1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá tiếng việt

86 3,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt
Tác giả Lê Thị Bích Hợi
Người hướng dẫn TS. Chu Thị Thủy An
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 462,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trờng Đại học VinhKhoa giáo dục tiểu học===    === Lê Thị Bích Hợi Rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại k

Trang 1

Trờng Đại học VinhKhoa giáo dục tiểu học

===    ===

Lê Thị Bích Hợi

Rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại

khoá Tiếng Việt

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Ngành: Phơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngời hớng dẫn:

TS Chu Thị Thủy An

Vinh, 5/2006

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là từ năm 1992, các nhà

nghiên cứu ngôn ngữ học đã phát hiện ra rằng việc dạy các kiểu câu phân loạitheo mục đích nói ở tiểu học nói riêng và ở phổ thồng nói chung đang theo mộtkhuynh hớng lạc hậu, phiến diện Giáo viên và học sinh gặp rất nhiều khókhăn, lúng túng khi day học các kiểu câu này Phần lớn giáo viên đang dừng lại

ở việc dạy các kiểu câu trong cấu trúc tĩnh tại của nó, cha đạt đợc mục đíchcuối cùng của việc dạy câu phân loại theo mục đích nói là học sinh biết sửdụng câu hay, phù hợp với văn cảnh, phù hợp với văn hoá giao tiếp của ngờiViệt

Xét từ góc độ lý luận dạy tiếng, việc dạy các kiểu câu phân loại theomục đích nói trong nhà trờng là một vấn đề luôn đợc quan tâm, nhất là tronggiai đoạn hiện nay, mục tiêu của việc dạy tiếng đạng đợc xác định là dạy chohọc sinh một công cụ giao tiếp và phơng pháp dạy học tối u nhất là dạy tronggiao tiếp Theo phơng hớng này đã có một số công trình nghiên cứu: Lê Phơng

Nga trong "Dạy học ngữ pháp ở tiểu học" [27], Cao Xuân Hạo trong “Ngữ pháp chức năng – Câu trong Tiếng Việt Câu trong Tiếng Việt” [11] Chu Thị Thuỷ An trong Câu

cầu khiến Tiếng Việt [2], “Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học hiện nay” [3], "Những điểm cơ bản về câu phân loại

theo mục đích nói” trong chơng trình Tiếng Việt 4" [4] Đó là những công trình

tiêu biểu nghiên cứu về phơng pháp dạy các kiểu câu phân loại theo mục đíchnói theo khuynh hớng của ngôn ngữ học hiện đại Tuy nhiên, kết quả nghiêncứu của các công trình này vẫn cha có tính hệ thống và cha đạt đến mức độ cụthể hoá cần thiết

1.2 Mặt khác, xét về hình thức, quy trình và tính chất của hoạt động

ngoại khoá Tiếng Việt thì chúng tôi thấy hoạt động ngoại khoá là một trongnhững hình thức dạy học quan trọng, góp phần củng cố tri thức và rèn luyệncác kỹ năng cho học sinh, là một trong những hình thức dạy học phong phú,sinh động và hấp dẫn đối với các em học sinh Nghiên cứu về lĩnh vực hoạt

động ngoại khoá tiêu biểu có một số tác giả: Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn LêTuấn, Nguyễn Văn Triệu [8], Nguyễn Văn Tứ [21] [26] Có thể thấy rằng,nghiên cứu về mảng hoạt động ngoại khoá có khá nhiều công trình đề cập đến

và đã đạt đợc một số thành tựu nhất định song trong thực tế, cha có một đề tài

cụ thể nào nghiên cứu việc rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục

đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng

Trang 3

Việt Các bài viết về đề tài này từ góc độ nghiên cứu lý luận, tài liệu thamkhảo, giáo trình trình bày ở dạng chung chung, cha có những ví dụ minh hoạcho từng tiết, từng bài cụ thể Do đó, tác dụng đối với việc giảng dạy và học tậpcủa học sinh cha đem lại kết quả nh mong muốn

1.3 Hiện nay, quan điểm về giáo dục ngôn ngữ nói chung và dạy học

môn Tiếng Việt nói riêng đã có những thay đổi cơ bản Vì thế, tổ chức rèn kỹnăng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoámôn Tiếng Việt đòi hỏi các trờng tiểu học phải có những bổ sung, cập nhật trithức mới nhằm đáp ứng những nhu cầu nói trên Mặt khác, trong điều kiện hiệnnay khi mà khoa học công nghệ thông tin phát triển nh vũ bão, việc tổ chức cáchoạt động ngoại khoá đều có sự hỗ trợ của các phơng tiện điện tử, tin học Mộtvấn đề mà việc nghiên cứu hoạt động ngoại khoá trớc đây cha đề cập đến

Vì lẽ đó, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng yêucầu của việc giảng dạy bộ môn Tiếng Việt ở trờng tiểu học và nhiệm vụ đào tạobồi dỡng các sinh viên, giáo viên trong các trờng S phạm hiện nay

Mặt khác, hiện nay, ở các trờng S phạm, việc nghiên cứu và giảng dạy vềhoạt động ngoại khoá cho sinh viên cha đợc chú trọng đúng mức Sinh viên hầuhết cha đợc tiếp xúc nhiều với mảng hoạt động này, do đó sự vận dụng vào thựctiễn dạy học có phần hạn chế Nhiều vấn đề liên quan đến chơng trình, giáotrình, bài giảng, tài liệu, hoạt động của giảng viên và của sinh viên đang cần đ-

ợc tiếp tục giải quyết

Việc nghiên cứu rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theomục đích nói cho học sinh Tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá mônTiếng Việt sẽ góp phần tháo gỡ những vấn đề đó, phục vụ nhiệm vụ học tập,nghiên cứu, bồi dỡng kiến thức, nâng cao tay nghề của sinh viên ở các trờng sphạm

Tất cả những lý do trên đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện

kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá nhằm rèn luyện kỹ năng

sử dụng câu phân loại theo mục đích nói ở tiểu học.Từ đó, góp phần giải quyếtnhững khó khăn trong việc tổ chức hoạt động ngoại khoá nói chung và tổ chứchoạt động ngoại khoá nói riêng để rèn luyện kỹ năng sử dụng câu ở nhà trờngtiểu học hiện nay

3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Trang 4

Quá trình dạy học các kiểu câu phân loại theo mục đích nói ở Tiểu học.

3.2 Đối tợng nghiên cứu

Quá trình rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nóicho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

4.1 Nghiên cứu những thành tựu của ngôn ngữ học về hệ thống câu phân

loại theo mục đích nói; các thành tựu của lý luận dạy học tiếng, về quan điểmdạy tiếng trong giao tiếp về việc tổ chức hoạt động ngoại khoá nói chung vàhoạt động ngoại khóa Tiếng Việt nói riêng

4.2 Nghiên cứu về vần đề câu phân loại theo mục đích nói trong chơng

trình sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học Thực tế dạy học vấn đề này củagiáo viên và học sinh tiểu học, thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khoá và tổchức rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông quahoạt động ngoại khoá Tiếng Việt

4.3 Đề xuất một số hình thức, quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá

nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói Tiếng Việt;thiết kế một số bài ngoại khoá phục vụ cho việc dạy câu phân loại theo mục

đích nói

4.4 Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả của các vấn đề đã đề

xuất

5 Phơng pháp nghiên cứu

5.1 Phơng pháp phân tích – Câu trong Tiếng Việt tổng hợp lý thuyết

Nhằm phân tích, khái quát các quan điểm về câu phân loại theo mục

đích nói trong ngôn ngữ học, các quan điểm hiện đại trong lý luận dạy tiếng,các vấn đề lý luận về hoạt động ngoại khoá và hoạt động ngoại khoá TiếngViệt nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài Khái quát, đánh giá nội dung dạyhọc câu phân loại theo mục đích nói trong chơng trình sách giáo khoa TiếngViệt Mới

5.2 Phơng pháp quan sát- điều tra

Nhằm nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề tổ chức hoạt động ngoạikhoá nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói chung và dạy học và câuphân loại theo mục đích nói nói riêng ở nhà trờng tiểu học

5.3 Phơng pháp thực nghiệm

Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của các đề xuất về hình thức, quy trình tổchức hoạt động ngoại khoá trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loạitheo mục đích nói ở tiểu học

Trang 5

6 CÊu tróc cña luËn v¨n

Trang 6

Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn

I Cơ sở lý luận

1 Hệ thống câu phân loại theo mục đích nói trong ngôn ngữ học

1.1 Hệ thống câu phân loại theo mục đích nói theo cách nhìn của ngôn ngữ học truyền thống

Câu phân loại theo mục đích nói đã đợc ngôn ngữ học truyền thống đềcập từ lâu với sự quan tâm đến kiểu câu trong hoạt động giao tiếp hiện thực.Hay nói cách khác, phân loại câu phân loại theo mục đích nói là cách nhìn cótính chất truyền thống về câu trong hoạt động của nó

Trớc đây, việc xem xét hoạt động của câu còn hạn chế ở cái thế cô lập,cha đặt nó vào đời sống hiện thực của nó với những câu lân cận, hay trong tìnhhuống lời nói cha đến hoạt động thực tiễn đa dạng của các kiểu câu này Câu ở

đây đợc phân loại có tính đến các dấu hiệu hình thức chứa trong chúng Vậyphân loại câu phân loại theo mục đích nói không chỉ là cách phân loại câu theocông dụng và ngữ pháp câu phân loại theo mục đích nói là hiện tợng nằm trên

đờng biên giới của câu xét theo cấu tạo hình thức và câu xét ở phơng diện sửdụng Do đó, sự phân loại này phải cùng một lúc sử dụng hai loại tiêu chuẩn:tiêu chuẩn về mục đích sử dụng và tiêu chuẩn về hình thức

Căn cứ vào mục đích nói ngời ta chia làm bốn kiểu câu:

- Câu tờng thuật (còn gọi là câu kể)

- Câu nghi vấn (còn gọi là câu hỏi)

- Câu cầu khiến (còn gọi là câu mệnh lệnh)

- Câu cảm thán (còn gọi là câu cảm)

Các kiểu câu trên không chỉ đợc phân biệt về mặt nội dung (mục đíchgiao tiếp) mà còn mang những dấu hiệu hình thức riêng biệt

a Câu tờng thuật

Câu tờng thuật là câu dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tảmột vật với các đặc trng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặcmột sự kiện với các chi tiết nào đó

Khi nói, câu tờng thuật đợc hạ giọng ở cuối câu Khi viết, cuối câu tờngthuật có dấu chấm, chấm lửng hoặc hai chấm, chấm than

Ví dụ: Con đi a.

Em giỏi lắm!

Ngời ta thờng phân loại câu tờng thuật thành câu khẳng định và câu phủ

định

Trang 7

Câu tờng thuật khẳng định là câu thờng nêu lên sự vật, hiện tợng đợcnhận định là có tồn tại.

Ví dụ: Bãi biển Cửa Lò thật là đẹp

Câu tờng thuật phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của vật, hiện tợnghay sự kiện, xác nhận sự vắng mặt của đối tợng hay của đặc trng đối tợng tronghiện thực hoặc trong tởng tợng bằng những phơng tiện hình thức xác định Haynói cách khác, đây là câu tờng thuật lại một sự việc nhng theo chiều phủ định

- Câu tờng thuật khẳng định là câu thờng nêu lên sự vật, hiện tợng đợcnhận định là có tồn tại

Ví dụ: Bãi biển cửa lò thật là đẹp

- Câu tờng thuật phủ định là câu xác nhận sự vẵn mặt của sự vật, hiện ợng hay sự kiện, xác nhận sự vắn mặt của đối tợng hay của đặc trng đối tợngtrong hiện thực hoặc trong tởng tợng bằng những phơng tiện hình thức xác địnhhay nói cách khác, đây là câu tờng thuật lại một sự việc nhng theo chiều phủ

t-định

Ví dụ:

- Đã lâu rồi tôi không đợc về quê.

- Mọi ngời không biết việc đó.

- Một số ngời nói không rõ.

b Câu hỏi

Câu nghi vấn thờng đợc dùng để nêu lên điều cha biết hoặc còn hoàinghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của ngời tiếp nhận câu đó Khi nói, câunghi vấn đợc nâng cao giọng ở cuối câu và nhấn giọng ở điều cần hỏi Khi viết,cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)

Ví dụ: Bao giờ anh đi?

Ai gọi tôi vậy?

Con vừa bảo gì?

Về mặt hình thức, câu nghi vấn cũng có những dấu hiệu đặc trng nhất

định

Câu nghi vấn Tiếng Việt đợc cấu tạo nhờ các phơng tiện sau đây:

- Các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, đâu…

- Kết từ hay (với ý nghĩa lựa chọn)

- Các phụ từ nghi vấn: có, không, đã, cha…

- Phụ từ nghi vấn: à, ừ, chẳng, sao…

- Ngữ điệu thuần tuý (chỉ kể trờng hợp không có các phơng tiện nêutrên)

c Câu cầu khiến

Trang 8

Câu cầu khiến (còn gọi là câu mệnh lệnh) đợc dùng để bày tỏ ý muốnnhờ hay bắt buộc ngời nghe thực hiện điều đợc nêu lên trong câu và có nhữngdấu hiệu hình thức nhất định.

Trong câu cầu khiến, thờng có các từ chuyên dùng để tỏ ý mời mọc, đềnghị, khuyên bảo, bắt buộc, ngăn cấm nh: mời, để nghị, yêu cầu, nên, hãy,phải, cần, chớ, đừng… Khi nói, câu cầu khiến đợc nhấn giọng mạnh hay nhẹtuỳ theo nội dung mời mọc, đề nghị, khuyên bảo, bắt buộc hay ngăn cấm Khiviết, cuối câu cầu khiến thờng có dấu chấm cảm (!)

Ví dụ: Chớ có mà quên nhé!

d Câu cảm thán

Câu cảm thán đợc dùng khi cần thể hiện một mức độ nhất định nhữngtình cảm khác nhau, thái độ đánh giá những trạng thái tinh thần khác thờng củangời nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ

Trong câu cảm thán thờng có những từ chuyên dùng thể hiện tình cảm vàcảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, thán phục, đau xót… nh: ôi, a, ồ, eo, ơi, chao

ôi… hoặc sự đánh giá nh: quá, lắm, ghê, thật… Khi nói, câu cảm có giọng thay

đổi phù hợp với tình cảm và cảm xúc diễn tả trong câu Khi viết, cuối câu códấu chấm cảm (!)

Ví dụ: Ôi, buổi tra nay tuyệt trần nắng đẹp! (Tố Hữu)

Nh vậy, phân loại câu theo mục đích nói trong ngôn ngữ học truyềnthống bao gồm bốn kiểu câu vừa đề cập ở trên

1.2 Hệ thống câu phân loại theo mục đích nói theo cách nhìn của ngôn ngữ học hiện đại.

1.2.1 Hành vi ngôn ngữ và các kiểu câu phân loại theo mục đích nóiTheo lý thuyết ngữ dụng học thì nói năng là một hoạt động khi ta nóimột câu là ta đang thực hiện một hành động ngôn ngữ - J.l.Austin (1962) cho

rằng: “Hành vi ngôn ngữ gồm có: hành vi tạo lời, hành vi mệnh lời và hành vi

ở lời”.

- Hành vi ở lời: “là những hành vi lời nói thực tiễn ngay khi nói nănghiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ có nghĩa là chúng gây ramột phản ứng tơng ứng ở ngời nhận" Việc phát hiện ra hành vi ở lời có thểxem là một thành tựu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học theo hớng chức nănggiao tiếp

Nhờ có lý thuyết hành vi ở lời mà ngữ pháp hiện đại thấy đợc rằng: hỏi,trần thuật, cầu khiến, cảm thán… là các hành vi ngôn ngữ Các hành vi ở lờinày đợc chuyển tải bằng các phơng tiện hình thức nhất định mà ngời ta gọi là

Trang 9

câu Hệ thống câu phân loại theo mục đích nói trong ngôn ngữ truyền thốngthực chất đã đợc phân loại dựa trên hai tiêu chí: hành vi ở lời (hành động ngôntrung và dấu hiệu hình thức.

Những hành vi mà chúng ta thực hiện bằng ngôn ngữ vô cùng phong phú

và đa dạng Danh sách các hành động ngôn trung có thể kéo dài, rất dài, trong

đó tất nhiên không thể sót những hành động ngôn trung mà ngữ pháp nhà trờngvẫn quen gọi là “mục đích nói năng”: Kể: (trần thuật, hỏi, than gọi, yêu cầu, saikhiến, ra lệnh,…)

Sau đây là một số hành động ngôn trung khác:

- Xác nhận: là những hành vi ở lời cung cấp thông tin về hiện thực kháchquan, kèm theo thái độ tin tởng và trách nhiệm của ngời nói đảm bảo tính chân

lý của những thông tin đó

Ví dụ: Miêu tả, thông báo, nhận thức, xác nhận

- Hứa hẹn: là những hành vi ở lời cam kết thực hiện một nghĩa vụ, mộthành động nào đó trong tơng lai

Ví dụ: hành vi, hứa, hẹn, thề

- Cầu khiến là những hành vi ở lời yêu cầu ngời nghe thực hiện mộtnghĩa vụ, một hành động nào đó

Ví dụ:ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên can, ngăn cấm, xin phép,…

- Tuyên bố: là những hành vi ở lời làm nên những thay đổi trong thế giớihiện thực ngay cả khi thực hiện hành vi đó

Ví dụ: tuyên bố, tuyên án, tuyên ngôn, buộc tội, …

- Biểu lộ: là những hành vi ở lời nói bày tỏ tình cảm, cảm xúc, thái độcủa ngời nói đối với sự vật, sự việc nào đó hoặc đối với ngời nghe

Trang 10

Ví dụ: Phàn nàn, cảm ơn, xin lỗi, …

Nh vậy, từ những kết quả nghiên cứu ở trên đã giúp cho các nhà ngônngữ học hiện đại thấy đợc quan niệm sai lầm, phiếm diện khi phân loại câutheo mục đích nói gồm: câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm Thực ra, từnhững kiểu câu này có thể biểu hiện ở hành trăm mục đích nói – Câu trong Tiếng Việt hành vi ở lỗikhác nhau

1.2.2 Hành vi ở những lời trực tiếp, hành vi ở lời gián tiếp câu chính danh và câu không chính danh.

+ Dùng câu phân loại theo mục đích nói theo lối trực tiếp (hành vi ở lờitrực tiếp) tức là đợc dùng đúng với chức năng vốn có của chúng, còn gọi làdùng với chức năng nguyên cấp của chúng Quy ớc chung gói gọn cách dùngnày là cách trực tiếp Cụ thể, câu trần thuật đợc dùng với chức năng trần thuật,câu nghi vấn đợc dùng với chức năng hỏi, câu cầu khiến đợc dùng với chứcnăng điều khiển, câu cảm thán đợc dùng với chức năng biểu lộ cảm xúc

- Câu trần thuật đợc dùng với mục đích trình bày

Ví dụ: Đêm nay gió mát, trăng tròn và sáng hơn hôm qua

- Câu nghi vấn đợc dùng với mục đích hỏi

Ví dụ: Đờng ra ga lối nào hở anh?

- Câu cầu khiến đợc dùng với mục đích điều khiển:

Ví dụ: Chị đa giùm tôi chiếc áo trắng kia.

- Câu cảm thán đợc dùng với mục đích biểu lộ cảm xúc

Ví dụ: Buồn ơi là buồn!

+ Dùng câu phân loại theo mục đích nói theo lối gián tiếp

Cách thực hiện hành động bằng câu phân loại theo mục đích nói dới hìnhthức gián tiếp đợc quy ớc gói gọn là cách gián tiếp Cách gián tiếp đợc dùngrộng rãi cả trong quan hệ tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ thân hữu, cả tronggiao tiếp quy thức lẫn trong giao tiếp khác không quy thức

Dùng để tạo tính lịch sự trong giao tiếp Văn minh ngôn ngữ ngày càng

đợc nâng cao và tính lịch sự trong giao tiếp ngày càng đợc coi trọng một cáchphổ biến Diễn đạt hành động nói dới hình thức gián tiếp là một trong nhữngphơng tiện giúp làm tăng tính lịch sự trong giao tiếp

Ví dụ: Khi gặp nhau chúng ta thờng hỏi nhau bằng những câu:

Anh (chi, chú, bác, … ) đi đâu đấy?

Và ngời nghe chỉ việc mỉm cời và đáp lại : Vâng, chào anh(chị, chú, … ).

Trang 11

Nh vậy, ở trên hành vi hỏi đợc thực hiện bằng câu nghi vấn nhng lạinhằm vào cái đích của hành vi chào Hành vi chào đã đợc thực hiện gián tiếpthông qua hành vi hỏi.

Cơ chế thực hiện hành vi ở lời gián tiếp: “khi ngời nói thực hiện trực tiếphành vi ở lời A tức ngời nói đã ngầm thực hiện hành vi ở lời B nào đó một cáchgián tiếp (thông qua A)”

Tuy nhiên, cũng không nên lạm dụng hình thức này đến mức độ làm cho

sự giao tiếp thiếu tính thân thiện và tính chân thành trong những trờng hợp cầnthiết nhất là trong nền văn hoá Việt Nam

Dùng để tạo nên những bản sắc thái tiêu cực nh nói cạnh, nói khoé, nóimóc, châm chọc, xỏ xiên,… (tất nhiên trong những trờng hợp cần thiết phảidùng thì ta không coi sắc thái này là tiêu cực)

Nh vậy, dùng kiểu câu phân loại theo mục đích nói theo lối gián tiếp làdùng câu phân loại theo mục đích nói không đúng với chức năng vốn có củachúng Đây là một cách nhìn nhận mới về câu phân loại theo mục đích nói củangữ pháp hiện đại Một câu có hình thức là trần thuật cũng có thể có hiệu lực ởlối nói của nó có thể khẳng định, phủ định, hoặc nghi vấn, yêu cầu

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu này, mối kiểu câu trong hệ thống câuphân loại theo mục đích nói ra làm hai loại câu:

- Câu chính danh (câu điển hình)

- Câu không chính danh (câu không điển hình)

Câu chính danh tức là cấu trúc chuyển tải các hành vi ở lối trực tiếp Đó

là những câu mà có mục đích nói thống nhất với các phơng tiện hình thứcchuyên dụng và điều khiển sử dụng

Ví dụ: câu cảm đợc sử dụng để biểu lộ cảm xúc, câu hỏi đợc dùng đểhỏi

Câu trần thuật chính danh là những câu mà giá trị ngôn trung chỉ trìnhbày, nhận định, không yêu cầu trả lời, không yêu cầu thực hiện một hành độngnào khác và không bộc lộ tình cảm, cảm xúc

Ví dụ: - Cái nhà tranh, mấy cây cau hình nh vừa đứng thẳng hơn lên để chào chàng.

Trang 12

Câu không chính danh là hiện tợng sử dụng các hành vi ở lối gián tiếp Khi một câu có mục đích này lại đợc sử dụng với mục đích nói khác, tức làgiữa nội dung (mục đích nói) và hình thức cảu câu không tơng ứng: 1-1, đợcgọi là câu không chính danh Nghĩa của câu không chính danh phụ thuộc vàohoàn cảnh giao tiếp, là nghĩa hàm ngôn Do đó, câu không chính danh thờng

-đem lại tính lịch sự, tế nhị trong giao tiếp và giúp giao tiếp đạt hiệu quả cao

Ví dụ: Khi cô giáo giảng bài trực tiếp, một học sinh đi muộn bớc vào

Em có đồng hồ không?

Trong tình huống giao tiếp trên, em học sinh sẽ không hiểu là câu hỏicủa cô giáo hàm chứa ý trách móc tại sao em lại đi học muộn nh vậy chứ mục

đích nói ở đây không phải là hỏi em học sinh đó có đồng hồ không hay không

Các kiểu câu trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán đều có dạngkhông chính danh Tức là, đều có thể sử dụng theo lối gián tiếp, hàm ẩn vàtrong số đó thì câu hỏi khả năng sử dụng phong phú hơn cả

Câu hỏi có thể dùng để: hỏi thăm, chào mời, yêu cầu, đề nghị, nhắc nhở,phê bình, trả lời, tố giác, khen, chê,…

Ví dụ: - Mọi ngời đứng dậy ?

- Ông có diêm không?

- Còn muốn ăn đòn phải không?

- Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?

- Ngời đâu mà vô tâm!

Các câu hỏi nh trên không có giá trị hỏi Câu hỏi chỉ là hình thức để

ng-ời nghe tự biết ra cái việc cần phải đap ứng

Đó là những câu có giá trị là cầu khiến, cảm thán

Tuy về mặt cú pháp hoàn toàn giống câu hỏi, ngữ điệu của những câunày có âm vực thấp hơn

Câu trần thuật có giá trị yêu cầu, đề nghị, mỉa mai, từ chối, hứa hẹn

Từ chối: Thật tiếc! Tối nay em có hẹn rồi!

Hứa hẹn: Chắc chắn con sẽ đạt điểm cao trong kỳ thi sắp tới.

Câu cầu khiến có thể thực hiện hành vi phê phán thách thức, phản đối, đedoạ

Đe doạ: Mày có muốn biết thế nào là lễ độ không?

Phê phán: Cô đừng tởng co là chủ cái nhà này muốn nói gì cũng đợc

đâu.

Thách thức: Con: Ngày mai nhất định con sẽ đi!

Bố: Vậy anh hãy bớc qua xác tôi mà đi.

Trang 13

Câu cảm thán có thể thực hiện hành vi nhắc nhở, yêu cầu, đề nghị, phêphán.

Yêu cầu: Cô giáo: Lớp học này ngột ngạt quá!

Học sinh: ngay lập tức sẽ đứng dậy, bật quạt, mở cửa sổ

Phê phán: Sao lớp học bẩn thế! Hôm qua tổ nào trực nhật?

1.2.3 Tính lịch sự và yếu tố đảm bảo lịch sự khi sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

Lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa ngời nói và ngời nghe, theo

đó mà quan hệ liên nhận đợc hình thành trên cở sở sử dụng ngôn ngữ có chiếnlợc, nhằm đảm bảo đợc tính văn hoá, tính bảo toàn thể diện của hai phía

Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu các kiểu câu câu phân loạitheo mục đích nói, ngời ta quan tâm nhiều đến các phơng diện đảm bảo tínhlịch sự đặc biệt là đối với câu hỏi và câu khiến Quan tâm đến tính lịch sự tức làquan tâm đến hiệu quả giao tiếp Các phơng tiện đảm bảo tính lịch sự khi sửdụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

+ Lựa chọn các hành vi ngôn ngữ phù hợp - Phơng thức sử dụng cáchành vi ngôn ngữ gián tiếp đợc xem là một phơng thức có tính phổ niêm

Ví dụ: để yêu cầu em đừng chơi nữa, ngời chị có thể sùng các câu:

1) Sao em không làm bài tập đi?

2) (Đừng) chơi nhiều nh thế không tốt đâu em a!

Tuy nhiên, đối với ngời Việt Nam, lịch sự là trang trọng, nhng chânthành và phải không khách sáo Lịch sự tạo cho giao tiếp đạt hiệu quả cao hơn,tạo nên sự tin tởng, hoà đồng Vì vậy, trong những mối quan hệ đã trở nên gầngũi, thân thiết thì ta thờng dùng hành vi ngôn ngữ trực tiếp

Ví dụ: với một ngời bạn thân ta có thể chọn câu nói sau để hiệu quả giaotiếp sẽ cao hơn

1) Anh cho em mợn quyển sách tí?

2) Anh có thể cho em mợn quyển sách tí đợc không?

Rõ ràng trong câu 1 và câu 2 thì ta sẽ chọn câu 1 hơn vì nó hay hơn, phùhợp hơn

+ Lựa chọn các từ xng hô phù hợp: Các từ xng hô đóng vai trò quy chiếu

vị thế xã hội của ngời giao tiếp vì vậy để đảm bảo phép lịch sự ngời ta phải lựachọn xng hô cho phù hợp

Đối với ngời trên hoặc cha quen biết ta nên lựa chọn cách xng hô tônvinh vị thế của họ, còn đối với những ngời thêm thiết, gần gũi chúng ta nên

Trang 14

chọn các cặp từ xng hô định vị quan hệ xã hội gần gũi, tạo nên sắc thái tìnhcảm thân mật.

Ví dụ: 1 Cô đóng họ tôi cái cửa!

2 Mình ơi đóng hộ anh cái cửa!

Cặp từ xng hô “Mình - anh” trong câu 2 có sắc thái tình cảm thân mật hơn từ “Cô - tôi” Do đó, tính lịch sự và hiệu quả giao tiếp cuả (câu 2) sữ hơn

(câu 1)

+ Sự dụng các trợ động từ , các tình thái từ, các tổ hợp tình thái – Câu trong Tiếng Việt trongTiếng Việt các yếu tố giúp, giùm, hộ, làm ơn, xin, ạ… Và các tổ hợp tình thái:một chút, một tý, một lát… là phơng tiện so sánh

a Đề nghị các đồng chí yên lặng.

b Xin đề nghị các đồng chí yên lặng.

c Cháu cảm ơn bác.

d Cháu cảm ơn bác ạ.

Hiệu quả giao tiếp ở câu (b), (d) sẽ cao hơn câu (a), (c)

Dạy Tiếng Việt ở Tiểu học là phơng hớng hớng đến mục tiêu rèn luyện chohọc sinh năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy, không thể không lựa chọnnhững vấn đề cần yếu của lý thuyết, lịch sự vận dụng vào quá trình xây dựngbài tập, xây dựng tình huống nói rèn luyện kỹ năng và viết cho học sinh

Tóm lại, những kết quả nghiên cứu trên đây về câu phân loại theo mục

đích nói trong ngôn ngữ học truyền thống và với những nhìn nhận mới củangôn ngữ học hiện đại là cơ sở, là xuất phát điểm cho chúng tôi hớng tới việcthực hiện tốt mục tiêu dạy cho học một công cụ giao tiếp để học tập và t duy

2 Vấn đề hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt

2.1 Hoạt động ngoại khoá.

“Ngoại khoá” là một khái niệm đợc đề cập đến từ lâu trong nhiều giáo trình và tài liệu Khái niệm “ngoại khoá” đã đợc nhóm tác giả Thành Thị Yên

Mĩ, Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí đề cập tới: đó là một hình thức dạy học quantrọng, có nhiều tác dụng

Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Lê Khả Kế chủ biên thì “ngoại” là ngoài

“khoá” là thời gian, chơng trình, việc học tập Theo cách hiểu này thì hoạt động

ngoại khoá là hoạt động học tập ngaòi chơng trình chính khoá Cách hiểu này

đã có sự phân biệt ranh giới rõ ràng giữa hoạt động chính khoá và hoạt độngngoại khoá làm cho hoạt động ngoại khoá trở nên mờ nhạt đi và có phần khôngquan trọng, tuyệt đối hoá hoạt động chính khoá Việc phân biệt khái niệm

“ngoại khoá” với khái niệm “chính khoá” “chủ yếu” “thứ yếu”, “trong chơngtrình” và “ngoài chơng trình” là không nên ở đây, sự phân biệt này là sự phân

Trang 15

biệt giữa các cách thức, con đờng tổ chức quá trình dạy học ở các trờng phổthông.

Khái niệm ngoại khoá nếu hiểu trong thế lỡng phân nh đã nói ở trên chỉchủ yếu dựa vào tiêu chí, hình thức, không bao hàm tiêu chí về ý nghĩa, tầmquan trọng Trong bối cạnh hiện nay ứng dụng hoạt động ngoại khoá vào dạyhọc là một việc làm thiết thực, tích cực trong việc cung cấp tri thức, rèn luyện

kỹ năng, bồi dỡng nhân cách cho học sinh

Theo quan điểm của các nhà giáo dục học về khái niệm hình thức dạy

học: “Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học ở một thời gian và không gian nhất định, với những phơng pháp, phơng tiện dạy học cụ thể, nhằm thực hiện những nội dung, nhiệm vụ môn học” [16].

Có thể có những quan niệm khác nhau nhng hầu hết đều khẳng địnhngoại khoá là hình thức giáo dục ngoài giờ lên lớp, có vị trí quan trọng trongchơng trình, nội dung giáo dục phổ thông Nó là một trong hai con đờng cơ bản

để thực hiện tốt “mục tiêu, nội dung giáo dục Tiểu học

Vậy ngoại khoá đ” ợc hiểu là một hình thức dạy học trong nhà trờng có tác dụng thực hiện nhiệm vụ môn học…

Tuy nhiên, khi xác định khái niệm “ngoại khoá” nh trên ranh giới củakhái niệm lý luận dạy học nh “lớp học”, “giờ học”, “trong lớp học/ngoài lớphọc” chỉ có tính chất tơng đối

2.2 Hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt

Theo giáo trình “Phơng pháp dạy học Tiếng Việt bậc trung hoc cơ sở”

của nhóm tác giả Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Lê Tuấn, Nguyễn Văn Triệu,

ch-ơng “Phch-ơng pháp tổ chức ngoại khoá Tiếng Việt” không định nghĩa riêng "hoạt

động ngoại khoá Tiếng Việt” mà đợc xác định chung trong hoạt động ngoạikhoá là “thuật ngữ” để chỉ các hình thức hoạt động kết hợp với vui chơi ngoàilớp, nhằm mục đích gắn việc học tập trong nhà trờng với thực tế ngoài xã hội(tr 192)

Nh vậy, một sô ý kiến khác lại cho rằng: ngoại khoá môn Tiếng Việt làhình thức dạy học có tính chất bổ sung, tích hợp cả về tri thức lẫn kỹ năng, thờigian và phơng pháp Nó là một hình thức dạy học không thể thiếu đợc trong ch-

ơng trình dạy học Ngoại khoá sẽ thúc đẩy quá trình dạy học đợc đầy đủ, hoànthiện và hiệu qủa cao hơn Có tác dụng giáo dục toàn diện Do vậy, xét trênmột phơng diện nào đó về phạm vi, tác dụng, “Ngoại khóa Tiếng Việt” nóichung đợc nhìn nhận nh là một hoạt động giáo dục – Câu trong Tiếng Việt một hình thức giáo dụchơn là một hoạt động dạy học: hoạt động giáo dục này đợc tổ chức dựa vào nền

Trang 16

tảng, cơ sở tri thức và một số kỹ năng đã đợc cung cấp qua các giờ học trên lớp

và thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt mà cụ thể đề tài này đề cập

là: Rèn kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói ở phân môn Luyện từ

và câu (Tiếng Việt lớp 4).

Vì vậy, ngoại khoá môn Tiếng Việt đợc hiểu là một hình thức dạy học

đ-ợc tổ chức một cách sáng tạo, linh hoạt tuỳ thuộc vào nội dung môn học, đặc

điểm của ngời dạy, ngời học, điều kiện dạy học, cơ sở vật chất của nhà trờng(phơng tiện dạy học bổ trợ) nhằm cung cấp tri thức và rèn kỹ năng Tiếng Việtnói riêng và năng lực sử dụng ngôn ngữ nói chung, tạo hứng thú học tập, pháthuy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của ngời học góp phần bồi dỡng, rènluyện một số kỹ năng hoạt động thực tiễn đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu đặt

ra của môn học và của xã hội, đặc biệt là bồi dỡng nhân cách cho ngời học

Có thể nói, từ góc độ của phơng pháp giảng dạy với mức độ khác nhau

và trong mối quan hệ liên thông giữa các khoa học và trong xu thế phát triểnhiện nay, vấn đề phân cắt, tách bạch giữa các hình thức dạy chỉ mang tính chấttơng đối, có phần chủ quan Vì lẽ đó, chúng ta cần xem xét hoạt động ngoạikhoá môn Tiếng Việt là một hoạt động, một hình thức có tính chất tích hợp trênnhiều phơng diện về mục đích, về nội dung, về hình thức tổ chức cũng nh đốitợng tham gia

2.3 Rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt

2.3.1.Yêu cầu phát triển kỹ năng là một đòi hỏi rất cấp thiết của mục tiêugiáo dục các cấp, ngành học Song ở tiểu học cần xác định là hình thành chohọc sinh những kỹ năng quan trọng nhất ở mức đơm giản

- Những kỹ năng chung ban đầu cần phát triển cho Học sinh Tiểu học.+ Những kỹ năng thuộc hành vi giao tiếp đối với mọi ngời xung quanh,trong gia đình, ở nhà trờng và ngoài xã hội

+ Những kỹ năng học tập, tự học đơn giản (nghe – Câu trong Tiếng Việt nói - đọc – Câu trong Tiếng Việt viết).+ Một số kỹ năng hoạt động hợp tác nhóm

+ Một số kỹ năng trong lao động tự phục vụ ở nhà và ở trờng

+ Một số kỹ năng chung cần thiết cho cuộc sống của các em học sinhtiểu học Những kỹ năng này thể hiện trong các quan hệ của các em với bảnthân, với ngời thân trong gia đình, với thầy cô, bạn ở trờng và với mọi ngờixung quanh với môi trờng tự nhiên và với nhiệm vụ học tập

Qua các hoạt động rèn kỹ năng trên, chúng ta sẽ giúp các em hình thànhnhiều đức tính quan trọng nh sự tự tin, lòng tự trọng, các em dẫn biết khẳng

Trang 17

định vị trí và trách nhiệm của mình trong cuộc sống là cơ sở ban đầu vững chắccho sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh ở các bậc học tiếp theo.

- Những kỹ năng riêng cho học sinh cần đạt trong việc rèn kỹ năng sửdụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá

Đó là thực hiện mục tiêu rèn các kỹ năng (nghe - đọc – Câu trong Tiếng Việt nói – Câu trong Tiếng Việt viết) màmục tiêu môn Tiếng Việt đã đề ra, trên cơ sở đó những kỹ năng cần đạt đến saukhi học câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá TiếngViệt

+ Kỹ năng tạo lập các kiểu câu đúng ngữ pháp

+ Kỹ năng nhận diện đúng mục đích nói của câu

+ Kỹ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói

+ Kỹ năng sử dụng các kiểu câu một cách lịch sự, văn hoá trong giaotiếp, ứng xử

Tất cả, những kỹ năng vừa nêu ở trên chính là các nấc thang khác nhaucủa một kỹ năng Đó là các kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục

đích nói đạt hiệu quả cao, phù hợp với văn hoá giao tiếp của ngời Việt

Do vậy, các nội dung, các dạng của hoạt động ngoại khoá cụ thể về việcrèn kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói ở Tiểu học baogồm các dạng sau đây:

+ Dạng rèn kỹ năng tạo lập các kiểu câu với dấu hiệu hình thức và mục

đích nói thống nhất với nhau

+ Dạng rèn kỹ năng sử dụng các kiểu câu trong từng tình huống giao tiếp

cụ thể

+ Dạng thực hành sử dụng các mục đích gián tiếp của các kiểu câu.+ Dạng ứng dụng các quy tắc giử phép lịch sự khi hỏi, yêu cầu và đềnghị

Để rèn luyện tốt các kỹ năng nói trên ngoại khoá Tiếng Việt là một trong

những hình thức dạy học quan trọng, góp phần cung cấp cho học sinh “những mẫu mực tốt nhất của lời nói sinh động”.

Thông qua các hoạt động thực tiễn, thông qua việc vận dụng các kiếnthức và câu phân loại theo mục đích nói trong một hoàn cảnh, đối tợng, nộidung giao tiếp cụ thể, ngoại khóa sẽ làm cho những tri thức và kỹ năng về cáckiểu câu phân loại làm cho những tri thức và kỹ năng về các kiểu câu phân loạitheo mục đích nói đợc nhuần nhuyền, thuần thục, làm cho việc dạy học TiếngViệt trong nàh trờng gần gũi với đời sống hiện thực

Trang 18

Mặt khác, hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt là một hình thức dạyhọc có thể làm thoã mãn những nhu cầu nội tại của trẻ ở lứa tuổi (6 – Câu trong Tiếng Việt 11

tuổi) trẻ có nhu cầu phát triển mạnh cả về thể chất, song tính chất “học mà chơi , chơi mà học” vẫn là đặc điểm tâm sinh lý hết sức quan trọng và đặc trng cho

mọi hoạt động học tập, lao động, vui chơi của trẻ em Vì vậy, song song vớiviệc đặt những viên gạch đầu tiên cho nền móng của kiến thức văn hoá và khoahọc cho các em trong tơng lai, chúng ta cần thiết tổ chức những hoạt động khácbên cạnh hoạt động chủ đạo – Câu trong Tiếng Việt hoạt động học tập, và với hoạt động ngoại kháomôn Tiếng Việt trẻ vừa đợc học tập, vừa đợc vui chơi một cách lí thú, bổ ích vàphù hợp với lứa tuổi Qua hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt làm giảm bớt sựcăng thẳng sau những giờ học trên lớp, có thể thoải mái vui đùa với bạn bè

đồng thời có thể phát triển những phẩm chất tốt đẹp cảu nhân cách nh: xúc cảmthẩm mĩ, tinh thần tơng thân tơng ái, tính tích cực học tập, độc lập và sáng tạo

Nh vậy, lựa chọn hình thức dạy học, rèn kỹ năng sử dụng các kiểu câuphân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt

là góp phần thực hiện mục tiêu, tính chất đặc trng của bộ môn Tiếng Việt

2.3.2 Trong các hình thức rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo

mục đích nói thì ngoại khoá là một hình thức dạy học quan trọng

Theo quan điểm của công nghệ dạy học, quá trình dạy học tồn tại nh mộtquy trình công nghệ đặc biệt Đó là quy trình tổ chức điều khiển và quy trình tự

tổ chức, tự điều khiển của ngời dạy và ngời học nhằm thực hiện tốt các nhiệm

vụ dạy học

Vậy hình thức dạy học đợc xem nh là những cách thức tiến hành hoạt

động dạy và học thống nhất giữa giáo viên và học sinh, đợc thực hiện theo mộttrình tự và chế độ nhất định

Trong thực tiễn dạy học ở các loại hình thờng tồn tại nhiều hình thức dạyhọc khác nhau:

Ví dụ: Dạy học theo hình thức lên lớp (chủ yếu) Bên cạnh hình thức dạyhọc này còn có các hình thức dạy học khác hỗ trợ để quá trình dạy học đợchoàn chỉnh hơn nh là: học ở nhà, tham quan, giúp đỡ riêng (phụ đạo), hoạt

động theo chủ điểm, hoạt động thông qua hoạt động ngoại khoá…

Mỗi hình thức dạy học nêu trên đều có những u điểm và nhợc điểm nhất

định Trong đó, hình thức hoạt động ngoại khoá là một hình thức dạy học quantrọng đối với tất cả các môn học Đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu ở lớp.Vận dụng hình thức dạy học này vào việc rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân

Trang 19

loại theo mục đích nói làm cho việc dạy câu phân loại theo mục đích nói đạt

đ-ợc những hiệu quả cao nhất

Hoạt động ngoại khoá là hình thức học tập Tiếng Việt ngoài giờ lên lớp

Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những hình thức học tập sinh

động, đa dạng, phong phú và góp phần nâng cao chất lợng môn Tiếng Việt

Tham gia hoạt động ngoại khoá về Tiếng Việt học sinh có điều kiện sửdụng Tiếng Việt trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Các cuộc thi vềTiếng Việt giúp học sinh hiểu sâu hơn các kiến thức về câu phân loại theo mục

đích nói và ứng dụng chúng linh hoạt với tốc độ nhanh Tham gia viết báo tờng,diễn kịch, thi sáng tác văn học (làm thơ, viết tiểu phẩm) Học sinh có điều kiệnrèn luyện năng lực ngôn ngữ nghệ thuật (viết) để giải bày tình cảm, xây dựngcác hình tợng văn học (dù còn đơn giản) cho những tác phẩm đầu tay của mình.Các cuộc biểu diễn quanh lửa trại, trên sân khấu tạo điều kiện để phát triển vàtrau dồi ngôn ngữ nói… Nhờ những hoạt động ngoại khoá đa dạng, sinh động,muôn màu, muôn vẻ đó đã đặt mỗi học sinh tham gia vào nhiều tình huốnggiao tiếp, nhờ đó kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói của các emtrở nên thành thạo, nhuần nhuyễn và quan trọng hơn là trong các câu nói, viếttrở nên sinh động, có khả năng diễn tả ý nghĩ, tình cảm, mong muốn… của các

em một cách tự nhiên, hồn nhiên nhng chân thực và hấp dẫn Nó bổ trợ cho tiếthọc Luyện từ và câu chính khoá ở Tiểu học

Quan điểm của Triết học Mác – Câu trong Tiếng Việt Lênin cho rằng: Con ngời dùng ngônngữ để tổ chức toàn bộ cuộc sống của họ trong xã hội, thông qua ngôn ngữ conngời xác lập và điều chỉnh những mối quan hệ tơng tác nhiều mặt làm nên sựhài hoà và sự chuyển biến của cộng đồng dân tộc Do đó, theo quan điểm dạytiếng thông quan hoạt động giao tiếp và để giao tiếp thì tổ hợp các tiết họcTiếng Việt chính khoá và các hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt mới thực

sự tạo nên môi trờng học tập đầy đủ, hài hoà, trọn vẹn Chúng bổ sung chonhau, thúc đẩy sự phát triển thực sự năng lực dùng Tiếng Việt của học sinh mà

cụ thể ở đây là câu phân loại theo mục đích nói Vì lẽ đó, nên chăng chúng tanên thay thuật ngữ “hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt” bằng thuật ngữ

“học tập Tiếng Việt ngoài giờ lên lớp” để mọi ngời từ giáo viên đến học sinh,

từ nhà trờng đến xã hội hiểu rõ hơn, hiểu đúng hơn tầm quan trọng của các họcnày

Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng đây là một hình thứcdạy học quan trọng song chúng ta không đợc lạm dụng nó quá mức hay tuyệt

đối hoá, đề cao vai trò của hình thức dạy học này mà xem nhẹ các hình thức

Trang 20

dạy học khác Vấn đề ở đây là không có hình thức dạy học nào là vạn năng nh

đã nói, mỗi hình thức dạy học đều có u và nhợc của nó, chúng ta cần vận dụngmột cách linh hoạt, sáng tạo, phối kết hợp với các hình thức dạy học để nhằmphù hợp với nội dung, đối tợng và phù hợp với tinh thần đổi mới phơng phápdạy học hiện nay để nâng cao chất lợng, hiệu quả của quá trình dạy học

2.3.3 Rèn kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khóa môn tiếng Việt là do xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung, phơng pháp và hình thức dạy học phân môn luyện từ và câu nói riêng – Câu trong Tiếng Việt môn Tiếng Việt nói chung.

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất hiện đại và trình độvăn minh của xã hội cao đòi hỏi luôn phải có những ngời lao động mới , năng

động, sáng tạo, tự chủ Thực tiễn này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trờngphải điều chỉnh kéo theo sự thay đổi tất yếu của phơng pháp, hình thức dạy họccủa các bộ môn

Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc đòi hỏi ngành giáo dụcphải tạo ra những con ngời đáp ứng đợc những yêu cầu của sự phát triển kinh tế– Câu trong Tiếng Việt xã hội Trong xu hớng đó, đòi hỏi giáo dục - đào tạo phải đổi mới một cáchtoàn diện, đồng bộ và ăn khớp, nhằm nâng cao chất lợng dạy và học, rút ngắnkhoảng cách giữa đào tạo và sử dụng để đáp ứng yêu cầu nói trên

Việc dạy học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nóichung cần phải đổi mới chơng trình, nội dung sách giáo khoa, phơng pháp, ph-

ơng tiện hình thức và quy trình tổ chức dạy học Đây chính là nội dung củaNghị quyết Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 2 khoá VIII nêu rõ: nhà trờng và

các cấp phải “đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo của ngời học, từng b-

ớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến và phơng tiện hiện đại, các hình thức dạy học vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

Do cha nhận thức đợc đầy đủ, sâu sắc và tầm quan trọng của các hìnhthức học tập Tiếng Việt do hoạt động ngoại khoá đem lại nên việc tổ chức hoạt

động này trong nhà trờng còn gặp phải rất nhiều những khó khăn về nhận thức,

về quan niệm của cán bộ, của giáo viên và của học sinh Phần lớn giáo viên cha

có biểu tợng về hoạt động ngoại khoá Nếu ở một bộ phận giáo viên nào đó có

ý thức về hoạt động ngoại khoá thì cũng đang lúng túng trớc những vấn đề vềnội dung, hình thức, quy trình tổ chức, tài liệu tham khảo

Rất nhiều cán bộ quản lý chuyên môn mong muốn có những hình thứcdạy học hấp dẫn, lôi cuốn, hay những hoạt động tơng tự để tạo ra không khí

Trang 21

học thuật, sự đa dạng trong hoạt động dạy học sinh họ cũng đang gặp nhữngkhó khăn, trở ngại nh những giáo viên trực tiếp đứng lớp.

Có thể nói, có một cái nhìn tổng quát về bức tranh ngoại khoá và có đợcmột định hớng hay nói cụ thể hơn là lựa chọn cho đợc những phơng pháp, ph-

ơng tiện, hình thức tổ chức dạy học hữu hiệu là một nhu cầu chính đáng, một

đòi hỏi cấp thiết hiện nay của các phân môn nói riêng và môn Tiếng Việt nóichung ở trờng tiểu học

II Cơ sở thực tiễn

1 Khảo sát vấn đề câu phân loại theo mục đích nói trong chơng trình SGK Tiếng Việt lớp 4

1.1 Mục tiêu của việc dạy câu phân loại theo mục đích nói ở Tiểu học.

Mục tiêu dạy học là căn cứ quan trọng cho việc lựa chọn tri thức lýthuyết, nội dung thực hành và các phơng pháp tổ chức hoạt động lĩnh hội trithức và rèn kỹ năng của học sinh Vì vậy, việc xác định một mục tiêu cụ thểtrong dạy học các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cụ thể trong dạy họccác kiểu câu phân loại theo mục đích nói là rất quan trọng và cần thiết

Câu phân loại theo mục đích nói là một bộ phận của nội dung dạy họcTiếng Việt ở Tiểu học nên mục tiêu của việc dạy câu phân loại theo mục đíchnói phải thống nhất với mục tiêu của môn học Tiếng Việt, hay nói khác đi làphải góp phần thực hiện hoá mục tiêu của môn học Tiếng Việt Mục tiêu củamôn học Tiếng Việt ở nhà trờng tiểu học hiện này đợc xác định nh sau:

1 Kỹ năng:

- Hình thành và phát triển bốn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: Nghe – Câu trong Tiếng Việt Nói

- Đọc – Câu trong Tiếng Việt Viết để học Tiếng Việt ở các bậc cao hơn và để giao tiếp trong cácmôi trờng hoạt động của lứa tuổi

- Góp phần rèn luyện các thao tác t duy (phân tích, tổng hợp, khái quát,

hệ thống…) và góp phần nâng cao phẩm chất t duy, năng lực nhận thức

Trang 22

- Bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt, góp phần hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt

- Góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Từ việc phân tích hệ thống các mục tiêu của môn học Tiếng Việt, chúng

ta thấy rằng, mục tiêu giáo dỡng là mục tiêu đặc thù của môn học Tiếng Việt ởTiểu học là hình thành và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng giao tiếp (nghe,nói, đọc, viết)

- Bên cạnh đó, cung cấp cho học sinh các hiểu biết sơ giản về hệ thốngTiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp

Do vậy, mục tiêu của việc dạy câu phân loại theo mục đích nói ở tiểuhọc là phải hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng câu

- Đơn vị cơ bản của ngôn ngữ trong giao tiếp, đồng thời cung cấp chohọc sinh những hiểu biết về cấu tạo câu và chức năng của các thành phần câu;

về mục đich nói và vận dụng cấc quy tắc sử dụng các kiểu câu trong hoạt độnggiao tiếp; về các loại dấu câu và quy tắc sử dụng các dấu câu

ở tiểu học, việc hình thành các kiến thức và kỹ năng nói trên đợc thựchiện chủ yếu thông qua các bài tập dạy về câu phân loại theo mục đích nói.Mục tiêu của việc dạy học các kiểu câu này khác việc dạy học về cấu tạo làkhông những hình thành ở những học sinh tạo lập đợc các câu đúng về mặt ngữpháp mà quan trọng hơn là các em phải sử dụng câu hay, phù hợp với từnghoàn cảnh giao tiếp, phù hợp với từng tình huống, lời nói sinh động, phù hợpvới văn hoá giao tiếp của ngời Việt Những kỹ năng này phải đợc hình thànhtrên cơ sở tri thức về đặc điểm cấu tạo hình thức, mục đích nói và công dụngcủa các kiểu câu, nhất là quy tắc sử dụng câu trong giao tiếp

1.2 Nội dung dạy học các kiểu câu phân loại theo mục đích nói ở tiểu học

Tuần Chủ điểm Tên bài Nội dung

13 Có chí thìnên Câu hỏi vàdấu chấm hỏi

Câu hỏi còn gọi là câu nghi vấn dùng đểhỏi về những điểu cha biết

Phần lớn câu hỏi là để hỏi ngời khác,

nh-ng cũnh-ng có nhữnh-ng câu để tự hỏi mình.Câu hỏi thờng có các từ nghi vấn (ai, gì,nào, sao, không …)

Khi viết, cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?)

14 về câu hỏiLuyện tập

15 Tiếng sáodiều Dùng câu hỏivào mục đích

khác

Nhiều khi ta có thể dùng câu hỏi để thểhiện:

+ Thái độ khen chê+ Sự khẳng định, phủ định+ Yêu cầu, mong muốn

Trang 23

16 Tiếng sáodiều Giữ phép lịchsự khi đặt câu

hỏi

Khi hỏi chuyện ngời khác cần giữ phéplịch sự Cụ thể là:

+ Cần tha gửi, xng hô cho phù hợp quan

hệ giữa mình với ngời đợc hỏi+ Cần tránh những câu hỏi tò mò hoặclàm phiền lòng ngời khác

17 Tiếng sáodiều Câu kể

Câu kể (còn gọi là câu trần thuật) lànhững câu dùng để:

+ Kể, tả, giới thiệu về sự vật, sự việc+ Nói lên ý kiến hoặc tâm t, tình cảm củamỗi ngời

Cuối câu kể có dấu chấm

18 Tiếng sáodiều

- Câu kể Ailàm gì?

- Vị ngữ trongcâu kể ai làmgì?

- Câu kể Ai làm gì? thờng gồm 2 bộ phận:+ Bộ phận thứ nhất là chủ ngữ, trả lời chocâu hỏi: Ai (con gì, cái gì?)

+ Bộ phận thứ hai là vị ngữ, trả lời chocâu hỏi: Làm gì?

- Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì? nêu lênhoạt động của ngời con vật (hay đồ vật,cây cối đợc nhân cách hoá)

Vị ngữ có thể là:

+ Động từ+ Động từ kèm theo một số từ ngữ phụthuộc (cụm động từ)

19 Ngời ta làhoa đất Chủ ngữ trongcâu kể Ai làm

gì?

Trong những câu ai là gì? chủ ngữ chỉ sựvật (ngời, con vật hay đồ vật, cây cối đợcnhân hoá) có hoạt động đợc nói đến ở vịngữ

Chủ ngữ thờng do danh từ (hoặc cụm từ)tạo thành

20 Ngời ta làhoa đất Luyện tập về câu kể Ai làm gì?

- Vị ngữ trongcâu kể Ai thếnào?

- Câu kể Ai thế nào? gồm 2 bộ phận:+ Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai (cái gì,con gì?)

+ Vị ngữ trả lời cho câu hỏi thế nào?

- Vị ngữ của câu Ai thế nào? chỉ đặc

điểm, tính chất hoặc trạng thái của sự vật

đợc nói đến ở chủ ngữ

Vị ngữ thờng có tính từ, động từ hoặccụm tính từ, cụm động từ tạo thành

Chủ ngữ trong câu kể ai thế nào? chỉnhững sự vật có đặc điểm, trạng thái đợcnêu ở vị ngữ

Chủ ngữ thờng do danh từ, đại từ (hoặccụm danh từ) tạo thành

-Câu kể kiểu Ai là gì? gồm hai bộ phận+ Bộ phận thứ nhất là chủ ngữ trả lời câuhỏi: Ai (cái gì, con gì?)

+ Bộ phận thứ hai là vị ngữ, trả lời câuhỏi: là gì (là ai, con gì?)

Câu kể Ai là gì đợc dùng để giới thiệuhoặc nêu nhận định về một ngời, một vật

Trang 24

- Vị ngữ trongcâu kể Ai làgì?

nào đó

- Trong câu kể ai là gì?

+ Vị ngữ đợc nối với vị ngữ bằng từ là+ Vị ngữ thờng do danh từ (hoặc cụmdanh từ) tạo thành

Chủ ngữ trong câu kể Ai – Câu trong Tiếng Việt là gì? chỉ sựvật đợc giới thiệu, nhận định ở vị ngữ.Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai? hoặc congì? cái gì?

Chủ ngữ thờng do danh từ (hoặc cụmdanh từ tạo thành

- Câu khiến (câu cầu khiến) dùng để nêuyêu cầu, đề nghị, mong muốn… của ngờinói, ngời viết với ngời khác Khi viết, cuốicâu khiến có dấu chấm than (!) hoặc dấuchấm

- Muốn đặt câu khiến ta có thể dùng mộttrong những cách sau:

+ Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên,phải… vào trớc động từ

+ Thêm các từ lên, đi, thôi, nào… vàocuối câu

+ Thêm các từ đề nghị, xin, mong vào đầucâu

+ Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến2

28 Ôn tập Ôn tập về 3 kiểu câu kể? Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

Khi nêu yêu cầu, đề nghị phải giữ phéplịch sự

Muốn cho lời yêu cầu, đề nghị đợc lịch sựcần có cách xng hô cho phù hợp và thêmvào trớc hoặc sau động từ các từ: làm ơn,giùm, giúp…

Có thể dùng câu hỏi, câu kể nêu yêu cầu

đau xót, ngạc nhiên) của ngời nói

Trong câu cảm thờng có các từ ngữ: ôi,chao, chà, ồ, a, à, trời, quá, lắm, thật…Khi viết, cuối câu cảm thờng có dấu chấmthan (!)

* Một số nhận xét về câu phân loại theo mục đích nói trong chơng trìnhSGK Tiếng Việt Mới

Trang 25

Trong xu thế phát triển chung, vận dụng những thành tựu của ngôn ngữhọc hiện đại, khắc phục những hạn chế của chơng trình sách giáo khoa vào việcxây dựng nội dung chơng trình cho nên vấn đề dạy câu phân loại theo mục đíchnói cho học sinh Tiểu học (lớp 4) đã có những thay đổi đáng kể.

a Xét về mặt thời lợng, chơng trình mới đã dành 20 tiết ứng với 20 loạitheo mục đích nói, trong Tiếng Việt khi chơng trình cải cách giáo dục chỉ dành

5 tiết cho nội dung này Điều này cho thấy chơng trình mới đã nhấn mạnh đếnmục tiêu giáo dục, chú ý đến việc rèn kỹ năng sử dụng câu và cung cấp cáckiến thức về câu trong sử dụng cho học sinh, đồng thời giảm lợc những kiếnthức về phân loại, nhận diện về thành phần câu, các kiểu câu chia theo cầu tạo

b, ở chơng trình cải cách giáo dục, câu phân loại theo mục đích nói đợc

bố trí thành chơng riêng thì ở Tiếng Việt mới (ở lớp 4) nội dung này lại đợc dạylồng ghép với các kiến thức về thành phần cấu tạo câu và kiểu cấu trúc nộidung của câu Thông qua việc dạy về câu kể, chơng trình dạy cho học sinh vềcấu tạo cơ bản của câu Đây là một việc làm thể hiện tính hợp lý và khoa họccủa nó Vì câu kể là loại câu có cấu tạo ổn định, điển hình về câu trong TiếngViệt, những câu còn lại chỉ khác câu kể ở một số dấu hiệu hình thức nhất định,

c, Học sinh không chỉ đợc học những khái niệm cơ bản về câu hỏi, câu

kể, câu cầu khiến, câu cảm thán có hình thức thể hiện thống nhất với mục đích

sử dụng (hành động ngôn ngữ trực tiếp) mà các em còn đợc làm quen vớinhững kiểu câu có hình thức không chính danh, tức là kiểu câu có hình thứcnày nhng lại thực hiện một mục đích, ý nghĩa khác (ta gọi đây là hành độnggián tiếp) Cụ thể, sách giáo khoa có bài “Dùng câu hỏi vào mục đích khác”(trong 142-TV4 tập1)

Nhiều khi ta có thể dùng câu hỏi để thể hiện

1 Thái độ khen, chê

2 Sự khẳng định , phủ định

3 Yêu cầu mong muốn

Nhằm hình thành cho học sinh những câu hỏi nhng lại dùng để khen,

chê, yêu cầu, phủ định, khẳng định Hay bài “Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị” (trang 110, Tiếng Việt 4, tập 2).

1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự

2 Muốn cho lời yêu cầu, đề nghị đợc lịch sự, cần có cách xng hô chophù hợp và thêm vào trớc hoặc sau động từ các từ làm ơn, giùm, giúp

3 Có thể dùng câu hỏi, câu kể để yêu cầu, đề nghị

Trang 26

Nh vậy, thông qua bài học này thì học sinh cũng đợc cung cấp kiến thức

về kiểu câu dùng để bày tỏ, yêu cầu, đề nghị, nhng lại có hình thức thể hiện làcâu hỏi, câu kể

d, Việc dựa vào chơng trình nội dung dạy học kiểu câu có hình thứckhông chính danh là một điểm mới của chơng trình sách giáo khoa Tiếng Việt– Câu trong Tiếng Việt 2000 làm cho ngữ pháp nhà trờng gắn bó khăng khít hơn với ngữ pháp trong

đời sống Tạo điều kiện cho các em học sinh tiếp xúc với những kiểu câu cónghĩa hàm ẩn Giúp các em nâng cao hiệu quả giao tiếp cảm thụ đợc các vănbản nghệ thuật một cách sâu sắc Trong thực tế, không phải lúc nào ngời tacũng sử dụng câu chính danh để thực hiện mục đích nói của mình Ví dụ đểnhờ vả, đề nghị thì thay vào việc dùng câu khiến ta có thể dùng câu cảm hoặccâu hỏi Và nh vậy thì tính tinh tế, hiệu quả giao tiếp có khi hay hơn rất nhiều

so với dùng câu chính danh

Đồng thời, chơng trình Tiếng Việt mới cũng đã chú ý hơn đến việc dạycác phơng tiện biểu thị lực ở lời (phơng tiện chuyên dùng biểu thị của hành vi)nhằm giúp các em nắm chắc hơn về dấu hiệu hình thức của từng kiểu câu Vídụ: Câu hỏi thờng có các từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, không …)

Muốn đặt câu khiến thì có thể dùng một rong những cách sau đây:

1 Thêm các từ hãy, đừng, chớ, nên, phải, … vào trớc động từ

2 Thêm các từ lên, đi, thôi, nào, vào cuối câu

3 Thêm các từ đề nghị, xin, mong vào đầu câu

4 Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến

Ví dụ: Đừng có mà nói nh thế!

Hãy gọi ngời hàng hành vào vào cho ta!

g, Chơng trình Tiếng Việt 2000 về vấn đề câu phân loại theo mục đíchnói ở dạng bài tập Dạng bài hình thành kiến thức mới và bài luyện tập, thựchành

Phần hình thành kiến thức mới gồm có 3 phần (nhận xét, ghi nhớ, luyệntập) Bài tập ở phần nhận xét nhằm mục đích giúp học sinh phân tích ngữ điệu

để rút ra các quy tắc, hoặc khái niệm cần ghi nhớ

Phần luyện tập thực hành gồm một tổ hợp các bài tập Đó là: Bài tậpnhận diện có tác dụng giúp học sinh củng cố kiến thức lý thuyết đã đợc hìnhthành trong bài ở phần luyện tập và các kiến thức của các bài trớc đó Bài tậpvận dụng có tác dụng giúp học sinh vận dụng những kiến thức về câu đã đợchọc vào hoạt động giao tiếp hàng ngày ở dạng bài tập này lại đợc cụ thể ralàm 2 loại là: bài tập xây dựng cấu trúc và bài tập tình huống lời nói Tác dụng

Trang 27

của các bài tập này là đa ra những tình huống để học sinh đặt mình vào hoàncảnh nói năng, sản sinh ra những câu nói phù hợp với yêu cầu của bài học, phùhợp với tình huống giao tiếp.

Ví dụ: Tình huống 1

(a) Vào giờ kiểm tra , chẳng may bút của em bị hỏng Em biết bạn em có

2 bút Hãy nói với bạn một câu để mợng bút

Bên cạnh những u điểm nói trên Chơng trình Tiếng Việt 2000 về phầncâu phân loại theo mục đích nói còn tồn tại một số nhợc điểm

- Chơng trình đã chú ý đến việc dạy học sinh sử dụng các kiểu câu khôngchính danh là một điểm đáng ghi nhận vì giao tiếp bằng các câu không chínhdanh thờng tạo nên tính lịch sự, tế nhị, giúp cho sự diễn đạt của các em trở nên

tự nhiên, dí dỏm, sắc sảo hơn Song Chơng trình chỉ mới dạy giá trị giao tiếpcủa câu hỏi, đây là một điểm có phần phiến diện trong sự bố trí, phân bổ Chơngtrình sách giáo khoa Tiếng Việt 4, những kiểu câu còn lại cha đợc đề cập đến

- Các bài dạy về chủ ngữ của các kiểu câu kể có sự trùng lặp Ai làm gì?

Ai thế nào? Ai là gì? đều có chủ ngữ giống nhau, đều trả lời cho các câu hỏi

Ai, cái gì, con gì, đều do danh từ hoặc cụm danh từ đảm nhiệm, có nội dung lànêu chủ thể thông báo của câu Chỉ khác nhau ở vị ngữ của các câu Chính vìvậy, sự trùng lặp ở các kiểu câu này đã làm tốn không ít thời gian trong khichúng ta nên chăng mở rộng tiết ở các bài câu khiến vì trong thực tế câu hỏi vàcâu khiến là những câu dễ mất lịch sự nhất trong giao tiếp

Chơng trình dạy phần câu phân loại theo mục đích nói dành thời lợngcho dạy phần lý thuyết chiếm tỷ lệ quá cao so với thực hành (17/20) Chỉ có 3bài về luyện tập thực hành đó là:

Trang 28

+ Luyện tập về câu hỏi

+ Luyện tập về câu kể Ai làm gì

+ Luyện tập về câu kể Ai làm gì

Chỉ có 3 tiết về luyện tập thực hành nhng lại thiên về nhận diện và củng

cố Bài tập dạy học sinh sử dụng câu trong nói, viết có tỷ lệ cha cao 5/11 Bàitập tình huống cha thật phong phú để học sinh thực hành luyện tập 13 tiết dànhcho dạy câu kể, 4 tiết dạy câu hỏi, 3 tiết câu khiến, 1 tiết câu cảm

Trên đây là một số tồn tại của Chơng trình Tiếng Việt 2000 Phần câuphân loại theo mục đích nói và những tồn tại và u điểm hay những điểm mới sovới Chơng trình cải cách giáo dục sẽ là những điều kiện thuận lợi cho việc ứngdụng đề tài vào việc rèn kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói ởphân môn Luyện từ và câu thuộc Tiếng Việt 4

2 Thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt nhằm rèn luyện kỹ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khoá trong môn Tiếng Việt nói chung.

Qua sáu kỳ "rèn luyện nghiệp vụ s phạm thờng xuyên" ở các trờng tiểuhọc và 8 tuần thực tập s phạm cuối khoá, đợc gặp gỡ, tiếp xúc với các giáoviên, cán bộ chuyên môn và các em học sinh tiểu học, chúng tôi thấy rằng, quátrình dạy học của các phân môn của môn Tiếng Việt của giáo viên tiểu học

đang dừng lại ở việc dạy theo quy trình của sách giáo viên và thiết kế bài giảng.Phần lớn giáo viên cha có sự sáng tạo trong phơng pháp lên lớp, trong việc lựachọn các hình thức dạy học sao cho sinh động, sao cho hấp dẫn đối với họcsinh còn có phần hạn chế Ngoài những bài tập Tiếng Việt, những yêu cầu ởSGK giáo viên cha tạo ra các bài tập tơng tự để củng cố, khắc sâu kiến thức chocác em Giáo viên cha khái quát đợc những dạng tổng quát của hệ thống bàitập Vì thế, giờ học Tiếng Việt trở nên “khô” và “khó” đối với học sinh

Các hình thức của hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt dờng nh vẫn còn làmột vấn đề “xa lạ” đối với giáo viên, đối với học sinh Thực trạng trên xuấtphát từ những nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân chủ quan là do giáo viên cha nhận thức đúng vị trí, vai tròquan trọng hoạt động ngoại khoá Một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn chanêu đợc quan niệm của mình về hoạt động ngoại khoá Bởi vậy, các hình thứcngoại khoá và quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá phục vụ cho việc dạyhọc môn Tiếng Việt vẫn còn là vấn đề mới mẽ đối với giáo viên nên phần lớncác giờ học Tiếng Việt chúng tôi dự giờ, hay các buổi tham gia, sinh hoạt tậpthể hàng tuần cha có sự tham gia của hoạt động ngoại khoá, có chăng thì một

Trang 29

số trò chơi vào cuối giờ Tiếng Việt nhng cha có sự đầu t về mặt thời gian vàtâm huyết với công việc nên hiệu quả vẫn không cao.

- Nguyên nhân khách qua là các giáo trình tài liệu hớng dẫn các hìnhthức và quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt còn rất hiếm hoi.Mặt khác, nếu giáo viên muốn tổ chức một buổi ngoại khoá để tổ chức ôn tập

và rèn luyện các kỹ năng Tiếng Việt cho học sinh thì còn thiếu phơng tiện hỗtrợ, thiếu kinh phí đầu t cho hoạt động của mình…

Từ những lý do đã phân tích ở trên, chúng tôi thấy rằng hoạt động ngoạikhoá còn rất mờ nhạt, cha đợc vận dụng tiệt để, thờng xuyên vào dạy hcọ mônTiếng Việt, giáo viên cha biết vận dụng và cha khai thác hết thế mạnh của hoạt

động ngoại khoá Do đó chất lợng dạy và học Tiếng Việt hiệu quả còn thấp,

ch-a dạt đợc mục tiêu dạy Tiếng Việt trong gich-ao tiếp và để gich-ao tiếp

2.2 Thực trạng tổ chức rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt.

Nh đã trình bày trong phần "mục tiêu của việc dạy các kiểu câu phân loại theo mục đích nói" không phải chỉ dừng lại ở việc dạy cấu tạo câu, dạy các

dấu hiệu hình thức của câu cho học sinh mà cao hơn là dạy học sinh cách tạolập các kiểu đúng ngữ pháp, hay, phù hợp với từng tình huống lời nói khácnhau và phù hợp với văn hoá giao tiếp của ngời Việt Muốn thực hiện đợc mụctiêu này trong quá trình dạy các kiểu câu phân loại theo mục đích nói giáo viênphải tạo ra nhiều bài tình huống khác nhau, cần khéo léo đa hình thức hoạt

động ngoại giao vào việc rèn luyện các kỹ năng sử dụng câu cho học sinh

Nh-ng troNh-ng thực tế, khi dạy về câu phân loại theo mục đích nói giáo viên dờNh-ng nhdạy theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống: dạy câu có hình thức ngữ pháp

và ý nghĩa thống nhất với nhau Tức là, mới chỉ dừng lại ở việc dạy các kiểucâu chính danh, cha cghú trọng dạy các kiểu câu không chính danh Ta dễ thấyrằng, nếu việc dạy các kiến thức về câu theo cách nhìn của ngữ pháp truyềnthống tức là đặt câu ở thế cô lập, cha gắn nó với những câu lân cận, cha đa vàocác tình huống nói năng Do đó, dẫn đến tình trạng học sinh học thuộc mộtcách máy móc các ghi nhớ, nên khi vận dụng vào nói, viết tỏ ra lúng túng vàcòn sai nhiều, khả năng giao tiếp cha đạt hiệu quả cao

Có một điều đang tồn tại ở tất cả các trờng Tiểu học hiện nay đó là trình

độ giáo viên không đồng đều, có rất nhiều bậc đào tạo Số lợng giáo viên cótuổi nghề tơng đối cao đang dạy ở các lớp 4, 5 do ảnh hởng của chơng trình(CCGD) đã ăn sâu trong tiềm thức của họ khi hỏi về hệ thống câu phân loạitheo mục đích nói giáo viên vẫn trả lời gồm năm kiểu câu, tức là gồm có cả bài

Trang 30

“Câu hội thoại – Câu trong Tiếng Việt Dấu gạch ngang” Chính vì có sự nhẫm lẫn này khi gặp cácbài tập có câu hỏi, câu kể ở dạng đối thoại giáo viên đều sắp xếp vào câu hộithoại Và ngợc lại khi gặp câu kể, câu hỏi Sự nhầm lẫn đáng kể này cho thấytrình độ nhận thức của một số giáo viên rất hạn chế.

Khi phân loại câu phân loại theo mục đích nói, giáo viên thờng khó phânbiệt trong những trờng hợp: mục đích thông báo và các dấu hiệu hình thức (dấucâu, một số từ gắn với các kiểu câu chia theo mục đích nói: đại từ nghi vấn, cácnhóm từ…) không thống nhất

Ví dụ: Có đi ra ngoài không thì bảo?

Trong trờng hợp giáo viên không biết sẽ u tiên cho mục đích giao tiếphay dựa vào dấu hiệu hình thức sắp xếp loại câu

Hiện nay mục tiêu dạy Tiếng Việt trong nhà trờng là dạy cho học sinhmột công cụ giao tiếp, để học tốt môn Tiếng Việt nói riêng và các môn văn họckhác nói chung cũng nh phục vụ cho giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Vìvậy, cái đích mà học sinh cần hớng tới là các em phải nói hay, đọc tốt, nghetốt, tức là sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng Đạt đợc điều này thì trong cuộcsống giao tiếp của các em mới tỏ ra sắc bén, tinh tế và lịch sự

Một trong những hình thức dạy học để góp phần hiện thực hoá mục tiêunói trên là vận dụng hoạt động ngoại khoá vào việc rèn luyện kỹ năng sử dụngcác kiểu câu phân loại theo mục đích nói Thông qua con đờng này môi trờnggiao tiếp của các em sẽ đợc mở rộng ra, các em có cơ hội thể hiện những điềumình đợc học vào hoạt động thực tiễn

Và chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra kết hợp vớiphỏng vấn giáo viên về: Nhận thức và thực trạng của giáo viên Tiểu học khidạy Văn để câu phân loại theo mục đích nói và hoạt động ngoại khoá (Bảng 1)

Kết quả của việc khảo sát 71,67% giáo viên ở các trờng đều cho rằngkhó khăn lớn nhất khi dạy vấn đề câu phân loại theo mục đích nói là: xác địnhmục của câu, 70% giáo viên cha nhận thức đúng vai trò, vị trí và nhiệm vụ củahoạt động ngoại khoá 93,33% đều cho rằng khó khăn khi tổ chức hoạt độngngoại khoá là phơng tiện hỗ trợ Và kết quả khảo sát cho thấy 78,33% giáo viêncha vận dụng hình thức hoạt động ngoại khoá vào việc rèn kỹ năng sử dụng câuphân loại theo mục đích nói cho học sinh

Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân mà giáo viên cha vận dụng

đ-ợc hình thức hoạt động ngoại khoá vào rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phânloại theo mục đích nói cho học sinh trớc hết là do thiếu hụt về kiến thức của lýthuyết ngôn ngữ học hiện đại, cha hiểu đợc cấu trúc bên trong của hành vi ngôn

Trang 31

ngữ, hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp, cũng nh sự phong phú, đadạng của các kiểu câu Trong khi đó mội dung luôn quyết định phơng pháp dạyhọc, nội dung nào thì phơng pháp ấy Không thể dạy tốt khi không nắm chắc đ-

* Bên cạnh khảo sát đối tợng giáo viên chúng tôi cũng tiến hành điều trahọc sinh về việc vận dụng kiến thức câu phân loại theo mục đích nói trong hoạt

động nói năng thực tiễn (Bảng 2)

Qua bảng khảo sát cho tháy để hiểu nghĩa của câu, các em thờng chỉ căn

cứ vào các dấu hiệu hình thức cha chú trọng đến mục đích nói Và qua ý kiếncủa các em 56,25% giáo viên sử dụng nhiều các bài tập tình huống, các hoạt

động ngoại khoá để rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đíchnói

Nguyên nhân của những lỗi mà chúng tôi đã khảo sát có thể có nhiềunguyên nhân: Khi trả lời các em lựa chọn một cách vô thức, không hiểu đợcmục đích ý nghĩa, giá trị kinh tế của các câu đem lại, và có thể do các emkhông đặt các câu vào ngôn ngữ cảnh, đối tợng giao tiếp

Nh vậy, qua điều tra và khảo sát, phân tích thực trạng và nhận thức củagiáo viên cha vận dụng tốt hình thức hoạt động ngoại khoá và rèn luyện kỹnăng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh, do đó chất lợngdạy học cha thực sự đợc nâng cao

Trang 32

Bảng 1: ý kiến của giáo viên về nhận thức và thực trạng dạy vấn đề câu phân loại theo mục đích nói

TT

Nhận thức và thực trạng của

giáo viên Tiểu học về câu

phân loại theo mục đích nói

và hoạt động ngoại khóa

Tiểu học Cửa Nam 1 Quang Trung Tiểu học Hng Dũng 2 Tiểu học Tiểu học Lê Mao Tổng hợp

Sốphiếu Tỷ lệ% phiếuSố Tỷ lệ% phiếuSố Tỷ lệ% phiếuSố Tỷ lệ% phiếuSố Tỷ lệ%

1 Khó khăn của giáo viên khi dạyvấn đề câu phân loại theo mục

2 Kết quả của học sinh sau khi

học về câu phân loại theo mục

3 Quan niệm giáo viên về hoạt động ngoại khóa 15 100 15 93,33 15 100 15 73,33 60 91,67

4 Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khóa 15 100 15 80 15 66,67 15 33,33 60 70,00

5 Các hình thức và mức độ vận dụng vào hoạt động ngoại khóa 15 40,00 15 86,67 15 33,33 15 66,67 60 56,67

6 Các phơng pháp, phơng tiện th-ờng sử dụng 15 86,67 15 86,67 15 100 15 100 60 93,33

7 Khó khăn khi sử dụng hình thứchoạt động ngoại khóa 15 26,67 15 93,33 15 73,33 15 46,67 60 60,00

8 Giáo viên đã vận dụng hình thức dạy học ngoại khóa cha 15 53,33 15 93,33 15 93,33 15 73,33 60 78,33

Bảng 2: ý kiến học sinh khi học về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

Trang 34

Thứ hai, thế nhng giáo viên tiểu học vẫn cha nhận thức đúng về tầm quantrọng của hình thức hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt, đặc biệt là về vai trò củahoạt động này trong việc rèn luyện kỹ năng sử dụng câu trong giao tiếp chohọc sinh tiểu học Việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt ở nhà tr-ờng tiểu học, ít đợc tiến hành và nghèo nàn về hình thức, nội dung; cha nhận đ-

ợc các chỉ đạo cụ thể và các tài liệu hớng dẫn về việc dạy học thông qua hoạt

động ngoại khoá Tiếng Việt

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đề tài sẽ đề xuất các hìnhthức và qui trình tổ chức hoạt động ngoại khoá nhằm rèn luyện kỹ năng sửdụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

Chơng II: Tổ chức rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động

ngoại khoá Tiếng Việt

I Những điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức rèn kỹ năng sự dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá.

Trang 35

Hoạt động ngoại khoá là một hoạt động giáo dục hơn nữa nó còn là mộthình thức dạy học Vì vậy, trong phạm vi hẹp hơn, đó là hoạt động giáo dụcngôn ngữ, hoạt động dạy tiếng Do đó, khi tổ chức hoạt động này cần chú ý tớicác đặc trng, nhiệm vụ của hoạt động ngoại khoá, đồng thời phải chú ý tớinhững yêu cầu riêng có tính chất đặc thù của phân môn Luyện từ và câu (trongviệc rèn kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói).

1 Hoạt động ngoại khoá phải phục vụ mục tiêu, nội dung của môn học và yêu cầu phát triển năng lực hoạt động giao tiếp của học sinh.

Chúng ta phải đảm bảo yêu cầu này vì nh đã biết tính chất của hoạt độngngoại khoá là một hình thức dạy học nhằm mở rộng, nâng cao, bổ sung nhữngtri thức và kỹ năng trong chơng trình chính khoá Vì vậy, khi tiến hành hoạt

động này cần phải bám sát mục tiêu, yêu cầu của phân môn Luyện từ và câu vàphải bám sát đối tợng, không đợc biến hoạt động ngoại khoá thành hoạt độngmua vui, hoạt động hình thức, không hỗ trợ và không có tác dụng gì trong việcrèn kỹ năng sự dụng câu phân loại theo mục đích nói

Mặt khác, mục tiêu dạy học Tiếng Việt hiện nay là dạy tiếng thông quagiao tiếp Do đó, trong những năm gần đây, khi nghiên cứu ngôn ngữ ngời tathờng đặt ngôn ngữ trong quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp và dạy Tiếng Việt làdạy một công cụ để giao tiếp để t duy Theo phơng hớng này việc dạy ngôn ngữnói chung và dạy các kiểu câu phân loại theo mục đích nói, nói riêng sẽ lấygiao tiếp làm môi trờng và phơng pháp Điều đó có nghĩa là dạy tiếng phảithông qua hoạt động giao tiếp, phải đặt học sinh trong từng tình huống, hoàncảnh giao tiếp khác nhau, thông qua giao tiếp nhằm hình thành và rèn luyệncác kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng phải lấykiến thức làm nền tảng

Để thực hiện tốt mục tiêu trên, việc dạy câu phân loại theo mục đích nóichung cho học sinh tiểu học không chỉ dừng lại ở việc phân tích, nhận diện,phân loại về cấu trúc và dấu hiệu hình thức mà phải luôn luôn đặt các kiểu câunày trong hoạt động hành chức, đặt học sinh trong từng tình huống lời nói cụthể Trên cơ sở kiến thức đã có của mình học sinh biết sản sinh những câu phùhợp với văn hoá giao tiếp, làm cho quá tình giao tiếp đạt hiệu quả cao nhất

Nh vậy, hoạt động hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt bên cạnh việccung cấp tri thức, rèn kỹ năng sự dụng câu phân loại theo mục đích nói thì đâycòn là một hình thức dạy học phù hợp với quan điểm giao tiếp – Câu trong Tiếng Việt quan điểmchỉ đạo khi dạy học bộ môn này Vì lẽ đó, hoạt động ngoại khoá đã trở thànhmột đơn thuốc hữu hiệu góp phần đắc lức vào việc thực hiện mục tiêu, nội

Trang 36

dung, môn học, đồng thời còn cập nhật hoá, mở rộng cung cấp những gì màcuộc sống cần, học sinh cần trong hoạt động giao tiếp.

2 Hoạt động ngoại khoá phải bám sát đối tợng, tạo đợc hứng thú, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của giáo viên và học sinh, phù hợp với

điều kiện mô hình trờng học.

Nội dung, hình thức, quy trình hoạt động ngoại khóa rất phong phú và đadạng, đối tợng để tổ chức ngoại khóa cũng không phải là đồng nhất Chính vìvậy, hiệu quả tác dụng của một hoạt động ngoại khoá không chỉ phụ thuộc vàoviệc lựa chọn nội dung mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự phù hợp của nội dung

đối với học sinh, với hoàn cảnh cụ thể và với điều kiện cơ sở vật chất hiện cócủa nhà trờng Khi tổ chức hoạt động ngoại khóa cần phải tạo đợc hừng thú chohọc sinh, làm cho các em tham gia một cách nhiệt tình, tự giác Theo M.RLơvôv “cần phải làm cho trẻ học tập có hứng thú, đó là đảm bảo tính tốt nhấtcho tính động cơ trong phát triển lời nói của các em"

Nh vậy, do những điều kiện và quá trình phát triển lịch sử – Câu trong Tiếng Việt xã hội.Học sinh Việt Nam hiện nay đang có sự phân hoá về mặt trình độ các lứatuổi, đối tợng, điều kiện sống khác nhau Tổ chức tốt hoạt động ngoại khoá phùhợp với đặc điểm, trình độ nhận thức của đối tợng không chỉ thực hiện tốt mụctiêu của phân môn Luyện từ và câu mà còn phát huy tối đa hiệu quả giáo dụctoàn diện

3 Giáo viên phải tổ chức hoạt động này trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu về mặt hình thức, thời lợng và quy mô.

Tức là giáo viên phải tạo ra nhiều hình thức phong phú, đa dạng và hấpdẫn đối với các em Ngoài những hình thức thờng gặp nh Nhóm Tiếng Việt,Góc Tiếng Việt, Báo tờng; Thi học sinh giỏi Tiếng Việt, Tham quan, Dạ hộiTiếng Việt và một số trò chơi học tập Tiếng Việt, giáo viên có thể xây dựngthêm một số hình thức khác nữa

Hoạt động ngoại khoá có thể thực thi trong lớp học, ngoài giờ học haybất kỳ những địa điểm các em đến thăm quan do giáo viên hoặc ai có đủ nănglực và trình độ tổ chức Thời lợng dành cho hoạt động có thể tiến hành 1 buổi,một tiết học, thậm chí có thể tiến hành từ 10 đến 30 phút….Hiện nay cha cómột tài liệu, giáo trình nào quy định về nội dung, quy mô, thời lợng tổ chứcngoại khoá, phần lớn là do giáo viên cân đối lựa chọn sao cho phù hợp với họcsinh…

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nói thêm rằng giáo viên cũng khôngnên lạm dụng hình thức dạy học này quá nhiều, có khi nó sẽ phản tác dụng,không đem lại hiệu quả nh mong muốn

Trang 37

4 Giáo viên phải xác định đợc hình thức kiểm tra - đánh giá kêt quả phù hợp

Trong thực tế, ta thấy có nhiều hình thức, phơng pháp, mức độ kiểm tranhằm xác lập, đánh giá thông tin giữa ngời dạy – Câu trong Tiếng Việt môi trờng – Câu trong Tiếng Việt ngời học

Đối với việc rèn kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đính nói, thôngqua hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt, việc tổ chức, kiểm tra đánh giá kết quả

có thể đợc thực hiện bằng những phơng pháp, hình thức, phù hợp với tính chất,

đặc trng của hoạt động Không thể tổ chức một bài kiểm tra hoạt động ngoạikhoá nh bài kiểm tra ở chơng trình chính khoá Những kiến thức, kỹ năng vàthái độ của hoạt động ngoại khóa cần phải đợc định lợng và định tính hoá Giáoviên có thể đánh giá về việc học sinh đã thực hiện đúng quy trình của hoạt

động hay cha, đánh giá về mức độ hứng thú (rất thích, thích, và cha thích) củahọc sinh, đánh giá về khả năng tập trung chú ý của các em Ngoài ra, sự đánhgiá này có thể thông qua việc học các phân môn của môn Tiếng Việt, thôngqua sự phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ, thông qua tinh thần học tập, sựtiến bộ về nhân cách học sinh

Tóm lại, kiểm tra đánh giá là một khâu không thể thiếu đợc của quátrình dạy học nói chung và của hoạt động ngoại khoá nói riêng Nó đảm bảocông khai hoá kết quả đào tạo trớc môi trơng, gia đình và xã hội, góp phầnnâng cao trách nhiệm của giáo viên, của học sinh và của môi trờng, gia đình vàxã hội trớc sự nghiệp giáo dục

II Một số định hớng về hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theo mục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt

Có nhiều cách tiếp cận, phân loại về hình thức ngoại khoá môn TiếngViệt Tuy nhiên, khi đã xác định hình thức, quy trình tổ chức hoạt động ngoạikhoá Tiếng Việt, cần phải tuân thủ những yêu cầu đã phân tích nhằm bám sátmục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp với đối tợng học sinh giáo viên và điềukiện hoàn cảnh cụ thể Vì vậy, để rèn luyện kỹ năng sử dụng câu phân loại theomục đích nói thông qua hoạt động ngoại khoá, chúng tôi xin đa ra một số hìnhthức cơ bản nh sau:

1 Hoạt động ngoại khoá thông qua sinh hoạt chủ điểm

Sở dĩ chúng tôi lại chọn hình thức sinh hoạt theo chủ điểm là xuất phát từnhững cơ sở sau đây:

1.1 Xuất phát từ chơng trình SGK

Trang 38

Thứ nhất: xét về cách sắp xếp, bố trí chơng trình của SGK Tiếng Việt 4chúng ta thấy các phân môn của môn Tiếng Việt đều đợc bố trí theo chủ điểm.Mỗi chủ điểm thờng đợc thực hiện trong 3 – Câu trong Tiếng Việt 4 tuần

Chẳng hạn, 3 tuần đầu của chơng trình SGK Tiếng Việt 4, tập 1, có chủ

điểm “Thơng ngời nh thể thơng thân”, 3 tuần tiếp theo có chủ điểm là “Măng mọc thẳng” sau đó lại là chủ điểm “Trên đôi cánh ớc mơ” 20 tiết dạy về câu phân loại theo mục đích nói đợc bố trí trên 6 chủ điểm “Có chí thì nên; Tiếng sáo diều; Ngời ta là hoá đất; Vẻ đẹp muôn màu; Những ngời quả cảm” Vì

vậy, khi lựa chọn hình thức cho hoạt động ngoại khoá để rèn luyện kỹ năng sửdụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói, chúng tôi lấy những chủ điểmnày làm căn cứ

Bởi vì hình thức dạy học thông qua hoạt động ngoại khoá này có mục

đích: củng cố các kiến thức và kỹ năng về các kiểu câu phân loại theo mục đíchnói mà học sinh tiếp thu đợc trong giờ học, giúp học sinh vận dụng những gì đã

đợc học vào hoạt động nói, viết một cách tự nhiên, sinh động, hiệu quả cao

Mạt khác, hình thức này có thể nâng cao hứng thú học tập của học sinhvới phân môn Luyện Từ và Câu, phân môn đợc xem là khô cứng ở tiểu học.Một khi các em đã có những hiểu biết về các chủ điểm, học sinh sẽ biết cáchlựa chọn sao cho có những câu nói, câu viết không những đúng ngữ pháp màcòn phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh giao tiếp, phù hợp với chủ điểm.Lựa chọn hình thức này cũng là một cách để giáo viên rèn luyện kỹ năng sửdụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh trong giao tiếp,trong hoạt động phong phú, đa dạng của thực tiễn của cuộc sống Đồng thời,cũng thể hiện sự quán triệt nguyên tắc đồng bộ trong quá trình mở rộng vốn từ :dạy từ ở tất các các phân môn của môn Tiếng Việt và ở tất cả các môn họckhác, trong tất cả các hoạt động khác ngoài giờ học

1.2 Xuất phát từ chủ điểm giáo dục của nhà trờng và địa phơng

Trong một năm học thì ở mỗi trờng phổ thông đều xây dựng kế hoạchgiáo dục theo những chủ điểm phù hợp với nhà trờng, địa phơng, phù hợp vớicác chỉ thị của Hội đồng đội cấp trên

ở mỗi chủ điểm sẽ là một hình thức dạy học ngoại khóa hữu hiệu, thôngqua các sinh hoạt sao, thông qua các ngày lễ kỷ niệm: ngày Nhà giáo Việt Nam20/11 với chủ điểm "Hoa điểm 10 tặng cô", các em sẽ viết lên những suy nghĩ,trăn trở của mình để tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo, anh chị phụ trách Trongtrờng hợp này, giáo viên, ngời tổ chức hoạt động ngoại khóa sẽ khéo léo lồngyêu cầu rèn các kỹ năng sử dụng câu vào Nh thế, cùng một lúc sẽ đạt đợc hai

Trang 39

yêu cầu Yêu cầu 1: học sinh nói, viết theo chủ điểm Yêu cầu 2: học sinh nói,viết, sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói Hoặc học sinh sẽ thisáng tác thơ, văn, kịch để phục vụ cho kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ, ngày thànhlập Đội TNTP, ngày 8/3 hoặc một sự kiện có ý nghĩa đã diễn ra trong trờng

nh kỷ niệm ngày thành lập trờng Đây sẽ là những cơ hội để các em thể hiệntài năng của mình và qua mỗi lần tham gia nh thế, những kiến thức lý thuyếthọc sinh đã đợc học sẽ đợc rèn luyện, khắc sâu trong sự đa dạng muôn màu củacác hoạt động ngoại khóa

Ví dụ:

Sau khi học chủ điểm "vẻ đẹp muôn màu”, học sinh hiểu đợc sự phong

phú, đa dạng của thế giới muôn màu, muôn vẽ đó và con ngời là trung tâm đểtạo nên vẻ đẹp ấy

Trong chủ điểm này, có 3 tiết về câu phân loại theo mục đích nói:

+ Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào?

+ Câu kể Ai là gì?

+ Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?

Chung tôi sẽ tổ chức hoạt động ngoại khoá nh sau:

Thứ nhất, giáo viên tập hợp học sinh vào giờ sinh hoạt tập thể, phổ biếnnội dung của buổi ngoại khoá

Thứ hai, tổ chức các hoạt động:

Hoạt động 1, học sinh thực hiện yêu cầu (1) Hãy đóng vai phóng viên,phỏng vấn các bạn về vẻ đẹp muôn màu của quê hơng (Trong đó, ngời phỏngvấn và ngời đợc phỏng vấn có sử dụng các câu hỏi, câu kể)

Gợi ý:

- Hỏi về nơi sinh ra và lớn lên

- Hỏi về vẻ đẹp của quê hơng, nét đặc biệt của quê hơng

- Hỏi về điều yêu thích nhất ở quê hơng

- Hỏi về dự định sẽ thực hiện để góp phần giữ gìn vẻ đẹp của quê hơng(Lu ý Tuỳ theo thời gian nhiều hay ít mà phóng viên phỏng vấn số lợngcác bạn học sinh)

Hoạt động 2, làm việc với bảng đa chiều: học sinh thực hiện yêu cầu (2)

Hãy dùng phấn ghi đánh dấu x vào trớc câu kể Ai là gì? trong những câu thơ

sau và gạch dới vị ngữ của các câu vừa tìm đợc

Tớ là chiếc xe lu.

Ngời tớ to lù lù.

Đêm nay con ngủ giấc tròn

Trang 40

Mẹ là ngọn gió của đời con suốt đời.

Quê hơng là đêm trăng tỏ Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.

Hoạt động 3, học sinh thực hiện yêu cầu (3) Hãy viết một đoạn văn từ 5– Câu trong Tiếng Việt 15 dòng tả cảnh vật (vẻ đẹp) mà em thích Trong đoạn văn đó có dùng câu

kể Ai thế nào?

Hoạt động 4 Thi hùng biện

- Trên cơ sở kết quả của bài 3 mà các em vừa làm, giáo viên tổ chức cuộc

thi hùng biện để tìm ra Ai là ngời nói hay nhất về đề tài cô giáo đa ra.

- Học sinh thực hiện khi có hiệu lệnh bắt đầu

2 Hoạt động ngoại khoá thông qua vui chơi

Tổ chức hoạt động ngoại khoá thông qua vui chơi, cần xuất phát từ nhữngcơ sở sau đây:

2.1 Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học

“Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng

đắn và lâu dài về đạo đức và trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản

để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở”.

Trớc hết, ta thấy “ giúp học sinh” ở đây không phải là làm thay các em,

hoặc áp đặt, bắt buộc trẻ, ra mệnh lệnh buộc trẻ làm theo ý thầy, cô giáo và ngời

lớn Lý luận này xuất phát từ một quan điểm trong giáo dục “học sinh là chủ thể của quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cần phải tạo điều kiện để trẻ

em (ngời học) phát huy đợc tính tích cực và phát triển đợc tiềm năng của bản thân, làm sao để nhà s phạm làm ngời đở đầu cho sự phát triển”.

Đây là một quan điểm đợc quán triệt trong mọi hoạt động, mọi hìnhthức giạy học, và giáo dục, đặc biệt trong các hoạt động vui chơi ở nhà trờng

Ngày đăng: 21/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thị Thuỷ An (2000), Bàn về nội dung dạy học ở nội dung dạy học ngữ pháp ở tiểu học, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nội dung dạy học ở nội dung dạy học ngữ "pháp ở tiểu học
Tác giả: Thị Thuỷ An
Năm: 2000
2. Thị Thuỷ An (2002), Câu cầu khiến Tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu cầu khiến Tiếng Việt
Tác giả: Thị Thuỷ An
Năm: 2002
3. Thị Thuỷ An (2003), Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học hiện nay. Tạp chí Giáo dục – quý IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học hiện nay
Tác giả: Thị Thuỷ An
Năm: 2003
4. Thị Thuỷ An (2005), Những điểm cơ bản về câu phân loại theo mục đích “ nãi trong ch ” ơng trình Tiếng Việt 4, Tạp chí Giáo dục, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm cơ bản về câu phân loại theo mục đích"“"nãi trong ch"” "ơng trình Tiếng Việt 4
Tác giả: Thị Thuỷ An
Năm: 2005
5. Quang Ban (1992), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2
Tác giả: Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
6. Quang Ban (chủ biên) (2001), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
7. Quang Ban (chủ biên) (2001), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2
Tác giả: Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Lê Tuấn, Nguyễn Văn Triệu (1998), Phơng pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa ở trờng THCS, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa ở trờng THCS
Tác giả: Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Lê Tuấn, Nguyễn Văn Triệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Lê Thị Thanh Bình (2003), Dạy học Tiếng Việt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp, Đề tài cấp Bộ, Trờng Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Tiếng Việt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp
Tác giả: Lê Thị Thanh Bình
Năm: 2003
10. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên cứ liệu – Tiếng Việt), Luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn, trờng ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên cứ liệu"–"Tiếng Việt)
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
11. Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tơm (1992), Ngữ pháp chức năng câu trong Tiếng Việt – , NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng câu trong Tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tơm
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1992
12. Trần Mạnh Hởng (chủ biên) (2003), Vui học Tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học Tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Trần Mạnh Hởng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Quy Nhơn
Năm: 2003
13. Trần Mạnh Hởng (chủ biên) (2003), Vui học Tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học Tiếng Việt, tập 2
Tác giả: Trần Mạnh Hởng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Quy Nhơn
Năm: 2003
14. Lơvôp. M.R (1987), Phơng pháp dạy ngoại khoá tiếng Nga, trong “phơng pháp dạy học tiếng Nga ở cấp I”. NXB Giáo dục M. (tiếng Nga), trang 404 – 467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy ngoại khoá tiếng Nga", trong “phơng pháp dạy học tiếng Nga ở cấp I
Tác giả: Lơvôp. M.R
Nhà XB: NXB Giáo dục M. (tiếng Nga)
Năm: 1987
15. Lê Phơng Nga (1999), Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phơng Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2004), Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 2, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004
18. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và nhiều tác giả (2005), Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành và chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành và chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
19. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và nhiều tác giả (2005), Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 2, Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành và chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 2, Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành và chơng trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
20. Cao Đức Tiến (1998), Phơng pháp hớng dẫn ngoại khoá về Tiếng Việt và văn học cấp I, trong “Phơng pháp dạy cấp I”. Tài liệu dùng cho giáo sinh trung học s phạm. Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dỡng giáo viên Hà Néi, trang 218 – 226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp hớng dẫn ngoại khoá về Tiếng Việt và văn học cấp I", trong “Phơng pháp dạy cấp I
Tác giả: Cao Đức Tiến
Năm: 1998
21. Nguyễn Văn Tứ (1998), Ngoại khoá môn Tiếng Việt ở Trờng phổ thông, “Ngữ học trẻ”, trang 55 – 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại khoá môn Tiếng Việt ở Trờng phổ thông", “Ngữ học trẻ
Tác giả: Nguyễn Văn Tứ
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: ý kiến của giáo viên về nhận thức và thực trạng dạy vấn đề câu phân loại theo mục đích nói TT Nhận thức và thực trạng của - Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá tiếng việt
Bảng 1 ý kiến của giáo viên về nhận thức và thực trạng dạy vấn đề câu phân loại theo mục đích nói TT Nhận thức và thực trạng của (Trang 38)
Bảng 2: ý kiến học sinh khi học về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói - Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá tiếng việt
Bảng 2 ý kiến học sinh khi học về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói (Trang 39)
Bảng 4: Kết quả học tập của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng - Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá tiếng việt
Bảng 4 Kết quả học tập của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 79)
Bảng 5: Bảng phân phối mức độ kết qủa thực nghiệm - Rèn luyện kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ngoại khoá tiếng việt
Bảng 5 Bảng phân phối mức độ kết qủa thực nghiệm (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w