người chưa thành niên thì một yêu cầu được đặt ra đó là cần phải phát triển hệthống quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.Trong những năm gần đây, tình t
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa luật -
Vinh - 2011
Trang 2Trờng đại học vinh
Khoa luật -
QUY ĐịNH CủA PHáP LUậT HìNH Sự Về TRáCH NHIệM HìNH Sự CủA NGƯời ch-
a thành niên phạm tội.
lý luận và thực tiễn
ngành: cử nhân luật
Giảng viên hớng dẫn: nguyễn thị thanh bình Sinh viên thực hiện: đinh thị ngần
Trong quỏ trỡnh thực hiện khoỏ luận tốt nghiệp, em đó được sự giỳp
đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và động viờn từ gia đỡnh, từ quý thầy cụ cựng cỏc bạn.
Trang 3Nhờ đó mà em đã hoàn thành được luận văn như mong muốn, nay xin cho phép em được gửi lời cám ơn sâu sắc và chân thành đến:
Ba mẹ là người đã dạy dỗ và nuôi em khôn lớn cho đến khi em bước chân vào giảng đường đại học, là người luôn bên cạnh em và chia sẽ mỗi lúc
em gặp khó khăn trong cuộc sống.
Các thầy cô tại trường cấp 1, cấp 2 và cấp 3 đã dạy cho em những kiến thức căn bản làm nền tảng để em có thể tiếp thu những kiến thức và thông tin mới.
Các thầy cô khoa Luật đã truyền đạt những kiến thức quý báu để từ đó
em phát triển thêm vốn hiểu biết của mình vận dụng trong công việc sau này Ban giám hiệu trường Đại HọcVinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Thanh Bình, người
trực tiếp hướng dẫn đề tài Trong quá trình làm khóa luận, cô đã tận tình hướng dẫn thực hiện đề tài, giúp em giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình làm khóa luận và hoàn thành khóa luận đúng định hướng ban đầu
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm khóa luận đã cho em những đóng góp quý báu để khóa luận thêm hoàn chỉnh.
Cuối cùng xin được gửi lới cảm ơn tới tất cả bạn bè là những người luôn chia sẽ những chuyện buồn vui trong cuộc sống cũng như giúp đỡ em những lúc khó khăn và trong học tập.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ khoa học 3
3.1 Mục tiêu 3
3.2 Nhiệm vụ 4
4 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa của đề tài 5
6 Kết cấu khóa luận 5
PHẦN B NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội 6
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 6
1.1.2 Các đặc điểm của người chưa thành niên 9
1.1.3 Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội 12
1.2 Các biện pháp tư pháp và hệ thống hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 14
1.2.1 Các biện pháp tư pháp 14
1.2.2 Hệ thống hình phạt 18
1.3 Quyết định hình phạt, chấp hành hình phạt và án tích 25
Trang 51.3.1 Quyết định hình phạt 25
1.3.2 Chấp hành hình phạt 28
1.3.3 Án tích 30
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 32
2.1 Tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên, nguyên nhân dẫn tới người chưa thành niên phạm tội 32
2.1.1 Tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên……… 32
2.1.2 Nguyên nhân dẫn tới người chưa thành niên phạm tội 39
2.2 Một số vấn đề thực tiễn về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội 45
2.2.1 Vấn đề xác định độ tuổi cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 45
2.2.2 Vấn đề áp dụng hình phạt tiền 47
2.2.3 Vấn đề áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ 53
2.3 Một số giải pháp 55
2.3.1 Tăng cường vai trò quản lý của gia đình đối với người chưa thành niên 56
2.3.2 Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường; gia đình, và cơ quan chức năng khác trong việc quản lý, giáo dục phòng chống vi phạm pháp luật ở học sinh, sinh viên 57
2.3.3 Tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền phát huy hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực 57
2.3.4 Các giải pháp khác 58
2.4 Một số kiến nghị 60
2.4.1 Thành lập Tòa án vị thành niên 60 2.4.2 Tăng cường xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành
Trang 6niên vi phạm pháp luật 622.4.3 Tăng cường vai trò của người bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích chongười chưa thành niên phạm tội 672.4.4 Kết hợp chặt chẽ việc giáo dục tại gia đình, nhà trường và xã hộinhằm giúp người chưa thành niên phạm tội tái hòa nhập cộng đồng 68
PHẦN C KẾT LUẬN 69 PHẦN D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HS – GĐT : Hồ sơ giám đôc thẩm
Trang 8A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia đều trải qua quá trình xây dựng
và củng cố bộ máy quyền lực Để quản lý nhà nước thì không thể thiếu hệthống pháp luật với các ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật có đối tượngđiều chỉnh riêng Và một ngành luật vô cùng quan trọng không thể thiếu đó làngành luật hình sự, với đối tượng điều chỉnh riêng của mình đó là quan hệ xãhội giữa nhà nước và người phạm tội
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độclập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân, tổ chức góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lí kinh tế,đảm bảo cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái
an toàn, lành mạnh mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luật hình sựcũng loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiêpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xãhội công bằng văn minh
Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiênquyết đấu tranh phòng chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáodục, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện, qua đó bồi dưỡngcho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật,chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng thực tế, tồn tạitrong tất cả các xã hội Trong những năm qua, nhất là thời điểm hiện nay, tìnhtrạng người chưa thành niên phạm tội ở Viêt Nam diễn biến rất phức tạp
Trang 9Trước hết, do xuất phát từ đặc điểm tâm lí đang phát triển, nhân cáchchưa được định hình, nhận thức chưa được đầy đủ nên một số em đã có hành
vi phạm tội một cách không tự giác Chính vì vậy, quan điểm của Đảng vàNhà nước ta về vấn đề giải quyết tội phạm là người chưa thành niên phạm tội
là “Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử lí một vụ án, trừng phạt một tộiphạm nào đó điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để giảm bớt những hoạtđộng phạm pháp và tốt hơn là đừng để sai trái xảy ra” Quán triệt tinh thần đó,
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đã dành nguyên một chương riêng biệt(chương X) quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niênphạm tội Đây là cơ sở pháp lí để áp dụng khi xử lí đối với người chưa thànhniên phạm tội Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng nảy sinh những vướng mắc vàbất cập Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực trạng áp dụng các quy địnhcủa pháp luật hình sự trong việc giải quyết những vụ án về người chưa thànhniên phạm tội Hơn nữa trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế, bêncạnh những vấn đề tích cực nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh những vấn
đề tiêu cực, trong đó tình hình người chưa thành niên phạm tội diễn biến càngngày càng phức tạp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càngtăng Chính vì vậy, những đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chốngtội phạm, việc nghiên cứu sâu về trách nhiệm hình sự của người chưa thànhniên phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa sâusắc cả về mặt lí luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật Bởi vậy, tôi chọn
đề tài: “Quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự của người
chưa thành niên phạm tội Lí luận và thực tiễn.” cho khóa luận tốt nghiệp
đại học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường trong nướccũng như nền kinh tế thế giới Tình hình tội phạm ngày càng có xu hướng giatăng và phức tạp nhất là tình hình vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên
Để điều chỉnh các mối quan hệ, để giải quyết tình trạng vi phạm pháp luật ở
Trang 10người chưa thành niên thì một yêu cầu được đặt ra đó là cần phải phát triển hệthống quy định về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Trong những năm gần đây, tình trạng tội phạm là người chưa thànhniên phạm tội ở nước ta có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng
và mức độ phát triển, thủ đoạn phạm tội ở các đối tượng này không còn đơngiản do bồng bột thiếu suy nghĩ mà đã có tính toán, chuẩn bị kỹ càng khá tinh
vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao.Nắm bắt tình hình đó, các nhà nghiên cứu, làm luật đã có nhiều công trìnhnghiên cứu theo nhiều chiều hướng khác nhau như vấn đề trách nhiệm hình
sự, miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội… Như
“Trách nhiệm hình sự và hình phạt” của tập thể tác giả do Phó giáo sư, Tiến sĩNguyễn Ngọc Hòa chủ biên - nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 2001,
“Chế định trách nhiệm hình sự trong bộ luật hình sự năm 1999” – Tạp chí dânchủ và pháp luật số 4/2000…
Tôi chọn nghiên cứu vấn đề này có cả lí luận và thực tiễn để xác định
rõ vấn đề Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội được quyđịnh tại chương X Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Với
ý nghĩa là một khóa luận tốt nghiệp đại học, nên là lần đầu tiên thực hiệnnghiên cứu vấn đề này chắc hẳn phần nghiên cứu của tác giả còn chưa sâu,khoá luận còn có những thiếu sót, khiêm khuyết, rất mong được sự đóng góp
ý kiến và chia sẻ kinh nghiệm của các thày cô và bạn bè Tuy nhiên, tác giảcũng hy vọng với phần nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu bổ ích cho các bạnsinh viên muốn tìm hiểu về vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người chưathành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam
3 Mục tiêu, nhiệm vụ khoa học
3.1 Mục tiêu
Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã trình bày một cách có
hệ thống các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các nguyên tắc xử lý,
Trang 11hệ thống hình phạt, các biện pháp tư pháp và án tích đối với người chưa thànhniên phạm tội…
Góp phần làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự về tráchnhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội đồng thời đưa ra một sốthực trạng đối với việc áp dụng các quy định này và đề xuất hướng giải quyết
Việc tìm hiểu chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niênphạm tội là rất rộng nhưng trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp đại học tôichỉ xin đề cập tới một số vấn đề nêu trên
3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về trách nhiệm hình sự củangười chưa thành niên phạm tội Trong đó tập trung nghiên cứu các vấn đềkhái quát về người chưa thành niên Đặc điểm người chưa thành niên, nhữngquy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự của người chưa thànhniên phạm tội Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị để hoàn thiện nó.Thông qua đó khóa luận đưa ra một số phương hướng giải quyết trách nhiệmhình sự của người chưa thành niên nhằm giáo dục cải tạo họ là người có íchcho xã hội
4 Đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 của người chưa thành niên phạm tội Cơ sở lýluận đó là phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-LeNin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm
1999 là bước phát triển của những quy định về trách nhiệm hình sự của ngườichưa thành niên phạm tội Nhiều quy định đã được sửa đổi bổ sung cho phùhợp với thực tiễn tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranhphòng chống tội phạm có hiệu quả
Trang 124.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện phần nghiên cứu của mình tôi đã sử dụng các phươngpháp sau:
- Phương pháp lịch sử: Bằng phương pháp này trên hai quan điểm củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để thấy được đặcđiểm nguyên tắc, vai trò của các quy định về trách nhiệm hình sự của ngườichưa thành niên
- Phương pháp so sánh: Để thấy được sự khác nhau giữa Bộ luật hình
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật hình sự năm 1985
- Phương pháp thống kê: Để đưa ra số liệu thực tế về tình hình phạm tội
ở người chưa thành niên
- Ngoài ra, tôi còn sử dụng một số phương pháp như: phân tích, tổnghợp, đánh giá, bình luận Để từ đó rút ra những kết luận khoa học nhất
5 Ý nghĩa của đề tài
Đối với tôi việc nghiên cứu đề tài rất có ý nghĩa vì đây là lần đầu tiên
tôi nghiên cứu một đề tài khoa học Và đi sâu nghiên cứu một vấn đề mangtính xã hội Đề tài này cũng góp phần làm tài liệu cho các bạn sinh viên, bạnđọc muốn tìm hiểu về vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niênphạm tội trong Bộ luật hình sự Việt nam
6 Kết cấu của đề tài.
Kêt cấu khóa luận gồm 4 phần bao gồm phần mở đầu, phần kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phần nội dung gồm 2 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Thực tiễn vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc do người chưa thành niên phạm tội gây ra
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội, tội phạm do người chưa thành niêngây ra
Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đề cập NCTNdưới hai phương diện Một mặt họ là đối tượng cần được pháp luật bảo vệ đặcbiệt bằng luật hình sự khỏi những hành vi bị coi là tội phạm Mặt khác,NCTN còn là chủ thể của tội phạm; chương X Bộ luật Hình sự tập hợp nhữngquy định đặc thù đối với NCTN phạm tội
Nói về khái niện NCTN có nhiều tài liệu nhắc đến Điều 1 Công ước vềQuyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989
có ghi: “ Trong phạm vi Công ước này,trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổitrừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niênsớm hơn
Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “ Trẻ em
là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Trong một số văn bản quốc tế liên quanđến NCTN như Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp Quốcthông qua ngày 20/11/1989; quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc
về áp dụng pháp luật với NCTN ngày 29/11/198, hướng dẫn của Liên HợpQuốc về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN ngày 14/12/1990 Theo quan niệnquốc tế thì trẻ em( child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên(Juvenile) là người từ 15 tuổi đến 18 tuổi, thành niên( Youth) là người từ đủ
Trang 1415 tuổi đến 24 tuổi, người trẻ em( Young persons) bao gồm trẻ em, ngườichưa thành niên và thành niên
Theo hội kế hoạch hóa Gia đình Việt Nam xác định vị thành niên,thanh niên là từ 10- 24 tuổi Giai đoạn vị thành niên được chia thành hai giaiđoạn:
Giai đoạn đầu từ 10-14 tuổi
Giai đoạn sau từ 15- 19 tuổi
Còn độ tuổi thanh niên là từ 19- 24 tuổi
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam; trong pháp luật Dân sự và Hình Sự
vị thành niên được là người chưa đủ 18 tuổi
Điều 20 Bộ luật Dân sự Việt Nam, năm 2005 nêu rõ: “ Người đủ 18tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thànhniên”
Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 cũng nói rấtrõ: “Người chưa thành niền từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịutrách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này”
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, tại chương XXXII: Thủtụng tố tụng đối với người chưa thành niên, cũng đề cập hai nhóm: Từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Như vậy, có thể nói NCTN là người dưới 18 tuổi chưa phát triển hoànthiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lýnhư người đã thành niên
Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra
Tội phạm là một vấn đề quan trọng trong luật Hình sự Điều 8 Bộ luậtHình sự nước CHXHCN Việt Nam năm 1999 đã định nghĩa vấn đề tội phạmnhư sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộluật Hình sự do người có năng trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
Trang 15hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng anninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạmtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi íchhợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vự khác của trật pháp luậtXHCN”.
Khái niệm tội phạm do NCTN thực hiện có thể được hiểu theo nhiềunghĩa Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ Tội phạm do NCTN thực hiện chỉ biểu thịmột NCTN đã thực hiện hành vi phạm tội và đã bị Tòa án chính thức xét xử
và tuyên án là có tội Theo nghĩa rộng, thuật ngữ Tội phạm do NCTN thựchiện là để chỉ tình hình NCTN phạm tội được thể hiện ở toàn bộ những hành
vi nguy hiểm cho xã hội do NCTN thực hiện trong một địa bàn và trong mộtkhoảng thời gian nhất định Những hành vi nguy hiểm cho xã hội do NCTNthực hiện hoặc bị pháp luật hình sự ngăn cấm ( quy định) rõ ràng hoặc có thểgiải thích theo luật định là đã cấu thành tội phạm Tình hình NCTN phạm tộikhông phải là một căn bệnh hoặc một thực thể bệnh lý mà đó là một danh từ
để chỉ một hiện tượng xã hội tiêu cực, phổ biến, rộng lớn về toàn bộ nhữnghành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm của NCTN Như vậy, tộiphạm do NCTN gây ra chỉ xuất hiện( phát sinh) khi có đầy đủ ba điều kiệnsau:
Trang 16Những điều kiện trên cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xác địnhtội phạm do NCTN gây ra bao giờ cũng gắn liền với một NCTN có hành viphạm tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một NCTN thực hiện hành
vi phạm tội đều trở thành tội phạm
Theo một số nghiên cứu khoa học, việc truy cứu TNHS và áp dụnghình phạt đối với NCTN phạm tội được xem là “ cần thiết” khi hội tụ đủ bađiều kiện sau đây:
NCTN phạm tội có nhân thân xấu
Tội phạm đã thực hiện có tính chất nghiêm trọng
Những biên pháp giáo dục phòng ngừa như giáo dục tại xã phường, đưavào các trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo NCTN phạm tội màcần áp dụng hình phạt đối với họ
Từ những phân tích trên có thể khái niệm: Tội phạm do NCTN gây ra
là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi
và người đó phải chịu TNHS tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo phánxét của cơ quan tiến hành tố tụng
Khái niệm tội phạm do NCTN gây ra không đồng nhất với khái niệmNCTN phạm tội nhưng hai khái niệm đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Khái niệm NCTN phạm tội là một khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thểđặc biệt (NCTN) thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm doNCTN gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện bởi mộtdạng chủ thể đặc biệt (NCTN)
1.1.2 Các đặc điểm của người chưa thành niên
Trang 17sử văn hóa cảu mỗi dân tộc… Giới hạn cao nhất về độ tuổi của NCTN phảichịu TNHS là từ 16 tuổi đến dưới 21 tuổi Giới hạn thấp nhất là từ 7 tuổi đếndưới 16 tuổi(1) Đa số các nước coi các cá nhân là NCTN nếu độ tuổi của họ từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
Ở Việt Nam, pháp luật Hình sự quy định NCTN chỉ bao gồm nhữngngười từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Tuy nhiên TNHS của NCTN trong
độ tuổi từ 14 đủ tuổi đến dưới 16 tuổi có điều khác biệt so với độ tuổi từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tộiphạm
2 Người từ đử 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng”
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 đã có những quy định mới so với
Bộ luật Hình sự năm 1985 về vấn đề này( Điều 58 Bộ luật hình sự năm 1985,Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999) Cụ thể có hai sự khác biệt như sau:
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệmhình sự đối với tội phạm nghiêm trọng do cố ý Chẳng hạn, NCTN trong độtuổi trên không phải chịu TNHS về mọi tội phạm nghiêm trọng do cố ý màmức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù cho đến 7năm tù
Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã mở rộng phạm vi hơn thể hiện ởchỗ NCTN cũng trong độ tuổi trên phải chịu TNHS về tội phạm đặc biệtnghiêm trong do vô ý Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự ViệtNam, 14 tuổi là giới hạn thấp nhất của độ tuổi phải chịu TNHS Vì vậy,
(1) Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ tư pháp, Tư pháp hình sự so sánh tr 278
Trang 18NCTN chưa đủ 14 tuổi không phải chịu TNHS trong trường hợp thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đặc biệt lớn
Đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý
NCTN là những người chưa hoàn toàn phát triển về nhân cách, chưa cóđầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân
NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như phát triển
về tâm sinh lý(1) Khả năng phát triển của từng người có thể khác nhau songnói chung đây là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn, họkhông còn thụ động với vai trò của người được dạy dỗ nhưng mặt khác lạichưa là người lớn Nói một cách khác, NCTN đang có sự thay đổi lớn về thểchất và tâm sinh lý Từ sự thay đổi về thể chất (sự phát triển về sinh lý) dẫnđến sự thay đổi về tâm lý và phát triển dần đến sự chín muồi về giới tính, vềchức năng sinh lý nhưng không phải vì thế mà họ đã chín muồi về cảm xúc xãhội Do ở độ tuổi này năng lực trí tuệ cũng như năng tư duy trừu tượng đangphát triển, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn bị hạn chế Họthiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao họ có
xu hướng muốn tự khẳng định, được đánh giá, được tôn trọng, dễ tự ái, tự ti,hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn, nhiều hoài bão, thiếu tính thực tế, dễ bị kích động
bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu mạo hiểm, dễ bị tôn thương, nhưnglại dễ thay đổi, thích nghi, dễ uốn nắn…
Quá trình phát triển sinh lý đã ảnh hướng lớn tính cách của NCTN làm
họ dễ xúc động, lúc trầm tư, sôi nổi Ở lứa tuổi này tâm trạng của NCTN rấtthất thường, dễ bốc đồng nhưng cũng dễ dao động, hăng hái nhưng khi gặpkhó khăn lại dễ bỏ cuộc dễ chán nản, không cố gắng vượt qua Tính hiếuthắng đã trở thành phổ biến trong mỗi hành động của họ và nhiều khi là động
cơ trực tiếp thúc đẩy NCTN đi đến quyết định bột phát, thiếu suy nghĩ, thiếu
(1) Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, tr 318
Trang 19cõn nhắc kỹ lưỡng và cú lỳc trở thành liều lĩnh Cú thể núi ở lứa tuổi này nhõncỏch của NCTN đó được hỡnh thành nhưng chưa ổn định Trong cỏc đặc điểmtõm lý của NCTN núi trờn ta thấy hai khuynh hướng nổi bật liờn quan đến tộiphạm và khả năng giỏo dục, cải tạo họ Đú là họ dễ bị người khỏc dụ dỗ kớchđộng, thỳc đẩy vào việc thực hiện tội phạm nhưng do ý thức phạm tội của họchưa cao và chưa chắc chắn nờn cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giỏo dục họ trởthành người cú ớch cho xó hội
1.1.3 Các nguyên tắc xử lý ngời cha thành niên phạm tội (1)
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý và yêu cầu của việc phòng, chống tộiphạm của ngời cha thành niên, bộ luật hình sự quy định những nguyên tắc đặcthù về xử lý ngời cha thành niên phạm tội bao gồm các nguyên tắc sau:
Nguyờn tắc thứ nhất: Việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân
có ích cho xã hội.
Khoản 1, điều 69 Bộ luật hình sự quy định: trong điều tra, truy tố, xét
xử hành vi phạm tội của NCTN, các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền phải xác
định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm
Khi NCTN phạm tội các cơ quan t pháp phải xác định chính xác tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Có nh vậy mớigiúp họ nhận thức đợc lỗi lầm và sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xãhội trong tơng lai Muốn đạt đợc phơng châm và mục đích nói trên thì các cơquan bảo vệ pháp luật phải xác định đúng khả năng nhận thức của NCTN vềtính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi đồng thời phải làm rõ nguyênnhân và điều kiện phạm tội Nguyên nhân và điều kiện phạm tội có thể xuấtphát từ môi trờng xã hội hoặc chính bản thân ngời phạm tội, từ đó cần áp dụngcác biện pháp đấu tranh để ngăn ngừa hiện tợng phạm tội đối với NCTN Cácbiện pháp áp dụng đối với NCTN phạm tội phải luôn luôn hớng tới mục đíchchủ yếu là giúp họ thấy đợc tính nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm
do hành vi của họ gây ra, sự nghiêm minh của pháp luật, bản chất nhân đạo
(1) Giỏo trỡnh Luật Hỡnh sự Việt Nam, tập 1, tr 319
Trang 20của biện pháp áp dụng sẽ giúp họ tự sửa chữa sai lầm và trở thành thành viênchính thức của xã hội.
Nguyờn tăc thứ hai: NCTN có thể đợc miễn TNHS nếu ngời đó phạm
tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tìnhtiết giảm nhẹ và đợc gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Đây là nguyên tắc miễn TNHS đối với NCTN phạm tội Trong bộ luậthình sự, tại Điều 25 cũng đã có những quy định về miễn TNHS ở ngời thànhniên Tuy nhiên so sánh với nguyên tắc miễn TNHS đối với NCTN phạm tộithì ta thấy quy định trên có phạm vi rộng hơn NCTN đợc miễn trách nhiệmhình sự khi thoả mãn bốn điều kiện sau đây:
- Tội phạm thực hiện là ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng;
- Cha gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ;
- Đợc gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Nguyờn tắc thứ ba:Việc truy cứu trách nhiệm hình sự NCTN phạm tội
và áp dụng hình phạt đối với họ đợc thực hiện chỉ trong trờng hợp cần thiết vàphải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, và những đặc điểm về nhânthân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Nếu thấy không cần thiết phải
áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội thì toà án áp dụng một trong cácbiện pháp t pháp là giáo dục tại xã, phờng, thị trấn hoặc đa vào trờng giáo d-ỡng
Đây là nguyên tắc của việc xử lý NCTN phạm tội thể hiện tính nhân
đạo sâu sắc Không phải mọi trờng hợp NCTN phạm tội đều bị truy cứuTNHS Việc truy cứu TNHS chỉ đặt ra khi nó thực sự cần thiết và xuất phát từyêu cầu phòng ngừa tội phạm Kể cả khi NCTN phạm tội và bị truy cứu TNHSthì họ vẫn có khả năng không bị áp dụng hình phạt Thay vào đó họ có thể đợc
áp dụng các biện pháp t pháp nếu biện pháp này đủ tác dụng cải tạo họ thànhcông dân có ích cho xã hội
Nguyờn tắc thứ tư: Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với
NCTN phạm tội Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội.Không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dới 16tuổi Khi xử phạt tù có thời hạn, toà án cho NCTN phạm tội đợc hởng mức ánnhẹ hơn mức án áp dụng đối với ngời đã thành niên phạm tội tơng ứng
Trang 21Tử hình và tù chung thân và những hình phạt có tính nghiêm khắc cao,chỉ áp dụng trong trờng hợp đặc biệt nghiêm trọng Việc xử lý NCTN phạmtội chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo họ Do đó, không áp dụng các hình phạtnghiêm khắc này đối với họ Để thể hiện nội dung nhân đạo của nguyên tắcnày, Điều 69 BLHS quy định: không áp dụng các hình phạt bổ sung đối vớiNCTN phạm tội Trong trờng hợp NCTN phạm tội tơng đơng với ngời đãthành niên và bị xử phạt tù có thời hạn thì mức án áp dụng đối với họ phảithấp hơn so với ngời thành niên (Điều 74 BLHS).
Nguyờn tắc thứ năm: án đã tuyên đối với NCTN phạm tội khi cha đủ
16 tuổi không đợc tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Đây cũng đợc xem là một trong những nguyên tắc quan trọng và có ýnghĩa rất lớn trong việc xử lý NCTN phạm tội, để từ đó giúp họ trở thànhnhững công dân có ích cho xã hội
1.2 Các biện pháp t pháp và hệ thống hỡnh phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội(1)
1.2.1 Cỏc biện phỏp tư phỏp
Khi NCTN phạm tội, toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự,tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân ngờiphạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS và yêu cầu của việc phòng ngừatội phạm, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với NCTNphạm tội thì áp dụng một trong các biện pháp t pháp là giáo dục tại xã, phờng,thị trấn hoặc đa vào trờng giáo dỡng
Giáo dục tại xã, phờng, thị trấn
Đây là biện pháp t pháp có tính chất giáo dục và phòng ngừa, đợc áp dụng đối với NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng trong thời hạn từ 1 năm đến 2 năm.
Biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn do Toà án quyết định đối vớiNCTN phạm tội nhằm tạo điều kiện cho ngời đó lao động, học tập tại cộng
( 1) Giỏo trỡnh Luật Hỡnh sự Việt Nam, tập 1, tr 322
Trang 22đồng và từ đó chứng tỏ sự hối cải của mình ngay trong môi trờng xã hội bìnhthờng dới sự giám sát giáo dục giúp đỡ của UBND xã, phờng, thị trấn, tổ chứcxã hội và gia đình.
NCTN đợc giáo dục tại xã, phờng, thị trấn phải thực hiện các nghĩa vụsau:
- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nớc, tích cực thực hiệnnghĩa vụ công dân và hơng ớc của làng xã nơi mình c trú;
- Làm bản cam kết của UBND xã, phờng, thị trấn hoặc tổ chức xã hội
đ-ợc giao giám sát, giáo dục, trong đó nêu rõ các biện pháp tích cực sửa chữa lỗilầm của mình Bản cam kết phải có ý kiến trực tiếp của ngời đợc phân cônggiám sát, giáo dục;
- Thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mỡnh, tích cực sửa chữa lỗilầm, học tập, làm ăn lơng thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng
đồng dân c nơi mình c trú;
- Làm bản tự kiểm điểm về quá trình rèn luyện, tu dỡng của mình gửiChủ tịch UBND xã, phờng, thị trấn hoặc ngời đứng đầu tổ chức đợc giao giámsát, giáo dục khi đã chấp hành đợc một phần hai thời gian thử thách Bản tựkiểm điểm phải có nhận xét của ngời trực tiếp giám sát, giáo dục hoặc cảnhsát khu vực, công an xã, trởng thôn, làng, bản, làng nơi ngời đó c trú;
- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với ngời đợc giao giám sát,giáo dục về kết quả rèn luyện, tu dỡng của mình; trong trờng hợp đi khỏi nơi
c trú trên 30 ngày thì báo cáo và trong thời gian tạm trú phải có nhận xét củacảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi NCTN phạm tội đến tạm trú
Uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn và tổ chức xã hội đợc giao giámsát, giáo dục có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Phân công ngời trực tiếp giám sát, giáo dục NCTN phạm tội;
- Tạo điều kiện giúp đỡ NCTN phạm tội tìm việc làm để ổn định cuộcsống;
Trang 23- Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan khác và gia đình NCTN phạmtội trong việc giáo dục, cảm hoá giúp họ sửa chữa lỗi lầm;
- Yêu cầu NCTN phạm tội thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, cóbiện pháp ngăn ngừa, uốn nắn kịp thời khi ngời đó có biểu hiện tiêu cực vàthông báo với cơ quan có thẩm quyền để xử lý khi cần thiết;
- Kịp thời biểu dơng khi NCTN phạm tội có tiến bộ, tích cực tham giahoạt động xã hội hoặc lập công;
- Xem xét để giải quyết cho NCTN phạm tội vắng mặt ở nơi c trú;
- Đề nghị hoặc theo đề nghị của NCTN phạm tội đề nghị toà án cấphuyện nơi ngời đó đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn,
ra quyết định chấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp này khi ngời đó đã chấphành đợc một phần hai thời hạn và có nhiều tiến bộ;
- Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn chấp hành biện phápgiáo dục tại xã, phờng, thị trấn cho NCTN phạm tội
Giáo dục tại xã, phờng, thị trấn chỉ đợc áp dụng khi môi trờng sống củaNCTN phạm tội có những điều kiện tốt cho việc giáo dục, cải tạo họ trở thànhngời có ích cho xã hội thông qua các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạtcủa họ Trong trờng hợp môi trờng xã hội của NCTN không đáp ứng đầy đủcác điều kiện về giáo dục và cải tạo thì phải áp dụng biện pháp t pháp khác đó
là đa họ vào trờng giáo dỡng
Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định Toà án có thể áp dụngbiện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn từ 1 đến 2 năm đối với NCTN phạmtội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng Đây không phải là hình phạt chỉ làbiện pháp giáo dục thay thế cho biện pháp “ Buộc phải chịu thử thách” đợcquy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1985 Khi thi hành biện pháp nàykhông bị tách khỏi gia đình, nhà trờng, xã hội, nghĩa vụ của ngời đợc giáo dụctại xã, phờng, thị trấn và tổ chức xã hội đợc Toà án giao trách nhiệm
Đa vào trờng giáo dỡng
Trờng giáo dỡng là cơ sở giáo dục đặc biệt đợc Nhà nớc thành lập đểgiáo dục, cải tạo NCTN phạm tội hoặc có những vi phạm pháp luật khác Biệnpháp đa vào trờng giáo dỡng là biện pháp t pháp đối với NCTN phạm tội nếuxét thấy cần phải có kỷ luật chặt chẽ và phải cách ly họ khỏi môi trờng xã hội
Trang 24để giaó dục, cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội Biện pháp t pháp đavào trờng giáo dỡng đối với NCTN phạm tội đợc quy định trong Bộ luật Hình
sự, là biện pháp do Toà án quyết định, áp dụng đối với NCTN từ đủ 14 tuổi
đến dới 18 tuổi phạm tội nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đốivới họ nhng do tính chất của hành vi phạm tội do nhân thân và do môi trờngcủa ngời đó mà cần phải đa ngời đó vào trờng giáo dỡng Đa NCTN phạm tộivào trờng giáo dỡng là biện pháp nghiêm khắc hơn biện pháp giáo dục tại xã,phờng, thị trấn Biện pháp này đợc áp dụng khi thấy cần thiết phải cách lyNCTN khỏi môi trờng xã hội mà họ đang sinh sống để giáo dục, cải tạo Môitrờng cũ không có các điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục, cải tạo NCTN làmôi trờng nh trong gia đình có bố, mẹ, anh, chị, em là ngời có tiền án hoặcngời thờng xuyên vi phạm pháp luật; bạn bè của NCTN là những ngời có nhânthân không tốt, đã ảnh hởng xấu đến lối sống của họ; Bản thân NCTN không
có chỗ học tập, lao động, sinh sống ổn định, đã sớm có lối sống trụy lạc, sa
đoạ
Tuy biện pháp này bắt buộc NCTN phạm tội phải chịu sự quản lý chặtchẽ và phải cách ly với xã hội nhng họ đợc học tập về văn hoá và nghề nghiệp.Tại đây, họ đợc rèn luyện và cải tạo lối sống trớc đây của mình để trở thànhcông dân có ý thức pháp luật đầy đủ trong tơng lai Họ không bị giam giữ nhtrong trờng hợp áp dụng hình phạt tù
Khi đã chấp hành đợc một phần hai thời hạn và có nhiều tiến bộ thì theo
đề nghị của nhà trờng, toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn ở trờng giáodỡng
1.2.2 Hệ thống hình phạt
Trong lịch sử lập pháp Hình sự của nớc ta từ trớc đến nay khái niện hìnhphạt lần đầu tiên đợc quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 “ Hìnhphạt là biện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nớc nhằm tớc bỏ hoặchạn chế quyền, lợi ích của ngời phạm tội Hình phạt đợc quy định trong Bộluật Hình sự và do Toà án quyết định”
Hình phạt là biện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống cácbiện pháp cỡng chế của Nhà nớc Hình phạt đợc Nhà nớc sử dụng nh một công
cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích củanhà nớc của xã hội và các lợi ích hợp pháp khác của công dân
Trang 25Tính chất nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ ngời bị kết án có thể
bị tớc bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản Bên cạnh đó hìnhphạt cũng để lại hậu quả pháp lý là án tích cho ngời bị kết án trong thời hạnnhất định theo quy định của pháp luật
Tội phạm có nhiều loại khác nhau Mỗi loại tội phạm khi xảy ra trên thực
tế lại có tính chất và mức độ nguy hiểm nhất định cho xã hội Xuất phát từ yêucầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần phải có hệ thống hình phạt thể hiệnchính sách hình sự của nhà nớc
Hệ thống hình phạt của Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nambao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Căn cứ vào đặc điểm củaNCTN phạm tội yêu cầu của việc phòng, chống tội phạm xuất phát từ nguyêntắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, luật hình sự quy định các hình phạt đợc ápdụng đối với NCTN phạm tội Đợc quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự năm
1999, NCTN phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối vớimỗi tội phạm Bao gồm:
áp dụng tử hình và chung thân đối với NCTN phạm tội
Các hình phạt bổ sung đợc quy định trong Bộ luật Hình sự trong mối liên
hệ tơng hỗ với các hình phạt chính, có tác dụng đảm bảo cho các mục đíchcủa hình phạt NCTN là ngời cha phát triển đầy đủ về thể chất cũng nh trí tuệ
Để họ có khả năng cải tạo, giáo dục tốt hơn và thể hiện nhân đạo đối với họ,luật Hình sự quy đinh không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạmtội Việc lựa chọn các hình phạt thích hợp áp dụng đối với NCTN phạm tội đểgiáo dục, cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội thể hiện chính sách hình
sự của nhà nớc CHXHCN Việt Nam
Cảnh cáo
Trang 26Đây là hình phạt chính có tính chất giáo dục sâu sắc, thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nớc đối với ngời phạm tội và hành vi phạm tội của
họ Cảnh cáo gây ra cho ngời bị kết án những tổn hại về tinh thần.
Cảnh cáo là hình phạt chính nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt thể hiện
sự lên án công khai của nhà nớc đối với ngời phạm tội về hành vi phạm tội của
họ Hình phạt này không có khả năng gây ra những thiệt hại về tài sản hoặcnhững hạn chế nhất định về thể chất cho ngời phạm tội Tuy nhiên, với tínhchất là sự khiển trách công khai của nhà nớc đối với ngời phạm tội cảnh cáogây những thiệt hại nhất định về mặt tinh thần
NCTN bị phạt cảnh cáo khi họ phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiềutình tiết giảm nhẹ Ví dụ: Tại khoản 1 điều 138 BLHS quy định về NCTNphạm tội trộm cắp tài sản hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khoản 1 Điều
139 BLHS thì có thể áp dụng cảnh cáo Điều kiện thứ hai của cảnh cáo làNCTN phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ Các tình tiết giảm nhẹ đợc quy
định tại điều 46 BLHS
Do tính giáo dục cao của cảnh cáo, cần áp dụng rộng rãi hình phạt này
đối với NCTN phạm tội khi có đủ các điều kiện trên
Phạt tiền
Phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với NCTN phạm tội nhằm tớc
đi quyền lợi vật chất của họ để cải tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.
Phạt tiền là hình phạt tớc của ngời phạm tội một khoản tiền nhất địnhsung công quỹ nhà nớc ( Điều 30 Bộ luật Hình sự) Phạt tiền tớc đi nhữngquyền lợi vật chất của ngời bị kết án, tác động đến tình trạng tài sản của họ vàthông qua đó tác động đến ý thức của họ Phạt tiền lần đầu tiên đợc quy địnhtrong Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật Hình sự năm 1985 không có hìnhphạt này) Điều 72 Bộ luật Hình sự quy định:
“Phạt tiền đợc áp dụng là hình phạt chính đối với NCTN phạm tội từ đủ
16 đến dới 18 tuổi, nếu ngời đó đã có thu nhập hoặc có tài sản riêng
Mức phạt tiền đối với NCTN phạm tội không quá một phần hai mức phạttiền mà điều luật quy định”
NCTN phạm tội bị phạt tiền khi có đủ hai điều kiện:
Trang 27Họ là ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 và có thu nhập hoặc có tài sản riêng Các điều kiện về áp dụng phạt tiền đối với NCTN phạm tội thể hiện thái
độ của Nhà nớc trong trờng hợp này NCTN thờng cha có thu nhập hoặc tàisản riêng, chỉ phạt tiền khi họ có khả năng chấp hành án Bộ luật hình sự hạnchế phạt tiền theo độ tuổi, chỉ ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi mới có thể bịphạt tiền Mức phạt tiền đối với NCTN phạm tội đợc quyết định theo tính chất,mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình hình tài chính của NCTN và sự biến
động giá cả Mức phạt tiền đối với NCTN là không quá 1/2 mức phạt tiền màluật quy định
Theo điều 30 BLHS, mức phạt tiền không đợc thấp hơn 1 triệu đồng vàtiền phạt có thể nộp 1 lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do toà án quyết định
Cải tạo không giam giữ
Là hình phạt chính có nội dung giáo dục sâu sắc, không buộc ngời đợc áp dụng hình phạt này phải cách ly với xã hội Họ vẫn có thể thực hiện công việc thờng ngày và sống trong môi trờng gia đình và xã hội nh trớc đây.
Trong hệ thống hình phạt, cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt tùnhng nặng hơn hình phạt tiền và cảnh cáo Cải tạo không giam giữ khôngbuộc ngời bị kết án phải cách ly khỏi xã hội
NCTN phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ cần đáp ứng hai điềukiện sau:
Hành vi phạm tội thuộc vào tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng; họphải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thờng trú rõ ràng Điều kiện đầu tiên
là điều kiện về tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm Điều kiện thứ hai
là điều kiện về khả năng cải tạo của ngời phạm tội: Họ phải có việc làm thờngxuyên, ổn định hoặc có nơi thờng trú rõ ràng Chỉ những ngời này mới khôngcần cách ly khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo Khi họ có việc làm ổn định hoặcchỗ ở rõ ràng thì việc giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa ph-
ơng mới có cơ sở và hiệu quả
Điều 73 Bộ luật Hình sự quy định:
“Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với NCTN phạm tội,thì không khấu trừ thu nhập của ngời đó
Thời hạn cải tạo không giam giữ không quá một phần hai thời hạn mà
điều luật quy định”
Trang 28Gia đình có vai trò rất lớn trong việc giáo dục, quản lý, giám sát ngời bịphạt cải tạo không giam giữ nói chung và NCTN nói riêng Gia đình có nghĩa
vụ cùng cơ quan, tổ chức xó hội, chính quyền địa phơng giám sát, giáo dụcngời bị kết án, chỉ khi sự kết hợp này đợc thực hiện có hiệu quả thì tác dụnggiáo dục, ngăn ngừa của hình phạt mới đợc đảm bảo
NCTN phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ phải thực hiện cácnghĩa vụ của mình Họ phải chấp hành pháp luật của Nhà nớc và các quy địnhcủa chính quyền địa phơng, tuân thủ các quy định của cơ quan, tổ chức đợcgiao nhiệm vụ giám sát và giáo dục Họ phải tham gia lao động, học tập vàsửa chữa những lỗi lầm của họ trớc đây
Thời hạn của cải tạo không giam giữ đối với NCTN cũng thấp hơn sovới ngời trởng thành Nó không đợc vợt quá 1/2 thời hạn mà điều luật quy
định
NCTN bị phạt cải tạo không giam giữ khi đã chấp hành đợc 1/4 thời hạn
và có nhiều tiến bộ thì có thể đợc toà án giảm hình phạt Nếu họ lập công hoặcmắc bệnh hiểm nghèo thì đợc xét giảm ngay và có thể đợc miễn chấp hànhhình phạt còn lại
Trang 29Điều 74 Bộ luật Hình sự quy định:
“ Ngời cha thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy địnhsau đây:
1 Đối với ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi khi phạm tội nếu điều luật
đợc áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạtcao nhất đợc áp dụng cao nhất không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thìmức hình phạt cao nhất đợc áp dụng không quá ba phần t mức phạt tù mà điềuluật quy định
2 Đối với ngời đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi khi phạm tội nếu điều luật
đ-ợc áp dụng không quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức phạtcao nhất đợc áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hìnhphạt cao nhất đợc áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luậtquy định”
Đối với NCTN phạm tội không thể áp dụng tử hình hoặc tù chung thân
Do vậy, tù có thời hạn trở thành hình phạt nghiêm khắc nhất có thể áp dụng
đối với NCTN phạm tội Hình phạt này đợc áp dụng khi NCTN phạm tội rấtnghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Trong trờng hợp NCTN phạmtội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, cần thiết phải áp dụng hình phạtnhng không có đủ điều kiện để áp dụng các hình phạt nh cảnh cáo, phạt tiềnhoặc cải tạo không giam giữ thì cũng áp dụng hình phạt tù có thời hạn
NCTN bị phạt tù có thời hạn phải cải tạo tại các trại giam, phải tuân thủcác quy định của trại trong học tập, lao động, sinh hoạt Họ đợc giam riêng để
đảm bảo hiệu quả của giáo dục cải tạo Khi NCTN đang chấp hành hình phạt
tù đã đủ 18 tuổi thì phải chuyển sang chế đọ giam ngời đã thành niên ( Điều
276 Bộ luật Tố tụng hình sự) Những quy định trên là những biện pháp bảo
Trang 30đảm kết quả cải tạo, giáo dục và ngăn ngừa những ảnh hởng xấu đến NCTNtrong thời gian chấp hành hình phạt tù giam
Trong thời gian chấp hành hình phạt tù có thời hạn, NCTN đợc học vănhoá và học nghề Học tập giúp họ cải tạo tốt và tạo điều kiện cho cuộc sốngsau này khi quay lại xã hội
Về mức tù giam đợc quy đinh rất cụ thể tại Điều 74 BLHS đối với ngời
từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật đợc áp dụng quy địnhhình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất đợc áp dụngkhông quá 18 năm tù Đây là một quy định mới so với quy định của Bộ luậtHình sự năm 1985 đó là 20 năm tù
Đối với ngời từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật
đợc áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạtcao nhất đợc áp dụng không quá 12 năm tù Đây cũng là sự khác biệt so với
Bộ luật Hình sự năm 1985 đó là 15 năm tù (Điều 74 Bộ luật Hình sự năm
- NCTN bị phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì đợc xétgiảm ngay và có thể đợc miễn chấp hành hình phạt còn lại
Khi NCTN đã chấp hành xong hình phạt tù thì Ban giám thị trại giamphối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội tại địa phơng giúp họ trở về cuộcsống bình thờng trong xã hội
1.3 Quyết định hỡnh phạt, chấp hành hỡnh phạt và ỏn tớch
1.3.1 Quyết định hỡnh phạt
Trang 31Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác địnhmức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với ngườiphạm tội cụ thể.
Quyết định hình phạt chỉ đặt ra đối với các trường hợp người phạm tộikhông được miễn TNHS hoặc hình phạt tức là đối với các trường hợp thật sựcần thiết phải áp dụng hình phạt cụ thể nhằm trừng trị và giáo dục, cải tạongười phạm
Căn cứ để quyết định hình phạt được quy định cụ thể tại Điều 75 Bộluật Hình sự như sau: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy địnhcủa Bộ luật hình sự cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tìnhtiết tăng nặng TNHS”
Quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội là trường hợp đặc biệt,tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chỗ hình phạt được quy đinh nhẹhơn so với người thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương vàmức giảm nhẹ phụ thuộc vào độ tuổi của người phạm tội Sở dĩ, NCTN đượchưởng chính sách giảm TNHS của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ cónhững đặc điểm đặc biệt về nhân thân
NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm, sinh lý chưathể nhận thức đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý, chưa thể nhận thức đầy đủ tínhchất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện Nhân thức của họcòn non nớt, thiếu chín chắn, đăc biệt là họ rất dễ kích động, lôi kéo bởinhững người xung quanh, nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc,giáo dục chu đáo NCTN dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu, dẫn đến phạm pháp.Bên cạnh đó, so với người đã thành niên nói chung chưa sâu sắc, họ dễ tiếpthu sự giáo dục của xa hội, nhà trường cũng như gia đình để từ bỏ con đườngphạm tội
Trang 32Do vậy, không thể coi NCTN phạm tội phải chịu TNHS giống nhưngười đã thành niên chính vì thế hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tộinhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội Khi quyết định hình phạt đốivới NCTN phạm tội, trươc hết Toà án phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Việc xử lý hành vi phạm tội của NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, giúp
đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
xã hội
NCTN có thể được miễn truy cứu TNHS nếu người đó phạm tội ítnghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiếtgiảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Việc truy cứu TNHS NCTN phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họđược thực hiện trong trường hợp thật sự cần thiết và phải căn cứ vào tính chấtcủa hành vi phạm tội, vào những đặc điểm của nhân thân và yêu cầu của việcphòng ngừa tội phạm Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đốivới NCTN phạm tội thì Toà án áp dụng các biện pháp tư pháp là giáo dục tại
xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng
Đối với NCTN phạm tội không áp dụng hình phạt tù chung thân và tửhình, không áp dụng các hình phạt bổ sung, không áp dụng phạt tiền đối vớiNCTN ở độ tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Khi xử phạt tù có thời hạn Toà
án cho NCTN phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối vớingười thành niên phạm tội tương ứng
Án đã tuyên với NCTN phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không được tính
để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Theo quy định của Bộ luậtHình sự năm 1999 việc quyết định hình phạt được áp dụng như sau:
Đối với hình phạt tiền: Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định phạt tiềnđược áp dụng là hình phạt chính đối với NCTN phạm tội nếu họ ở đọ tuổi từ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng Quy định
Trang 33mới này nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tù đối với NCTN, đồng thờiviệc áp dụng phạt tiền đối với NCTN phạm tiền đối với NCTN phạm tội trongtrường hợp này vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt Mức phạt tiền đốivới NCTN không vượt quá một phần hai mức phạt tiền mà luật quy định
Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: Bộ luật Hình sự năm 1999quy định giới hạn hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội khôngvượt quá một phân hai thời hạn mà điều luật quy định Đồng thời, do NCTNhầu như chưa có thu nhập hoăc tài sản riêng nên Bộ luật Hình sự năm 1999 đãkhông khấu trừ thu nhập của họ khi bị kết án
Đối với hình phạt tù có hạn: Bộ luật Hình sự năm 1999 đã phân hoáNCTN làm 2 đối tượng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi với đường lối xử lý khác nhau Người từ đủ 14 tuổiđến dưới 16 tuổi thì được xử lý nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi.Trong từng đối tượng cụ thể nói trên, nhà làm luật tách làm hai trường hợp(trường hợp quy định hình phạt tù chung thân, tử hình và trường hợp điều luậtquy định hình phạt tù có thời hạn) tương ứng với mức hình phạt khác nhauphù hợp với độ tuổi của NCTN cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tộiphạm
Đối với trừơng hợp NCTN phạm nhiều tội, có tội thực hiện trước khi
đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt ápdụng như sau:
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hìnhphạt không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 Bộluật này ( khoản 1 Điều 75)
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạtchung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội (Khoản 2 Điều 75)
1.3.2 Chấp hành hình phạt
Trang 34Các hình phạt được áp dụng đối với NCTN bao gồm: Cảnh cáo, phạttiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn Khoản 5 Điều 69 Bộ luật Hình
sự năm 1999 quy định không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối vớiNCTN…không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN ở độ tuổi từ 14 đến 16tuổi
Án đã tuyên đối với NCTN phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính
để xác đinh tái phạm hoăc tái phạm nguy hiểm
Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và cótình tiết giảm nhẹ được quy định Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 nhưng chưađến mức miễn hình phạt
Người bị kết án cải tạo không giam giữ có thì bị khấu trừ một phần thunhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước Quy định chung này không ápdụng đối với NCTN phạm tội
Nếu NCTN phải chấp hành hình phạt tù thì họ phải được giam giữriêng theo chế độ do pháp luật quy định Thời gian đang chấp hành hình phạt
tù họ phải được học nghề, học văn hoá Thực tiễn cho thấy, NCTN sau khimãn hạn tù mà không có nghề nghiệp cố định nào, họ rất có thể lại phạm tội.Trong thời gian chấp hành hình phạt tù nếu NCTN đã đủ 18 tuổi thì phảichuyển người đó sang chế độ giam giữ người đã thành niên Khi chấp hànhxong hình phạt tù, ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền xã,phường, thị trấn và tổ chức xã hội Các cơ quan tổ chức trên có thể tạo cho họ
có công ăn việc làm hoặc tham gia các hoạt động xã hội nhằm giúp đỡ họ trởthành người lương thiện, đồng thời khắc phục nguyên nhân và điều kiện dẫn
họ đến tình trạng phạm tội Với sự giúp đỡ của các cơ quan và tổ chức liênquan tạo điều kiện để NCTN dễ dàng nhận ra sai trái của mình, sự bao dungcủa xã hội, sự nhân đạo của pháp luật và từ đó có thể giáo dục, cảm hoá họ trởthành người tốt
Trang 35Việc giảm hình phạt đã tuyên đối với NCTN phạm tội được quy địnhrất cụ thể tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 1999
NCTN bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều tiến
bộ và chấp hành được một phần tư thời hạn thì được Toà án xét giảm Riêngđối với hình phạt tù mỗi lần có thể giảm 4 năm nhưng phải đảm bảo đã chấphành ít nhất hai phần năm mức hình phạt đã tuyên
NCTN bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt từ nếu lập công hoặcmắc bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hànhhình phạt còn lại
NCTN bị phạt tiền nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khănkéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớntheo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể giảm hoặc miễnchấp hành hình phạt tiền còn lại
Nếu NCTN phạm tội đã chấp hành được một phần hai thời hạn giáodục tại xã, phường, thị trấn, có nhiều tiến bộ thì có thể được Toà án quyếtđịnh chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn Uỷ ban nhân dân xã,phường, thị trấn hoặc tổ chức xã hội được giao giám sát, giáo dục xem xéthoặc theo đơn đề nghị của NCTN phạm tội đề nghị Toà án cấp huyện, nơingười chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ra quyết địnhchấm dứt thời hạn chấp hành biện pháp này
Nếu NCTN được đưa vào trường giáo dưỡng chấp hành được một phầnhai thời hạn do Toà án quyết định có nhiều tiến bộ ( thực sự ăn nan hối lỗi,nhận rõ việc làm sai trái của bản thân, tích cực học tập, lao động, tu dưỡng vàchấp hành tốt nội quy của nhà trường thì theo đề nghị của hiệu trưởng trưởng,Toà án nhân dân cấp huyện nơi trường đóng có thể ra quyết định chấm dứtthời hạn chấp hành biện pháp tư pháp này đối với NCTN đó
1.3.3 Án tích
Trang 36Khái niệm Án tích
Theo từ điển Luật học án tích được định nghĩa là dấu vết về án hình sựcủa người đã bị xử và chưa xoá án để ghi vào một quyển sổ gọi là lý lịch tưpháp để sau này trong một số trường hợp cần xem xét, đánh giá đạo đức, hạnhkiểm, thái độ đối với pháp luật Ví dụ: Trong lý lịch bị can, bị cáo phải ghi rõ
án tích ( hiện nay dùng phổ biến là tiền án) Người có án tích sau một thờigian, nếu chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật không phạm tội mới sẽ được xoá
án tích là coi như chưa bị kết án( Điều 52 Bộ luật Hình sự)
Xoá án tích
Trong luật Hình sự Việt Nam, khái niệm xoá án tích được hiểu là xoá
bỏ việc mang án tích thể hiện sự công nhận coi như chưa bị kết án đối vớingười trước đó đã bị Toà án xét xử, kết tội
Chế định xoá án tích được quy định trong Bộ luật Hình sự thể hiện tinhthần nhân đạo của Nhà nước ta đối với người bị kết án, nhằm khuyến khích
họ tuân thủ pháp luật để thực sự trở thành người có ích cho xã hội
Do đặc điểm riêng của những NCTN phạm tội nên Nhà nước ta cóchính sách hình sự áp dụng với họ không giống với người đã thành niên phạmtội
Điều 77 Bộ luật Hình sự quy định:
“1 Thời hạn xoá án tích đối với NCTN là một phần hai thời hạn quyđịnh tại Điều 64 Bộ luật này
2 NCTN phạm tội, nếu được áp dụng những biện pháp tư pháp quyđịnh tại khoản 1Điều 70 của Bộ luật này, thì không bị coi là án tích.”
Theo quy định tại Điều 64 và Điều 77 Bộ luật Hình sự thì
NCTN phạm tội bị phạt cảnh cáo, được xoá án tích sau 6 tháng nếu họkhông phạm tội mới
Trang 37Nếu NCTN bị phạt cải tạo không giam giữ, được xoá tích sau 6 tháng kể
từ ngày chấp hành xong bản án mà họ không phạm tội mới
NCTN bị phạt tù, đã chấp hành xong hình phạt tù thì Ban giám thị trạigiam phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội tại địa phương giúp họ trở
về cuộc sống bình thường trong xã hội Thời hạn xoá á tích của NCTN bị phạt
tù sớm hơn trường hợp tương tự ở người đã thành niên, thời hạn xoá án tíchcủa họ chỉ bằng một phần hai thời hạn của người thành niên
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
2.1 Tình hình vi phạm pháp luật của NCTN, nguyên nhân dẫn đến
NCTN phạm tội
2.2.1 Tình hình vi phạm pháp luật của NCTN
Tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm do NCTN thựchiện nói riêng đều là hiện tượng xã hội và chịu sự tác động, chi phối của cáchiện tượng, quá trình khác Vấn đề NCTN vi phạm pháp luật và phạm tội đã
và đang được tất cả các nhà nước trên thế giới quan tâm, lo lắng Liên hợpquốc đã ban hành một số Công ước, quy tắc liên quan đến công tác phòngchống vi phạm pháp luật của NCTN
Ở nước ta, công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và phạmtội của NCTN thuộc về trách nhiệm của Đảng, nhà nước, của các cơ quan, tổchức và đoàn thể nhân dân Trong những năm vừa qua, Đảng và nhà nước đãban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm đảm bảo sự pháttriển toàn diện của trẻ em và NCTN Chính phủ, các bộ, ban, ngành và chínhquyền các cấp đã đề ra nhiều chương trình, kế hoạch cũng như áp dụng nhiềubiện pháp để tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranhphòng và chống vi phạm pháp luật nói chung và trong đó có vi phạm phápluật của NCTN nói riêng Tuy nhiên, tình hình NCTN vi phạm pháp luật vàphạm tội ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp.Đặc biệt là bộ phận thanh thiếu niên đã tham gia vào các băng nhóm tội phạm
có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chất côn đồ hung hãn; thưchiện các hành vi giết người; cướp của, chống người thi hành công vụ, bảo kê,đâm thuê chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng