1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11

113 1,9K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Tác giả Lưu Thị Thủy Minh
Người hướng dẫn TS. Đinh Trung Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Công Dân
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, chúng ta có thể thấyrằng chức năng quan trọng nhất của người dạy học không chỉ là việc truyềnthụ tri thức một cách máy móc cho người học mà là giúp người học hìnhthành được năng l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

LƯU THỊ THỦY MINH

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH

TẾ” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11

(QUA KHẢO SÁT Ở TRƯỜNG THPT THANH BÌNH, HUYỆN TÂN PHÚ,

TỈNH ĐỒNG NAI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

LƯU THỊ THỦY MINH

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH

TẾ” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11

(QUA KHẢO SÁT Ở TRƯỜNG THPT THANH BÌNH, HUYỆN TÂN PHÚ,

TỈNH ĐỒNG NAI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Chính trị

Mã số : 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Trung Thành

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, luận văn thạc sĩ “RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH TẾ”, MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11”được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến TS Đinh Trung Thành, giảng viên Trường Đại học Vinh là người đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ tôi từ khi hình thành ý tưởng cho đến lúc hoàn thành luận văn Tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo Khoa GDCT, trường Đại học Vinh.

Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Vinh, Trường Đại học Sài Gòn, Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học.

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến quí thầy cô tổ Sử- Địa- GDCD

và các em học sinh trường THPT Thanh Bình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 08 năm 2012

Tác giả

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

STT Tên bảng Trang

1 Hình 1.1 Cấu trúc tiến trình các bước của day học GQVĐ 16

2 Bảng 1.2 Phân phối chương trình phần công dân với KT 25

3 Bảng1.3 So sánh PPDH truyền thống và PPDH hiện đại 35

4 Bảng 1.4 Một số kĩ năng hiện có của HS trường THPT

Thanh Bình

36

6 Bảng 2.2 Kết quả học tập của HS trước khi TN 39

7 Bảng 2.3 Mức độ và kĩ năng hiện có của HS trước khi TN 39

8 Bảng 2.4.Kết quả tham khảo ý kiến của GV 62

9 Bảng 2.5 Kết quả tham khảo ý kiến của GV 62

10 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát ý kiến của HS 63

11 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát ý kiến của HS 64

12 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát ý kiến của HS 64

13 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát ý kiến của HS 65

14 Bảng 2.10 Bảng phân phối điểm lớp 11a1 67

15 Bảng 2.11 Bảng phân phối điểm lớp 11a3 67

16 Bảng 2.12 Bảng phân phối điểm lớp 11a5 67

17 Bảng 2.13 Phân phối tần số, tần suất bài kiểm tra 15 phút 68

18 Đồ thị 2.14 Đường tích lũy bài kiểm tra 15 phút 69

19 Bảng 2.15 Tổng hợp kết quả học tập của HS qua bài kiểm

tra 15 phút

69

20 Biểu đồ 2.16 Tổng hợp kết quả học tập của HS qua khảo 70

Trang 6

sát bài kiểm tra 15 phút

21 Bảng 2.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm

Trang 7

1.1 Cơ sở lí luận của day học theo hướng rèn luyện KNGQVĐ cho HS ởtrường THPT 91.2 Rèn luyện KNGQVĐ cho HS lớp 11 ở trường THPT là yêu cầu cấp báchtrong đổi mới PPDH hiện nay 291.3 Thực trạng của việc rèn luyện KNGQVĐ cho HS trong day phần CD với

KT ở trường THPT Thanh Bình, Tỉnh Đồng Nai 33Kết luận chương 1

Chương 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

2.1 Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị TN 382.2 Tiến hành TN 39Kết luận chương 2

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KNGQVĐ CHO HS TRONG DẠY HỌC “PHẦN CÔNG DÂN VỚI KINH TẾ” Ở TRƯỜNG THPT THANH BÌNH, HUYỆN TÂN PHÚ,

TỈNH ĐỒNG NAI

3.1 Định hướng và những yêu cầu đổi mới PPDH môn GDCD theo hướngrèn luyện kĩ năng học tập cho HS 733.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả rèn luyện KNGQVĐ cho HS trongday học phần công dân với kinh tế môn GDCD lớp 85Kết luận chương 3

Trang 8

dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở trường học mà phải có năng lực chiếm lĩnh, sửdụng tri thức đó một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, hiện tượngmột cách thông minh khi gặp trong cuộc sống Từ đó, chúng ta có thể thấyrằng chức năng quan trọng nhất của người dạy học không chỉ là việc truyềnthụ tri thức một cách máy móc cho người học mà là giúp người học hìnhthành được năng lực tự phát hiện vấn đề, tìm kiếm và xử lí thông tin, biếtđưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề (GQVĐ) Mục đích cơ bản của họctập không phải đơn giản là học để biết mà còn là học để làm, học để tựkhẳng định mình và học để cùng chung sống Từ đó, chúng ta có thể khẳngđịnh rằng nhiệm vụ của người thầy không chỉ là dạy học mà quan trọng làdạy cách học, cách tiếp cận và xử lí thông tin để người học có thể biến đổibản thân mình Chính định hướng trên đã trở thành định hướng chỉ đạo chotoàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạyhọc các môn học ở trường Trung học phổ thông (THPT).

Trong kết cấu chương trình ở bậc THPT, môn Giáo dục công dân(GDCD) là một môn học có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc góp phầnđào tạo con người Đặc biệt, theo chương trình sách giáo khoa mới hiện nay,môn GDCD được chia ra làm từng phần.Trong đó, phần “Công dân với kinhtế” thuộc chương trình lớp 11 ở bậc THPT có vị trí khá đặc biệt và mới mẻvới các em học sinh Không những thế, nội dung phần này cũng chính là nềntảng tri thức cơ sở của các em ở các bậc học cao hơn trong tương lai khibước vào ngưỡng cửa tiếp theo của con đường học vấn cũng như đối mặt vớinhững vấn đề kinh tế của thực tiễn cuộc sống Vấn đề đặt ra cho giáo viênGDCD là làm thế nào để học sinh có thể tự xây dựng kiến thức mới trên nềnkiến thức đã có, làm thế nào để quá trình học tập trở nên nhẹ nhàng, hứngthú hơn, làm thế nào để học sinh tích cực tiếp thu kiến thức một cách chủđộng và hiệu quả nhất Đó không chỉ là tham vọng của mỗi người giáo viênkhi đứng lớp mà cũng chính là mục tiêu mà ngành giáo dục đang hướng tới

Trang 9

Từ những lí do trên, chúng tôi nhận thức rằng, trong quá trình dạy họcgiáo viên không chỉ nặng về truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn chútrọng rèn luyện cách học cho các em sẽ giúp các em được học tập môn họcmột cách hiệu quả, sáng tạo, khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nộisinh to lớn cho người học, giải quyết được những tình huống trong học tậpcũng như trong cuộc sống mà hàng ngày các em gặp phải Thông qua cáchthức GQVĐ của bài học giúp các em có những định hướng và thái độ kháchquan, khoa học trong việc tự khẳng định mình, nhận thức một cách thấu đáohơn những vấn đề của cuộc sống thực tại Từ những yêu cầu lý luận và thực

tiễn cấp bách đó, chúng tôi chọn vấn đề “ Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn

đề cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với kinh tế”, môn GDCD lớp 11( qua khảo sát ở trường THPT Thanh Bình, Huyện Tân Phú, Tỉnh Đồng Nai) làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong thời gian qua, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng caochất lượng đào tạo là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy học nêu vấn đề và kĩnăng giải quyết vấn đề Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu khoa họccủa các tác giả trong và ngoài nước đã được xuất bản thành sách chuyênkhảo, có thể kể đến:

- “Lý luận dạy học môn Giáo dục Công dân”, Phùng Văn Bộ chủ biên,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999

- “Phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân”, Vương Tất Đạt,

Nxb Giáo dục Hà Nội, 1998

- “Những vấn đề chung của Giáo dục học”, Thái Duy Tuyên, Nxb đại

học Sư Phạm, Hà Nội, 2009

- “Cơ sở tâm lí học ứng dụng”, (Đặng Phương Kiệt chủ biên), Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002

Trang 10

- “Góp phần dạy tốt môn GDCD ở trường Phổ thông trung học”, (Nguyễn Đăng Bằng chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 2001.

- “Làm chủ phương pháp giảng dạy”(sách tham khảo), Madeline

Hunter, Robin Hunter, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005

- “Một tư duy hoàn toàn mới”, Daniel H Pink, Nxb Lao động- xã hội,

2009

-“ Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT”, (Vũ Đình Bảy

chủ biên), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010

- “ Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học”,Nguyễn Hữu Châu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến việc nêuvấn đề và GQVĐ một cách rất sâu sắc nhưng lại nằm ở trên phương diệnrộng, tổng hợp Công trình nghiên cứu của các tác giả đều tập trung nhấnmạnh đổi mới Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớphọc, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh

Dạy học nêu vấn đề là chủ đề đã được không chỉ các nhà khoa học ởViệt Nam mà còn là vấn đề được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâmtrong nhiều thập kỷ qua, tiêu biểu cho các công trình đó có thể kể đến:

- “Dạy học nêu vấn đề”, Lecne I Ia, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1977.

- “Hoạt động, ý thức, nhân cách”, Leonchiep A.N, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 1989

- “Nền giáo dục cho thế kỉ XXI Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương”, Raja Roy Singh, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994.

- “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực

ở nhà trường”, Rogiers X, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996.

Trang 11

- “Dạy - học giải quyết vấn đề: một hướng cần đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện, trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo”,

Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà, Hà Nội, 1996

- “Một hướng đổi mới trong mục tiêu đào tạo: rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề”, Bước đầu đổi mới phương pháp dạy học ở trung học cơ sở theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập”, Vũ Văn Tảo, Viện Khoa học

Giáo dục, 1997

Trong những công trình trên, hầu hết các tác giả đều cho rằng: Trongquá trình đổi mới giáo dục đào tạo, vấn đề đổi mới phương pháp đào tạođược xem là một khâu then chốt Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng cácphương pháp đào tạo tích cực nhằm mang lại chất lượng mới và hiệu quảđào tạo cao là vấn đề có tính cấp thiết hàng đầu Đối với phương pháp dạyhọc nêu vấn đề đã được nhiều trường áp dụng và bước đầu cho những kếtquả tốt Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục của chúng ta từngbước được đổi mới Đảng ta xác định: Giáo dục- đào tạo là “Quốc sách hàngđầu”, “là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lêntrình độ tiên tiến trên thế giới” Công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đang đặt ra những đòi hỏi bức xúc Vì vậy,trong những năm gần đây, các nhà khoa học giáo dục, các giáo viên nước ta

đã và đang tiếp cận những phương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới.Trong đó có phương pháp dạy học nêu vấn đề Việc nghiên cứu và áp dụngphương pháp dạy học này đã được tiến hành tại một số trường và thu đượcnhững kết quả đáng kể Theo G.S Nguyễn Ngọc Quang, phương pháp dạyhọc nêu vấn đề là: “một hệ phương pháp phức hợp” Vậy thực chất phươngpháp dạy học nêu vấn đề là gì? Và dạy như thế nào? Các nhà nghiên cứu,giảng viên đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau, nhưng nhìn chung không có

sự khác biệt và mâu thuẫn lớn

Công trình nghiên cứu của các tác giả tập trung nhấn mạnh, điểm mấuchốt của phương pháp dạy học nêu vấn đề chính là “phương pháp dạy

Trang 12

phương pháp”, đó là một phương pháp dạy đại học hiện đại Tác động củathầy dù là quan trọng đến đâu, có hiệu lực đến mấy vẫn là ngoại lực, vẫn chỉ

là hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện Sức tự học, tự nghiên cứu của họcsinh dù còn yếu kém đến đâu vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bảnthân người học Yêu cầu cuối cùng của phương pháp dạy học này là khôngchỉ truyền thụ cho học sinh một lượng tri thức khoa học cần thiết mà cái cầnđạt tới là giáo dục, xây dựng cho học sinh có một phương pháp khoa họctrong nghiên cứu tìm hiểu và giải quyết mọi vấn đề gặp phải trong quá trìnhhọc tập trước mắt và trong quá trình công tác sau này

Như vậy về đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng phương pháp dạyhọc nêu vấn đề thực sự là vấn đề được cả xã hội quan tâm Công trình củacác tác giả đã cung cấp những luận cứ quan trọng để tiếp tục phân tích đềxuất những cách dạy học mới Tuy nhiên trên phương diện dạy học theohướng rèn luyện, nâng cao kỹ năng GQVĐ trong dạy học môn GDCD gắnvới cụm bài cụ thể phần “Công dân với kinh tế” chương trình Giáo dục côngdân lớp 11 tại không gian, phạm vi của một trường THPT cụ thể chưa cócông trình của tác giả nào nghiên cứu một cách chi tiết cả về cơ sở lý luận vàthực tiễn Vì vậy, mà đề tài tác giả lựa chọn không trùng với bất kì côngtrình nghiên cứu khoa học nào đã được công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng GQVĐcho học sinh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế”

Trang 13

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm tra tính khả thi của các giảipháp đã đề xuất.

- Đề xuất một số giải pháp góp phần rèn luyện kĩ năng GQVĐ cho họcsinh THPT qua dạy học phần “Công dân với kinh tế”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học GQVĐ và thực trạng day học nhằm rèn luyện kĩnăng GQVĐ cho học sinh THPT qua dạy học phần công dân với kinh tế,môn GDCD lớp 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài giới hạn trong dạy học Phần “Côngdân với kinh tế”, môn GDCD lớp 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm, phương phápluận khoa học của chủ nghĩa Mác –Lê nin về giáo dục; quan điểm, đườnglối, chính sách đổi mới giáo dục của Đảng và nhà nước ta, kế thừa nhữngthành tựu nghiên cứu của khoa học giáo dục, tâm lý học hiện đại Ngoài ra,nhằm thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đã nêu, luận văn kết hợp sử dụngcác phương pháp như:

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Quan sát, phân tích, tổng hợp,

so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng nội dung

đề tài

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra; tổng kết kinh

nghiệm; nghiên cứu sản phẩm; phương pháp thử nghiệm sư phạm

Phương pháp thống kê toán học: lập bảng số liệu, xây dựng đồ thị.

6 Giả thuyết khoa học

Dạy học phần “Công dân với kinh tế” chương trình giáo dục công dânlớp 11 theo hướng rèn luyện kỹ năng GQVĐ cho học sinh sẽ góp phần đổi

Trang 14

mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động họccủa học sinh, nâng cao chất lượng dạy học.

7 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về kĩ năng GQVĐ

và kĩ năng GQVĐ trong quá trình dạy học phần “Công dân với kinh tế” mônGDCD lớp 11

Về mặt thực tiễn:

- Góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy GDCD ở trường THPT

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo

nghiên cứu trong quá trình dạy học môn GDCD

8 Kết cấu của đề tài luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụlục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của rèn luyện kĩ năng giải quyếtvấn đề trong dạy học phần “Công dân với kinh tế ” môn GDCD lớp 11 Chương 2: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp rèn luyện kĩ năng giảiquyết vấn đề cho học sinh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế ” ởtrường THPT Thanh Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai trong giai đoạnhiện nay

Trang 15

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI

KINH TẾ” MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11

1.1 Cơ sở lý luận của dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường THPT

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “Metodos”

là con đường, là cách thức vận động của sự vật, hiện tượng để đạt tới mộtmục đích nhất định và giải quyết những nhiệm vụ nhất định

Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phương pháp đã được các nhà triết họctrước Mác đề cập đến như P.Bê cơn (1561-1626), Ông đã ví phương phápnhư ngọn đèn lớn, soi sáng người đi trong đêm tối

Còn với nhà triết học G.Heghen (1770-1831) cho rằng phương pháp làhình thức vận động của nội dung sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật đều có bảnchất của nó và được thể hiện qua những hình thức nhất định, hình thứckhông bao giờ tồn tại tách rời nội dung và đồng thời nội dung cũng khôngtồn tại tách rời hình thức vận động của nó Mỗi sự vật trong quá trình tồn tạiđều gắn với một hình thức vận động đặc trưng

Cũng nói về phương pháp dạy học C.Mác cho rằng: “các thời đại kinh

tế khác nhau không phải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúngsản xuất bằng cách nào với tư liệu lao động nào?”[32, tr.269]

Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể khẳng định rằng trong thựctiễn cuộc sống cũng như trong hoạt động nhận thức đều cần đến phươngpháp Với 3 hướng tiếp cận trên của các nhà triết học đã cho chúng ta mộtcách nhìn tổng thể và khách quan về phương pháp dạy học Theo đó, phương

Trang 16

pháp dạy học là một lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng nhưng suy cho cùng thìphương pháp dạy học chính là cách thức làm việc giữa thầy và trò trong sựphối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tự giác, tíchcực, tự lực đạt đến mục đích dạy học

1.1.1.2 Vấn đề, tình huống có vấn đề, dạy học GQVĐ trong day học phần công dân với kinh tế môn GDCD lớp 11

* Vấn đề:

Thực tiễn cuộc sống luôn tồn tại rất nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phảiliên tục giải quyết Một người được xem là thành công trong cuộc sốngkhông phải là người giải quyết tất cả mọi việc phát sinh hay nhìn thấy mà làngười biết đâu là việc quan trọng để làm Làm đúng việc bao giờ cũng đánggiá gấp nhiều lần làm việc đúng Đặc biệt hơn trong hoạt động nhận thứchay hẹp hơn là trong hoạt động tư duy chỉ thật sự diễn ra khi con người đứngtrước một “vấn đề” Vậy thực chất “vấn đề” là gì? và tại sao trong nhận thứccũng như trong thực tiễn cuộc sống chúng ta cần phải giải quyết

Theo từ điển Tiếng Việt “vấn” có nghĩa là hỏi, là thắc mắc, “đề” là cáinêu ra, cái cần giải quyết, cần được thực hiện Vậy vấn đề theo từ điển tiếngViệt chính là cái thắc mắc, cái cần được xem xét và giải quyết

Theo cách hiểu thông thường thì “vấn đề” là một khái niệm rất quantrọng dùng để chỉ những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống “Vấn đề” ởđây có thể là một câu hỏi, một tình huống hay yêu cầu hoạt động mà chủ thểchưa có thuật để giải đáp hay chưa thực hiện được hoạt động Và “vấn đề”chính là cái mâu thuẫn giữa thực tiễn và nhận thức, nó trở thành một cái khókhăn trong tư duy và hành động mà vốn hiểu biết chưa đủ để vượt qua haygiải quyết nó Vì vậy, trong cuộc sống cũng như trong học tập kĩ năng giảiquyết vấn đề (KNGQVĐ) là vô cùng quan trọng và cần thiết, không thể thiếu

dù trong bất kì lĩnh vực nào GQVĐ là cơ sở, là cột mốc để chúng ta có thể

tự mình tháo gỡ được những vướng mắc phát sinh trong cuộc sống của mình

Trang 17

Vấn đề chỉ mang tính tương đối và mọi vấn đề đều có cách giải quyếtnhưng điều quan trọng là chúng ta GQVĐ đó như thế nào? Có hiệu quả vàhợp lí không? Muốn GQVĐ tốt thì chúng ta phải xác định được vấn đề Đặcbiệt trong dạy học, cách xác định vấn đề là cơ sở để chúng ta GQVĐ hiệuquả và hợp lí.

* Cách xác định vấn đề trong dạy học

Như chúng ta đã biết, mỗi một con người là một cá thể riêng biệt, vớisuy nghĩ và hành động khác nhau vì vậy khi chạm phải những vấn đề, nhữngthắc mắc thì đương nhiên họ sẽ có những cách giải quyết khác nhau Và đểGQVĐ thật sự có hiệu quả thì chúng ta cần xác định được đúng vấn đề cầngiải quyết Tuy nhiên, xác định vấn đề một cách đúng đắn đó không phải làđiều dễ đàng Đặc biệt trong dạy học môn GDCD, khi xác định vấn đề cầnlưu ý một số điểm sau:

Phải xác định vấn đề một cách khách quan, tránh trường hợp để tìnhcảm xen lẫn trong xác định trọng tâm của vấn đề vì như thế dẫn đến sai lầmtrong nhận thức vấn đề

Khi xác định vấn đề cần thiết phải nắm được yếu tố cốt lõi của vấn

đề, tránh trường hợp lan man vấn đề làm ảnh hưởng đến nội dung cần giảiquyết Đặc biệt trong quá trình giảng dạy của mình, Khi giáo viên (GV) đưa

ra một vấn đề nào đó phải đảm bảo được tính vừa sức, tính khoa học và tínhthời sự sâu sắc Cụ thể như trong quá trình giảng dạy học phần “công dân vớikinh tế”, khi đưa ra vấn đề cho học sinh (HS) giải quyết GV nên lựa chọnnhững vấn đề gần gũi và vừa sức với HS Tránh trường hợp GV đưa ranhững vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của các em Như thế vô hìnhchung sẽ đưa các em vào trạng thái chán nản vì cảm thấy nội dung bài họcquá khó và hoàn toàn xa lạ với chính mình

* Tình huống có vấn đề:

Tình huống có vấn đề chính là sự trở ngại về trí tuệ của con người,xuất hiện khi chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực

Trang 18

tế hay nói một cách khác tình huống có vấn đề là bài toán của nhận thức khi

có sự xuất hiện của mâu thuẫn nội tâm và người phát hiện có nhu cầu giảiquyết nó không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà bằng con đường tìm tòisáng tạo

Nói một cách khác “tình huống có vấn đề là tình huống gợi cho HSnhững khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năngvượt qua nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải mà phải trảiqua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạtđộng hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có” [38, tr49]

Tình huống có vấn đề chính là bước khởi động hoạt động tư duy củacác em Chính vì vậy mà các nhà tâm lí học cho rằng: “cần đưa các em vàotình huống có vấn đề” [53, tr.191] vì thông qua “tình huống có vấn đề” sẽkích thích tính tích cực nhận thức của HS trong việc vận dụng kiến thức và

kĩ năng để giải quyết những tình huống đó Do đó, tình huống có vấn đềchính là cơ sở của tư duy, của quá trình sáng tạo và phát triển Đồng thờithông qua đó, giúp các em hình thành kĩ năng, phát hiện và GQVĐ Đó là kĩnăng rất cần thiết cho các em sống trong xã hội hiện đại

Khi tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học đặc biệt là trong phần

“công dân với kinh tế”, chương trình GDCD lớp 11, GV cần đảm bảo đượccác đặc trưng cơ bản sau:

- Tình huống có vấn đề trong dạy học phần này có thể là một câu hỏi,một tình huống nhưng phải chứa mâu thuẫn Vì có mâu thuẫn thì mới có vấn

đề để giải quyết, có mâu thuẫn mới khởi phát được hoạt động tư duy, mâuthuẫn là nguyên nhân của mọi sự vận động, là động lực của quá trình pháttriển Mâu thuẫn ở đây có thể là mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn, mâuthuẫn giữa tri thức cũ và tri thức mới, mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưabiết

- Tình huống có vấn đề trong học phần này phải có tính lí thú Mâuthuẫn mà không lí thú thì không được HS chấp nhận và để đảm bảo được lí

Trang 19

thú thì phải thỏa mãn nhu cầu của các em, phải thỏa mãn cái gì mà các emcho là có giá trị và phù hợp với lứa tuổi, với môi trường sống, với truyềnthống của vùng miền.

- Tình huống có vấn đề phải đảm bảo tính vừa sức, vì nếu tình huống màkhông vừa sức thì cho dù có hứng thú mấy cũng không thể giải quyết được

Do đó, khi đưa ra tình huống có vấn đề phải căn cứ vào nhận thức của HS,điều kiện kiến thức của các em

- Tình huống có vấn đề phải gắn chặt với mục đích và nội dung bàihọc Một trong những nguồn hứng thú cơ bản đối với hoạt động học tập lànội dung Nội dung chính là cơ sở để phương pháp giảng dạy hướng đếnmục tiêu và hiệu quả của quá trình dạy học Do đó, đòi hỏi người thầy phảinghiên cứu kĩ nội dung bài học trong SGK Ngoài ra, người thầy còn phảichịu khó tự học tập, tự bồi dưỡng qua các phương tiện thông tin đại chúng,tạp chí chuyên ngành để có thể tự trang bị cho mình một hệ thống tri thức,một vốn liếng văn hóa tương đối rộng và bề sâu về nội dung bài giảng Cónhư thế mới tạo ra được tình huống có vấn đề hay và gắn với nội dung bàihọc

* Dạy học giải quyết vấn đề

- Lịch sử dạy học giải quyết vấn đề

Vào những năm 70 của thế kỉ XIX đã có rất nhiều nhà khoa học như:A.Ja Ghecđơ, B.E Rai côp…nêu lên phương án tìm tòi, phát kiến trong dạyhọc nhằm hình thành năng lực nhận thức của HS vào hoạt động tìm kiếm ratri thức HS là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học Đến những năm 50 của thế kỉ XX, xã hội bắt đầu phát triển mạnh, dẫnđến một mâu thuẫn trong dạy học đó là: mâu thuẫn giữa yêu cầu GD ngàycàng cao nhưng khả năng sáng tạo của HS ngày càng lạc hậu Vì vậy phươngpháp day học nêu vấn đề hay còn gọi là day học phát hiện và GQVĐ chínhthức ra đời

Trang 20

Dạy học giải quyết vấn đề xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầunhững năm 70 của thế kỉ XX, nhờ các tài liệu sư phạm từ nước ngoài củaÔkôn, Machiuskin và M.I.Mackmutov…

Ngày nay có rất nhiều cách gọi khác nhau về phương pháp dạy họcnày Cách gọi phổ biến của phương pháp dạy học này cách đây vài thập kỉ làphương pháp “dạy học nêu vấn đề”, gần đây trong các tài liệu mới của giáodục học thường gặp các tên gọi là “dạy học giải quyết vấn đề” Tuy có nhiềutên gọi khác nhau nhưng đều giống nhau ở hai đặc trưng cơ bản đó là “tìnhhuống có vấn đề” và “các giai đoạn giải quyết vấn đề” Như vậy có thể sửdụng tên gọi “dạy học giải quyết vấn đề” để thống nhất cho các cách gọitrên

* Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học GQVĐ là lí luận về dạy học là một kiểu dạy học được xâydựng theo nguyên tắc tổ chức cho người học tự GQVĐ để tìm ra kiến thứcmới GQVĐ là một vấn đề khó luôn đặt ra cho con người trong quá trìnhphát triển Vì vậy dạy học GQVĐ thường được chia ra nhiều mức độ khácnhau Trong đó có 2 mức độ cơ bản là là tìm tòi từng phần và nghiên cứu Dạy học GQVĐ là quan điểm dạy học mà GV và HS tạo ra nhữngtình huống có vấn đề Từ đó, GV điều khiển HS tự phát hiện vấn đề, hoạtđộng tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để GQVĐ Thông qua đó có thểnắm bắt được kiến thức mới lẫn phương pháp để đi tới kiến thức đó Đồngthời phát triển tư duy sáng tạo hình thành thế giới quan khoa học

* Dạy học giải quyết vấn đề là nguyên tắc dạy học được xây dựng dựatrên tình huống có vấn đề

- Các bước của dạy học giải quyết vấn đề:

* Về phía GV:

Xây dựng tình huống có vấn đề

Bước 1: Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài học để lựa chọn nộidung đáp ứng yêu cầu của tình huống có vấn đề

Trang 21

Bước 2: Phân tích nội dung, liên hệ kiến thức HS đã biết, đã đượchọc để xác định mâu thuẫn.

Bước 3: Hoàn thiện câu hỏi có vấn đề hoặc tình huống có vấn đề và

dự kiến các trường hợp HS có thể đưa ra giải quyết (trong trường hợp cónhững vấn đề HS nêu ra thì dạy học GQVĐ có thể bắt đầu bằng bước này)

Bước 4: Nhận xét, đánh giá để lựa chọn phương án tối ưu và rút ra kếtluận

Trang 22

Hình 1.1 Cấu trúc tiến trình các bước của dạy học GQVĐ

(Nguồn tác giả xây dựng)

Có thể khẳng định rằng, giải quyết một vấn đề không đơn giản chỉ

là dựa vào kiến thức vốn có, mà còn là quá trình vận dụng và rèn luyện các

kĩ năng để có thể tìm ra phương án GQVĐ nhanh và hiệu quả nhất Khi thamgia vào các bước của quá trình GQVĐ là người học đã có thể tự mình rènluyện KNGQVĐ Đây là một trong những kĩ năng cần thiết, cơ bản và khôngthể thiếu trong hoạt động nhận thức cũng như thực tiễn của mỗi cá nhân

ĐỐI DIỆN(nhận biết)

HS nhận biết tình huống, vấn đề cần giải quyết

Trang 23

1.1.1.3 Kĩ năng và dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

* Kĩ năng: Theo từ điển tiếng Việt thì kĩ năng là khả năng vận dụngnhững kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó thực tiễn cuộcsống [52, tr.54]

Kĩ năng được hiểu dưới góc độ của các nhà giáo dục học là khả năngthực hiện các công việc cụ thể, sau khi HS đã qua một chương trình học tập,một khóa huấn luyện Trình độ kĩ năng được đánh giá bằng chất lượng sảnphẩm mà HS làm ra

Hoặc theo cách hiểu thông thường thì khi nói đến thuật ngữ kĩ nănglàm ta liên tưởng đến 2 cách hiểu như sau:

- Thứ nhất, kĩ năng ở đây cũng có thể được hiểu là khả năng của các

hoạt động hay nói một cách ngắn gọn và đơn giản kĩ năng chính là kĩ thuậtcủa hành động Theo quan niệm này chúng ta có thể nhận thấy rằng khi conngười nắm được cách thức hành động tức là đã có kĩ thuật hành động điều đócũng có nghĩa là con người đã có kĩ năng Kĩ năng ở đây chính là cách thứccủa hành động, điều kiện hành động mà con người đã nắm được

- Thứ hai, xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực con người Theo cách

hiểu này thì kĩ năng chính là nhân tố quan trọng để thực hiện một công việcvới kết quả cần thiết Kĩ năng không chỉ đơn thuần là mặt kĩ thuật của hànhđộng mà còn là biểu hiện của năng lực Vì kĩ năng là khả năng thực hiện mộtkết quả, một cách hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinhnghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Do đó,

kĩ năng không chỉ đơn thuần là mặt kĩ thuật hành động mà còn là biểu hiệnnăng lực con người

Từ những quan điểm trên chúng ta có thể khẳng định rằng cơ sở của kĩnăng chính là kiến thức và là kiến thức trong hành động Do đó kĩ năng chỉđược hình thành và phát triển thông qua con đường luyện tập và tích lũy kiếnthức, kinh nghiệm Quan điểm trên đã được M.A.Đanylop khẳng định: “kĩ

Trang 24

năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức, kĩ năng chính

là kiến thức trong hành động” [35, tr.43]

Để có được kĩ năng GQVĐ trong học tập chúng ta cần phải hànhđộng, hành động để tham gia vào hoạt động GQVĐ, hành động để huy độngnhững kiến thức đã có, hành động để liên kết suy nghĩ, lựa chọn thông tin vàgiải pháp tốt nhất cho một vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu Có như vậychúng ta mới có thể vận dụng được những kiến thức đã học và phối hợptrong các hoạt động nhằm hỗ trợ cho việc rèn luyện KNGQVĐ một cáchhiệu quả

1.1.1.4 Dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng GQVĐ

Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã có vào một lĩnh vựcnào đó, vì vậy chúng ta có khẳng định rằng nền tảng của kĩ năng chính làkiến thức và là kiến thức trong hành động Do đó, trong quá trình các em HSkiến tạo kiến thức cho mình, một yếu tố cần thiết và không thể thiếu đóchính là KNGQVĐ Thông qua các bước GQVĐ giúp các em hình thànhđược cho mình kĩ năng cần thiết trong quá trình học tập Muốn làm đượcđiều đó bản thân các em cần phải nắm vững các thao tác trong quá trìnhGQVĐ đồng thời vận dụng những kiến thức của mình để phân tích, biến đổi

và làm sáng tỏ những nội dung, tình huống cần giải quyết

Trong thực tiễn cuộc sống có thể chia kĩ năng thành 3 loại cơ bản nhưsau:

* Kĩ năng bẩm sinh:

Là dạng kĩ năng được hình thành do sự kết hợp giữa hai nền tảng cơbản đó chính là kiến thức và năng khiếu hay niềm đam mê Loại kĩ năng nàyrất hiếm gặp và được xem là dạng kĩ năng có tiềm năng, sẽ phát triển rất tốtnếu như biết bồi dưỡng và rèn luyện

Trang 25

* Kĩ năng đơn thuần:

Đây là một dạng kĩ năng được hình thành do sự kết hợp giữa kiếnthức và kinh nghiệm qua quá trình luyện tập Đây là một trong những kĩnăng cơ bản mà hầu hết các em HS THPT đều có được

* Kĩ năng hoàn hảo:

Là dạng kĩ năng được hình thành do sự kết hợp của 3 yếu tố đó làkiến thức, năng khiếu và luyện tập Đây là một trong những kĩ năng rất tốtnếu HS nào có được sẽ có rất nhiều cơ hội và dễ dàng gặt hái được nhiềuthành công trong cuộc sống

1.1.1.5 Một số kĩ năng trong dạy học GQVĐ

* Kĩ năng nhận thức vấn đề:

Nhận thức là nhìn nhận, đánh giá vấn đề Đây là một trong những kĩnăng quan trọng nhất của quá trình nhận thức vì nó là cơ sở để chúng ta xácđịnh được vấn đề một cách đúng đắn khách quan Tuy nhiên, để có thể thựchiện được tốt chức năng này đòi hỏi người nhận thức phải có nền tảng kiếnthức cần thiết, vừa đủ để có thể nhận thức vấn đề một cách chính xác nhất.Nhận thức vấn đề là giai đoạn đầu tiên, cực kì quan trọng của quá trình tưduy

* Kĩ năng khai thác thông tin, tư liệu

Trong quá trình GQVĐ một trong số những kĩ năng không thể thiếucủa các em HS đó là kĩ năng khai thác thông tin, tư liệu Đây là một trongnhững kĩ năng cần thiết trong GQVĐ vì tìm kiếm thông tin, tư liệu giúp bồidưỡng kiến thức để có thể GQVĐ một cách hiệu quả và nhanh chóng Đặcbiệt trong thời buổi bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử líthông tin là một trong những kĩ năng quan trọng để giúp các em có thể cóđược những thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan, kịp thời

Trang 26

* Kĩ năng phân tích, sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thiết

Để có thể GQVĐ một cách hiệu quả đòi hỏi chúng ta phải biết vậndụng tri thức của mình một cách linh hoạt Thoạt đầu, các tri thức xuất hiệnmang tính khái quát, rộng rãi thậm chí chúng ta còn khó có thể xác định đâu

là cái chúng ta thật sự muốn tìm Do đó, kĩ năng phân tích, sàng lọc ý tưởng,hình thành giả thuyết là một kĩ năng quan trọng không thể thiếu của quátrình hoạt động tư duy Khi các em biết sàng lọc và loại bỏ những kiến thứckhông cần thiết và không liên quan đến nội dung vấn đề cần giải quyết Từ

đó, giúp các em hình thành giả thiết và dự trù những phương án giải quyết

Để từ các giả thiết đó cho phép các em lựa chọn cho mình những phương án

mà các em cho là tối ưu và hợp lí nhất

* Kĩ năng hợp tác

Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong mộtcông việc, một lĩnh vực nào đó vì một mục đích chung Do đó kĩ năng hợptác là một trong những kĩ năng cơ bản trong nhận thức và GQVĐ một cáchhiệu quả nhất vì khi hợp tác cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết vàcùng làm việc có hiệu quả với các thành viên trong nhóm Đây chính là cơ sởgiúp GQVĐ một cách nhanh chóng dựa trên tinh thần và sự hợp tác của cácbạn cùng nhóm Mặt khác, hợp tác là một trong những biện pháp hữu hiệunhằm giúp các em phát triển kĩ năng xử lí thông tin và đưa ra những dẫnchứng cụ thể, giúp các em không chỉ tích lũy được kiến thức mà còn có cơhội thể hiện, đánh giá và vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống Từ

đó, các em có thể tự mình trao đổi, bàn bạc để có thể đưa ra những giải phápnhằm GQVĐ một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất

* Kĩ năng tư duy, sáng tạo:

Tư duy sáng tạo là kĩ năng nhìn nhận và GQVĐ theo một cách mới,với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới Đâychính là khả năng khám phá, kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ýtưởng, quan điểm, sự việc độc lập trong suy nghĩ Kĩ năng này giúp con

Trang 27

người tư duy năng động với nhiều sáng kiến của mình hoặc của các bạntrong cùng một nhóm Biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khảnăng suy nghĩ Khi các em biết kết hợp giữa kĩ năng tư duy phê phán và kĩnăng tư duy sáng tạo sẽ giúp các em phát triển năng lực tư duy của mình Từ

đó, giúp các em có nhiều điều kiện thuận lợi và dễ dàng trong việc GQVĐmột cách nhanh chóng và thuận lợi nhất

* Kĩ năng GQVĐ

Kĩ năng GQVĐ là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm củamình khi quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương

án đã chọn để GQVĐ, các câu hỏi hoặc các tình huống mà mình đang gặp

Kĩ năng GQVĐ có liên quan đến nhiều kĩ năng khác như: kĩ năng nhận thứcvấn đề, kĩ năng phân tích sàng lọc ý tưởng, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thôngtin, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng ra quyết định…kĩ năng GQVĐ là mộttrong những kĩ năng quan trọng, giúp con người có thể ứng phó tích cực vàhiệu quả trước những vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống

1.1.2 Cơ sở của dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

1.1.2.1 Cơ sở pháp lí

Mục tiêu của GD không đơn thuần là dạy kiến thức cho HS mà cầnlàm thế nào đề HS có thể tự tìm kiến thức để giải quyết những vấn đề trongcuộc sống, làm thế nào để HS biết phát huy sức mạnh nhóm, tăng cường sựhợp tác trong GQVĐ Do đó, trong những năm gần đây để có thể bắt nhịpđược xu hướng phát triển chung của nhân loại, Đảng và Nhà nước ta đã vàđang không ngừng ban hành các nghị quyết nhằm đưa ra các giải pháp pháttriển giáo dục và đào tạo theo xu hướng hội nhập và phát triển, đáp ứng nhucầu khách quan của xã hội đương đại Có thể kể đến các nghị quyết sau:Nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khóa VII đã xác định “phải khuyếnkhích tự học”, “áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HSnăng lực tư duy sáng tạo, năng lực GQVĐ”

Trang 28

Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII tiếp tục khẳng định “ Hết sức coitrọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo vànăng lực thực hành”[12, tr.6] Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta cần phảiđổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.

Điều 27(luật GD 2005) nước ta xác định: “Mục tiêu của GDPT là giúp

HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất và các kĩ năng

cơ bản khác, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hìnhthành nhân cách con người Việt Nam XHCN” [10, tr.7]

Định hướng đó đã được pháp chế hóa trong văn bản pháp luật, cụ thể

là luật giáo dục 2005, điều 28, khoản 2 nêu rõ: “phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tựhọc, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh”[10, tr.8]

Xuất phát từ vị trí và nhiệm vụ trên của GD, trong những năm qua, BộGD-ĐT đã thực thi nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộmôn nói chung cũng như trong dạy học bộ môn GDCD nói riêng Nhằm gópphần tích cực vào việc phát triển GDĐT, bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ trẻ,giúp các em hình thành cho mình lí tưởng sống Đồng thời, biết phối hợp cáchoạt động, vận dụng những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của mình vào giải quyếtnhững vấn đề đã và đang nảy sinh trong học tập cũng như trong thực tiễn

1.1.2.2 Cơ sở tâm lí - giáo dục

Như chúng ta đã biết học là một hoạt động đặc thù của con người.Trong đó người học vừa là chủ thể vừa là đối tượng tác động Do đó cáchhọc tốt nhất là học trong hoạt động

Trang 29

J.A.Komenxki, nhà sư phạm Tiệp Khắc lỗi lạc (1592-1670) đã đưa ranhững biện pháp dạy học “bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ để tự mình nắm bắtđược bản chất của SV-HT” hay với J.J.Ruxo, Ông cho rằng: phải hướng HStích cực, tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.

Từ những quan điểm trên, có thể khẳng định rằng: để đạt được hiệuquả trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học cần thiết phải tổ chức hoặcđưa ra các tình huống có vấn đề để HS tham gia vào hoạt động GQVĐ Cónhư vậy thì HS mới có thể tự mình lĩnh hội, phát triển trí tuệ, nhân cách Mặtkhác, thông qua hoạt động GQVĐ sẽ tạo cho các em động lực hứng thú vànhu cầu cần thiết phải tìm cách giải quyết Có như thế người học mới phát

huy được hết nội lực để phát triển chính mình Đó chính là yếu tố tạo nên sự

tích cực trong hoạt động nhận thức của HS

1.1.2.3 Cơ sở kinh tế - xã hội

Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vớinền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Để thích ứng với

cơ chế thị trường, chuẩn bị cho cuộc sống và làm việc sau này đòi hỏi các

em HS ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải tự trang bị cho mìnhnhững kĩ năng cơ bản để có thể hòa nhập nhanh và thích ứng dễ dàng vớimột xã hội năng động Do đó, cần rèn luyện cho HS kĩ năng GQVĐ là mộttrong những kĩ năng vô cùng quan trọng và cần thiết không thể thiếu cho các

em trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này

1.1.2.4 Đặc điểm của rèn luyện kĩ năng GQVĐ cho học sinh

Ở mỗi lứa tuổi khác nhau, các em có những đặc điểm tâm sinh líriêng, phẩm chất nhân cách cũng như năng lực trí tuệ, tri thức và kĩ nănghình thành ở HS cũng khác nhau về mức độ, số lượng và tính chất tùy theolứa tuổi của các em Riêng đối với các em học sinh THPT được xem là lứatuổi đầu thanh niên vì vậy mà quá trình nhận thức của các em khác hoàn toàn

Trang 30

về chất so với lứa tuổi trước Cảm giác, tri giác của các em đạt tới trình độnhạy hơn, có chú ý nhiều hơn trong quá trình học tập nhờ khả năng tự ýthức Do đó tri nhớ của các em có chủ định và chiếm ưu thế nhiều hơn Đặcbiệt, tư duy của các em ở lứa tuổi lớp 11,12 có thể nói đã đạt được trình độngười trưởng thành về mặt logic và tư duy lí luận, các thao tác như phân tích,tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa được hoàn thiện từng bước Khôngnhững thế, sự phát triển nhân cách của các em cũng có nhiều đặc điểm nổibật, khả năng tự ý thức của các em phát triển cao, do đó các em có thể tựđánh giá khả năng một cách toàn diện

Tuy nhiên, đây là giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, các yếu tố củanhân cách định hình chưa được vững bền, chưa được trải nghiệm nhiều Do

đó ở một số em có hiện tượng manh động, bột phát, hiếu thắng, chủ quan, dễdẫn đến sai lầm trong nhận thức và hành vi văn hóa, đạo đức Đặc biệt trongđiều kiện của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta bên cạnhnhững mặt tích cực vẫn còn không ít tác động tự phát tiêu cực, ảnh hưởngxấu đến quá trình hình thành, phát triển nhân cách của thế hệ trẻ

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, chúng tôi nhận thấy rằng: Đốivới HSTHPT đều quan trọng nhất là thái độ của các em đối với công việc vàhọc tập của mình Điều đó được thể hiện bằng tính tích cực, tự giác, chủđộng trong học tập của các em, sự tập trung chú ý vào nhiệm vụ học tập, có

ý chí vươn lên, có phương pháp học tập sáng tạo để dành được kết quả họctập tốt nhất Đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễncuộc sống

Do đó việc rèn luyện kĩ năng GQVĐ cho các em ngay khi còn làHSPT là điều vô cùng quan trọng và cần thiết Đó không chỉ là nền tảng giúpcác em bổ sung kiến thức, thực hành một cách sáng tạo những kiến thức màmình đã học, vận dụng chúng vào trong thực tiễn góp phần hình thành và rènluyện những kĩ năng cơ bản cho các em

Trang 31

1.1.2.5 Cấu trúc chương trình và đặc điểm của phần công dân với kinh tế, lớp 11

Bảng 1.2 Bảng phân phối chương trình phần công dân với kinh tế

Tiết

CT

NỘI DUNG

1 Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế

2 Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế

3 Bài 2: Hàng hóa- Tiền Tệ- Thị Trường

4 Bài 2: Hàng Hóa- Tiền Tệ- Thị Trường

5 Bài 2: Hàng Hóa- Tiền Tệ- Thị Trường

6 Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

7 Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

8 Bài 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

9 Bài 5: Cung- Cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

(Nguồn:Tác giả xây dựng trên cơ sở chương trình môn GDCD lớp 11)

* Đặc điểm phần công dân với kinh tế:

Môn GDCD ở trường THPT là hệ thống kiến thức bao gồm sự tíchhợp của nhiều nội dung khác nhau, được xây dựng dựa trên các môn khoahọc cơ bản như: Triết học, Đao đức học, Luật học, Kinh tế chính trị học, Chủnghĩa xã hội khoa học…Mỗi một nội dung môn học đều gắn với một mụctiêu GD cụ thể

Đặc biệt trong phần “công dân với kinh tế”, chương trình GDCD lớp

11, là một trong những học phần với nhiều nội dung khái quát, trừu tượngnhư: quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thônghàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luậtcung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa….mặt khác, những quy luậtnày cũng đang hàng ngày, hàng giờ tác động, biểu hiện trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội

Không những thế kinh tế còn có một vai trò quan trọng hơn đó chính

là góp phần vào sự nghiệp phát triển của GD, giữa GD và kinh tế là 2 mốiliên hệ hỗ trợ và không thể tách rời nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từngnhấn mạnh: “ Kinh tế tiến bộ thì GD mới tiến bô được, nền kinh tế không

Trang 32

phát triển thì GD cũng không phát triển được, GD không phát triển thì không

có đủ cán bộ để giúp cho kinh tế phát triển, hai việc đó liên quan mật thiếtvới nhau”

Với quan điểm trên của nhà lãnh tụ thiên tài đã cho chúng ta thấy vaitrò của GD trọng sự phát triển kinh tế Học phần “Công dân với sự phát triểnkinh tế” có một ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp GD đặc biệt là đối với thế

hệ trẻ Có thể nói phần “Công dân với kinh tế” chương trình GDCD lớp 11 làmột học phần mà nội dung kiến thức hoàn toàn xa lạ với các em Do đó việcvận dụng phương pháp phù hợp để giảng dạy học phần này là vô cùng quantrọng và thật sự cần thiết

Xuất phát từ những thực tiễn trên, vận dụng phương pháp dạy hocGQVĐ trong giảng dạy học phần này có thể giúp các em có được những trảinghiệm qua việc tự mình giải quyết những mậu thuẫn kiến thức trong quátrình học tập, đặc biệt là qua học phần “công dân với kinh tế” Từ đó, các em

có thể vận dụng những kiến thức mà mình đã học để giải thích những vấn đềtrong thực tiễn kinh tế dù là với những hình thức cơ bản nhất, biết phân biệtcác yếu tố cơ bản của nền kinh tế, biết đánh giá, nhận định về hàng hóa, vềtác động và vai trò của nền kinh tế thị trường Từ đó các em có thể trang bịcho mình những kiến thức cơ bản nhất, biết định hướng nghề nghiệp chomình trong tương lai

Chính những đặc thù đó đòi hỏi người GV khi xác định, xây dựng câuhỏi, tình huống có vấn đề phải là những mâu thuẫn có tính thời sự để có thểbắt nhịp với cuộc sống đang thay đổi từng ngày, từng giờ Để làm được điều

đó bên cạnh kĩ năng chuyên môn người GV cần có tâm hồn nhạy cảm, biếtcảm nhận, lắng nghe những đổi thay của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc,phân tích, xử lí thông tin để mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại vàotừng tiết học GDCD

Mặt khác, tri thức môn GDCD mang tính đa dạng và tổng hợp baotrùm lên nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau Do đó, trong quá

Trang 33

trình giảng dạy đòi hỏi người GV phải biết liên hệ và vận dụng tri thức củacác môn khoa học khác vào bài dạy của mình.Việc sử dụng kiến thức liênmôn sẽ giúp HS hiểu bài nhanh hơn, làm tri thức môn học trở nên thuyếtphục và khoa học hơn Qua đó làm thay đổi cách nhìn của HS với mônGDCD.

1.1.2.6 Các yêu cầu đối với việc rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề

- Yêu cầu đối với GV trong học theo hướng rèn luyện kĩ năng GQVĐ

Trong quá trình dạy học luôn tồn tại hai mối quan hệ cơ bản đó là mốiquan hệ giữa GV-HS và HS-HS Nhiều nhà nghiên cứu khi phân tích mốiliên hệ trong quá trình dạy học như sau: HS hợp tác với nhau để tiến hànhhoạt động nhận thức một cách tự giác và tích cực dưới sự hướng dẫn của

GV Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng mối quan hệ GV-HS theo kiểu ápđặt, phục tùng là không thể phát huy được tính năng động sáng tạo chongười học, người học không có hứng thú mà luôn cảm thấy bị gò bó thậmchí là sự sợ hãi Do đó, trong quá trình dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năngGQVĐ cho HS, người GV cần xây dựng mối quan hệ thầy trò thân thiện,giúp HS thấy tự tin và thoái mái trong quá trình học

Theo quan điểm này, người GV không còn là nguồn kiến thức, ngườiquyết định mọi việc trong lớp học mà là người hỗ trợ thúc đẩy mọi hoạtđộng học Nói như vậy, không phải vai trò của người GV là thứ yếu màngược lại người GV chính là một mắt xích quan trọng quyết định hiệu quảcủa quá trình dạy học Người GV chuyển từ người quản lí sang người thúcđẩy và HS chuyển từ người bị quản lí sang người ủy quyền GV là ngườithiết kế các tình huống học tập và điều khiển các hoạt động trong lớp học,tiếp nhận phản hồi, điều chỉnh hoạt động học đi đúng hướng, luôn bên cạnhngười học có vai trò là người tư vấn, tạo môi trường học tập tích cực, bố trícác điều kiện để tổ chức cho HS có thể giao tiếp được với nhau, khéo léo hỗtrợ giúp đỡ HS giải quyết vấn đề Đồng thời hướng dẫn HS trình bày và thảo

Trang 34

luận các vấn đề của mình và biết lắng nghe, phân tích, đánh giá các ý kiếncủa người khác.

Nói tóm lại theo quan điểm dạy học này, người GV là người thiết kế,

tổ chức và điều khiển quá trình dạy học nhưng tất cả các hoạt động của GVđều phải hướng đến HS, mọi hoạt động của GV sẽ trở nên vô nghĩa nếu HSkhông chủ động và tích cực đón nhận nó Do đó, theo quan điểm dạy họcnày HS chính là cầu nối giúp quá trình dạy học diễn ra một cách hiệu quả

- Yêu cầu đối với HS trong dạy học theo hướng rèn luyện kĩ năng GQVĐ

Trong bối cảnh hiện nay, do đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học

kĩ thuật (KHKT) hiện đại đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế thế giới đó là

xu hướng chuyển dần từ kinh tế công nghiệp sang một loại hình kinh tế mớidựa trên chất xám, kĩ thuật, công nghệ cao đó chính là kinh tế tri thức Mộtcon số tính toán cho thấy rằng, trong nền kinh tế tri thức việc đầu tư cho GDchiếm 6-8% GDP, trình độ văn hóa trung bình của mỗi công dân là phải tốtnghiệp THPT và công nhân tri thức là thành phần chủ yếu trong cơ cấu xãhội Để thích ứng với điều đó, GD phải chuyển từ việc coi trọng truyền thụkiến thức sang GD cho mọi người khả năng tự học, tự GQVĐ, hợp tác vớinhau Nếu làm được điều đó, GD mới cung cấp cho xã hội hiện đại nhữngngười lao động mới phù hợp Do đó, theo quan điểm dạy học hiện đại vai tròcủa HS hoàn toàn thay đổi

HS từ vai trò bị động chuyển sang chủ động HS phải chủ động và tíchcực trọng việc đón nhận tình huống có vấn đề, chủ động làm việc nhóm, hợptác với nhau, chủ động trong việc huy động kiến thức, kĩ năng đã có vàokhám phá, giải quyết các tình huống có vấn đề được nêu ra trước đó Bêncạnh đó HS phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn củabản thân khi đứng trước những tình huống học tập mới HS phải chủ động vàtích cực trong việc hợp tác và trao đổi thông tin với bạn bè Việc trao đổi nàyphải xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân các em HS để có thể thuận lợi

Trang 35

và dễ dàng trong việc giải quyết những tình huống học tập Đặc biệt, sau khitham gia vào các hoạt động GQVĐ, bản thân các em phải biết trình bàynhững hiểu biết của mình bằng chính ngôn ngữ của mình Có như vậy các

em mới có thể khẳng định bản thân mình, rèn luyện kĩ năng tự tin, kĩ năngsáng tạo Đó là một trong những kĩ năng cơ bản rất cần thiết trong cuộc sốngcủa các em

1.2 Rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 11 trường THPT là yêu cầu cấp bách trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.2.1 Vai trò của kĩ năng GQVĐ trong dạy học phần công dân với kinh tế

1.2.1.1 Sự cần thiết phải rèn luyện KNGQVĐ cho HS trong hoạt động dạy của GV

Mục tiêu của GD hiện đại không chỉ đơn thuần là việc truyền thụ trithức mà còn là một quá trình bao gồm 3 khâu thống nhất, biện chứng vớinhau đó là: giáo dục ý thức, giáo dục thái độ và hình thành hành vi, thóiquen cho HS GD chỉ đạt được hiệu quả khi đối tượng GD vừa có nhận thứcđúng, vừa có thái độ đúng, vừa có hành vi chuẩn mực thể hiện trong đờisống hàng ngày Để đạt hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy của mình đòihỏi GV phải chú ý đến đặc điểm tâm lí, lứa tuổi, trình độ nhận thức, tínhcách riêng của từng HS để có biện pháp GD cho phù hợp

Đối với HSTHPT, các em đã có nhiều tích cực trong hoạt độngnhận thức, có nhiều mong muốn và ý thức về tương lai bản thân Phươngpháp giảng dạy hiệu quả nhất cho các em ở giai đoạn này là các phươngpháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức củacác em, để các em chủ động tìm tòi thông tin, tham gia vào các hoạt độngnghiên cứu, tìm hiểu bản chất của vấn đề, biết hệ thống hóa kiến thức, ghinhớ kiến thức và biết vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết cáctình huống trong học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống

Trang 36

Với nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác cho HS,

GV tổ chức các hoạt động đa dạng, qua đó khai thác tiềm năng trí tuệ, kiếnthức, kinh nghiệm thực tế của HS, dẫn dắt HS tìm tòi, khám phá các vấn đềhọc tập, hình thành các khái niệm, phạm trù khoa học và phát triển các kĩnăng vận dụng kiến thức vào cuộc sống Hoạt động dạy của GV thực chất làhoạt động điều khiển giúp HS hình thành và phát triển các kĩ năng, kĩ xảo vàphát triển năng lực cá nhân

Khi nói về vấn đề này, Tâm lí học cho rằng: “con người chỉ tích cực

tư duy khi họ rơi vào hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm cách thoát khỏi tìnhhuống đang làm cản trở bước đi trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực

tế mà phương pháp tư duy cũ, tri thức, kinh nghiệm đã có không thể giảiquyết được làm cho họ rơi vào trạng thái đặc biệt, thôi thúc đi tìm cách giảiquyết” [50, tr.191]

Do đó, trong hoạt động dạy học để kích thích hoạt động nhận thức của

HS chúng ta cần phải đưa họ vào tình huống có vấn đề giống như nhận định

mà một nhà giáo dục Hoa Kì Jon Dewey từng nói: “HS đến trường khôngphải để tiếp thu những tri thức được ghi vào 1 chương mà là để GQVĐ, giảiquyết những bài toán khó và những thực tế mà chúng gặp hàng ngày Vềphía thầy giáo ông ta hoạt động giống như một người bạn có kinh nghiệm,hướng dẫn khuyên nhủ những vấn đề mà thầy biết”

1.2.1.2 Sự cần thiết phải rèn luyện KNGQVĐ trong hoạt động học của HS

Giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đào tạo lực lượng laođộng mới, tiến bộ phục vụ cho phương thức sản xuất của xã hội Có thể nóimặc dù GD không trực tiếp sản xuất ra nhưng đã tái sản xuất ra sức lao động

xã hội của thế hệ sau cao hơn thế hệ trước, tức là cải biến cái bản thể chungcủa con người, giúp học có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về một lĩnh vực nào

đó, tạo một năng suất lao động cao, trực tiếp thúc đẩy, phát triển sản xuất Ngày nay, nhân loại đang sống trong thời kì văn minh hậu côngnghiệp, thời đại của kinh tế tri thức với sự bùng nổ công nghệ thông tin Đặc

Trang 37

điểm này đã đặt ra yêu cầu rất cao đối với nguồn lao động tương lai đó làphải có kiến thức, kĩ năng để có thể thích nghi và đáp ứng được các yêu cầu

mà xã hội đặt ra

Vấn đề này không riêng gì ở quốc gia nào, Việt Nam cũng đang từngbước thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực để đáp ứng yêucầu phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chúng ta hãy xem GQVĐ trong các bài học ở nhà trường cũng nhưGQVĐ trong thực tiễn cuộc sống Nhờ vậy các em khỏi bỡ ngỡ khi bước vàođời sống thực tế phong phú Đồng thời ở một góc độ nào đó, người học saukhi ra trường khỏi phải mất công đào tạo tiếp từ thực tế cuộc sống và côngviệc sau này Để làm được điều đó, GV cần phải hiểu được vai trò và tầmquan trọng của việc GQVĐ để có thể giúp các em có được những kĩ năng cơbản khi các em rời khỏi trường THPT Từ những yêu cầu trên, chúng tôinhận thấy rằng việc rèn luyện KNGQVĐ cho HS lớp 11 là điều vô cùngquan trọng và thật sự rất cần thiết đối với các em Thông qua day học theohướng rèn luyện KNGQVĐ, HS từng bước hình thành, phát triển các kĩ năngnăng cứng, kĩ năng mềm khi tiếp cận với các vấn đề kinh tế, chính trị phứctạp, các em có khả năng trả lời, nắm bắt được những tri thức cơ bản nhất liênquan đến nền tảng, tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng ta trong công cuộc đổimới Đây là vấn đề mấu chốt mà giáo dục phổ thông phải giải quyết thànhcông nếu muốn hình thành nên một thế hệ trẻ vừa hồng vừa chuyên

1.2.1.3 Ý nghĩa của dạy học rèn luyện kĩ năng GQVĐ

Dạy học chú trọng rèn luyện KNGQVĐ giúp HS hình thành những kĩnăng cơ bản trong xử lí những tình huống ngay khi còn là HSTHPT Từ đóbiết vận dụng những kiến thức mà mình đã học để giải quyết những vấn đề

mà các em gặp phải trong cuộc sống

Thông qua việc rèn luyện kĩ năng GQVĐ, HS có thể phát huy đượctính chủ động, sáng tạo trong học tập của mình, kích thích tư duy tích cực,

Trang 38

duy trì hứng thú học tập, vỡ bỏ quan niệm của các em đối với môn GDCD,một môn học mà các em cho là khô khan và nhàm chán.

Đồng thời, qua phương pháp dạy học này, khuyến khích được tư duyphê phán, óc sáng tạo và giúp các em rèn luyện kĩ năng GQVĐ và một số kĩnăng khác, góp phần bồi dưỡng và phát triển các năng lực vốn có cho các

em

1.3 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng GQVĐ cho học sinh trong dạy học phần công dân với kinh tế ở trường THPT Thanh Bình, Tỉnh Đồng Nai

1.3.1 Khái quát về trường THPT Thanh Bình, Huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

Trường THPT Thanh Bình được thành lập từ năm 1994 Lúc đầutrường chỉ là một trường THCS Bán công nhỏ với số lượng GV chính thức

và cơ hữu chưa đến 20 GV Nhưng bằng sự nỗ lực của BGH cũng như củatập thể GV nhân viên và các em HS trong trường đến năm 2001, trườngchính thức được Bộ GD-ĐT công nhận là trường THPT công lập

Trải qua hơn 10 năm với biết bao thăng trầm đến nay trường THPTThanh Bình đã có nhiều sự thay đổi vượt bậc Nhiều năm liền, trường đượccông nhận là trường tiến tiến cấp tỉnh và là một trong những ngôi trường cóđời sống văn hóa tốt Có thể nói, so với các trường khác trong huyện TânPhú, trường THPT Thanh Bình là một trong 2 ngôi trường lớn nhất củahuyện với một lực lượng GV dồi dào tính đến nay có hơn 90 GV- NV(trong

đó số lượng GV nữ là 43 GV), hơn 1600 HS/37 lớp Đặc biệt là chất lượnghọc tập của HS trường THPT Thanh Bình đã có những thành tích đáng nểtrong 2 năm gần đây:

+ Năm 2010- 2011, Trường có1700 HS/37 lớp trong đó có 38 HS đạt

HS giỏi cấp tỉnh, tỉ lệ tốt nghiệp của trường đạt 95,45%, HS đậu vào cáctrường ĐH-CĐ là 250 HS

Trang 39

+ Năm 2011- 2012, Trường có1695 HS/37 lớp Số lượng HS đạt danhhiệu HS giỏi cấp tỉnh là 40 HS Trong đó có 01 HS đạt danh hiệu HS giỏicấp quốc gia, Tỉ lệ tốt nghiệp THPT là 100%

Để đạt được thành tích như trên đó không chỉ là sự nỗ lực của riêng cá

nhân nào mà đó chính là sự phấn đấu của tập thể BGH trong khâu quản lí,của tập thể GV trong quá trình dạy và của tập thể HS trong quá trình học Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi như đã nói ở trên thì vẫn còn tồntại không ít khó khăn khác không thể không kể đến như: Trong một lớp học,trình độ nhận thức, tư duy của HS không thể đồng đều Do đó, đòi hỏi người

GV trong quá trình giảng dạy và lĩnh hội của HS buộc phải chấp nhận sựphân hóa về mức độ, cường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ Mặt khác do

tư tưởng phân tầng chính- phụ trong môn học đã ảnh hưởng ít nhiều đến tâm

lí và hiệu quả của các em HS Một số em ít đầu tư, không chịu đọc sách, tàiliệu liên quan đến môn học thậm chí các em học chỉ đối phó, học cho qua Bên cạnh đó, vì là một trường ở huyện miền núi xa xôi nên cơ sở vậtchất, tài liệu tham khảo vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn nhiều so với cáctrường khác trong tỉnh Đặc biệt, HS Trường THPT Thanh Bình đa số là connhà nghèo, có hoàn cảnh khó khăn Do đó, việc học của các em vẫn chưađược gia đình quan tâm nhiều Chính vì vậy kĩ năng XH và một số kĩ năngkhác phục vụ cho học tập của các em còn yếu Do đó, trong quá trình giảngdạy của mình đòi hỏi GV của từng bộ môn phải linh động trong việc vậndụng các phương pháp giảng dạy phù hợp để có thể giúp các em khôngnhững nắm vững được những kiến thức cơ bản mà còn có điều kiện cũngnhư cơ hội để rèn luyện, phát triển những kĩ năng mềm, kĩ năng cứng Cónhư vậy mới giúp các em có cơ hội để phát triển một cách toàn diện

1.3.2 Thực trạng dạy học môn GDCD chương trình lớp 11 nói chung và trường THPT Thanh Bình, tỉnh Đồng Nai nói riêng

Trong những năm vừa qua, mặc dù Bộ GD- ĐT đã và đang thực hiệnviệc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng

Trang 40

tạo của HS, nhằm bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theonhóm, từng bước giúp các em rèn luyện những kĩ năng cơ bản Từ đó, các

em biết vận dụng những kiến thức mà mình đã được học vào thực tiễn Mặc

dù đã có nhiều sự thay đổi trong đổi mới PPDH nhưng nhìn chung PPDHcủa GV vẫn chưa thể thoát khỏi kiểu dạy học “ thầy đọc, trò ghi” Hầu hết,trong tất cả tiến trình dạy học GV đều chủ động, GV là người nêu vấn đề,tình huống và cuối cùng vẫn chính GV là người sẽ giải quyết những tìnhhuống, những vấn đề đó

Với PPDH đó, người GV là người chiếm ưu thế, GV có thể chủ động

về mặt thời gian trong mọi tình huống nhưng ngược lại HS luôn rơi vàotrạng thái bị động và không thể tự mình chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, dẫn đếnhiệu quả và chất lượng dạy học không cao

Bảng 1.3 So sánh PPDH truyền thống và PPDH hiện đại

Dạy học có tính thụ động Dạy học có theo hướng tích cực

GV truyền đạt kiến thức GV tổ chức hướng dẫn HS lĩnh hội

GV độc thoại, phát vấn Đối thoại GV-HS, HS-HS

GV áp đặt kiến thức có sẵn HS hợp tác với GV, khẳng định kiến thức

HS tự đánh giá, tự điều chỉnh là cơ sở

để GV cho điểm cơ động

( Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở kết quả khảo sát tại trường THPT Thanh Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tháng 4.2012)

Trong quá trình dạy học bất kì phương pháp nào cũng có những thếmạnh riêng Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức như hiện nay thì phương

Ngày đăng: 21/12/2013, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Cấu trúc tiến trình các bước của dạy học GQVĐ - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Hình 1.1 Cấu trúc tiến trình các bước của dạy học GQVĐ (Trang 22)
Bảng 1.2. Bảng phân phối chương trình phần công dân với kinh tế - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 1.2. Bảng phân phối chương trình phần công dân với kinh tế (Trang 31)
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát ý kiến của HS - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát ý kiến của HS (Trang 65)
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát ý kiến của HS - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát ý kiến của HS (Trang 66)
Bảng 2.12.  Phân phối điểm lớp 11a5 - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 2.12. Phân phối điểm lớp 11a5 (Trang 68)
Bảng 2.11. Phân phối điểm lớp 11a3 - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 2.11. Phân phối điểm lớp 11a3 (Trang 68)
Bảng 2.13. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Bảng 2.13. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút (Trang 69)
Đồ thị 2.14. Đường tích lũy bài kiểm tra 15 phút - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
th ị 2.14. Đường tích lũy bài kiểm tra 15 phút (Trang 70)
Hình 3.1. Mô hình dạy học theo hướng rèn luyện KNGQVĐ - Rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học phần công dân với kinh tế môn giáo dục công dân lớp 11
Hình 3.1. Mô hình dạy học theo hướng rèn luyện KNGQVĐ (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w