiểu để hạt nảy mầm là 9-10oC Nếu nhiệt độ < 13oC năng suất ngô sẽ giảm
- Nhiệt độ tối đa cây có thể chịu 40 - 46oC Nếu thời tiết quá khô và nóng (nhiệt độ >
30oC) đúng vào thời kỳ trỗ cờ, phun râu thì năng suất sẽ giảm Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến cây ngô vào trước trỗ cờ phun râu 1 tuần
- Nhiệt độ thích hợp để ngô sinh trưởng là 25-28oC
Trang 25- Giai đoạn chín: Yêu cầu về nước của ngô giảm xuống, lượng nước chỉ cần 15-25% tổng lượng nước yêu cầu Nếu trời hạn, hạt ngô chín ép; nếu mưa nhiều hạt chín chậm, dễ bị nảy mầm và sâu bệnh
2.2 MỘT SỐ NHÓM GIÓNG VÀ CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY NGÔ
2.2.1 Một số nhóm giống ngô được sử dụng vào sản xuất
a) Phân nhóm theo thời gian sinh trưởng:
* Nhóm ngắn ngày (chín sớm): Thời gian sinh trưởng từ 70-95 ngày Năng suất nhóm
này thấp nhưng có thời gian sinh trưởng ngắn nên thường được dùng để tăng vụ Ví dụ các giống TSB 2, LS 3…
* Nhóm trung ngày (chín trung bình): Thời gian sinh trưởng từ > 95-120 ngày Năng suất
khá, thường được dùng trong vụ chính Ví dụ: Các giống P11, Bioseed, LVN11, LVN6, LS6…
* Nhóm dài ngày(chín muộn): Thời gian sinh trưởng > 120 ngày Năng suất cao, song
thời gian sinh trưởng dài nên ít phổ biến (ví dụ: Các giống: S888, VM1)
b) Phân nhóm theo đặc điểm chọn tạo
* Nhóm giống ngô địa phương: Gồm các giống ngô nếp cũ, ngô gié Bắc Ninh Nhóm
giống ngô thụ phấn tự do: Gồm các giống VM1, TSB1, TSB2, MSB49, MSB49B, CV1,CV2, HSB1, HSB2…
* Nhóm giống ngô lai: Nhóm giống lai không quy ước: Gồm các giống LS5, LS6,
LS7, LS8…; Nhóm giống lai quy ước: Gồm các giống 10, 11, 12,
LVN-20, P11, P9901, Bioseed 9681, DK 888…
2.2.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây ngô
Thời gian sinh trưởng của cây ngô từ khi gieo đến khi chín trung bình từ 90-160 ngày Thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh
Sự phát triển của cây ngô có thể chia ra làm hai giai đoạn
- Giai đoạn 1- sinh trưởng dinh dưỡng:Tính từ khi những mô khác nhau phát triển và
phân hóa cho đến khi các cấu trúc hoa xuất hiện Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng gồm hai chu kỳ: Ở chu kỳ đầu những lá đầu tiên được hình thành và tiếp tục phát triển Chu kỳ thứ 2, các lá và cơ quan sinh sản phát triển, chu kỳ kết thúc với sự xuất hiện của nhị cái
Trang 2626
- Giai đoạn 2- sinh trưởng sinh thực: Bắt đầu với việc thụ tinh của các hoa cái Pha
đầu của giai đoạn này có đặc điểm là tăng trọng lượng lá và những phần hoa khác Suốt pha thứ hai trọng lượng của hạt tăng nhanh
a) Thời kỳ nảy mầm (Từ trồng đến 3 lá)
Hình 2.1 Cây ngô thời kỳ nảy mầm
- Thời kỳ này có đặc điểm là phụ thuộc vào lượng các chất dự trữ trong hạt Ở giai đoạn này, bên trong hạt quá trình oxy hóa các chất dự trữ diễn ra mạnh, những chất hữu cơ phức tạo sẽ chuyển thành các chất đơn giản dễ hòa tan Theo sau quá trình hút nước là sự nảy mầm và sinh trưởng cây con Ngay sau khi nẩy mầm, một sự thay đổi quan trọng xảy ra khi cây ngừng phụ thuộc vào lượng dinh dưỡng dự trữ trong hạt Trong thời kỳ này rễ phát triển hơn lá trên mặt đất
- Yêu cầu ngoại cảnh chủ yếu ở giai đoạn này:
+ Nước: Lượng nước cần thiết cho hạt ngô nảy mầm tương đối thấp (khoảng 45% trọng lượng khô tuyệt đối của hạt) Để đảm bảo đủ nước cho hạt nảy mầm, độ ẩm đất thích hợp trong khoảng 60-70% độ ẩm tương đối
+ Nhiệt độ: Ngô nảy mầm thích hợp ở nhiệt độ 25-30oC, tối thấp 10-12oC, tối cao 40-45oC + Không khí: Lúc hạt nảy mầm tiếp tục cho đến khi ngô được 3 lá hạt hô hấp mạnh nên đất gieo hạt cần phải thoáng Do vậy cần có biện pháp làm đất, xới xáo thích hợp làm cho đất thoáng
b) Thời kỳ cây con (Từ lúc ngô 3 lá đến
phân hóa hoa)
- Đây là pha đầu của giai đoạn 1, nó
thường bắt đầu khi ngô đạt 3 -4 lá đến 7-9 lá
Thời kỳ này cây chuyển từ trạng thái sống nhờ
chất dự trữ trong hạt sang trạng thái hút chất
dinh dưỡng của đất và quang hợp của bộ lá
Tuy nhiên giai đoạn này thân lá trên mặt đất
Trang 2727
giai đoạn làm đốt, hình thành các lớp rễ đốt và bắt đầu chuyển sang hình thành các cơ quan sinh sản đực
- Điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho giai đoạn này
+ Nhiệt độ thích hợp là 20-30oC, tối thích trong khoảng 25-28oC Giai đoạn này ngô chịu rét khỏe hơn, vì thế tác hại của nhiệt độ thấp giảm hơn giai đoạn trước Trái lại nhiệt độ cao ở giai đoạn này cây sinh trưởng nhanh, cây yếu; còn nếu nhiệt độ thấp, rễ ăn nông, ít rễ con, cây còi cọc, quá trình phân hóa đốt cũng bị ảnh hưởng
+ Độ ẩm đất: Đây là thời kỳ cây ngô có khả năng chịu hạn tốt hơn trong suốt chu kỳ sinh trưởng Độ ẩm thích hợp nằm trong khoảng 65-70%
+ Đất đai và chất dinh dưỡng: Đảm bảo đất tơi xốp và thông thoáng cung cấp đủ oxy cho rễ phát triển
c) Thời kỳ vươn cao và phân hóa cơ quan sinh sản (Từ phân hóa hoa đến trỗ cờ)
Hình 2.3 Cây ngô giai đoạn 8-10 lá
- Đặc điểm ở thời kỳ này là cây ngô sinh trưởng thân lá nhanh, bộ rễ phát triển mạnh,
ăn sâu tỏa rộng Cơ quan sinh sản bao gồm bông cờ và bắp phân hóa mạnh Giai đoạn này kết thúc khi nhị cái xuất hiện Có thể nói đây là giai đoạn quyết định số hoa đực và hoa cái, cũng như quyết định khối lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong thân lá
- Điều kiện tốt trong thời kỳ này là: Đầy đủ chất dinh dưỡng, nước tưới với khoảng độ
ẩm 70-75% độ ẩm tối đa đồng ruộng Nhiệt độ thích hợp trong khoảng 24-25oC
d) Thời kỳ nở hoa (Bao gồm trỗ cờ, tung phấn, phun râu, thụ tinh)
Hình 2.4 Cây ngô thời kỳ trỗ cờ, phun râu
Trang 28- Yêu cầu ngoại cảnh trong thời kỳ này hết sức khắt khe:
+ Nhiệt độ thích hợp khoảng 22-25oC Nhiệt độ thấp có ảnh hưởng xấu đến quá trình tung phấn, phun râu thụ tinh Nhiệt độ trên 35oC hạt phấn dễ bị chết
+ Độ ẩm thích hợp 75-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng Độ ẩm không khí khoảng 80%, trời lặng, gió nhẹ, ít mưa, nắng nhẹ (mưa to làm hạt phấn bị trôi)
e Thời kỳ chín (Bao gồm từ thụ tinh đến chín)
Đây là pha hai trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực Trọng lượng hạt tăng nhanh, phôi phát triển hoàn toàn Giai đoạn này kéo dài 35 – 40 ngày từ khi thụ phấn thụ tinh Chất dinh dưỡng từ thân lá tập trung mạnh về hạt và trải qua những quá trình biến đổi sinh lý phức tạp
- Giai đoạn chín sữa (18 - 22 ngày sau phun râu): Hạt bên ngoài có màu vàng và chất
lỏng bên trong như sữa trắng do đang tích lũy tinh bột Phôi phát triển nhanh dần Phần lớn hạt đã mọc ra ngoài vật liệu bao quanh của cùi
- Giai đoạn chín sáp (24 - 28 ngày sau phun râu): Tinh bột tiếp tục tích lũy bên trong
nội nhũ làm chất sữa lỏng bên trong đặc lại thành bột hồ 4 lá phôi đã được hình thành Cùi
tẽ hạt có màu hồng nhạt đến hồng do các vật liệu bao quanh hạt đổi màu
- Giai đoạn hình thành răng ngựa (35 - 42 ngày sau phun râu): Cùi đã tẽ hạt có màu
đỏ hoặc trắng tuỳ theo giống Hạt khô dần bắt đầu từ đỉnh và hình thành một lớp tinh bột nhỏ màu trắng cứng Lớp tinh bột này xuất hiện rất nhanh sau khi hình thành răng ngựa như một đường chạy ngang hạt Hạt càng già, lớp tinh bột càng cứng và đường vạch càng tiến về
phía đáy hạt (phía cùi)
- Giai đoạn chín hoàn toàn - chín sinh lý (55 - 65 ngày sau phun râu): Sự tích luỹ chất
khô trong hạt đạt mức tối đa và tất cả các hạt trên bắp cũng đã đạt trọng lượng khô tối đa của nó Lớp tinh bột đã hoàn toàn tiến đến cùi và sẹo đen hoặc nâu đã hình thành Lớp đen này bắt đầu hình thành từ các hạt đỉnh bắp đến các hạt đáy bắp Hạt ngô lúc này ở thời điểm
chính sinh lý và kết thúc sự phát triển Lá bi và nhiều lá không còn xanh nữa
Nếu thu hoạch ngô cho ủ chua (si-lô) thì đây là thời điểm thích hợp Còn bình thường nên để ngô ở ngoài đồng một thời gian nữa, lúc cả cây ngô đã ngả màu vàng để hạt ngô đủ khô (ở ngô tẻ độ ẩm khoảng 13 - 15%) để hạt cất giữ được an toàn
2.3 KỸ THUẬT TRỒNG NGÔ
2.3.1 Thời vụ: Miền núi nước ta có 2 vụ, đó là: vụ ngô Xuân và ngô Thu, trong đó
vụ ngô Xuân là vụ chính
Trang 29* Chọn đất: Có thể trồng được ở các loại đất, nhưng tốt nhất là đất bãi phù xa do sông
suối bồi đắp; Chọn đất có thành phần cơ giới nhẹ, trung bình, tầng canh tác dày trên 70cm, PH: 6,5 - 7 Đất thoát nước, mạch nước ngầm thấp
* Làm đất:
+ Cày đất: sâu từ 20-25cm, nên cầy sớm để phơi ải, cầy từ 1-2 lần
+ Bừa đất: Sâu từ 15-18cm, bừa làm đất tơi và nhỏ
+ Nếu đất phù sa ven sông, chỉ cần đánh thành rạch rồi tra hạt
+ Đối với đất bãi, đất ven đồi: Cày bừa sạch cỏ dại, đất tơi xốp, đủ độ ẩm, cày rạch theo hàng để tra hạt với khoảng cách: 70 x 30cm
+ Làm đất trên chân ruộng 2 vụ cấy lúa: Cày úp các xá cày với nhau tạo thành luống
rộng 1-1,2 m rãnh rộng 30- 40 cm Nên bố trí 2 hàng ngô/1 luống
2.3.3 Bón phân cho ngô
* Liều lượng bón:
Lượng bón tùy thuộc vào loại đất, giống và mật độ gieo trồng Lượng phân bón nói chung cho 1 ha như sau: Phân chuồng (10-15) tấn + lân super (300-600)kg + Urê (250-430)kg + Kali clorua (80-160)kg
- Bón thúc: chỉ nên bón vào 3 thời kỳ chính
+ Bón thúc lần 1 (ngô 3-4 lá): bón 20% lượng đạm + 25% kali
Tác dụng: giúp cho cây ngô có đủ chất dinh dưỡng khi chuyển từ dinh dưỡng hạt sang dinh dưỡng đất tốt Ngoài ra bón thúc khi ngô 3 - 4 lá còn có tác dụng tốt đối với sự phát triển của bộ rễ ngô
Cách bón: có thể pha với nước tưới cho cây Trường hợp đất ẩm có thể bón trực tiếp vào đất Rạch hai bên rãnh cách 5-7cm, rải đều phân rồi lấp đất lại, kết hợp vun nhẹ quanh gốc) + Bón thúc lần 2 (ngô 7-9 lá): bón 20% lượng đạm + 25% lượng kali
Tác dụng: thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ đốt, giúp cây hút được nhiều chất dinh
Trang 3030
dưỡng, chống đỗ tốt Xúc tiến quá trình tạo ra các bộ phận sinh trưởng như thân, lá, rễ cũng như quá trình phân hóa cơ quan sinh sản đực và cái của cây ngô Bón đủ đạm có tác dụng tốt đối với sự phân hóa hoa đực (bước 4-6), hoa cái (bước 1-4), là các bước làm tăng số gié,
số hoa đực và số hàng hoa cái sau này
Cách bón: trộn đều phân bón vào rãnh rạch sâu 5-7cm hai bên hàng ngô và cách gốc 10-15cm, sau đó lấp đất và vun hơi cao gốc
+ Bón thúc lần 3 (ngô xoắn nõn): bón lượng phân còn lại
Lần bón này có tác dụng tốt cho quá trình phân hóa bắp và trỗ cơ,ì tung phấn, thụ tinh của cây ngô (tác dụng vào bước 6-8 của quá trình phân hóa bắp, làm tăng số hoa cái hữu hiệu) Tạo điều kiện cho thân lá phát triển tối đa, giữ bộ lá xanh lâu để quang hợp nuôi hạt Cách bón: giống thời kỳ ngô 7-9 lá và kết hợp vun cao lần cuối
b) Kỹ thuật gieo hạt: Có 2 phương phương pháp gieo:
* Gieo thẳng: (ngâm không quá 1 giờ, ủ nứt nanh) tuỳ đất để gieo phù hợp Nhiệm vụ
quan trọng nhất khi gieo là hạt nảy mầm nhanh và đều, cây mọc khoẻ vì vậy cần tiến hành các công việc sau: Chuẩn bị lượng hạt giống gieo 18 – 22 kg/ha (0,8 - 0,9 kg hạt giống/sào) Chú ý chọn những giống có nguồn gốc rõ ràng, loại bỏ những nhỏ xấu
Đối với phương pháp gieo hạt trên đất đồi, đất bãi (vụ xuân hè) có thể gieo hạt ngô trực tiếp xuống đất mà không cần ngâm ủ Gieo hạt sâu 2 - 2,5cm, gieo 1 - 2 hạt/ hốc Sau khi gieo phải tưới nước thật ẩm cho đến khi hạt nảy mầm mới tưới lại Chú ý đề phòng kiến mối, gia cầm cắn hạt Để đảm bảo mật độ, độ đồng đều của cây cần gieo 5% lượng giống dự phòng (không nên gieo cách xa thời gian gieo trồng lần 1 quá xa)
* Gieo vào bầu trước khi trồng: Đất 2 vụ lúa để trồng ngô nhất thiết phải làm bầu Đối
với phương pháp gieo hạt bằng bầu (vụ thu đông) cần tiến hành ngâm ủ hạt nảy mầm dài 1cm rồi mới tra hạt vào bầu
Trang 31- Thời gian cây ngô sống trong bầu từ 5 đến 7 ngày
2.3.5 Chăm sóc: Là toàn bộ khâu quản lý đồng ruộng từ khi gieo đến khi thu hoạch,
bao gồm các công việc như sau:
- Vơ sạch cỏ dại còn xót lại trên đồng ruộng
- Kiểm tra hạt giống đã lấp kín toàn bộ chưa?
- Gieo bổ sung hạt đã ủ nứt nanh vào những chỗ mất khoảng để đảm bảo mật độ trồng
- Trong trường hợp khi gieo gặp mưa đất bị nén chặt cần xới phá váng để đất được tơi xốp
- Khi cây được 3 - 4 lá, cần tỉa bớt những cây nhỏ yếu hoặc cây bị bệnh
- Làm cỏ, xới xáo vun chân gốc kết hợp với 3 lần bón thúc phân cho ngô
- Áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM hạn chế tối đa sự phá hoại của sâu xám, sâu đục thân, dệp cờ hại ngô
* Chú ý: Ở giai đoạn cây còn nhỏ xới nông tay vì cây còn nhỏ hệ rễ chưa phát triển;
Giai đoạn ngô xoắn nõn (trước trỗ cờ 7 - 10 ngày) nếu thiếu nước khô hạn năng suất sẽ giảm 15-20% Vì vậy cần chú ý tưới nước duy trì độ ẩm cho cây ở giai đoạn này
2.3.6 Phòng trừ sâu bệnh
a) Sâu hại ngô: Sâu xám và sâu đục thân là loại sâu nguy hiểm đối với cây ngô Sâu
phá hại mạnh ở giai đoạn cây con (từ lúc mọc đến 4-5 lá) Khi cây lớn, sâu đục vào thân, vào bắp ăn phần non mềm của cây, làm cho cây bị héo lá
đọt và chết Ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng
sản phẩm ngô Để hạn chế tác hại của sâu, cần áp dụng
một số biện pháp sau:
- Cày ải phơi đất trước khi gieo, dọn sạch cỏ dại
thành đống để đốt hoặc ủ thành phân để diệt trừ trứng
và nhộng;
- Gieo đúng thời vụ, gieo tập trung tránh sâu phá
hoại liên tục trên đồng ruộng
Hình 2.5 Sâu xám hại ngô
- Dùng đèn soi bắt sâu bằng tay vào ban đêm
hoặc sáng sớm khi sâu chưa kịp chui xuống đất
Trang 3232
- Dùng bẫy bả chua ngọt để tiêu diệt ngài, làm mồi bẫy theo công thức: Nước mật (hoặc nước đường) 4 phần, dấm 4 phần, rượu 1 phần, nước 1 phần, thuốc trừ sâu chiếm 1% Các hỗn hợp trên được quấy đều cho vào chậu (mỗi chậu ¼ lít) đặt cách mặt đất 1m Ban ngài đậy nắp tránh bay hơi, buổi chiều tối mở nắp để ngài bay vào bẫy
- Sử dụng một số loại thuốc trừ sâu dạng hạt như Basudin 10G; Vibasu 10 H; Furadan 3G; Vibaba 5H; Regent 0,2/0,3G; Vifuran 3G; Padan 4G; Vicarp 4H rải xuống hàng hoặc hốc
- Sử dụng một trong các loại thuốc diệt sâu như: Sumithion 50EC; Sherpa 10EC/25EC; Fastocid 5EC pha theo hướng dẫn sử dụng trên bao bì, phun vào buổi chiều mát
b) Rệp hại ngô: Rệp hút nhựa ở lá non, bẹ lá, bông cờ, lá bi làm cho cây gầy yếu sinh
trưởng không bình thường bắp bị quắt lại Nếu bị hại nặng cây non không ra bắp được
* Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại
-Trồng dày hợp lý Diệt ổ rệp khi mới chớm
- Dùng thuốc hoá học Supracid, Sumithion 50%,
Bassa 50% phun lên ổ rệp, lá và cờ ngô
c) Bệnh hại ngô:
- Bệnh đốm lá lớn: Đây là bệnh phổ biến thấy ở
các vùng trồng ngô của nước ta, gây thiệt hại hàng năm
từ 3-5% sản lượng Ở vùng trung du đất cằn cỗi có nơi
mất tới 25- 30% năng suất
+ Bệnh xuất hiện ở lá dưới, lan dần lên lá trên, vết bệnh trên lá thường nhỏ và tròn, sau chuyển thành bầu dục và lớn rất nhanh, vết bệnh dài tới 10cm, hình thoi màu nâu hoặc xám
+ Nếu bị nặng làm cho lá ngô khô ráp Trời ẩm trên vết bệnh có một lớp mốc đen + Nấm xâm nhập vào qua khí khổng, phần lớn ở các bộ phận non trên cây, nấm chết
ở nhiệt độ 52oC Nhiệt độ cho nấm phát triển 28-30oC
- Biện pháp phòng trừ:
+ Luân canh ngô với các cây trồng khác, không nên trồng 2-3 vụ ngô liên tục
+ Bón phân cân đối và đầy đủ
+ Dùng giống chống bệnh, xử lý hạt bằng nước nóng 52oC trong 10 giờ
+ Diệt bỏ tàn dư cũ
2.3.7 Luân canh – Xen canh:
a) Luân canh: Luân canh tăng 10% năng suất, nguyên nhân do có sự thay đổi về
dinh dưỡng đất, ngoài ra còn do cở dại, sâu bệnh được hạn chế
Một số công thức luân canh
Trang 3333
- Đối với đất lúa
+ Ngô vụ xuân (từ tháng 2-6) - mùa chính vụ (từ tháng 7-11)
+ Cây mầu vụ xuân (từ tháng 2-5) – lúa mùa sớm (từ tháng 6-9) – ngô đông
+ Lúa xuân (từ tháng 2-5) – mùa sớm (từ tháng 6-9) – ngô đông (từ tháng 9-1)
- Đối với đất bãi ven sông Ngô đông xuân (từ tháng 3-6) – rau vụ đông (từ tháng 10-12)
- Đối với đất nương rẫy
+ Ngô xuân (từ tháng 3-6) - đỗ đậu vụ thu (từ tháng 7-10)
+ Rau màu vụ xuân (từ tháng 3-6) – ngô thu (từ tháng 7-11)
b) Trồng xen gối:
* Đối với ngô ruộng:
- Xen với đậu tương xuân: Rắc hạt đậu vào giữa hai hàng ngô, làm cỏ ngô và đậu cùng nhau và thu hoạch cùng nhau
- Xen lạc: dùng giống lạc ngắn ngày xen giữa hai hàng ngô
- Trồng gối đậu
* Đối với ngô bãi và ngô nương rẫy:
- Xem với đỗ lạc Đỗ lạc được trồng cùng với ngô, khi vun ngô vun cả đỗ lạc
- Xen với khoai lang: Trồng khoai giữa các khóm ngô để giữ giống
- Xen với rau giền, rau cải: gieo hạt rau cùng với ngô
- Gối với lúa nương: Gối lúa nương vào ngô khi ngô trỗ cờ Thu hoạch ngô xong thì vun cho lúa
2.3.8 Thu hoạch, bảo quản:
a) Thu hoạch:
* Thời điểm thu hoạch:
- Tiến hành thu hoạch khi ngô đã chín hoàn toàn Độ ẩm của hạt ngô thấp và hàm lượng chất khô trong hạt là cao nhất trong các giai đoạn chín
- Ngô cần được thu hoạch khi đã chín hoàn toàn, tức là sau khi hình thành hạt 60-65 ngày và độ ẩm của bắp đạt khoảng 25-28%
- Quan sát hình thái bên ngoài của thân cây nếu thấy có 2/3 số lá gốc đã khô vàng, thân bắt đầu khô, hạt ở giữa bắp lấy ra không bị gẫy và chân hạt đã có chấm đen là ngô đã chín sinh lý ta tiến hành thu hoạch Nên thu hoạch ngô vào ngày nắng ráo
* Phương pháp thu hoạch:
- Có thể thu hoạch thủ công hoặc bằng máy song tỉ lệ lỏi sót < ( 3-5%)
- Phân loại ngay bắp tốt xấu, thối để loại bỏ
- Tiến hành phơi bắp đến khi độ ẩm đạt 17%, thì đem tách hạt
Trang 3434
- Hạt tách được tiếp tục đem phơi hoặc sấy đến khi độ ẩm còn 12-13% thì đem loại
bỏ hạt nhỏ, lép, tạp chất rồi đóng bao
c) Bảo quản: Để hạn chế tỷ lệ tổn thất trong bảo quản phải có dụng cụ bảo quản và
chất lượng ngô đem bảo quản thích hợp
* Bảo quản bắp ngô:
- Bảo quản ngô bắp ưu đi ểm là hạn chế được tác động của không khí ẩm và vi sinh vật xâm nhập và phá hạt ngô vì phôi ngô là bộ phận dễ bị phá hại nhất của hạt ngô vẫn được cắm sâu vào lõi ngô; thuận lợi cho việc điều hòa nhiệt ẩm trong khối ngô do độ rỗng của khối bắp cao
- Sau khi được làm khô, ngô bắp được bảo quản kín trong 2 lớp bao buộc chặt miệng, lớp trong là bao nhựa, lớp ngoài là bao đay hoặc bao tơ dứa
+ Xếp các bao ngô ở nơi khô ráo, thoáng đãng không bị ẩm mốc, có kê sàn giá đỡ cao cách mặt đất trên 100cm và cách bờ tường vách trên 30cm
+ Nếu nơi bảo quản ngô đã có khả năng phòng chống chuột thì có thể bảo quản ngô trên sàn có lót lớp trấu khô sạch dày trên 20 cm và có phủ phên, cót
- Thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý các sự cố Khi kiểm tra phải tẽ thử và quan tâm xem xét tình trạng phôi ngô
+ Khi phôi ngô có hiện tượng biến màu, biến dạng, xuất hiện sâu mọt, khối ngô bị mốc nóng phải tiến hành tẽ ngô, làm khô, làm sạch, phân loại, xử lý sâu mọt rồi mới bảo quản tiếp
* Bảo quản ngô hạt: Khi bảo quản ngô hạt phải đặc biệt quan tâm tới tình trạng phôi
ngô vì phôi ngô dễ hút ẩm, có sức hấp dẫn mọt cao, dễ hư hỏng Trong các hộ nông dân có thể bảo quản ngô bằng các dụng cụ có thể hàn kín được (chum, vại, thùng có nắp kín, bao nhựa buộc kín miệng)
- Có thể bảo quản ngô bằng vựa 2 lòng (bằng phên hoặc cót) Giữa 2 phên cót lót trấu khô sạch Nền vựa được lót trấu sạch dày hơn 20cm Lớp trấu lót được phủ 2 lượt phên, cót hoặc bao tải Giữa 2 lớp phên, cót, bao tải là lớp vôi cục dày hơn 3 cm Mặt khối ngô được san phẳng Trên mặt khối ngô được phủ một lớp phên cót hoặc bao tải và một lớp vôi cục dày trên 5cm
- Có thể bảo quản ngô bằng cách trộn lá xoan, lá cơi, lá trúc đào khô vào ngô khô theo tỷ lệ 1-1,5kg lá khô cho 100kg ngô hạt Khi sử dụng ngô phải sàng sảy sạch các loại lá trên sẽ không còn gây độc hại cho người và gia súc
- Đổ ngô đã trộn lá vào vật chứa như: chum, vại sành, thùng kim loại hay thạp gỗ, san phẳng và phủ lên trên mặt một lớp tro bếp khô dày 2-4cm Bịt miệng bằng giấy bao xi măng hay tấm ni lông và đậy nắp kín
* Bảo quản ngô hạt tươi dùng cho chăn nuôi:
Trang 3535
Khi thu hoạch ngô gặp thời tiết mưa ẩm liên tục không có điều kiện phơi nắng kịp thời, ngoài biện pháp sấy hoặc bảo quản ngô bắp tạm thời nêu trên có thể bảo quản kín ngô hạt tươi dùng cho chăn nuôi
Sau khi tẽ, ngô hạt tươi được chứa trong các túi kín, không có lỗ thùng (dù nhỏ) và buộc thật kín miệng túi khi đã cho ngô vào túi Túi càng dày càng tốt Nếu túi mỏng có thể lồng 2-3 túi vào nhau
Trong túi kín, hạt ngô tươi có cường độ hô hấp cao, tạo nhiều khí CO2 có tác dụng ức chế men mốc gây thối hỏng và sâu mọt Cần phải giữ túi không thủng rách
Nếu cần, nên phân chia lượng ngô thành các túi phù hợp với nhu cầu sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hàng ngày
Ngô hạt tươi có thể bảo quản kín trong 20 ngày không thối hỏng Cho gia súc ăn, ngô hạt tươi bảo quản kín có mùi lên men nhẹ nhưng không suy giảm giá trị dinh dưỡng và sức
ăn của vật nuôi Khi có điều kiện thuận lợi, tiến hành làm khô để bảo quản ngô lâu dài
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày giá trị kinh tế, yêu cầu sinh thái của cây ngô
2 Sự sinh trưởng phát triển của cây ngô có thể phân chia thành những giai đoạn, thời
kỳ nào? Dựa vào các thời kỳ này, anh chị hãy đề xuất biện pháp chăm sóc nhằm nâng cao năng suất cây ngô?
3 Trình bày kỹ thuật trồng ngô?
4 Địa phương anh (chị) hiện đang trồng những giống ngô nào? Nêu kỹ thuật trồng ngô đang được áp dụng tại địa phương?