1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Huy Động Vốn Để Tài Trợ Các Dự Án Đầu Tư Tại Tp. Hồ Chí Minh Của NH TMCP ĐT Và PTVN

98 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

  • DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

  • MỞ ĐẦU

    • 1.Tính cấp thiết của đề tài

    • 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

    • 3. Phương pháp nghiên cứu:

    • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

    • 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

    • 6. Nội dung chính của đề tài

  • CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂTÀI TRỢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM

    • 1.1. KHÁI NIỆM VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

      • 1.1.1. Vốn của ngân hàng thương mại

      • 1.1.2. Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại

        • 1.1.2.1. Vốn chủ sở hữu

        • 1.1.2.2. Vốn huy động

        • 1.1.2.3. Vốn đi vay

    • 1.2. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

      • 1.2.1. Khái niệm vốn huy động trong NHTM:

      • 1.2.2 Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của NHTM

      • 1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM

      • 1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM

        • 1.2.4.1. Nhân tố chủ quan

        • 1.2.4.2. Nhân tố khách quan

    • 1.3. MỐI LIÊN HỆ GIỮA HUY ĐỘNG VỐN VÀ TÀI TRỢ CÁC DỰ ÁNĐẦU TƯ

      • 1.3.1. Khái niệm dự án, dự án đầu tư

        • 1.3.1.1. Dự án là gì?

        • 1.3.1.2 Dự án đầu tư

      • 1.3.2. Hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với các dự án đầu tư

        • 1.3.2.1 Sự cần thiết của việc cho vay các dự án đầu tư

        • 1.3.2.2 Đặc điểm của hoạt động tài trợ dự án đầu tư

        • 1.3.2.3 Các hình thức tài trợ dự án

      • 1.3.3 Mối quan hệ giữa huy động vốn và tài trợ các dự án đầu tư

        • 1.3.3.1 Tính tất yếu của việc huy động vốn cho tài trợ dự án

        • 1.3.3.2 Tác động của tài trợ dự án đối với nguồn vốn huy động

      • 1.3.4. Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả công tác huy động vốn để tài trợ dự ánđầu tư của Ngân hàng

        • 1.3.4.1 Khối lượng vốn lớn, tăng trưởng ổn định

        • 1.3.4.3 Vốn huy động/tổng nguồn vốn

        • 1.3.4.4 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn vay

        • 1.3.4.5 Chi phí huy động

    • 1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNGHUY ĐỘNG VỐN

    • 1.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÀI TRỢCÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

    • 1.6 BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐNĐỂ TÀI TRỢ DỰ ÁN Ở VIỆT NAM

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG I

  • CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ DỰ ÁN ĐẦU TƯTẠI TP.HCM CỦA BIDV CN SGD2

    • 2.1. GIỚI THIỆU VỀ BIDV CN SGD2

      • 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV CN SGD2

        • 2.1.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam

        • 2.1.1.2. Quá trình thành lập và phát triển của Chi nhánh Sở giao dịch 2-Ngânhàng Đầu tư và phát triển (CN SGD2 BIDV)

      • 2.1.2. Các sản phẩm dịch vụ tại BIDV CN Sở giao Dịch 2

        • 2.1.2.1 Sản phẩm quản lý tiền

        • 2.1.2.2 Sản phẩm tín dụng

        • 2.1.2.3 Dịch vụ thanh toán quốc tế

        • 2.1.2.4 Sản phẩm kinh doanh ngoại hối

        • 2.1.2.5 Dịch vụ ngân hàng hiện đại

      • 2.1.3. Cơ cấu tổ chức của BIDV-CN SGD2

      • 2.1.4. Tình hình sử dụng lao động

    • 2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠITPHCM CỦA BIDV CN SGD 2

      • 2.2.1 Tình hình hoạt động huy động vốn của BIDV-CN SGD2 từ 2009-2011

        • 2.2.1.1. Đánh giá các chỉ tiêu quy mô giai đoạn 2009-2011

        • 2.2.1.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động của BIDV CN SGD2 từ 2009-2011:

      • 2.2.2 Hoạt động tài trợ dự án

        • 2.2.2.1 Chỉ tiêu cân đối vốn tài trợ dự án giai đoạn từ năm 2009-2011

        • 2.2.2.2. Một số dự án tại Tp.Hồ Chí Minh đang được BIDV CN SGD2 tài trợ

    • 2.3. PHÂN TÍCH SWOT HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA BIDV

      • 2.3.1. Thuận lợi

      • 2.3.2. Khó khăn

      • 2.3.3. Cơ hội

      • 2.3.4. Thách thức

    • 2.4. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ DỰÁN TẠI BIDV CN SGD2

      • 2.4.1 Những kết quả đạt được

      • 2.4.2 Những hạn chế

      • 2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế

    • 2.5 Khảo sát mức độ trung thành của khách hàng đến gửi tiền tại BIDV CNSGD2:

      • 2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

      • 2.5.2 Đối tượng khảo sát

      • 2.5.3 Quy trình khảo sát

      • 2.5.4 Mã hóa dữ liệu

      • 2.5.5. Kết quả chạy mô hình SPSS

      • 2.5.6. Nhận xét về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trung thành của khách hàngđến gửi tiền tại BIDV CN SGD2

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG II

  • CHƯƠNG 3GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ CÁCDỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI TP.HCM CỦA BIDV CN SGD2

    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TPHCM

    • 3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ TÀI TRỢDỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN

      • 3.2.1. Định hướng công tác huy động vốn

      • 3.2.2 Định hướng tài trợ dự án đầu tư trên TPHCM

    • 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ DỰ ÁNĐẦU TƯ TẠI TPHCM:

      • 3.3.1. Giải pháp về đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn

      • 3.3.2. Phân nhóm và mở rộng đối tượng khách hàng

      • 3.3.3. Cải cách công tác quản trị: nguồn lực, công nghệ

        • 3.3.3.1. Giải pháp về công nghệ

        • 3.3.3.2. Giải pháp về nhân sự

      • 3.3.4. Giải pháp về công tác Marketing

      • 3.3.5. Cải cách công tác huy động vốn, chính sách huy động vốn

        • 3.3.5.1. Áp dụng chính sách lãi suất huy động hợp lý

        • 3.3.5.2. Giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho huy động vốn

      • 3.3.6 Giải pháp tăng cường hoạt động tài trợ cho Dự án đầu tư

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG III

  • KẾT LUẬN CHUNG

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHIẾU THU THẬP Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

Nội dung

Khái niệm vốn huy động trong NHTM: Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổchức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các ng

KHÁI NIỆM VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Vốn của ngân hàng thương mại

Vốn của ngân hàng thương mại gồm vốn tự có của ngân hàng và nguồn vốn huy động từ những người có tiền nhàn rỗi tạm thời Họ gửi tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau như nhận lãi, thanh toán, chi tiêu hoặc sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Đây là sự chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng, và số tiền mà ngân hàng trả lãi hay cung cấp dịch vụ chính là giá trị của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó Nhờ nguồn vốn này, ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như cho vay, bảo lãnh, cho thuê và các dịch vụ tài chính khác Nói chung, vốn ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định các chức năng của ngân hàng thương mại.

Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của một Ngân hàng thương mại bao gồm hai phần : Vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực kinh doanh nên các nguồn hình thành nên vốn hoạt động của Ngân hàng thương mại có những sự khác biệt, được xem xét cụ thể qua các nguồn vốn của ngân hàng sau đây:

1.1.2.1 V ố n ch ủ s ở h ữ u Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, nhà cửa Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.

Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có:

• Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ.

- Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi ngân hàng thương mại được thành lập Vốn điều lệ có thể được chỉnh tăng trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

- Quy mô vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại tùy vào quy mô của ngân hàng với số lượng chi nhánh nhiều hay ít và địa bàn hoạt động ở thành thị hay nông thôn, và không được nhỏ hơn vốn pháp định quy định cho ngân hàng đó Đây là số vốn tối thiểu theo luật định mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động.

Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro Được trích từ lợi nhuận sau thuế hằng năm của ngân hàng Việc hình thành các quỹ làm tăng vốn tự có của ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh.

• Vốn coi như tự có:

Bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng, đây là những nguồn vốn đã được phân bổ cho các mục đích chi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng đến, phản ánh dư thừa vốn ngắn hạn và khả năng huy động khi cần thiết để bảo đảm thanh khoản và hoạt động tài chính của ngân hàng.

Ví dụ : Lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùng chưa sử dụng đến như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định…

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãiđúng hạn cho người gửi. Đầu tiên là tiền gửikhông kỳ hạn:

Đây là loại tiền gửi có thể rút bất cứ lúc nào, người gửi không nhắm tới lãi suất mà chủ yếu tìm kiếm sự an toàn cho khoản tiền và quyền sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng.

Thứ hai là tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội:

Đa số doanh nghiệp và tổ chức xã hội thực hiện các hoạt động thu chi theo chu kỳ xác định Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất từ số tiền nhàn rỗi Tiền gửi có kỳ hạn không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán, vì khi cần tiền phải đến ngân hàng rút tiền, nhưng lại có lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.

Thứ ba là tiền gửi tiết kiệm của dân cư :

Trong cộng đồng dân cư, vẫn có những người sở hữu một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi và tìm cách bảo toàn cũng như sinh lời từ số tiền đó Họ gửi tiền vào ngân hàng để thực hiện mục tiêu an toàn tài chính và gia tăng giá trị vốn Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm ghi rõ thời hạn gửi và hình thức trả lãi đã thỏa thuận với ngân hàng, giúp quản lý dòng tiền và kế hoạch tài chính cá nhân một cách minh bạch.

Cuối cùng là tiền gửi của các ngân hàng khác: Đây là nguồn tiền gửi có qui mô nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.

Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc

Một là vay ngân hàng Nhà nước (ngân hàng trung ương): Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu.

Vay ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng là hoạt động cho vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng với nhau hoặc giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Các khoản vay ngắn hạn này giúp bổ sung nguồn dự trữ, cân đối thanh khoản và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính, đồng thời đáp ứng nhanh nhu cầu vốn ngắn hạn trong bối cảnh biến động thị trường.

Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng nhà nước.

Ba là vay từ các công ty: Ngân hàng thương mại có thể vay trực tiếp từ các công ty bằng hình thức:

Vay ngắn hạn bằng hợp đồng mua lại (repo) là công cụ tài chính cho phép ngân hàng bán tín phiếu kho bạc đang nắm giữ cho các tổ chức kinh tế đang tạm thời thiếu tiền mặt và kèm theo cam kết mua lại số tín phiếu đó sau vài ngày hoặc vài tuần với mức giá cao hơn Về bản chất, repo là hình thức vay nợ ngắn hạn của ngân hàng, thường không quá hai tuần, với tín phiếu kho bạc làm tài sản thế chấp để đảm bảo quyền lợi cho bên cho vay.

Ở các nước phát triển, một công ty mẹ hoặc tập đoàn có thể là chủ của một hoặc nhiều ngân hàng thương mại Khi ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ để vay vốn từ thị trường, nó sẽ chịu sự quản lý và ràng buộc của Ngân hàng Nhà nước (NHTW) về dự trữ bắt buộc, lãi suất và thủ tục Trong khi đó, công ty mẹ không bị ràng buộc như ngân hàng và có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu hoặc thương phiếu, sau đó chuyển vốn huy động được về cho ngân hàng để cho vay lại Nhờ cơ chế này, các công ty mẹ của ngân hàng thường đóng vai trò huy động vốn cho nhóm bằng cách cấp vốn và cho vay lại cho các ngân hàng, từ đó tối ưu hóa nguồn vốn ngoài ngân sách và linh hoạt hơn trước các quy định của NHTW.

Bốn là vay từ thị trường tài chính trong nước:

Các ngân hàng thương mại có thể vay từ thị trường tài chính thông qua phát hành các chứng từ có giá như:

HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG

Khái niệm vốn huy động trong NHTM

Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác…Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại , nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của NHTM: - 9 - 1.2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Vốn huy động có một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và của nền kinh tế.

- Đối với nền kinh tế :

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bị chi phối bởi các quy luật như cạnh tranh, cung—cầu và giá trị Để tồn tại và cạnh tranh trên thương trường, doanh nghiệp phải liên tục đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Điều này chỉ đạt được khi doanh nghiệp huy động đủ vốn và sử dụng có hiệu quả đúng mục đích đầu tư Nguồn vốn tự có thường không đáp ứng được nhu cầu vốn, buộc doanh nghiệp phải đi vay để bổ sung cho hoạt động đầu tư Sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính cùng hệ thống ngân hàng thương mại khiến việc vay vốn trở nên dễ dàng hơn, giúp doanh nghiệp tiếp cận nhiều nguồn vốn khác nhau với chi phí tiết kiệm và thủ tục thuận lợi.

Trong nhiều tình huống, Chính phủ vẫn phải huy động một lượng vốn nhất định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu và duy trì hoạt động của hệ thống công quyền Ngân sách Nhà nước là nguồn vốn chủ lực cho kế hoạch chi tiêu, nhưng nó không phải lúc nào cũng đảm bảo đủ mạnh để đáp ứng mọi yêu cầu chi phí Việc in thêm tiền hay tăng thuế có thể gây bất ổn cho toàn bộ nền kinh tế và kéo theo các hệ lụy xã hội mà các nhà hoạch định chính sách vĩ mô muốn tránh Vì vậy, lựa chọn tối ưu là tìm kiếm nguồn vốn huy động trong nước và ngoài nước thông qua phát hành các công cụ nợ như trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc để duy trì cân đối chi tiêu mà không làm suy yếu nền kinh tế.

Qua những dẫn chứng trên có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chính sách huy động vốn trong nền kinh tế thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn định tiền tệ Để khai thông nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế chúng ta phải tận dụng tốt lượng vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế thông qua các kênh huy động của ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, và có thể từ ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển Trong đó công tác huy động vốn trong ngân hàng thương mại đóng vai trò quyết định và được chú trọng hơn cả.

Chính sách huy động vốn là một phần quan trọng của nền kinh tế quốc gia, liên quan đến chính sách phân phối thu nhập và ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, đồng thời tác động đến hoạt động tài chính, lạm phát và ổn định tiền tệ Để tiếp sức cho đầu tư và tăng trưởng, nguồn vốn được huy động qua các kênh như ngân sách nhà nước và vốn từ các tổ chức tín dụng, trong đó ngân sách chỉ phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp nhà nước và hiện nay số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm do cổ phần hóa nên nguồn này không còn lớn Bên cạnh đó, huy động vốn còn thông qua tín dụng, cho phép doanh nghiệp huy động trực tiếp hoặc gián tiếp; tuy nhiên phần lớn doanh nghiệp ở nước ta là vừa và nhỏ nên chưa đủ điều kiện để huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán.

Do đó, việc huy động vốn gián tiếp qua kênh ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng.

Việc chú trọng các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần thiết đối với các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế, vì ngân hàng là một trong những thành viên chủ chốt góp phần thúc đẩy quá trình này Đẩy mạnh huy động vốn cho đầu tư phát triển đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay.

Với vai trò là trung gian tín dụng và thanh toán, đồng thời là thủ quỹ của nền kinh tế, Ngân hàng Thương mại (NHTM) đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế Các nguồn vốn huy động được quyết định quy mô và định hướng hoạt động của ngân hàng; nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của ngân hàng thì nguồn vốn huy động lại là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu và có tính quyết định đối với ngân hàng Các nguồn vốn này sau đó được ngân hàng sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ tín dụng và đầu tư.

Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao Ngược lại,với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình Chi phí huyđộng vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành.

Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng Từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được Nếu một ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không được vượt quá một tỷ lệ nhất định vìđiều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng.

Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên côngtác huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.

1.2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Có nhiều cách để chia các phương thức huy động vốn của ngân hàng thương mại, cụ thể như sau:

- Nếu căn cứ theo thời gian: Có thể chia thành huy động ngắn hạn, huy động trung hạn và huy động dài hạn.

 Huy động ngắn hạn là hình thức huy động chủ yếu của ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn (dưới một năm) trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán

Huy động vốn trung hạn là nguồn vốn được huy động qua việc phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ một đến ba năm) Nguồn vốn này được các ngân hàng thương mại huy động và dùng để cho vay trung hạn đối với các doanh nghiệp nhằm đầu tư cho các dự án chiều sâu, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho chính doanh nghiệp.

Huy động vốn dài hạn là hoạt động huy động vốn từ ngân hàng thương mại trên thị trường vốn, có tính ổn định cao và thời hạn từ ba năm trở lên Với nguồn vốn này, ngân hàng thương mại có thể sử dụng để đẩy mạnh các hoạt động đầu tư phát triển theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Các dự án được ưu tiên bao gồm phục vụ đời sống dân sinh, đổi mới thiết bị công nghệ và xây dựng các nhà máy mới, nhằm tăng trưởng và nâng cao năng lực sản xuất.

- Nếu căn cứ theo đối tượng huy động: Có thể chia thành 3 đối tượng là huy động từ các tổ chức kinh tế, huy động từ các tầng lớp dân cư, vốn vay từ NHNN và các TCTD khác.

Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế thông qua vai trò của ngân hàng thương mại như một trung tâm thanh toán Các NHTM thực hiện mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, từ đó một lượng tiền lớn được đẩy vào hệ thống ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán theo yêu cầu của chủ tài khoản Sự đan xen giữa các khoản phải thu và phải trả khiến hệ thống tài khoản thanh toán luôn hình thành dư tiền gửi ở mức nhất định, trở thành nguồn vốn huy động có chi phí thấp Nếu được khai thác hiệu quả, nguồn vốn này có thể mang lại hiệu quả kinh doanh đáng kể cho hoạt động của ngân hàng thương mại.

Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM

1.2.4.1 Nhân t ố ch ủ quan Đứng ở góc độ bản thân ngân hàng thì những nhân tố chủ quan luôn là những nhân tố đóng vai trò quyết định Có thể kể ra sau:

Chi phí huy động vốn

Lãi suất huy động luôn là vấn đề được các chủ thể kinh tế quan tâm hàng đầu; người gửi tiền muốn lãi suất cao, còn người đi vay lại tìm lãi suất thấp Với vai trò trung gian, ngân hàng đóng vai cầu nối giữa hai bên và phải điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất, đồng thời bảo đảm lợi ích của ngân hàng Trong quá trình huy động vốn, mỗi ngân hàng cố gắng áp dụng mọi biện pháp nhằm tìm nguồn vốn có chi phí huy động bình quân thấp nhất, từ đó sử dụng số vốn này để cho vay với mức lãi suất trên thị trường ở mức chấp nhận được.

Mặt khác, cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân, sự đa dạng hoá trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết Sự đa dạng hoá lãi suất làm cho tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra. Nếu có chính sách lãi suất phù hợp, hiệu quả, ngân hàng sẽ tối thiểu hóa được chi phí trong khi vẫn hoàn thành kế hoạch về nguồn vốn.

Các chi phí khác sau lãi suất là một phần quan trọng trong quá trình huy động vốn Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều chi phí phụ như tiền thưởng cho cán bộ huy động, chi phí in ấn và phát hành, chi phí cơ sở vật chất, chi phí quảng cáo và chi phí giao dịch Mặc dù những chi phí này chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ, nhưng việc tiết kiệm được chúng sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân hàng và nâng cao hiệu quả huy động vốn.

NHTM cần phải xác định rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngân hàng mình nhằm định vị được chỗ đứng hiện tại của ngân hàng, đồng thời có những dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, trong đó phát triển quy mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng.

Quy mô vốn chủ sở hữu đóng vai trò là đệm bảo vệ cho giá trị tài sản của ngân hàng thương mại (NHTM) Để đảm bảo mức độ an toàn tối thiểu, cần thiết lập giới hạn giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động, nhằm tạo ra một khoảng cách an toàn trong hoạt động ngân hàng Mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động cho thấy khi chênh lệch giữa hai nguồn vốn càng lớn thì hệ số an toàn của ngân hàng càng giảm.

- Thương hiệu: đó chính là uy tín của ngân hàng được tạo dựng qua nhiều năm, có đội ngũ lãnhđạo và nhân viên chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình,sáng tạo, thương hiệu của ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến và tin tưởng thì việc huy động vốn sẽ rất thuận lợi Uy tín bao gồm uy tín của ngân hàng trong toàn hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị, ban giám đốc Sự nổi tiếng của ngân hàng là tài sản quý trong công tác huy động vốn vì trong lòng thị trường ngân hàng đã tạo một hình ảnh riêng, khi đó khách hàng sẽ tin tưởng vào ngân hàng, giúp ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động (thực tế khi ngân hàng có tiếng tăm, họ dễ dàng thu hút vốn hơn các ngân hàng khác ngay cả khi lãi suất tiền gửi của ngân hàng đưa ra có thấp hơn).

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường tài chính – ngân hàng và khi các tổ chức tài chính phi ngân hàng được phép huy động vốn, thị phần của ngân hàng truyền thống có thể bị thu hẹp Để thu hút vốn và khách hàng, ngân hàng thương mại (NHTM) cần triển khai các giải pháp và chính sách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhu cầu về chất lượng, đa dạng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, từ đó kích thích nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng Tuy nhiên, khi một sản phẩm ngân hàng được xã hội ưa chuộng, các ngân hàng khác có thể nhanh chóng sao chép và ra mắt sản phẩm tương tự, vì vậy ngân hàng phải luôn đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh để duy trì vị thế trên thị trường.

- Chính sách đãi ngộ nhân viên: Một chính sách khuyến khích nhân viên sẽ tạo động lực cho cả một tập thể đoàn kết và cùng nhau tiến lên Chính sách này không chỉ đánh giá trên tiền lương, thưởng tốt mà còn là môi trường làm việc chuyên nghiệp và cơ hội thăng tiến cho mỗi cá nhân có khả năng Với sự cam kết về chính sách tốt sẽ giữ được nhân viên gắn bó lâu dài và cống hiến hết khả năng cho ngân hàng.

Cơ sở vật chất, kỹ thuật

- Công nghệ: Trong lĩnh vực tài chính đặc biệt là ngân hàng thì công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển hệ thống ngân hàng Một ngân hàng có được hệ thống công nghệ phát triển đồng nghĩa với ưu thế cạnh tranh trong thị trường về tính nhanh nhạy và chính xác Do vậy, ưu tiên phát triển công nghệ là một trong những yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển ngân hàng.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật: một NHTM có trụ sở kiên cố, bề thế, mạng lưới các chi nhánh, điểm giao dịch thuận lợi cùng các trang thiết bị và công nghệ hiện đại sẽ là một trong những yếu tố tạo uy tín cho khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.

Nhân tố khách quan là các yếu tố nằm ngoài ngân hàng, nhưng không có nghĩa là chúng không quan trọng Bất kỳ một ngân hàng nào cũng không được xem nhẹ các yếu tố này vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cấp tín dụng, quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động Đó là các yếu tố như môi trường kinh tế vĩ mô, biến động lãi suất và tỷ giá, thay đổi chính sách pháp lý, cùng với rủi ro thị trường và các yếu tố ngoại cảnh khác có thể tác động đến thanh khoản và lợi suất Việc nhận diện và quản trị nhân tố khách quan giúp ngân hàng thích nghi với biến động, duy trì an toàn vốn và tối ưu hóa danh mục đầu tư.

- Lạm phát: làm giảm sức mua của đồng tiền Lạm phát tác động tiêu cực đến việc huy động vốn của ngân hàng Nó làm xói mòn giá trị sức mua lên mỗi đơn vị tiền tệ Ngân hàng chỉ có thể khắc phục tác động này bằng cách duy trì một mức lãi suất thực dương hoặc đảm bảo bằng một giá trị hiện vật (chẳng hạn như tiền gửi tiết kiệm được đảm bảo bằng vàng).

- Môi trường kinh tế: được hiểu là các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn tiền gửi tại các NHTM Môi trường kinh tế ổn định thì nguồn tiền gửi tại các ngân hàng sẽ được tăng cao Ngược lại, nếu môi trường kinh tế không ổn định, nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được chuyển thành các dạng đầu tư khác có giá trị ổn định và bền vững hơn như vàng, nhà đất

- Sự thay đổi trong chính sách tài chính, tiền tệ và các qui định của Chính phủ, của NHNN cũng gây ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn vốn của các NHTM.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA HUY ĐỘNG VỐN VÀ TÀI TRỢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Khái niệm dự án, dự án đầu tư

Theo Oxford English Dictionary, dự án là một chuỗi các sự kiện liên tiếp được thực hiện trong khung thời gian giới hạn và với ngân sách được xác định nhằm đạt được một mục tiêu duy nhất nhưng được mô tả rõ ràng từ đầu Dự án đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các nguồn lực, quản lý thời gian và chi phí để đảm bảo kết quả cuối cùng đúng như kế hoạch Mục tiêu duy nhất của dự án giúp mọi người tham gia tập trung nỗ lực và có thể đo lường thành công dựa trên kết quả đã xác định.

Theo viện quản trị dự án: Dự án là một nổ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị.

Theo đại bách khoa toàn thư:

-Dự án (Project) là điều người ta có ý định làm hay đặt kế hoạch cho một ý đồ, một quá trình hành động v v

Một dự án là nỗ lực tổng hợp nhằm phối hợp các nhiệm vụ liên quan với nhau, được thực hiện trong giới hạn thời gian và ngân sách, với một mục tiêu được định nghĩa rõ ràng Quản lý dự án tập trung vào sự đồng bộ giữa các hoạt động, tối ưu hóa nguồn lực và kiểm soát rủi ro để đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ và chi phí Quá trình lập kế hoạch, triển khai và đánh giá tiến độ giúp chuyển hóa mục tiêu thành kết quả cụ thể, có thể đo lường được Thành công của dự án còn dựa trên sự phân công trách nhiệm rõ ràng, sự tham gia của các bên liên quan và việc theo dõi, điều chỉnh theo kế hoạch để duy trì sự nhất quán và hiệu quả.

Dự án là tập hợp có tổ chức các hoạt động và quy trình được thiết kế nhằm thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong phạm vi nguồn lực và ngân sách có hạn, đồng thời tuân thủ các thời hạn đã được xác định trước.

Theo Ngân hàng Thế giới, một dự án là tổng thể của các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được một số mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian xác định Dự án không chỉ gồm các hoạt động riêng lẻ mà là một hệ thống các yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau để đảm bảo hiệu quả và tính khả thi của đầu tư Mục tiêu và thời hạn được xác định trước, đồng thời mọi thành phần của dự án được phối hợp nhằm tối ưu hóa nguồn lực, chi phí và kết quả đạt được trong suốt quá trình thực hiện.

Theo Lyn Squire, dự án được hiểu là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có nhằm đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp các giải pháp để tối ưu hóa nguồn lực và đạt được các mục tiêu xã hội cụ thể Dự án phải cân bằng giữa hiệu quả sử dụng nguồn lực, phạm vi công việc, thời gian và chi phí, nhằm tạo ra giá trị thực cho cộng đồng Thành công đến từ việc xác định mục tiêu rõ ràng, lên kế hoạch chi tiết và quản lý ràng buộc một cách bài bản, đồng thời đo lường tác động xã hội mà dự án mang lại Với cách nhìn này, dự án không chỉ là một chuỗi hoạt động riêng lẻ mà là một hệ thống mang lại lợi ích xã hội lớn nhất có thể.

Có quan điểm cho rằng dự án nên tập trung vào việc sử dụng có hiệu quả các đầu vào nhằm đạt được đầu ra phù hợp với mục tiêu cụ thể Đầu vào ở đây là nguồn lao động, vật tư, tiền vốn và đất đai, trong khi đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào Việc tối ưu hóa sử dụng đầu vào được thể hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức và các luật lệ áp dụng.

Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn nhằm tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian xác định, là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các biện pháp quản lý và cấp phép đầu tư, đồng thời là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động và đánh giá hiệu quả của dự án; đặc biệt quan trọng trong việc thuyết phục chủ đầu tư quyết định đầu tư và tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng cấp vốn cho dự án.

Hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với các dự án đầu tư

Các ngân hàng TMCP huy động vốn và cho vay, đặc biệt là cho vay đối với các dự án đầu tư, đóng vai trò là nguồn tài trợ chủ lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Việc tài trợ các dự án đầu tư không chỉ cung cấp nguồn vốn dài hạn mà còn thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện hạ tầng và nâng cao hiệu quả sản xuất, qua đó tạo thêm việc làm cho địa phương Nhờ hoạt động tài trợ này, nền kinh tế khu vực có thể khắc phục khó khăn về vốn và tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp Vì vậy, tài trợ các dự án đầu tư từ ngân hàng thương mại cổ phần mang ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực.

1.3.2.1 S ự c ầ n thi ế t c ủ a vi ệ c cho vay các d ự án đầu tư

Xét về mặt bản chất, việc cho vay dự án đầu tư đã làm nảy sinh một mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này chỉ được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc cùng có lợi Như vậy có thể nói việc tham gia vào quan hệ tín dụng này là hoàn toàn tự nguyện và nó đem lại lợi ích cho cả đôi bên Mặt khác, ngân hàng và các doanh nghiệp (những khách hàng thường xuyên và chủ yếu) là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hai chủ thể này chắc chắn sẽ có những tác động tích cực đối với sự phát triển chung của toang bộ nền kinh tế Như vậy có thể khẳng định rằng việc mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả cho vay dự án đầu tư là cần thiết và khách quan, nó đem lại những lợi ích nhất định cho cả ba chủ thể : Ngân hàng (người cho vay); doanh nghiệp (người đi vay) và nền kinh tế quốc dân. Đối với ngân hàng:

-Trong các tài sản của các ngân hàng thương mại thì khoản mục cho vay bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản mục mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Thu nhập từ tiền cho vay thể hiện dưới dạng lãi tiền vay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn của khoản vay Thời hạn cho vay càng dài thì lãi suất càng cao và do đó thu nhập của ngân hàng càng lớn Chính vì vậy nếu các ngân hàng có thể mở rộng cho vay nhất là cho vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư thì sẽ có điều kiện kiếm lời nhiều hơn Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng các khoản cho vay có thời hạn càng dài thì càng tiềmẩn một tỷ lệ rủi ro cao và đó là lý do vì sao khi mở rộng quy mô các ngân hàng thường chú trọng đến việc nâng cao chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả dự án.

-Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng cũng là một thứ vũ khí cãnh tranh lợi hại của các ngân hàng Khả năng mở rộng các khoản vay dài hạn còn thể hiện tiềm lực vốn của ngân hàng, chất lượng tín dụng cao phần nào thể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ và nhân viên ngân hàng đồng thời việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn đặc biệt là với các dự án đầu tư xin vay của các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh tín dụng ngắn hạn cũng như các dịch vụ ngân hàng khác bởi khi được vay vốn các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị, tăng năng lực sản xuất điều đó khiến cho nhu cầu vốn lưu động lại tăng cao và các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn cũng sẽ tăng lên chắc chắn địa chỉ đầu tiên mà khách hàng tìm đến chính là ngân hàng và ngân hàng đã cho họ vay vẵn là sự lựa chọn được ưu tiên nhất. Đối với doanh nghiệp:

-Trong mỗi nền kinh tế nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp luôn là một đòi hỏi cấp bách Các doanh nghiệp mới được thành lập thì cần vốn để xây dựng cơ sở vật chất; nhà xưởng; kho bãi , mua sắm tài sản cố định và đáp ứng một phần vốn lưu động Các doanh nghiệp đang hoạt động thì luôn có nhu cầu đổi mới trang thiết bị; nâng cao trìnhđộ khoa học, công nghệ; tăng năng lực cạnh tranh; mở rộng sản xuất khi gặp cơ hội thuận lợi Đặc biệt khi các cơ hội đầu tư có khả năng mang lại hiệu quả kể cả trong thời điểm trước mắt cũng như lâu dài thì một nguồn vốn lớn và ổn định sẽ trở nên hết sức cần thiết Tín dụng ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cấp thiết ấy bởi nó có những uy điểm mà các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu không có được.

-Trước hết việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho phép mở rộng quy mô sản xuất trong khi vẫn đảm bảo quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp của mình Điều này sẽ không thể có được nếu nhà kinh doanh thực hiện biện pháp phát hành cổ phiếu để huy động vốn, khi đó quyền lực sẽ được san sẻ cho các cổ đông mới Việc huy động bằng phát hành trái phiếu có thể khắc phục được nhược điểm này song lại vấp phải một vấn đề quan trọng khác đó là sự kém linh hoạt, khi cơ hội kinh doanh xuất hiện đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng chớp lấy song việc phát hành trái phiếu đòi hỏi nhiều thủ tục và điều kiện khắt khe nên mất nhiều thời gian và có thể để lỡ mất cơ hội tốt Tất cả các vấn đề trên có thể được khắc phục nếu doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

-Một ưu điểm nữa của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu là khi sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp sẽ tránh được các chi phí phát sinh như : chi phí phát hành; chi phí bảo lãnh; đăng ký chứng khoán Hơn nữa, có những doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ có thể sẽ không đủ điều kiện huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đối với nền kinh tế:

Với bất kỳ thời kỳ nào, nền kinh tế mỗi quốc gia cũng cần nguồn vốn đầu tư để phát triển Vốn tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình này giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả dự án nhờ yêu cầu an toàn khi cho vay Đối với mỗi dự án xin vay, ngân hàng xem xét kỹ tính khả thi để phòng ngừa rủi ro và đề xuất các biện pháp điều chỉnh kịp thời Khác với nguồn vốn cấp phát từ ngân sách, vốn tín dụng được giải ngân dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, vì vậy người vay phải tính toán sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất Đây là ưu điểm nổi bật của vốn tín dụng ngân hàng so với nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước.

1.3 2.2 Đặc điể m c ủ a ho ạt độ ng tài tr ợ d ự án đầu tư:

Tài trợ dự án đầu tư là một mảng của tín dụng trung dài hạn, do đó nó mang những đặc điểm của tín dụng trung dài hạn, có thể kể đến như sau:

Thứ nhất : Độ rủi ro cao.

- Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao Kết quả của một dự án đầu tư chịuảnh hưởng của nhiều yếu tố Sự phân tích và xác định của ngân hàng về các rủi ro này là có hạn Các ngân hàng cũng không thể khắc phục hết được các rủi ro này. Khi khoản cho vay dài hạn thời gian đầu tư dài, có rất nhiều sự thay đổi trong môi trường kinh tế: Như những thay đổi về chính sach, thị trường, thiên tai, chiến tranh…Khiến cho dự án bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn.

Thứ hai : Lợi nhuận từ các khoản cho vay là lớn.

-Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư mong đợi càng nhiều Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn Biểu hiện cụ thể đó là lãi xuất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao Có đặc điểm này là do để bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro.

Thứ ba : Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm.

- Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của doanh nghiệp và được hoàn trả trong thời hạn ngắn(dưới 1năm) thì tín dụng trung dài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tư Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tín hành thu hồi vốnđầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quản, dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm.

1.3.2.3 Các hình th ứ c tài tr ợ d ự án:

Cho vay đồng tài trợ:

Là quá trình cho vay trung – dài hạn của một nhóm tổ chức tín dụng (từ

2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng.

Hình thức này thường phát sinh khi các dự án đầu tư đòi hỏi vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ không thể đáp ứng được toàn bộ Ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn ở một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không được phân bổ quá nhiều vốn vào một công ty nhằm đảm bảo an toàn vốn tài sản Thậm chí đối với một số dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn, nhưng rủi ro quá lớn khiến ngân hàng không muốn đảm nhận toàn bộ phần tài trợ.

Cho vay trực tiếp theo dự án: Đây là quá trình cho vay trung dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường – ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từngdự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ.

Mối quan hệ giữa huy động vốn và tài trợ các dự án đầu tư

1.3.3.1 Tính t ấ t y ế u c ủ a vi ệc huy độ ng v ố n cho tài tr ợ d ự án:

Nếu huy động vốn có vai trò quan trọng, là đệm đỡ cho các hoạt động khác tại NHTM thì tài trợ dự án nói riêng và tín dụng nói chung là yếu tố sinh lời chủ yếu và có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế, và các chủ thể tham gia trong hoạt động tín dụng.

Trên thực tế, ngân hàng thương mại dựa trên vốn huy động được để cho vay tài trợ cho các dự án đầu tư Quy mô và cơ cấu của vốn tài trợ được xác định một phần căn cứ vào quy mô, cơ cấu vốn huy động, nhằm cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu tài trợ Nhờ đó, việc xác định đúng quy mô vốn tài trợ giúp tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, quản lý rủi ro và tăng cường tính thanh khoản cùng sự phát triển bền vững của ngân hàng.

Do tính ổn định của nguồn vốn huy động, ngân hàng thương mại (NHTM) có cơ sở để xác định mức vốn, thời hạn và lãi suất phù hợp nhằm tài trợ cho dự án đầu tư, sao cho nguồn vốn huy động được đáp ứng đúng nhu cầu vốn và đảm bảo hiệu quả tài trợ.

1.3.3.2 Tác độ ng c ủ a tài tr ợ d ự án đố i v ớ i ngu ồ n v ốn huy độ ng:

Khi biết được nhu cầu cần để tài trợ cho dự án giúp Ngân hàng xác định được lượng vốn cần tạo lập và thu hút Khi nhu cầu sử dụng vốn lớn Ngân hàng sẽ chủ được đưa ra được các chính sách phù hợp để thu hút vốn cần thiết để tài trợ cho

Khi việc tài trợ đạt được hiệu quả sẽ làm tăng thêm niềm tin của chủ đầu tư về khả năng sinh lời của số vốn họ bỏ ra Có nghĩa khi vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút của nó càng lớn Do đó đối với các nguồn vốn đầu tư cần xác định hiệu quả là yêu cầu về mặt chất lượng của việc huy động vốn trong lâu dài.

Tài trợ không hiệu quả gây thất thoát và lãng phí, đồng thời làm suy giảm niềm tin của chủ đầu tư Đây là nguyên nhân lớn thúc đẩy lạm phát trong nước, đẩy nền kinh tế vào tình trạng khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thu hút vốn huy động tại các Ngân hàng thương mại (NHTM).

Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả công tác huy động vốn để tài trợ dự án đầu tư của Ngân hàng

1.3.4.1 Kh ối lượ ng v ố n l ớn, tăng trưở ng ổn đị nh:

Vốn huy động chủ yếu là trung hạn và dài hạn, cho thấy sự ổn định về mặt số lượng và xu hướng tăng trưởng đều đặn theo thời gian Nguồn vốn này tăng đều qua các năm, đáp ứng tốt nhu cầu tín dụng đầu tư và giúp đẩy mạnh hoạt động, mở rộng quy mô các dự án đầu tư.

Tuy nhiên, nguồn vốn này phải đảm bảo về mặt thời gian (đảm bảo tránh rủi ro về mặt thời gian) Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn cho đầu tư nhưng không ổn định thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Do đó, hiệu quả huy động vốn để tài trợ dự án đầu tư của Ngân hàng sẽ không cao.

1.3.4.2 V ốn huy độ ng/v ố n t ự có:

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng so với vốn tự có

1.3.4.3 V ốn huy độ ng/t ổ ng ngu ồ n v ố n:

Chỉ tiên này đánh giá vốn huy động được so với tổng nguồn vốn, cho thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng có bao nhiêu vốn hình thành từ huy động.

1.3.4.4 Ch ỉ tiêu hi ệ u qu ả s ử d ụ ng v ố n vay:

Tổng dư nợ cho vay dự án đầu tư trung dài hạn

Tổng nguồn vốn huy động trung dài hạn Trong đó : H là hiệu suất sử dụng vốn

Chỉ tiêu này phản ánh quy mô khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay dự án đầu tư trung và dài hạn của các NHTM, nó cho ta biết một đồng vốn huy động trung dài hạn thì được bao nhiêu đồng sử dụng để cho vay dự án đầu tư trung và dài hạn, và việc sử dụng đồng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn là bao nhiêu để từ đó có các giải pháp nhằm đưa ra cơ cấu nguồn vốn cho vay trung và dài hạn hợp lý đảm bảo về vốn.

1.3.4.5 Chi p hí huy độ ng:

Chi phí huy động được đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãi suất huy động từng nguồn, chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra.

Việc ngân hàng hạ lãi suất huy động để giảm chi phí huy động có thể làm cho huy động vốn gặp khó và khó có thể thực hiện Ngược lại, lãi suất huy động càng cao sẽ đẩy lãi suất cho vay lên, gây khó khăn cho người vay và có thể dẫn đến ứ đọng vốn tại ngân hàng Trong tình huống này ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền trong khi số vốn ứ đọng không sinh lãi, làm giảm hiệu quả vốn và tăng chi phí vận hành.

Vì vậy, ngoài việc tăng giảm lãi suất để có thể có lợi cho người gửi tiền và người vay tiền có thể giảm chi phí khác như chi phí in ấn phát hành, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi thưởng cho cán bộ huy động, thuê địa điểm huy động

Chỉ tiêunày được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu cầu cho vay dự án Từ đó xác định nguồn vốn có thể huy động được là bao nhiêu và nguồn vốn cần phải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu đó.

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

Những kinh nghiệm huy động vốn của các ngân hàng nước ngoài nổi tiếng chính là thực tế mà các NHTM Việt Nam cần phải học hỏi nhiều hơn nữa Cụ thể là:

Các NHTM nước ngoài đã thực hiện chính sách này từ rất lâu rồi Qua việc phân cấp khách hàng họ sẽ có các chính sách sao cho thật phù hợp với đặc điểm và tính cách của từng nhóm khách hàng Đối với từng nhóm khách hàng họ sẽ chú trọng tập trung vào một số dịch vụ chủ yếu và khai thác hầu hếtở những dịch vụ đó. Để có được những chương trình phù hợp cho từng khách hàng thì bản thân các NHTM phải thực hiện nghiên cứu rất sâu sắc về từng nhóm khách hàng một Đây chính là tài nguyên chất xám của mỗi ngân hàng vì mỗi một ngân hàng sở hữu rất nhiều khách hàng khác nhaunhưng tùy theo mục đích huy động mà mỗi ngân hàng sẽ có những khác biệt với các ngân hàng khác.

Ví dụ : Ngân hàng Bangkokở Thái Lan:

Ngân hàng Bangkok là một trong những ngân hàng lớn nhất tại Thái Lan với mạng lưới chi nhánh rộng khắp, và ngân hàng này tiếp tục mở rộng các chi nhánh nhỏ để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khách hàng cá nhân trên toàn quốc Các chi nhánh nhỏ được mở tại siêu thị Lotus ở Ramintra và sau đó tiếp tục mở thêm 36 chi nhánh mới ở các siêu thị lớn và các trường đại học, đồng thời mở rộng giờ làm việc lên cả tuần để phục vụ nhiều đối tượng khách hàng hơn Nhờ chiến lược mở rộng mạng lưới và tăng thời gian phục vụ, các chi nhánh nhỏ đã đạt được thành công với doanh thu tăng gấp 7 lần và số lượng khách hàng tăng thêm 60% so với trước.

- Đa dạng hóa sản phẩm:

Qua nghiên cứu phân khúc và phân cấp khách hàng, mỗi ngân hàng sẽ xây dựng danh mục sản phẩm đa dạng nhằm đáp ứng tối ưu nhu cầu của từng nhóm khách hàng; từ đó đa dạng hóa sản phẩm giúp ngân hàng tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng hơn và phục vụ nhu cầu ngày càng phong phú Để giữ chân và thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn, việc cung cấp nhiều sản phẩm với nhiều tính năng và tiện ích sẽ làm khách hàng cảm thấy hài lòng và tin tưởng, đây là mục tiêu chung của mọi nhà cung cấp, không chỉ riêng hệ thống ngân hàng.

Ví dụ một số sản phẩm tiết kiệm của Standard Chartered Bank:

 My Dream account: Đây là tài khoản tiết kiệm đặc biệt nhằm tiết kiệm cho con em của khách hàng Khách hàng có thể dễ dàng quản lý tài khoản này.

Payroll account (Tài khoản trả lương) là loại tài khoản giúp doanh nghiệp cải thiện chính sách chi trả lương của mình Tài khoản này mang lại nhiều lợi ích thiết thực và tiện lợi cho khách hàng, từ tự động hoá quá trình chi trả, tăng tính chính xác và minh bạch, đến tối ưu quản lý chi phí lương và giảm thiểu sai sót trong thanh toán.

 Women’s account: Tài khoản này được thiết kế một cách đặc biệt để đáp ứng nhu cầu quản lý tài chính trong giađình của chị em phụ nữ.

 E$aving account: Quản lý tiền của khách hàng mọi lúc mọi nơi Tiền trong tài khoản của khách hàng ngày càng nhiều hơn do được hưởng lãi suất cạnh tranh của từ ngân hàng.

- Nâng cao chất lượng công nghệ:

Hệ thống công nghệ của ngân hàng đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của toàn hệ thống Khi số lượng khách hàng ngày càng tăng và danh mục sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng, công nghệ hỗ trợ là yếu tố không thể thiếu để ngân hàng duy trì đà tăng trưởng Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, ngân hàng có thể tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thiểu công việc thủ công và vận hành máy móc, từ đó giải phóng nguồn lực cho các hoạt động phân tích dữ liệu và tìm kiếm khách hàng tiềm năng, nâng cao trải nghiệm khách hàng và hiệu quả vận hành.

Nhiều Ngân hàng trên thế giới như ở Mỹ hiện không còn hình thức giao dịch viên với khách hàng, có chi nhánh chỉ có máy giao dịch Ngân hàng đưa dịch vụ đến khách hàng qua nhiều kênh SMS, E-banking

- Khơi dậy sự ham muốn ở khách hàng:

Một ngân hàng tại Úc từng đề nghị hợp tác với hãng Ford (Mỹ) để đồng tổ chức giải xổ số ba tháng một lần Giải đặc biệt là chiếc Ford Transit đời mới, giải nhất là chiếc Ford Escape, giải nhì là chiếc Ford Laser và có rất nhiều giải thưởng phụ kèm theo.

Để tham gia, khách hàng phải duy trì tài khoản thanh toán với số dư tối thiểu 3.000 đô Úc hoặc có tiết kiệm bằng ngoại tệ tối thiểu 500 USD tại ngân hàng đó.

Kết quả trong một thời gian ngắn lượng tiền gửi cũng như số khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng này tăng vọt vì thời điểm đó ô tô thương hiệu Ford rất được ưa chuộng ở Úc, vì người nào cũng muốn sự may mắn sẽ đến với mình hơn nữa điều kiện đểtham gia cũng khá dễ dàng.

Cách làm của Ngân hàng đó đã khơi gợi mong muốn của khách hàng-yếu tố rất quan trọng để lôi kéo khách hàng tham gia vào các sản phẩm hoặc dịch vụ.

Như vậy, với những mục tiêu chính mà các NHTM nổi tiếng đã và đang hướng tới sẽ là những kinh nghiệm bổ ích cho NHTM Việt Nam học tập và có định hướng đúng đắn hơn trong quá trình gia tăng huy động vốn cho NHTM.

KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÀI TRỢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

-Kinh nghiệm của Pháp: Để đảm bảo an toàn tín dụng, Luật Ngân hàng quy định các tổ chức tín dụng phải chấp hành các chỉ tiêu về quản lý, nhằm đảm bảo khả năng sẵn sàng chi trả cũng như sự cân bằng về cơ cấu tài chính của họ.

Có hệ thống quản lý nội bộ các NHTM vừa để kiểm tra sự phù hợp của các nhiệm vụ và các quy tắc nội bộ với các điều kiện pháp quy hiện hành và tập quán nghề nghiệp, vừa giám sát chất lượng thông tin tài chính được phổ biến cho các bộ phận thừa hành và kế hoạch, cũng như cho các cấp giám sát hay cho những người thứ ba.

-Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Malaysia:

Tại Hàn Quốc, luật nước này quy định về các loại quỹ bảo đảm tín dụng khi đầu tư tín dụng nói chung vàđầu tư dự án nói riêng.

Tại Malaysia, việc đầu tư trung dài hạn để đầu tư dự án có bảo đảm nên là yêu cầu bắt buộc và Ngân hàng nên thực hiện nếu có thể, mặc dù việc bảo đảm chỉ có tầm quan trọng thứ yếu.

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI TP.HCM CỦA BIDV CN SGD2

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ TÀI TRỢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI TP.HCM CỦA BIDV CN SGD2

Ngày đăng: 22/07/2021, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan Thị Cúc. (2009) “Nghiệp vụ Ngân hàng Thương Mại Tín Dụng Ngân hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiệp vụ Ngân hàng Thương Mại Tín Dụng Ngânhàng
3. Nguyễn Đăng Dờn (2005), Tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Đăng Dờn
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2005
4. Nguyễn Minh Kiều (2007), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nhà xuất bản thốngkê
Năm: 2007
5. Hoàng Xuân Bích Loan (2008), “Nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sự hài lòng của khách hàng tạiNgân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Thành phố Hồ ChíMinh
Tác giả: Hoàng Xuân Bích Loan
Năm: 2008
5. Đào Lê Kiều Oanh. (2012), “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”, Tạp chí phát triển và hội nhập. (Số 3), tr.21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn tại ngânhàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Tác giả: Đào Lê Kiều Oanh
Năm: 2012
1. Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sở Giao Dịch 2, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm 2009, 2010, 2011 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm