1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

146 18,3K 136

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Kĩ Năng Viết Đoạn Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Lớp 4 - 5
Tác giả Đoàn Bích Vy
Người hướng dẫn TS. Chu Thị Hà Thanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việcdạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là vớithiên nhiên, góp phần gi

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS CHU THỊ HÀ THANH

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

Chu Thị Hà Thanh, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Nhân dịp này, tôi cũng xin được gửi đến gia đình, thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Vinh lời cảm ơn chân thành vì đã thương yêu, động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn.

Qua đây, tôi cũng xin được cảm ơn các thầy cô giáo trường Tiểu học Võ Trường Toản, Hàm Tử, Bạch Đằng, Tăng Bạt Hổ B, đặc biệt là cô Cao Đăng Minh Kim - giáo viên trường Tiểu học Võ Trường Toản, đã động viên, góp ý, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô và bạn đọc góp ý.

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2012

Tác giả

ĐOÀN BÍCH VYMỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lí luận 7

1.2.1 Văn miêu tả 7

1.2.2 Đoạn văn 15

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của HS lớp 4 - 5 với việc dạy học văn miêu tả 21

1.3 Cơ sở thực tiễn 24

1.3.1 Văn miêu tả trong trường Tiểu học 24

1.3.2 Thực trạng về việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở trường Tiểu học .32

1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 - 5 43

Trang 4

2.1.2 Nguyên tắc xây dựng quy trình rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả 44

2.1.3 Các bước trong quy trình rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho HS lớp 4 - 5 47

2.1.4 Ví dụ minh họa quy trình rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở Tiểu học .75

2.2 Hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5 78

2.2.1 Bài tập rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu trong đoạn văn 79

2.2.2 Bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý, liên kết ý trong đoạn văn 83

2.2.3 Bài tập rèn kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ trong đoạn văn 85

2.2.4 Bài tập rèn kĩ năng xây dựng đoạn văn 89

2.2.5 Bài tập rèn kĩ năng sử dụng các phương tiện liên kết trong đoạn văn 94

2.2.6 Bài tập rèn kĩ năng phát hiện và sửa chữa lỗi 99

2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 104

CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 105

3.1 Giới thiệu khái quát quá trình thử nghiệm 105

3.1.1 Mục đích thử nghiệm 105

3.1.2 Nội dung thử nghiệm 105

3.1.3 Phương pháp thử nghiệm 105

3.1.4 Tổ chức thử nghiệm 105

Trang 5

3.3 Kết luận sau thử nghiệm 113

3.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 115

KẾT LUẬN CHUNG 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 1 122

PHỤ LỤC 2 131

Trang 6

STT KÍ HIỆU VIẾT TẮT DIỄN GIẢI

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

BẢNG

Bảng 1-1 : Nội dung dạy học đoạn văn trong chương trình TLV miêu tả 25

Bảng 1-2 : Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả nói chung và yêu cầu giảng dạy ở các tiết rèn kĩ năng viết đoạn nói riêng 33

Bảng 1-3 : Thực trạng rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 36

Bảng1-4 : Kết quả điều tra về kĩ năng viết đoạn miêu tả của HS lớp 4 - 5 39

Bảng 3-1 : Kết quả lĩnh hội tri thức của HS qua các bài thử nghiệm 111

Bảng 3-2 : Kết quả học tập của HS các lớp thử nghiệm và đối chứng 112

HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Hình 2-1: Cấu trúc đoạn diễn dịch 58

Trang 7

Hình 3-1 : Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả thử nghiệm 113

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ xa xưa, con người đã biết dùng miêu tả thể hiện những sinh hoạttrong cuộc sống hằng ngày Sự miêu tả đó thường thấy ở những hình vẽ, nhữngbản trường ca, tiểu thuyết, áng văn… Đây là những tác phẩm được đúc kết từkinh nghiệm sống của các họa sĩ, nhà văn, nhà thơ,… - những người có cảmnhận sâu sắc về cuộc sống Bằng nhiều biện pháp, cách thức, họ đã truyền tải đếnngười đọc, người nghe những bức tranh sinh động đầy màu sắc của sự vật, hiệntượng

Trẻ em chưa thể vẽ được những bức vẽ hoàn thiện Các em chỉ biết dùnglời nói, câu văn để viết lại những điều các em quan sát, nhận xét sự vật dưới cáinhìn của trẻ con Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính Việcdạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên

sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là vớithiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phầnphát triển ngôn ngữ của trẻ… Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô Viết đã cho

rằng : “Việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật

nhìn thấy, nghe thấy là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ” Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự

thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiênnhiên, với xã hội Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn,phát triển nhân cách của một con người có ích cho xã hội

1.2 Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọngtrong chương trình TLV tiểu học lớp 4 - 5 Nó góp phần hình thành và phát triển

tư duy cho HS Tiểu học Học văn miêu tả, HS được rèn kĩ năng viết văn miêu tả

Trang 10

gắn liền với quá trình tạo lập văn bản như : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý ; diễnđạt thành bài văn miêu tả Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sátđối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận góp phần phát triển nănglực phân tích tổng hợp của học sinh Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rènluyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá Vì vậychương trình Tập làm văn lớp Bốn và lớp Năm dành hơn 50% thời lượng để dạyvăn miêu tả Trong chương trình, HS được rèn kĩ năng viết văn miêu tả gắn liềnvới quá trình tạo lập văn bản như tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt thànhđoạn văn, bài văn hoàn chỉnh Trong đó kĩ năng viết đoạn là quan trọng nhất Kĩnăng viết của học sinh được rèn luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văntrước khi viết một bài văn hoàn chỉnh Thông qua kĩ năng viết đoạn, HS biếtcách xây dựng một văn bản hoàn chỉnh chặt chẽ về ý cũng như cấu trúc, ngữpháp

1.3 Thế nhưng thực tế việc dạy và học viết văn miêu tả còn nhiều hạn chế.Nguyên nhân chủ yếu là do việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả chưa đầy đủ,còn nhiều khiếm khuyết GV chưa hướng dẫn HS xây dựng đoạn đi theo một quytrình cụ thể, đảm bảo tính khoa học Việc hướng dẫn HS rèn kĩ năng xây dựngđoạn phần lớn đều dựa vào kinh nghiệm giảng dạy của mỗi GV Đồng thời, bảnthân HS còn gặp rất nhiều khó khăn về kiến thức lẫn kĩ năng khi xây dựng mộtđoạn văn miêu tả Vì vậy đoạn văn miêu tả của HS còn mang tính liệt kê, lời vănlủng củng, thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sự liên kết giữa các ý

và các câu Những tiết TLV rèn kĩ năng xây dựng đoạn trở nên căng thẳng, khôkhan, thiếu cảm xúc đã làm mất đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óctưởng tượng phong phú của các em học sinh

Trang 11

Từ những lý do đã nêu trên, chúng tôi chọn đề tài : “Rèn kĩ năng viết

đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5”.

2 Mục đích nghiên cứu

Từ việc tìm hiểu cơ sở lí luận và thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn miêu tả ở tiểu học, luận văn nhằm đưa ra một quy trình và xây dựng hệthống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5, gópphần nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn ở tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học Tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Xây dựng quy trình và hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tảcho học sinh lớp 4 - 5

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được quy trình và hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết đoạnvăn miêu tả mang tính khoa học phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinhlớp 4 - 5 thì có thể nâng cao được kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho các em

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

5.3 Đề xuất quy trình và xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết vănmiêu tả cho HS lớp 4 - 5

5.4 Dạy thực nghiệm và đánh giá kết quả của những đề xuất trên

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Trang 12

Để có cơ sở lí luận về đề tài này, chúng tôi đã tham khảo, phân tích một sốtài liệu nhằm xác lập cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu.

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra : Sử dụng một số câu hỏi để điều tra và thống kênhững kĩ năng viết đoạn văn miêu tả của HS lớp 4 - 5, việc nắm vững cácquy trình cũng như phương pháp dạy cho học sinh viết đoạn văn miêu tả

- Phương pháp quan sát : Dự giờ các tiết dạy Tập làm văn miêu tả, đặc biệt

là các tiết hình thành kĩ năng viết đoạn để quan sát hoạt động dạy của giáoviên và hoạt động học của học sinh

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm : Nghiên cứu một số bài văn miêu tảcủa học sinh

- Phương pháp thực nghiệm : Nhằm xác định hiệu quả, độ tin cậy của việcvận dụng các quy trình cũng như các bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạnvăn miêu tả

6.3 Phương pháp thống kê toán học

- Khảo sát, xử lí các số liệu trong quá trình nghiên cứu

7 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Đề tài được khảo sát ở một số trường Tiểu học thuộc địa bàn quận 4, quận

5 và quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văngồm 3 chương :

- Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2 : Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5

- Chương 3 : Thử nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu

Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trongchương trình TLV tiểu học Nó góp phần vào việc bồi dưỡng cảm xúc, phát triểnngôn ngữ, tư duy lẫn khả năng sáng tạo cho học sinh Do đó đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về việc dạy và học viết văn miêu tả :

SGK TV lớp 4 - 5 (chương trình CCGD) ngoài việc chú trọng đến kĩ năng

nghe, nói, đọc, viết, sách còn chú trọng đến việc rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lậpdàn ý cho HS Tuy nhiên chương trình chưa chú ý đến kĩ năng xây dựng đoạnvăn cho HS

Chương trình TLV miêu tả lớp 4 - 5 (chương trình 2000), các nhà viết sách

đã có sự đổi mới khi quan tâm đến việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả bằngcách dành khá nhiều thời gian cho HS rèn luyện kĩ năng này Nhưng việc rèn kĩnăng viết đoạn văn miêu tả còn chưa đi theo một hệ thống rõ ràng, cụ thể

Bên cạnh những SGK nằm trong chương trình, còn có một số sách thamkhảo đề cập đến vấn đề dạy học văn miêu tả của các nhà ngôn ngữ học

Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiển - Nguyễn Quang Sáng [22] trong Văn

Miêu tả và kể chuyện chỉ mới đề cập đến những nét chung nhất của một bài miêu

tả, nhưng vấn đề đưa ra còn trừu tượng với giáo viên và học sinh Vì thế giáoviên rất khó vận dụng vào quá trình dạy học văn miêu tả

Vũ Khắc Tuân trong Luyện viết văn miêu tả ở tiểu học [35] cung cấp một

số bài tập luyện kĩ năng xây dựng văn bản miêu tả Đây là tài liệu tham khảo bổ

Trang 14

sung cho sách TV ở Tiểu học Nội dung sách bám sát chương trình TLV miêu tảlớp 4 - 5 bao gồm các bài tập cảm thụ và luyện viết các kiểu bài miêu tả, nhằmmục đích rèn luyện các kĩ năng quan sát, tìm ý, chọn lọc chi tiết, ngôn ngữ miêu

tả, lập dàn ý, viết đoạn Thế nhưng các bài tập trong sách chưa được sắp xếp theo

hệ thống kĩ năng cần cho việc viết đoạn, bài ; cũng chưa phân loại theo trình độnhận thức của HS từ thấp đến cao và chưa thực sự chú ý đến tính vừa sức củaHS

Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, còn có thêm một số côngtrình nghiên cứu về mặt phương pháp, giúp GV dạy tốt thể loại văn miêu tả trongnhà trường :

Hai tác giả Lê Phương Nga - Nguyễn Trí viết cuốn Phương pháp dạy học

Tiếng Việt ở Tiểu học [23] Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của

việc dạy tiếng Việt ở Tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy học cácphân môn cụ thể Công trình này cũng bàn nhiều về phương pháp dạy văn miêu

tả, đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học các kiểubài văn miêu tả Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà công trình đưa racòn ở góc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy và học văn miêu

tả ở nhà trường tiểu học hiện nay

Hoàng Thị Tuyết - cuốn Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học [36] là sự

vận dụng những thành tựu lí luận dạy học trên thế giới đồng thời kế thừa cácquan điểm dạy học đã được thừa nhận trong nước Phương pháp dạy học và các

kĩ năng kiến thức Tiếng Việt trong sách được triển khai theo hướng tiếp cận tíchhợp, cách tiếp cận giao tiếp, kết hợp với một số lý thuyết học tập tiếng khác trênthế giới Điểm mới trong sách là tác giả đã đưa ra được quá trình làm văn viết

Trang 15

cho học sinh nhưng tác giả lại không đề cập đến một quy trình rèn kĩ năng viếtđoạn văn cho HS Tiểu học.

Như vậy những công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới đề cập đến phươngpháp, cách thức hướng dẫn HS xây dựng một bài văn miêu tả Chưa có một côngtrình nghiên cứu nào tập trung vào việc rèn kĩ năng xây dựng đoạn cho học sinhtheo một quy trình nhất định cùng với một hệ thống bài tập bổ trợ cho kĩ năng

này Do đó đề tài “Rèn kĩ năng viết đoạn văn cho HS lớp 4 - 5” là một đề tài

mới mẻ, mang tính khoa học phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp 4 - 5,góp phần nâng cao năng lực kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho các em, đáp ứngyêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Văn miêu tả

1.2.1.1 Thế nào là văn miêu tả

Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển thì miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc

câu văn để biểu hiện chân tướng của sự vật” Trong hội họa, các họa sĩ thường

dùng đến những đường nét, màu sắc để miêu tả sự vật, hiện tượng khiến các bứctranh trông y thật Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tảbằng màu sắc, đường nét, hội họa Dùng ngôn ngữ văn chương có thể miêu tả sựvật trong một quá trình vận động ; có thể tả được những thứ vô hình như âmthanh, tiếng động, hương vị hay tư tưởng thầm kín của con người Vì vậy,trong văn miêu tả, người ta không đưa ra một lời nhận xét chung chung haynhững đánh giá trừu tượng về một sự vật đại loại như cái xe này xấu, cái bánhkia ngon Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con ngườibằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Nhờ có văn miêu tả, con người có thể

Trang 16

lạc vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động, hương vị củanhững cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tư tưởng, tình cảm của mỗi con

người, mỗi sự vật Đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế, những rung động

sâu sắc mà người viết thu lượm được khi quan sát cuộc sống

Dưới cánh bay của chú chuồn chuồn nước xinh xắn, chúng ta hãy cùngngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình của đất nước qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Thế

Hội : “Rồi đột nhiên, chú chuồn chuồn nước tung cánh bay vọt lên Cái bóng

chú nhỏ xíu lướt nhanh trên mặt hồ Mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng sóng Chú bay lên cao hơn và xa hơn Dưới tầm cánh chú bây giờ là lũy tre xanh rì rào trong gió, là bờ ao với những khóm khoai nước rung rinh Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra : cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm

cỏ ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi Còn trên tầng cao kia là đàn

cò đang bay, là trời xanh trong và cao vút…”

Với cách miêu tả linh hoạt, tránh sự đơn điệu, tác giả đã lấy cái tĩnh tạicủa hồ nước rộng mênh mông và lặng sóng, của lũy tre xanh rì rào, của bờ ao,khóm khoai nước, dòng sông, đàn trâu để tả cái đang chuyển động là chúchuồn chuồn nước đang bay Do đó dù không tả cách vỗ cánh, không tả động tácthân, mình, đầu của chú khi bay, tác giả vẫn gợi cho người đọc tưởng tượng rahình ảnh thanh thản, nhẹ nhàng trong dáng bay của chú chuồn chuồn nước ; gợicho người đọc thấy vẻ đẹp của cuộc sống thanh bình, hòa hợp giữa chú chuồnchuồn nước và cảnh vật xung quanh

Tóm lại “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra hay vẽ ra

trước mắt người đọc hoặc người nghe bức tranh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, đồ vật, loài vật ) đã làm cho ta chú ý và cảm xúc sâu sắc”.

Trang 17

1.2.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả

2.a Văn miêu tả là một loại văn mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa

đựng tình cảm của người viếtBất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của vănmiêu tả Trong văn miêu tả, sự vật và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu

“chụp ảnh” hay sao chép một cách máy móc, khô cứng mà là kết quả của sựnhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú Nó thể hiện cái nhìn, cáiquan sát, cách cảm nhận mới mẻ của người viết với đối tượng miêu tả Cái mới,cái riêng bắt đầu có thể chỉ là ở những quan sát và kết quả của sự quan sát, sau

đó tiến lên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư tưởng, tình cảm đối với đối tượngmiêu tả Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có cái nhìn, cáchcảm nhận, ý nghĩ, cảm xúc khác nhau Vì vậy mà văn miêu tả bao giờ cũngmang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết Đây chính là điểmkhác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học - thường mangtính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn

Ví dụ : Cùng miêu tả về cây cọ nhưng có sự khác biệt rõ giữa miêu tảtrong văn học và miêu tả trong khoa học

Đoạn thứ 1 :

Cây cọ Tàu có tên khoa học Livistona Chinensis R.Br.Ex Mart Cây có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới Dáng cây đẹp, cao trên 20 m, thân hình trụ, thẳng, nhẵn, với nhiều sẹo do lá rụng Lá xanh xếp dày đặc ở đỉnh, thân hình quạt, chia thùy đều đặn, đầu thót lại và rủ xuống, màu lục bóng Cuống lá dày, dài, có gai lớn dẹt và cong Cụm hoa dày đặc có mo lớn bao bọc, cụm hoa phân nhánh 2 - 3 lần Hoa hình cầu có nhiều cạnh, lưỡng tính Quả thuôn dài 2 cm, gốc có bao hoa còn lại, màu xanh lục lúc chín

Trang 18

(Trích từ báo Khoa học và đời sống)

Cây cọ được nêu trong đoạn thứ 1 được miêu tả theo cách nhìn kháchquan của các nhà khoa học Các chi tiết tả bộ phận của cây cọ được nêu ra mộtcách chính xác nhưng thật lạnh lùng và khô cứng

Đoạn thứ 2 :

Chẳng có nơi nào như sông Thao quê tôi, rừng cọ trập trùng Thân cọ vút thẳng trời hai ba chục mét cao, gió bão không thể quật ngã Búp cọ vút dài như thanh kiếm sắc vung lên Cây non vừa trồi, lá đã xòa sát mặt đất Lá cọ tròn xòe

ra nhiều phiến nhọn dài, trông xa như rừng tay vẫy, trưa hè lấp lóa nắng như rừng mặt trời mới mọc Mùa xuân chim chóc kéo về từng đàn Chỉ nghe tiếng hót líu lo mà không thấy bóng chim đâu…

(Trích Rừng cọ quê tôi, Nguyễn Thái Vận)Ngay từ câu đầu, tình cảm yêu quý của tác giả đối với rừng cọ được bộc lộkhá rõ Đó là niềm tự hào, nỗi nhớ thương da diết của tác giả khi hồi tưởng vềsông Thao - nơi có rừng cọ trập trùng Cây cọ hiện lên trong trang văn của tácgiả thật sinh động, gần gũi và thân thuộc Có lúc cọ thật cường tráng, cương trực,tràn trề sức sống : thân cọ “khỏe khoắn”, “gió bão không thể quật ngã” ; búp cọ “vút dài như thanh kiếm sắc vung lên”, lá cọ “tròn xòe nhiều phiến nhọn dài”,

“cây non vừa trồi, lá xòa xuống mặt đất” ; có lúc mềm mại, gần gũi và thânthương biết bao nhiêu khi ví lá cọ khi thì “trông xa như một rừng tay vẫy”, khithì lấp lóa “như một rừng mặt trời mới mọc” giữa trưa hè Rừng cọ không chỉ gợiniềm yêu mến đối những với người sông Thao, mà còn là nơi chim chóc gọinhau hội tụ về và líu lo tiếng hót

Trang 19

2.b Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình

Đây là đặc điểm quan trọng của văn miêu tả Một bài văn miêu tả được coi

là sinh động , tạo hình khi các sự vật, hiện tượng, con người hiện lên qua từngcâu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như ta có thể cầm, nắm, nhìn,ngắm, hoặc “sờ mó” được chúng M.Gorki có lần đã nói lên sự khâm phục củamình trước những trang miêu tả thần diệu của Ban-dắc trong tác phẩm Miếng da

lừa : “Tôi thực sự kinh ngạc khi đọc những trang tả bữa tiệc ở nhà ông chủ nhà

băng trong tiểu thuyết Miếng da lừa của Bandắc Ở đó có đến vài chục người cùng nói, tạo nên cảnh ồn ào hỗn độn và tôi tưởng như nghe thấy những âm thanh phức tạp ấy Nhưng cái chính là tôi không chỉ nghe thấy mà còn trông thấy ai nói như thế nào Tôi thấy con mắt, nụ cười điệu bộ của họ mặc dù Ban- dắc không tả hình dáng các vị khách của ông chủ nhà băng.”.

Sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả chính là những chi tiết sống độnggây ấn tượng Những chi tiết này có được từ sự quan sát cuộc sống xung quanh,

từ kinh nghiệm sống của bản thân Có cái bắt nguồn từ thực tế, có cái lấy từ kinhnghiệm sống Nếu bỏ chúng đi thì bài văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị, mất đi sựlinh hoạt của nó Bằng ngòi bút sống động, Ma Văn Kháng đã khắc họa một anhchàng A Cháng có ngoại hình thật ấn tượng, mang đậm nét đặc trưng của người

miền núi : rắn rỏi, săn chắc và tràn trề sức sống : “A Cháng đẹp người thật.

Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc, gụ Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cột đá trời trồng.”

Trang 20

một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưng nhìn kĩ thì thân cây bạch dương nào cũng khác nhau Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không một ai giống ai.” (Tô Hoài) Đoạn

văn trích trong tác phẩm Cỏ non của nhà văn Hồ Phương là một minh chứng :

Nhẫn kẹp chiếc hèo vào nách, bắc loa tay lên miệng, dướn cao người, hô vang động cả núi rừng Con Nâu đứng lại, cả đàn dừng theo, tiếng gặm cỏ bắt đầu trào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra nom đến ngon lành Con Hoa ở gần đó cũng hùng hục ăn không kém, mặc dầu ả

có bộ mã tiểu thư rất yểu điệu như “cái dá cắn làm đôi” Gã công tử bột vẫn xán ở bên cạnh ả, mồm vừa gau gáu gặm cỏ, mắt vừa liếc sang lem lém Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ Cu Tũn dở hơi chốc chốc lại chạy tới tranh ăn mảng

cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó và đi kiếm một bụi khác

Cảnh tượng đàn bò gặm cỏ được tác giả miêu tả khá sinh động, từ miêu tả

khái quát cảnh đàn bò đang ăn cỏ : “cả đàn dừng theo, tiếng gặm cỏ bắt đầu

trào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ” đến sự miêu cụ thể hình dáng, đặc

điểm của từng con trong đàn Mỗi con là một dáng vẻ, một tính cách khác nhau :Con Ba Bớp “phàm ăn, tục uống”, cứ thúc mãi mõm xuống ủi cả đất lên mà gặm,bọt mép nó trào ra ngoài ; con Hoa ở gần đấy cũng hùng hục ăn không kémnhưng vẫn giữ cái yểu điệu của riêng mình khiến cho gã bò công tử bột đứng kếbên cũng phải lem lém liếc mắt nhìn Chị Vàng bộc lộ bản tính của bà mẹ hiềnlành, thương con sẵn sàng nhường cho con những miếng ngon, vật lạ

Sự sinh động, sáng tạo trong văn miêu tả bao giờ cũng bắt nguồn từ cảm

xúc chân thành của người viết Nhà văn Tố Hữu đã từng viết : “Văn chương là

sự sáng tạo, là tưởng tượng nhưng đừng có nói dối, đừng có bịa đặt những điều

Trang 21

mình không nghĩ, không cảm thấy chân thật” Văn miêu tả không hạn chế trí

tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo cái mới của người viết Nhưng như vậykhông có nghĩa là văn miêu tả cho phép người viết “bịa đặt” hay miêu tả mộtcách tuỳ tiện, miêu tả thế nào cũng được Muốn miêu tả đúng, miêu tả hay, trướchết cần phải miêu tả chân thật Tính chân thật ở đây không chỉ được hiểu trongquan sát và sự thể hiện những điều quan sát ấy mà còn được hiểu là sự chân thậttrong cách cảm, cách nghĩ của người viết Đoạn trích trong bài “Hoa sầu đâu”của tác giả Vũ Bằng thể hiện khá rõ tính chân thật trong cách quan sát, cách suynghĩ, cảm xúc của tác giả với cây sầu đâu, loại cây ở vùng quê Bắc Bộ :

Vào khoảng cuối tháng ba, các cây sầu đâu ở vùng quê Bắc Bộ đâm hoa

và người ta thấy hoa sầu đâu nở như cười Hoa nhỏ bé, lấm tấm mấy chấm đen

nở từng chùm, đu đưa như đưa võng mỗi khi có gió Cứ đến tháng ba, nhớ đến sầu đâu là tôi cảm thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà dịu dàng có khi hơn cả mùi thơm hoa mộc Mùi thơm huyền diệu đó hoà với đất ruộng cày vỡ ra, mùi đậu đã già mà người nông phu hái về phơi nắng, mùi mạ non lên sớm xanh màu hoa lí, mùi khoai sắn, mùi rau cần ở các ruộng sâm sấp nước đưa lên,… Bao nhiêu thứ đó, bấy nhiêu yêu thương, khiến người ta cảm thấy như ngây ngất, như say say một thứ men gì.

(SGK TV lớp 4 tập 1, tr.50 )

Vũ Bằng đã dùng các từ ngữ : “thoang thoảng”, “mát mẻ”, dịu dàng” đểđặc tả hương hoa sầu đâu Ông còn so sánh giữa hoa cau, hoa mộc với hoa sầuđâu để ca ngợi mùi thơm mát mẻ, dịu dàng của hoa - mùi thơm huyền diệu màbình dị, dân dã, thân thuộc với người dân quê Mùi sầu đâu hòa với mùi của đấtruộng, mùi đậu già, mùi mạ non, mùi khoai sắn, mùi rau cần những mùi vị củahương đồng quê đậm đà của vùng quê Bắc Bộ mà không đâu có được Sự chân

Trang 22

thật trong cách miêu tả hương hoa sầu đâu khiến ta “yêu thương”, “ngất ngây”,

“như say say một thứ men gì đó” Đó chính là thứ men của tình yêu quê hươngđất nước, của sự rung cảm trước vẻ đẹp của một cây hoa bình dị, dân dã

2.c Ngôn ngữ trong bài văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Miêu tả chỉ trở thành miêu tả văn học khi mà ngôn ngữ miêu tả diễn đạtđược cảm xúc của người viết, vẽ được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả Do

đó, ngôn ngữ miêu tả bao giờ cũng là sự phong phú đa dạng của các từ gợi tả,gợi cảm, các tính từ, động từ, các phép nhân hóa, ẩn dụ, so sánh Nhờ có sựphối hợp giữa các tính từ, các động từ, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ láy vàcác biện pháp tu từ hoặc đan xen vào những những đoạn văn tường thuật, kểchuyện… mà ngôn ngữ trong văn miêu tả luôn gợi lên trong lòng người đọcnhững cảm xúc, tình cảm, ấn tượng mạnh về sự vật được miêu tả Trong SGKTiếng Việt ở Tiểu học, các đoạn văn trong chương trình cũng như những đoạnvăn làm ngữ liệu trong giờ dạy văn miêu tả đều sử dụng ngôn ngữ miêu tả giàucảm xúc và hình ảnh

Chẳng hạn như bài Quả cà chua của nhà văn Ngô Văn Phú :

Đêm huyền diệu đã rủ hoa cà chua lặn theo vòng thời gian chuyển vần Hoa biến đi để tạo ra những chùm quả nõn chung quanh màu với cây, với lá.

Cà chua ra quả, xum xuê, chi chít, quả lớn quả bé vui mắt như đàn gà mẹ đông con Quả một, quả chùm, quả sinh đôi, quả chùm ba, chùm bốn Quả ở thân, quả leo nghịch ngợm lên ngọn làm ỏe cả những nhánh to nhất Nắng đến tạo vị thơm mát dịu dần trong quả Mỗi quả cà chua chín là một mặt trời nhỏ hiền dịu Cà chua thắp đèn lồng trong lùm cây nhỏ bé, gọi người đến hái Màu đỏ là màu nhận ra sớm nhất Những quả cà chua đầu mùa gieo sự náo nức cho mọi người.

(SGK TV lớp 4 tập 1, tr.51 )

Trang 23

Hình ảnh quả cà chua ra trái thật đẹp, thật huyền ảo dưới con mắt quan sáttinh tường và sự lựa chọn từ ngữ cực kì công phu của Ngô Văn Phú Hoa khôngrụng mà “lặn” đi,”biến” đi dưới màn đêm “huyền diệu”, nhường chỗ cho nhữngchùm quả nõn xanh màu cây lá Từ chỗ cây cà chua ra quả người đọc lại đượctheo dõi đến lúc quả chín Quả cà chua chín sẽ không có gì lạ nếu như tác giảkhông sử dụng biện pháp so sánh khi ví quả cà chua chín như “mặt trời nhỏ hiềndịu”, như những “chiếc đèn lồng trong lùm cây” Quả cà chua thật hấp dẫn vàbắt mắt bởi lấp ló trong những lùm cây nhỏ bé chi chít những quả cà chín đỏ Để

tả sự xum xuê, chi chít của quả, có lúc tác giả dùng hình ảnh so sánh quả như

“đàn gà mẹ đông con” ; có lúc tác giả lại dùng hình ảnh nhân hóa chúng như lũtrẻ tinh nghịch “leo lên ngọn làm ỏe cả thân cây” Cà chua chín đầu mùa gieo sựháo hức, đón chờ của mọi người Ai cũng muốn là người đầu tiên được nhìnngắm và hái chúng

Như vậy nhờ có những đặc điểm riêng biệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảmxúc đã khiến cho văn miêu tả giàu những rung động mạnh mẽ của tâm hồn,mang trong nó sự đánh giá thẩm mĩ của người viết đối với đối tượng miêu tả

1.2.2 Đoạn văn

1.2.2.1 Khái niệm đoạn văn

Trong chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 4 - 5, rất coi trọng việc rèn kĩnăng viết đoạn văn cho học sinh : lấy đoạn văn làm trung tâm để rèn kĩ năng làmvăn, từ đó tiến đến việc xây dựng một văn bản hoàn chỉnh Vậy thế nào là đoạnvăn ?

SGK Tiếng Việt 4 định nghĩa đoạn văn như sau : “Mỗi đoạn văn miêu tả

nội dung nhất định Khi viết, hết mỗi đoạn văn cần xuống dòng” Định nghĩa của

Trang 24

SGK rất đơn giản chỉ rõ đoạn văn là loại đoạn ý, đoạn nội dung Việc định nghĩanhư trên chủ yếu giúp học sinh nhận ra dấu hiệu để nhận biết đoạn văn còn chứcnăng của đoạn văn trong văn bản thì không được nhắc đến

Ở đây chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm đoạn văn theo quan điểm củatác giả Lê Phương Nga trong Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học thì :

“Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề Nó có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng và bắt đầu bằng chữ cái hoa viết thụt đầu dòng” [235, 23] Với định nghĩa

này ta thấy :

Về mặt nội dung : Đoạn văn có thể hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định,Khi đoạn văn hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn ý (nhưđịnh nghĩa SGK lớp 4), còn khi đoạn văn không hoàn chỉnh về mặt nội dung thìmỗi đoạn văn sẽ là đoạn lời

Về hình thức : Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh dù đoạn văn có đạt được sựhoàn chỉnh về mặt nội dung hay không Những dấu hiệu : lùi đầu dòng, viết hoa,dấu kết đoạn là dấu hiện cần thiết giúp chúng ta nhận diện chính xác đoạn văntrong mọi trường hợp

Ví dụ :

Buổi sáng, Bé ra vườn chơi.

Trên một nụ hồng, có con cào cào đang đậu Nó nhấm nháp cánh hồng non Bé rón rén lại gần, nhón tay bắt con cào cào Bé định vặt hai càng của nó

đi, giống như bọn thằng Sang hay nghịch ác Nhưng thấy con cào cào xinh quá,

Bé không nỡ Tha cho nó nhởn nhơ chơi trong cỏ cây, Bé vung tay ném con cào cào đi.

Trang 25

Thật bất ngờ, con cào cào xòe cánh bay Ban nãy xanh là thế, bây giờ nó

để lộ ra chiếc áo lụa trong suốt màu đỏ thắm sáng bừng lên trong nắng Một màu đỏ tía pha vàng da cam đẹp lạ lùng, chấp chới trước mặt Bé, vạch một đường cung y hệt chiếc cầu vồng kì lạ Ngẩn ngơ nhìn theo, Bé xúc động quá Con cào cào gửi lại niềm vui cho Bé đấy!

(Trích Cầu vồng, Trần Hoài Dương)Đoạn trích trên gồm có 3 đoạn Đoạn thứ nhất nội dung giới thiệu chưahoàn chỉnh, đây chính là đoạn lời Đoạn 2 có nội dung kể lại việc Bé bắt đượccon cào cào và thả nó bay đi Đoạn 3 có nội dung miêu tả vẻ đẹp của con càocào Đoạn 2, đoạn 3 hoàn chỉnh về mặt nội dung, đây là đoạn ý

1.2.2.2 Câu chủ đề đoạn văn

Câu chủ đề đoạn văn là câu mang ý khái quát của toàn đoạn Câu chủ đềthường có lời lẽ ngắn gọn và đầy đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ

Trong quá trình tạo lập văn bản, câu chủ đề là hạt nhân nghĩa của cả đoạn.Các câu khác nhờ xoay quanh hạt nhân nghĩa này mà liên kết được chặt chẽ vớinhau Chẳng những câu chủ đề giúp cho người viết thể hiện được sự thống nhất

về mặt nội dung giữa các câu trong đoạn mà còn giúp người đọc có khả năng baoquát những nét cơ bản nhất, những nội dung thông tin cần thiết trong toàn bộ vănbản

Câu chủ đề thường đứng ở đầu đoạn văn, ở giữa đoạn hoặc cuối đoạn Dưới đây là một đoạn văn có câu chủ đề đứng ở đầu đoạn Tất cả câu kháctrong đoạn văn đều có nội dung xoay quanh nội dung của câu chủ đề đoạn :nhằm miêu tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên trên mảnh đất Cà Mau - vùng đất cónhững cơn mưa thất thường và đột ngột

Trang 26

Ví dụ : Cà Mau là đất mưa dông Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều

mưa Đang nắng đó, mưa đổ ngay xuống đó Mưa hối hả không kịp chạy vào nhà Mưa rất phũ, một hồi rồi tạnh hẳn Trong mưa thường nổi cơn dông.

(SGKTV lớp 5, tập 1, tr.89)Trong nhà trường, khi dạy HS xây dựng đoạn văn, người ta ít chú ý đếnviệc luyện viết theo câu chủ đề Việc xác định câu chủ đề không những có lợicho việc dựng đoạn, sản sinh văn bản mà còn giúp cho việc đọc và tiếp nhận vănbản một cách dễ dàng hơn

1.2.2.3 Các loại đoạn văn

Đoạn văn được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Nếu phân chiatheo phong cách văn bản thì đoạn văn chia làm các loại : đoạn văn miêu tả, đoạnvăn tự sự, đoạn văn kể chuyện, đoạn văn lập luận và đoạn văn hội thoại Còn nếuphân chia theo tiêu chí nội dung thì đoạn văn sẽ có các loại : Đoạn giải thích,chứng minh…Nếu phân chia theo chức năng của đoạn văn ta sẽ gặp đoạn mởbài, thân bài, đoạn kết bài Ở đây, chúng tôi thống nhất phân loại đoạn văn dựatrên kết cấu đoạn văn của NPVB :

Đoạn văn diễn dịch : Là đoạn văn có câu chủ đề nằm ở vị trí đầu đoạn,

các câu triển khai cụ thể hoá cho câu chủ đề

Ví dụ : Rừng cây im lặng quá Một tiếng lá rơi lúc này cũng khiến người

ta giật mình Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu Hay vừa có tiếng chim

ở nơi nào xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng ?

(Trích Đất rừng Phương Nam, Đoàn Giỏi)Câu đầu đoạn mang ý nghĩa khái quát : Sự im lặng của rừng cây Các câucòn lại triển khai, cụ thể ý khái quát này

Trang 27

Đoạn văn quy nạp : Là đoạn văn có cấu trúc ngược lại với đoạn văn diễn

dịch Các câu diễn đạt ý cụ thể đứng trước, câu chủ đề đứng ở cuối đoạn đúc kếtlại nội dung của các câu đã trình bày trước nó

Ví dụ : Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu xanh : xanh pha vàng của

ruộng mía, xanh rất mượt của lúa chiêm đang thì con gái, xanh đậm của những rặng tre, đây đó có một vài cây phi lao xanh biếc và rất nhiều màu xanh khác nữa Cả cánh đồng thu gọn trong tầm mắt, làng nối làng, ruộng tiếp ruộng Cuộc sống nơi đây có một cái gì mặn mà, ấm áp.

(Trích Phong cảnh quê hương Bác, Hoài Thanh và Thanh Tịnh)

Từ những chi tiết cụ thể xanh pha vàng của ruộng mía, xanh mượt của lúachiêm, làng nối làng, ruộng tiếp ruộng, của hai câu trước, tác giả rút ra câu

khái quát nội dung toàn đoạn : Cuộc sống nơi đây có một cái gì mặn mà, ấm áp

Đoạn văn song song : Các câu trong đoạn đều có tầm quan trọng như

nhau trong việc biểu đạt nội dung của toàn đoạn Không câu nào mang ý chính

và có thể khái quát được các câu khác Loại đoạn văn này không có câu chủ đề

Ví dụ : Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran Hoa ngô xơ

xác như cỏ may Lá ngô quắt lại rủ xuống Những bắp ngô đã mập và chắc, chỉ còn chờ tay người đến bẻ mang về.

(SGKTV lớp 4, tập 2, tr.31)

Đoạn văn móc xích : Đoạn móc xích không có câu chủ đề.Trong đoạn

văn, các câu được viết nối tiếp với nhau theo kiểu chuỗi xích : ý câu sau nối tiếp,phát triển ý câu trước và cứ thế nối tiếp nhau đến hết đoạn Cách trình bày nộidung theo cách móc xích này thường tạo ra sự chặt chẽ, logic, liên tục giữa các

ý Tuy nhiên loại đoạn văn này chỉ thích hợp với những đoạn văn ngắn

Trang 28

Ví dụ : Từ những năm 30 của thế kỉ XX, chiếc áo dài cổ truyền thống

được cải tiến dần thành chiếc áo dài tân thời Chiếc áo dài tân thời là sự kết hợp hài hoà giữa phong cách dân tộc tế nhị, kín đáo với phong cách phương Tây hiện đại

(SGK TV lớp 5, tập 2, tr.122)

Ý của câu 1 giới thiệu sự ra đời của chiếc áo dài tân thời ở câu 1 được lặp

lại bằng cụm từ chiếc áo dài tân thời ở câu 2 nhằm làm tiền đề xuất phát cho

việc giới thiệu đặc điểm chiếc áo dài tân thời

Đoạn văn tối giản : Là loại đoạn văn chỉ có một câu.

Ví dụ : Sa Pa là món quà tặng diệu kì mà thiên nhiên dành cho đất nước

ta.

(SGKTV lớp 4, tập II, tr 103)

Đoạn tổng phân hợp : Là loại đoạn văn phối hợp cấu trúc diễn dịch và

cấu trúc quy nạp Ứng với cấu trúc này, đoạn văn có câu chủ đề kép : Câu chủ đềđầu và câu chủ đề cuối đoạn Câu chủ đề cuối đoạn là kết quả suy diễn từ câuchủ đề đầu và các câu triển khai giữa đoạn

Ví dụ : Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời.Trời xanh thẳm, biển

cũng thẳm xanh, như dâng cao, như chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịch nặng nề Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận dữ Như một con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, đăm chiêu, gắt gỏng.

(Trích Biển đẹp, Vũ Tú Nam)

Các câu 2, 3, 4, 5 là sự triển khai cụ thể hoá của câu mở đầu : Biển luôn

thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời Ý câu cuối : Biển như con người được rút ra

từ các ý của các câu 2, 3, 4, 5

Trang 29

Tóm lại việc phân chia đoạn văn theo các tiêu chí khác nhau tùy vào mụcđích sử dụng của người tạo lập văn bản Việc phân chia theo tiêu chí kết cấunhằm mục đích giúp cho học sinh viết văn có mạch lạc và sáng tạo hơn.

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của HS lớp 4 - 5 với việc dạy học văn miêu tả

Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên HS được học văn miêu tả Các em gặp nhiềukhó khăn cả về tri thức lẫn phương pháp Do đó việc nắm được đặc điểm tâm lícủa HS sẽ giúp cho giáo viên có những phương pháp thích hợp trong việc giảngdạy trong các giờ học TLV miêu tả

1.2.3.1 Tri giác

Ở lứa tuổi cuối cùng của bậc Tiểu học, quá trình tri giác đã có những biếnđổi quan trọng Tri giác của HS đi từ tính đại thể, ít đi vào chi tiết chuyển sangtính có mục đích, có chủ định Học sinh đã có khả năng nhìn thấy nhiều chi tiếttrong cùng một đối tượng và nắm bắt được những dấu hiệu chủ yếu, quan trọngcủa đối tượng đó Tuy nhiên tri giác ở lứa tuổi này cũng bắt đầu mang tính xúccảm Các em chỉ thích quan sát những sự vật, hiện tượng nào gần gũi, trực tiếpgây xúc cảm, tác động mạnh mẽ đến chúng Do đó sự quan sát của HS còn mangnhiều cảm tính, có khi phiến diện và hời hợt

Văn miêu tả là kết quả dễ thấy nhất, trực tiếp nhất của quan sát Quan sátcàng tinh vi, thấu đáo, bài viết sẽ đặc sắc, hấp dẫn Quan sát hời hợt, phiến diệnthì bài viết sẽ khô khan, nông cạn Quan sát còn là một hoạt động tư duy cầnthiết giúp trẻ nhận thức được thế giới xung quanh Vì vậy kỹ năng quan sát luôn

là một kỹ năng quan trọng trong chương trình dạy học văn miêu tả Thông quacác giờ rèn luyện kĩ năng quan sát trong chương trình, sự quan sát của HS ngàycàng trở nên tỉ mỉ, sâu sắc với những mục đích rõ ràng hơn HS đã có khả năng

Trang 30

phân biệt, phán đoán và hệ thống hoá các sự vật được quan sát để diễn đạt chínhxác những điều quan sát Quan sát tốt chẳng những giúp HS tích luỹ vốn sống,

mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên ở trẻ

1.2.3.2 Tư duy

Tư duy của học sinh các lớp cuối Tiểu học đã thoát ra khỏi tính chất trựctiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát Các em đã có thể phântích đối tượng mà không cần đến những hành động thực tiễn đối với đối tượng,cũng như có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác của đốitượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng thành một hệ thống nhất định Tuynhiên trẻ vẫn khó khăn khi tiến hành các thao tác tổng hợp

Văn miêu tả đem lại cho trẻ cái nhìn mới mẻ về thế giới khách quan.Thông qua hoạt động trong các giờ học văn miêu tả như đọc, phân tích đề bài,quan sát, tìm ý, viết đoạn, sửa chữa bài,… tư duy của trẻ cuối cấp dần tách rakhỏi tri giác trực tiếp và mang dần tính trừu tượng Những thao tác logic đầu tiênthay thế cho trực giác, cho phép trẻ có khả năng phán đoán, suy luận và nhậnthức thế giới một cách khách quan hơn Cùng một lúc, trẻ có thể vừa tìm thấy cáigiống nhau và khác nhau của những đối tượng tri giác, tách chúng ra khỏi cácdấu hiệu không bản chất để làm nên sự khái quát hoá đúng đắn Những tài liệutrực quan của giờ văn miêu tả cũng là một chỗ dựa vững chắc để HS có thểchứng minh, lập luận vấn đề một cách dễ dàng

1.2.3.3 Tưởng tượng

Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gầnhiện thực hơn Các em học sinh lớp 4, 5 đã có khả năng dùng ngôn ngữ để nhào

Trang 31

nặn, gọt rũa những hình tượng cũ , sáng tạo ra những hình tượng mới.Tuy nhiêncác chi tiết, hình ảnh tưởng tượng của trẻ đôi khi còn nghèo nàn, tản mạn.

Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằngngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Đọc và học văn miêu tả, các em sẽ đếnđược thế giới của tuổi thơ, thế giới của sự tưởng tượng và sáng tạo Các em sẽđược tự do sáng tạo ra các ý tưởng, hình ảnh ưa thích mà không bị người lớn cho

là nói dối Chương trình dạy văn miêu tả sẽ giúp trẻ biến hình ảnh tưởng tượngban đầu còn tản mạn bằng những hình ảnh trọn vẹn, chính xác, rõ ràng, mạch lạchơn Nhờ đó, trẻ có thể viết được những câu văn, đoạn văn, hay bài văn sinhđộng, đầy cảm xúc và chân thật

1.2.3.4 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và viết của trẻ

Ngôn ngữ của trẻ Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từvựng Vốn từ của các em tăng lên đáng kể từ kiến thức ở các môn học trong nhàtrường và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng pháttriển : từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát, trừu tượng nghĩacủa từ Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bàikhoá Việc hiểu nghĩa bóng còn khó khăn với trẻ Các em thường sử dụng chúngmột cách tuỳ tiện khi chưa hiểu hết nội dung Ngoài ra ở lứa tuổi này, HS đã nắmđược một số quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và viết nhưng việc vận dụng vàongôn ngữ nói và viết chưa thuần thục, còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết Từ

Trang 32

chỗ hiểu nghĩa từ ngữ chưa chính xác, nắm ngữ pháp chưa chắc, nên khi viết các

em còn dùng từ sai, viết câu chưa đúng, không biết chấm câu,…

Ngôn ngữ góp phần làm cho bài văn miêu tả thêm sinh động, tạo hình.Học văn miêu tả, học sinh sẽ cơ hội tích lũy, mở rộng thêm vốn từ Thông quacác ngữ liệu trong bài văn miêu tả, thông qua các tiết quan sát, tìm ý, các bài họccủa tiết tập đọc, luyện từ và câu, học sinh sẽ biết cách chọn lựa từ ngữ thích hợp,vận dụng được các quy tắc ngữ pháp về câu, đoạn, các từ trái nghĩa, gần nghĩa,các phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, để viết ra những đoạn văn, bài văn miêu tả cósức gợi hình, gợi cảm lớn

Từ những đặc điểm vừa nêu ở trên, chúng ta thấy rằng hoạt động nhậnthức của học sinh lớp 4 - 5 đã có những bước phát triển quan trọng Chính sựphát triển này là điều kiện thích hợp giúp cho trẻ dễ dàng tiếp xúc với thể loạivăn miêu tả và vận dụng chúng trong hoạt động giao tiếp Do đó, trong dạy họcvăn miêu tả, GV cần chú ý đến đặc điểm tâm lí về tri giác, tư duy, tưởng tượng,ngôn ngữ để có những biện pháp thích hợp cho quá trình dạy và học văn miêu tảcho HS lớp 4 - 5

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Văn miêu tả trong trường Tiểu học

1.3.1.1 Nội dung, chương trình văn miêu tả ở trường Tiểu học

Trong chương trình TLV lớp 4 - 5, học sinh được trang bị kiến thức cầnthức cần thiết về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Các kiến

thức này được cung cấp qua các nội dung : Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập

quan sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài

Trang 33

viết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu

tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả người

Ngoài ra nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4, 5, còn có thêm cả nhữngkiến thức lí thuyết sơ giản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phươngpháp làm bài của từng kiểu văn miêu tả Chương trình nhấn mạnh yếu tố thựchành, coi trọng việc rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn

HS được học cách viết đoạn văn với nhiều nội dung và nhiều kiểu khác nhau ởmột số dạng bài miêu tả các đối tượng quen thuộc, gần gũi với học sinh Một khi

kĩ năng xây dựng đoạn văn thành thạo, HS sẽ chủ động, tự tin hơn khi xây dựngđược một văn bản miêu tả hoàn chỉnh

1.3.1.2 Nội dung dạy học đoạn văn miêu tả

2.a Chương trình dạy học viết đoạn văn miêu tả

Bảng 1-1 : Nội dung dạy học đoạn văn trong chương trình TLV miêu tả

Tả đồ

17 Đoạn văn trong bài miêu tả đồ vật 1

17 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật 1

19 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn

22,23 Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối 2

23 Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối 1

24 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối 1

25 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn 1

Trang 34

miêu tả cây cối

26 Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn

Tả con

vật

BỐN

31,32 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật 2

32 Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong văn

13 Luyện tập tả người (tả ngoại hình) 1

19 Luyện tập tả người (Dựng đoạn mở bài) 1

19 Luyện tập tả người (dựng đoạn kết bài) 1

2.b Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng của việc viết đoạn văn ở Tiểu học

Tả đồ vật

Đề bài

- Viết đoạn tả bao quát chiếc bút

- Viết đoạn tả hình dáng bên ngoài và bên trong chiếc cặp của em

- Viết đoạn mở bài (trực tiếp và gián tiếp) cho bài văn miêu tả cái bàn họccủa em

- Viết đoạn mở bài theo kiểu gián tiếp và đoạn kết bài theo kiểu mở rộngcho đề bài : tả một đồ dùng học tập của em

Trang 35

- Viết đoạn kết bài cho một trong các đề bài : tả cái thước kẻ, tả cái bàn học

ở lớp hoặc ở nhà em, tả cái trống trường em

Yêu cầu cần đạt

- Nhận biết cấu tạo, chức năng của đoạn văn trong văn bản (đoạn văn thuộcphần nào trong văn miêu tả), nội dung miêu tả của từng đoạn, hình thứcthể hiện giúp nhận biết đoạn văn ; tìm được các hình ảnh nhân hoá, sosánh trong bài

- Viết được đoạn văn tả bao quát, tả hình dáng bên ngoài, tả đặc điểm bêntrong của đồ vật quen thuộc

- Nắm vững các cách mở bài trực tiếp và gián tiếp, kết bài mở rộng vàkhông mở rộng để viết được đoạn mở bài (trực tiếp, gián tiếp) ; kết bài(mở rộng và không mở rộng) cho bài văn miêu tả đồ vật

Tả cây cối

Đề bài

- Viết đoạn văn tả lá, thân, gốc của một cây mà em thích

- Viết đoạn văn tả loài hoa, thứ quả mà em thích

- Viết đoạn văn nói về lợi ích của một loài cây mà em biết

- Viết hoàn chỉnh bốn đoạn văn miêu tả cây chuối

- Viết đoạn mở bài giới thiệu chung về cây mà em định tả

- Viết đoạn kết bài mở rộng cho một trong các đề bài : tả cây tre ở làng quê,

tả cây tràm ở quê em, tả cây đa cổ thụ ở đầu làng

Yêu cầu cần đạt

- Nắm được đặc điểm, nội dung và hình thức của đoạn văn trong bài vănmiêu tả cây cối

Trang 36

- Viết được đoạn văn tả ngắn tả bộ phận hoặc lợi ích của cây ăn quả, cây cóhoa hoặc cây bóng mát.

- Vận dụng những hiểu biết về đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối đãhọc để viết được một số đoạn văn (còn thiếu ý) cho hoàn chỉnh

- Nắm vững cách mở bài trực tiếp và gián tiếp ; kết bài mở rộng và không

mở rộng để viết được đoạn mở bài (trực tiếp, gián tiếp) ; kết bài (mở rộng

và không mở rộng) cho bài văn tả cây cối

Tả con vật

Đề bài

- Sắp xếp các câu văn tả hình dáng con chim gáy thành đoạn văn

- Viết đoạn văn có chứa câu mở đoạn : “Chú gà nhà em đã ra dáng một chú

gà trống đẹp”

- Viết đoạn văn miêu tả ngoại hình và hoạt động của con vật mà em yêuthích

- Viết đoạn mở bài theo kiểu gián tiếp cho bài văn tả con vật mà em thích

- Viết đoạn kết bài theo kiểu mở rộng cho bài văn tả con vật mà em thích

- Viết được đoạn văn tả ngoại hình, hoạt động của một con vật yêu thích

- Viết được đoạn mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng cho bài văn tả con vậtyêu thích

Tả cảnh

Trang 37

Đề bài

- Dựa vào dàn ý đã lập, viết đoạn văn tả cảnh buổi sáng (hoặc trưa, chiều)trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng,nương rẫy)

- Chọn một phần trong dàn ý tả cơn mưa, viết thành một đoạn văn

- Viết một đoạn văn theo dàn ý của bài văn tả ngôi trường của em

- Viết câu mở đoạn cho một trong hai đoạn văn của bài văn tả cảnh TâyNguyên theo ý em

- Dựa vào dàn ý đã lập, viết đoạn văn tả cảnh sông nước, cảnh đẹp ở địaphương em

- Viết một đoạn mở bài gián tiếp và một đoạn kết bài theo kiểu mở rộng chobài văn tả cảnh thiên nhiên ở địa phương em

Yêu cầu cần đạt

- Phát hiện những hình ảnh đẹp trong bài văn tả cảnh ; biết lựa chọn nhữngchi tiết nổi bật của cảnh

- Xác định được phần mở bài, thân bài, kết bài của đoạn văn, hiểu mối liên

hệ về nội dung giữa các câu và biết cách viết câu mở đoạn

- Biết chuyển một phần dàn ý thành đoạn văn tả cảnh hoàn chỉnh có chi tiết

và hình ảnh hợp lí, nêu rõ một số đặc điểm nổi bật, trình tự miêu tả

- Dựa vào dàn ý thân bài viết được đoạn văn tả cảnh đẹp ở địa phương

- Nhận biết và phân biệt được cách viết hai kiểu mở bài (trực tiếp gián tiếp),hai cách kết bài (mở rộng và không mở rộng) ; viết được đoạn mở bài giántiếp, đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả cảnh thiên nhiên ở địa phương

Tả người

Đề bài

Trang 38

- Dựa vào dàn ý em đã lập ở bài trước, hãy viết một đoạn văn tả ngoại hìnhmột người em thường gặp.

- Viết một đoạn văn tả hoạt động của một người mà em yêu mến

- Dựa vào dàn ý đã lập, hãy viết một đoạn văn tả hoạt động của bạn nhỏhoặc em bé

tả của hai khối lớp 4, 5) được phân bổ qua 2 kiểu bài : Hình thành kiến thức mới

và luyện tập Nếu như trước đây chương trình CCGD không dạy lí thuyết vềđoạn văn miêu tả thì chương trình hiện hành đã cung cấp cho các em một số kiếnthức sơ đẳng về khái niệm đoạn văn, cấu tạo, đặc điểm, hình thức thể hiện, cáchnhận biết một đoạn văn miêu tả Bài lý thuyết TLV thường có 3 phần : nhận xét,ghi nhớ và phần luyện tập Phần nhận xét đưa ra hệ thống câu hỏi sau đoạn vănmiêu tả mẫu, nhằm mục đích giúp học sinh phân tích ngữ liệu để rút ra các kiếnthức cần ghi nhớ về khái niệm, các quy tắc kinh nghiệm khi viết đoạn văn miêu

tả Phần ghi nhớ chỉ là kết luận rút ra một cách tự nhiên trên cơ sở những hiểubiết có được ở phần nhận xét Phần luyện tập là một tổ hợp bài tập nhằm củng cốlại kiến thức đã học và vận dụng những kiến thức này vào việc xây dựng một

Trang 39

đoạn văn miêu tả Thường xuất hiện trong phần luyện tập là hai loại bài : bài tậpnhận diện và bài tập vận dụng Bài tập nhận diện giúp học sinh nhận ra nội dung,đặc điểm các kiểu đoạn văn cần miêu tả Bài tập vận dụng tạo điều kiện cho họcsinh tạo lập đoạn văn theo theo nhiều cách khác nhau trước một đề bài, một gợi

ý, một tình huống cụ thể

Ngoài ra, chương trình còn xuất hiện thêm nhóm bài tập kiểm tra, điềuchỉnh Nhóm bài tập này nhằm mục đích giúp học sinh tự đánh giá, sửa chữa lạibài viết của mình sau khi đã đối chiếu với mục đích yêu cầu đặt ra khi miêu tả

Như vậy, những đổi mới chương trình SGK hiện hành đã giúp cho họcsinh cải thiện phần nào kĩ năng viết văn so với những chương trình SGK trướcđây Thông qua hệ thống các bài hình thành kiến thức cũng như bài luyện tậpthực hành, các dạng bài tập đa dạng trong SGK, học sinh được rèn kĩ năng viếtđoạn văn miêu tả đơn giản, gần gũi với lứa tuổi của các em

1.3.2 Thực trạng về việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở trường Tiểu học

1.3.2.1 Thực trạng về việc nắm vững các yêu cầu giảng dạy TLV văn miêu tả nói chung và yêu cầu giảng dạy các tiết rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả nói riêng

Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả là một trong những vấn đề trọng tâm vàcần thiết trong việc dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4 - 5 Việc rèn luyện một kĩnăng viết bài văn đầy đủ có thể bắt đầu từ việc rèn luyện xây dựng đoạn vănhoàn chỉnh Một khi việc viết đoạn văn thành thạo, giáo viên có thể tiến lên rènluyện cho học sinh xây dựng một văn bản hoàn chỉnh

Trang 40

Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển tư duy, tình cảm, ngônngữ của văn miêu tả với HS ; tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết đoạn vănmiêu tả, nhiều năm qua Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã có nhiều biện pháp giúpnâng cao hiệu quả của việc dạy văn miêu tả trong trường Tiểu học Thông quacác chu kì bồi dưỡng thường xuyên, các buổi tập huấn về chương trình SGK năm

2000, GV được bồi dưỡng về mặt kiến thức lẫn phương pháp cần thiết cho việcgiảng dạy các tiết học về văn miêu tả Trong đó, kĩ năng viết đoạn văn miêu tảluôn là trọng tâm bồi dưỡng hàng đầu Tuy nhiên trong thực tế dạy học văn miêu

tả, nhất là những tiết học dành cho việc rèn kĩ năng viết đoạn văn, hoạt động dạy

và học còn diễn ra khá sơ sài, qua loa Kĩ năng viết đoạn, bài của HS còn rất yếu.Trong năm 2011-2012, chúng tôi đã tiến hành, điều tra, khảo sát thực trạng ở 34giáo viên thuộc các địa bàn quận 4, 5, 10 về việc nắm vững các yêu cầu về giảngdạy các tiết rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả thu được kết quả như sau :

Bảng 1-2 : Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả nói chung và yêu cầu giảng dạy ở các tiết rèn kĩ năng viết đoạn nói riêng

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

3 Nắm được đặc điểm tâm lí HS cần cho

4 Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm

Ngày đăng: 21/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên), Phan Phương Dung, Vũ Thị Kim Hoa (1996), Tiếng Việt- Tài liệu đào tạo Giáo viên, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt-Tài liệu đào tạo Giáo viên
Tác giả: Lê A (chủ biên), Phan Phương Dung, Vũ Thị Kim Hoa
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 1996
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (tập 1&2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (tập 1&2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4 (tập 1&2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 4
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5 (tập 1&2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học (lớp 4), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng cácmôn học ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học (lớp 5), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng cácmôn học ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
8. Hoàng Hòa Bình (1998), Dạy văn cho học sinh Tiểu học, NXB Giáo dục 9. Trần Đình Châu, Trần Thị Thu Thuỷ (2011), Dạy tốt, học tốt ở Tiểu họcbằng bản đồ tư duy, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh Tiểu học", NXB Giáo dục9. Trần Đình Châu, Trần Thị Thu Thuỷ (2011), "Dạy tốt, học tốt ở Tiểu học"bằng bản đồ tư duy
Tác giả: Hoàng Hòa Bình (1998), Dạy văn cho học sinh Tiểu học, NXB Giáo dục 9. Trần Đình Châu, Trần Thị Thu Thuỷ
Nhà XB: NXB Giáo dục9. Trần Đình Châu
Năm: 2011
10.Lê Ngọc Điệp (2011), Rèn kĩ năng Tập làm văn lớp 4, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng Tập làm văn lớp 4
Tác giả: Lê Ngọc Điệp
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
Năm: 2011
11.Lê Ngọc Điệp (2012), Rèn kĩ năng Tập làm văn lớp 5, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng Tập làm văn lớp 5
Tác giả: Lê Ngọc Điệp
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
Năm: 2012
12.TS. Nguyễn Thị Hạnh &TS. Trần Thị Thu Mai (2009), Tâm lí Tiểu học và Tâm lí học Sư Phạm Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí Tiểu học vàTâm lí học Sư Phạm Tiểu học
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Hạnh &TS. Trần Thị Thu Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
13.Đỗ Kim Hảo, Trần Huy Thông (2006), Những bài văn tự sự và miêu tả lớp 5, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài văn tự sự và miêu tả lớp5
Tác giả: Đỗ Kim Hảo, Trần Huy Thông
Nhà XB: NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2006
14.Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2007), Giáo trình Tâm lí học Tiểu học, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhTâm lí học Tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2007
15.Trần Mạnh Hưởng (1996), Chuyên đề dạy Tập làm văn lớp 4 - 5, Vụ Giáo dục Tiểu học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy Tập làm văn lớp 4 - 5, Vụ Giáodục Tiểu học
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
16.Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh (2005), Bồi dưỡng học sinh Giỏi tiếng Việt 4,NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh Giỏi tiếngViệt 4
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
17.Trần Mạnh Hưởng (2011), Luyện kĩ năng Tập làm văn lớp 5,NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện kĩ năng Tập làm văn lớp 5
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: NXB Giáodục Việt Nam
Năm: 2011
18.Hoàng Đức Huy (2005), Phương pháp Tập làm văn, NXB Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp Tập làm văn
Tác giả: Hoàng Đức Huy
Nhà XB: NXB Tổng hợp ĐồngNai
Năm: 2005
19.Hoàng Đức Huy (2005), Phương pháp Tập làm văn miêu tả 4, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp Tập làm văn miêu tả 4
Tác giả: Hoàng Đức Huy
Nhà XB: NXB ĐàNẵng
Năm: 2005
20.Nguyễn Ly Kha (2009), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Ly Kha
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
21.Trần Thị Hiền Lương (2006), Vở luyện làm văn lớp 5, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vở luyện làm văn lớp 5
Tác giả: Trần Thị Hiền Lương
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1-1 : NỘI DUNG DẠY HỌC ĐOẠN VĂN TRONG CHƯƠNG - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
BẢNG 1 1 : NỘI DUNG DẠY HỌC ĐOẠN VĂN TRONG CHƯƠNG (Trang 5)
Bảng 1-2 : Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả nói chung và yêu cầu giảng dạy ở các tiết rèn kĩ năng viết đoạn nói riêng - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1 2 : Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả nói chung và yêu cầu giảng dạy ở các tiết rèn kĩ năng viết đoạn nói riêng (Trang 40)
Bảng 1-3 : Thực trạng rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1 3 : Thực trạng rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 (Trang 43)
Hình 2-1: Cấu trúc đoạn diễn dịch - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hình 2 1: Cấu trúc đoạn diễn dịch (Trang 65)
Hình 2-2 : Cấu trúc đoạn quy nạp - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hình 2 2 : Cấu trúc đoạn quy nạp (Trang 67)
Hình 2-4 : Cấu trúc đoạn tổng phân hợp - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Hình 2 4 : Cấu trúc đoạn tổng phân hợp (Trang 68)
Bảng 3-5 : Kết quả lĩnh hội tri thức của HS qua các bài thử nghiệm - Rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4   5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 3 5 : Kết quả lĩnh hội tri thức của HS qua các bài thử nghiệm (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w