1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về thơ của một số tác gia tiêu biểu trong phong trào thơ mới

108 2,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Về Thơ Của Một Số Tác Gia Tiêu Biểu Trong Phong Trào Thơ Mới
Tác giả Ngô Thị Mai Phương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 557 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hướng nghiên cứu quan niệm về thơ của phong trào Thơ mới nói chung, có thể kể đến những công trình sau: Năm 1966, trong chuyên luận Phong trào Thơ mới 1932-1945, Phan Cự Đệ đã dành

Trang 1

Ng« thÞ mai ph¬ng

quan niÖm vÒ th¬

cña mét sè t¸c gia tiªu biÓu trong

phong trµo th¬ míi

Chuyªn ngµnh: lý luËn v¨n häc M· sè: 60 22 32

LuËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n

Vinh – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử vấn đề ……… 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ……… 6

4 Phương pháp nghiên cứu ……… 7

5 Đóng góp khoa học của luận văn ……… 7

6 Cấu trúc luận văn ……… 7

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN NIỆM VỀ THƠ CỦA MỘT SỐ TÁC GIA TIÊU BIỂU TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI … 8

1.1 Ảnh hưởng của các trường phái thơ Pháp ……… 8

1.2 Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, thơ Đường và thơ ca truyền thống Việt Nam ……… 13

1.3 Khát vọng giải phóng cá nhân và sự khẳng định cái tôi ……… 17

1.4 Nhu cầu đổi mới của thơ ca dân tộc ……… 22

1.5 Tiểu kết ……… 26

Chương 2 QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA THƠ 27

2.1 Quan niệm về bản chất của thơ……… 27

2.2 Quan niệm về chức năng của thơ……… 47

2.3 Quan niệm về tâm lý sáng tạo thơ……… 59

2.4 Tiểu kết……… 62

Chương 3 QUAN NIỆM VỀ NHÀ THƠ, HÌNH THỨC THƠ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC CỦA THƠ ……… 64

3.1 Quan niệm về nhà thơ……… 64

3.2 Quan niệm về hình thức của thơ……… 79

3.3 Quan niệm về tính dân tộc trong thơ……… 90

3.4 Tiểu kết ……… 95

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phong trào Thơ mới 1932-1945 đã đánh dấu một bước ngoặt quantrọng trong sự chuyển hướng cần thiết và kịp thời để tạo nên những thành tựumới cho nền thơ ca nước nhà Đây là cuộc duy tân có tính chất phục hưng vềvăn hóa để từ đây phá bỏ những khuôn phép sáo mòn trong cảm xúc của “thơcũ”, tạo nên bước đột phá đầy ý nghĩa về nội dung tư tưởng cũng như thi phápnghệ thuật thơ Với hơn mười năm tồn tại ngắn ngủi, phong trào Thơ mới đã làmthay đổi sâu sắc bộ mặt thơ ca dân tộc

1.2 Phong trào Thơ mới 1932-1945 đã đưa ra một số quan niệm mới vềthơ Trong suốt tiến trình phát triển của thơ Việt Nam, đây là giai đoạn các nghệ

sĩ có nhiều tuyên ngôn nghệ thuật vào loại bậc nhất Điều này chứng tỏ các nhàthơ rất ý thức về công việc sáng tác Tuy nhiên, cũng có nhiều quan niệm về thơchỉ tồn tại dưới dạng những “vô ngôn” phía sau những sáng tác cụ thể, hoặc cókhi là phát biểu thành những “tuyên ngôn” và có khi lại có những bài tiểu luậnriêng về thơ Trong thực tế, nhiều phát ngôn mang nội dung tư tưởng về thi ca của

cả một thế hệ nghệ sĩ, nó trở thành “quy định” cho toàn bộ hệ thống Thơ mới.Những quy định ấy chi phối sự thống nhất từ đề tài, hình tượng, cấu trúc tác phẩmđến hệ thống ngôn ngữ Vì vậy, nghiên cứu quan niệm về thơ của một số tác giatiêu biểu trong phong trào Thơ mới giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về nhữngđóng góp của phong trào này trong quá trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc

1.3 Ngay từ khi mới ra đời, phong trào Thơ mới đã thu hút sự quan tâmđông đảo của giới phê bình và nghiên cứu Cho đến nay, đã có hàng trăm côngtrình nghiên cứu lớn nhỏ của nhiều thế hệ học giả khắp trong Nam, ngoài Bắc và

cả ở nước ngoài đối với Thơ mới Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nàotập trung nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về quan niệm thơ củamột số tác gia tiêu biểu trong phong trào Thơ mới

1.4 Bản thân tác giả luận văn là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạymôn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông nên việc nghiên cứu đề tài này sẽ

Trang 4

góp phần vào việc giảng dạy và học tập Thơ mới tốt hơn Hiện nay, trongchương trình Ngữ văn ở trường trung học cơ sở, phổ thông và đại học, các tácgiả và tác phẩm Thơ mới có số lượng và vị trí đáng kể Nhưng không phải baogiờ đọc hoặc hiểu Thơ Mới cũng là một việc dễ dàng với nhiều người Từ thực

tế đó, đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm góp phần giúp người làm công tácnghiên cứu, giảng dạy cũng như người tiếp nhận có được chiếc chìa khóa cơ bản

để mở vào thế giới nghệ thuật của các thi sĩ thuộc phong trào Thơ mới xuất phát

từ quan niệm thơ của họ

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Quan niệm về

thơ của một số tác gia tiêu biểu của phong trào Thơ mới để làm đề tài nghiên

cứu

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay, đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu, sách

chuyên khảo trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến Thơ mới từ nhiều hướng khác

nhau Có thể chia thành hai nhóm chính: Những công trình đề cập đến quanniệm về thơ của phong trào Thơ mới nói chung và những công trình đề cập đếnquan niệm về thơ của các tác giả cụ thể

Trong hướng nghiên cứu quan niệm về thơ của phong trào Thơ mới nói

chung, có thể kể đến những công trình sau:

Năm 1966, trong chuyên luận Phong trào Thơ mới (1932-1945), Phan Cự

Đệ đã dành toàn bộ chương 3 để bàn về “Quan niệm mỹ học của các nhà Thơmới lãng mạn” Theo Phan Cự Đệ, quan niệm thẩm mỹ của các nhà Thơ mới cónhiều điểm gặp gỡ với quan niệm nghệ thuật của các nhà văn lãng mạn phảnđộng ở phương Tây thế kỷ XIX với mức độ và sắc thái khác nhau Trên tinhthần phê phán quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của các nhà Thơ mới, Phan

Cự Đệ đã chỉ ra và phân tích những biểu hiện quan điểm này ở một số nhà thơtiêu biểu như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và một số thành viên chủ

chốt trong nhóm Xuân Thu nhã tập Công trình nghiên cứu này của Phan Cự Đệ,

có thể xem là công trình sớm nhất và công phu trên phương diện bàn về quan

Trang 5

niệm nghệ thuật của phong trào Thơ mới nói chung, của các nhà thơ trongphong trào Thơ mới nói riêng Nhưng do tác giả của công trình này còn bị chiphối bởi cách nhìn khắct khe phiến diện nên thiên về phê phán những tác hại củaphong trào Thơ mới hơn là công nhận những tiến bộ của nó đối với quá trìnhhiện đại hóa thơ ca Việt Nam.

Trong công trình Con mắt thơ, xuất bản năm 1992, Đỗ Lai Thúy đã viết

về phong cách của một số nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới Trong đóông cho rằng, Thế Lữ là “người bộ hành phiêu lãng”, Xuân Diệu, “người ám ảnhthời gian”, Vũ Hoàng Chương, “đào nguyên lạc lối”, Hàn Mặc Tử, “một tư duy

thơ độc đáo”, Bích Khê, “sự nhận thức ngôn từ” Ông cũng cho rằng, phong trào

Thơ mới như một dàn hợp xướng, mà mỗi nhà thơ lại có một chủ âm riêng củamình Nếu cái nhìn nghệ thuật chung cho cả dòng thơ là một chuẩn mực, mộtphong cách cho cả “một thời đại trong thi ca” thì cái nhìn nghệ thuật của riêngmỗi nhà thơ là một sự lệch chuẩn và chính sự lệch chuẩn đó tạo nên phong cáchriêng của mỗi nhà thơ Từ chỗ nghiên cứu phong cách thơ của các nhà thơ này,tác giả Đỗ lại Thúy đã đi đến chỗ chỉ ra một số khía cạnh trong quan niệm vềthơ của họ

Trên Tạp chí Văn học số 6 năm 1993, Trần Đình Sử có bài Thơ mới và sự

đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá

những đóng góp của phong trào Thơ mới, khi ông cho rằng, “điều quan trọng làThơ mới chủ trương một quan điểm mở, không giới hạn cho thơ và giải phóngmọi giác quan để cảm nhận thế giới”

Trong bài viết Về ý thức hiện đại hóa Thơ mới thời kỳ 1940-1945 và

những đóng góp của nó đăng trên Tạp chí Văn học, số 8/1999, tác giả Mã Giang

Lân cho rằng, một trong những đóng góp quan trọng nhất của Thơ mới thời kỳ1940-1945 là ý thức hiện đại hóa quan niệm về thơ Tác giả đã chỉ ra nhữngđiểm hiện đại hóa giữa tuyên ngôn nghệ thuật và thực tiễn sáng tác của các nhà

thơ: “Trường thơ Loạn” (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê), “khuynh

hướng lãng mạn nhiều màu sắc” của Vũ Hoàng Chương, “khuynh hướng tượng

Trang 6

trưng siờu thực” của nhúm Xuõn Thu nhó tập, “Bản tuyờn ngụn tượng trưng” của nhúm Dạ Đài

Trong cụng trỡnh Tiếng núi thơ ca của tỏc giả Trần Huyền Sõm xuất bản

năm 2002, được xem là cụng trỡnh nghiờn cứu chuyờn sõu về quan niệm thơ củaphong trào Thơ mới Khi đưa ra một số quan niệm về thơ của phong trào Thơmới 1932-1945, Trần Huyền Sõm chỉ ra hai cơ sở quan trọng để làm nờn cuộccỏch mạng trong thi ca là do sự gặp gỡ với văn học phương Tõy trong hoàn cảnh

đòi hỏi cấp bỏch sự đổi mới của thơ ca dõn tộc Phần thứ ba của cụng trỡnh với

nội dung “Quan niệm về cỏi đẹp siờu thoỏt trong thơ” là phần đỏng chỳ ý nhất.

Bởi vỡ đõy là phần cú những nhận định xỏc đỏng trong quan niệm về thơ của cỏctỏc giả Thơ mới xuất phỏt từ sự thay đổi trong quan niệm về cỏi đẹp Riờng về

nhúm thơ Xuõn Thu nhó tập, Trần Huyền Sõm đó đỏnh giỏ cao những đúng gúp

về quan niệm thơ Với những kiến giải độc đỏo, nhúm Xuõn Thu nhó tập đó nờu

được những vấn đề lý luận cơ bản của thơ như: tớnh chất của thơ, đặc trưng củathơ trong sự đối sỏnh với văn xuụi, mối quan hệ giữa nhà thơ và bạn đọc, giữathơ ca và cỏc ngành nghệ thuật khỏc

Trờn Tạp chớ Văn học số 3 năm 2007 cú đăng bài viết Kiểu nhà thơ và cỏc

quan niệm về thơ của cỏc nhà thơ Mới Trong bài viết này, tỏc giả Hoàng Sĩ

Nguyờn đó đưa ra nhận định, phong trào Thơ mới đó hỡnh thành một kiểu nhà thơkhỏc với kiểu nhà thơ trong văn học trung đại, và dấu ấn cỏch tõn rừ ràng nhất thểhiện trong quan niệm của cỏc nhà thơ về Thơ mới Từ việc phõn tớch quan niệmcủa cỏc nhà thơ cụ thể, tỏc giả cho rằng, chỉ trong một thời gian ngắn, quan niệm

về thơ của cỏc nhà Thơ mới biến đổi khụng ngừng, biểu thị khỏt vọng thay đổicủa thơ ca Việt Nam Sau những năm dài quan niệm thơ văn bị ỏp lực thời đại chiphối, khi “cỏi ta cộng đồng” lắng xuống, “cỏi tụi cỏ nhõn” trở lại với ý thức sõusắc về sự hiện hữu của mỡnh trong xó hội thỡ những quan niệm thơ như thế ở mặtmẫn cảm và ụn hũa lại tươi nguyờn giỏ trị

Với nhúm cụng trỡnh nghiờn cứu quan niệm về thơ của cỏc tỏc giả cụ thể,

cú thể kể đến những cụng trỡnh đỏng chỳ ý sau:

Trang 7

Trong bài viết Xuân Thu nhã tập - một hướng tìm về dân tộc đăng trên

Tạp chí Văn học số 11/1994, tác giả Nguyễn Bao cho rằng, những nhà thơ thuộc

nhóm Xuân Thu nhã tập đã đưa ra một quan niệm mới về thơ và cố gắng tìm ra

bản chất của thơ cũng như con đường dẫn đến thơ Đồng thời tác giả đã đi phân

tích các khía cạnh cụ thể trong quan niệm về thơ của Xuân Thu nhã tập và cho

rằng, với một quan niệm thơ siêu thoát và thuần túy, đưa thơ lên cõi huyền ảo,

tinh khiết, đẩy thơ bắt kịp cái lẽ phải cuối cùng được gọi là Đạo, nhóm Xuân

Thu nhã tập muốn đưa nghệ thuật lên một vị trí thiêng liêng, cao đẹp tuyệt đối.

Nhận định này của Nguyễn Bao có tính chất cách mạng đối với nhóm Xuân Thu

nhã tập Tuy nhiên với dung lượng hạn chế của một bài báo, tác giả của nó

không thể bao quát tất cả những vấn đề của phong trào Thơ mới nhưng đã gợi ýcho chúng tôi rất nhiều

Trong luận án Tiến sĩ Thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử được bảo vệ

thành công năm 1996, tác giả Chu Văn Sơn đã dành hẳn chương 1 để bàn về

“quan niệm thơ lạ lùng” của Hàn Mặc Tử Theo Chu Văn Sơn, trong quan niệmthơ của Hàn Mặc Tử “Thơ là hoa trái của đau thương”, “Người thơ - ngườikhách lạ đi giữa nguồn trong trẻo” và “Việc làm thơ - nàng đánh tôi đau quá tôibật ra tiếng khóc” Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, Chu Văn Sơn đã xuấtphát từ mỹ học của “cái tôi” tột cùng để tiến hành nghiên cứu quan niệm thơ củaHàn Mặc Tử

Với nhan đề bài viết Thơ, nhà thơ, nghề thơ trong quan niệm của Hàn

Mặc Tử đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 3/1999, tác giả Phan Quỳnh

Nga cho rằng, Hàn Mặc Tử quan niệm thơ “cần có nhạc và họa”, “thơ cần siêuthoát”, thơ là “thánh ca” còn nhà thơ là “sứ giả của trời và đất”, là “chất kếtdính”, là “đường dây nối liền mối liên hệ kỳ diệu giữa Đức Chúa Trời với thiênhạ” Trong quan niệm về nghề thơ, Hàn Mặc Tử cho rằng, làm thơ ấy là lúc thầntrí thăng hoa, bay tản đi, chỉ còn lại linh hồn trong “cõi mộng”, “nơi cực lạcgiới”, nơi “xuất thế gian”, để từ nơi ấy, “toàn thân thi sĩ rung động như mộtđường tơ” Có thể đây là những quan niệm về thơ, nghề thơ xuất phát từ niềm

Trang 8

tin vào một thế giới của Kinh Thánh nhưng cũng có thể là nhân thức về sự khác

lạ của thơ, nhà thơ và nghề thơ

Năm 2003, Nguyễn Toàn Thắng bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề

tài Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định 1932-1945 Luận án này nghiên cứu

Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định trong mối quan hệ, tác động lẫn nhau vàHàn Mặc Tử được xem là linh hồn của nhóm Trong chương 1 của luận án, tácgiả Nguyễn Toàn Thắng đã đưa ra những nhận định, đánh giá về quan niệm thơ

của Hàn Mặc Tử đồng thời phân tích những ảnh hưởng của thơ lãng mạn, thơ

siêu thực và thơ tượng trưng của Pháp đối với phong trào Thơ mới nói chung,

Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định nói riêng

Chúng tôi thấy rằng, các công trình nghiên cứu quan niệm về thơ của cácnhà thơ trong phong trào Thơ mới đã được quan tâm nhưng chưa phản ánh đúngtầm quan trọng của vấn đề này Các công trình nói trên chủ yế tập trung nghiên

cứu quan niệm thơ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và nhóm Xuân Thu nhã tập

để chỉ ra cái mới lạ chứ chưa phân tích một cách sâu sắc những quan niệm thơcủa họ Việc nghiên cứu quan niệm thơ của các nhà thơ khác như Thế Lữ, ĐinhHùng, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê hay Xuân Diệu và nhóm

thơ Dạ Đài thì hầu như chưa được quan tâm Đây chính là gợi ý cho chúng tôi

trong việc tìm đến một đề tài nghiên cứu về Thơ mới

Có thể nói, những công trình trên đã tiến hành nghiên cứu về Thơ mới ởnhững phương diện khác nhau như đóng góp của các nhà thơ thuộc phong tràoThơ mới cùng những quan niệm về thơ của một số cá nhân nhà thơ nhưng nộidung của những quan niệm về thơ mới chỉ dừng lại ở những phát biểu mang tínhchất tiên đề Đến nay, chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu một cách

cụ thể về nội dung của những quan niệm trên Luận văn của chúng tôi được tiếnhành dựa trên những gợi ý của những công trình nói trên Đây cũng là để dịpchúng tôi hệ thống lại những nhận định của nhiều thế học giả nghiên cứu ViệtNam về quan niệm thơ của một số tác gia thuộc phong trào Thơ mới

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các Lời tựa, Lời bạt, Tiểu luận báo chí, các bài tiểu luận về thơ hoặc liên quan đến Thơ mới; những

câu thơ, bài thơ có tính chất tuyên ngôn thể hiện trực tiếp quan niệm về các vấn

đề liên quan đến thơ của các nhà thơ Trong đó, chủ yếu tập trung ở một số nhà

thơ tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu; các nhà thơ trong Trường

thơ Loạn như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, nhà thơ Vũ Hoàng

Chương, nhóm Xuân Thu nhã tập, Đinh Hùng và nhóm Dạ Đài

Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm về thơ của một số tác gia tiêu biểu, và

các nhóm thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu thuộc chuyên ngànhnghiên cứu văn học như phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình, phươngpháp tiểu sử, phương pháp lịch sử cùng các thao tác phục vụ cho quá trình nghiêncứu như thao tác so sánh, thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp, đánh giá

5 Đóng góp khoa học của luận văn

5.1 Luận văn là hệ thống hóa, tổng quan những ý kiến của các nhà nghiêncứu, các học giả xung quanh vấn đề quan niệm về thơ của các tác gia tiêu biểuthuộc phong trào Thơ mới

5.2 Luận văn lý giải một trong những vấn đề của sáng tác, đó là quanniệm về một thể loại quan trọng trong văn học: thơ ca Cũng là dịp mô tả mộtcách khái quát về tiến trình phát triển của văn học trong một giai đoạn quantrọng của lịch sử văn học dân tộc, giai đoạn 1932-1945

5.3 Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến thơ Mớinói chung, những nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới nói riêng Đặc biệt là quanniệm về thơ của một số tác gia và nhóm thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai

trong 3 chương:

Trang 10

Chương 1 Cơ sở hình thành và phát triển quan niệm về thơ của một số tácgia tiêu biểu trong phong trào Thơ mới

Chương 2 Quan niệm về bản chất, chức năng của thơ

Chương 3 Quan niệm về nhà thơ, hình thức của thơ và một số vấn đềkhác của thơ

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUAN NIỆM VỀ THƠ CỦA MỘT SỐ TÁC GIA TIÊU BIỂU TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 1.1 Ảnh hưởng của các trường phái thơ Pháp

Phong trào thơ Mới 1932-1945 chịu ảnh hưởng của các trường phái thơPháp Trong đó, thơ lãng mạn, siêu thực và tượng trưng được xem là ba trườngphái chính Ngay từ đầu, khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây nói chung,văn hóa Pháp nói riêng, chúng ta lần đầu bước vào một thế giới hoàn toàn mớivới những ấn tượng mạnh mẽ, tác động đến quan niệm thẩm mỹ cũng như quanniệm sáng tạo của nghệ sĩ Việt Nam Thơ Pháp là một trong những nguồn tácđộng lớn tới việc ra đời của phong trào Thơ mới Khi nhận định về sự ảnhhưởng của thơ Pháp đối với phong trào Thơ mới, Hoài Thanh cho rằng: “ThơViệt đã diễn lại trong mười năm cái lịch sử một trăm năm thơ Pháp, từ lãng mạnđến Thi Sơn, tượng trưng và những nhà thơ sau tượng trưng Tinh thần lãng mạncủa Pháp đã gia nhập vào văn học Việt Nam từ trước 1932” [76, 32] Và “mỗinhà thơ Việt Nam hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp” Trong

phần viết về phong trào thơ Mới 1932-1945 của giáo trình Văn học Việt Nam

1900-1945, Phan Cự Đệ cũng có chung quan niệm như Hoài Thanh, khi ông cho

rằng: “Phong trào Thơ mới là một bước tổng hợp mới nghĩa ảnh hưởng củaphương Tây và phương Đông để xây dựng nền thi ca Việt Nam hiện đại Từ1932-1945, thơ Mới hầu như đã chịu ảnh hưởng của gần một trăm năm thơPháp: ảnh hưởng từ trường phái lãng mạn đầu thế kỷ XIX, (Chateaubriand,Lamartine, Musset, Vigny, Hugo) đến nhóm Thi Sơn (Théophile Gautiner,

Leconte de Lisle), qua Baudelaire đến trường phái tượng trưng (Verlaine,

Trang 11

Rimbaud, Mallarmé) và các trường phái suy đồi khác”[18, 573] Thơ Pháp khivào Việt Nam đã trở thành món ăn tinh thần mới mẻ và hấp dẫn, như một luồngsinh khí mới thổi vào tư tưởng và tình cảm của bao nhiêu tâm hòn trẻ tuổi củacác nhà thơ Việt Nam “Nhìn qua ta chỉ thấy một điều rõ: ảnh hưởng phươngTây, hay đúng hơn ảnh hưởng Pháp” [76, 29] Thơ ca Pháp đã gieo những ảnh

rõ rệt trên nhiều phương diện hình thức của thơ: lối ngắt nhịp, cách gieo vần, lốibắc cầu, nhạc điệu hóa ngôn ngữ, diễn đạt tinh tế Nhưng vấn đề cốt lõi của thơchính là nội dung tư tưởng Với sự xuất hiện “cái tôi” cá nhân trong tư tưởngnghệ thuật, cái tôi thẩm mỹ đã chi phối mạnh mẽ những yếu tố khác của thơ

Thơ mới Việt Nam ra đời có thể nói là khá muộn so với tuổi đời trên trămnăm của thơ ca lãng mạn thế giới cũng như mấy chục năm thơ tượng trưng.Trong khi đó, thơ siêu thực lại đang trong những ngày thịnh hành nhất Tronghoàn cảnh của một nước Việt Nam những ngày đầu thế kỷ XX, khi “con ngườivừa thoát ra khỏi vòng trói buộc phong kiến, họ mới mở lòng đón nhận bài họcgiải phóng cá tính, giải phóng cái tôi Họ đang tin tưởng và tôn thờ tự do cánhân, tôn thờ cái tôi cá thể” “Vì thế, người bạn đồng hành đích thực đến với họlúc này là những nhà thơ lãng mạn của Pháp như Lamactin, Vinhi, Muytxê,Huygô“ [73, 81] Thơ mới thời kỳ 1932-1945 ảnh hưởng một cách sâu đậm cáctrường phái thơ lãng mạn Pháp vì một lý do rất thuyết phục, chủ nghĩa lãng mạn

đề cao cái tôi cá nhân (induvidu) của nó Chủ nghĩa lãng mạn lấy cái tôi làmtrung tâm của sự cảm nhận, làm nguyên tắc của thế giới quan nhà thơ “Nhà thơlãng mạn muốn bày tỏ cho chúng ta trước hết về chính họ, là phơi bày tâm hồn,cõi lòng họ Họ thổ lộ cho ta chiều sâu tâm hồn xúc cảm, sự đa dạng của cá tính

Họ reo lên vì vui, họ gào lên hay khóc lên vì đau đớn Họ kể lể, họ bảo ban, họvạch trần với khuynh hướng rõ rệt, buộc người nghe phục tùng cảm giác về đờisống của họ, làm cho người nghe thấy cái gì đang hiện ra trong trực giác trựctiếp của nhà thơ” [73, 36]

Từ chỗ đề cao cái tôi cá nhân, chủ nghĩa lãng mạn còn hướng tới giảiphóng cá tính sáng tạo và trí tưởng tượng nghệ thuật của người nghệ sĩ, làm chongôn ngữ văn học trở nên phong phú và giàu sức biểu cảm, đưa người đọc đến

Trang 12

những chân trời mới rộng mở của thi ca Một trong những trụ cột của chủ nghĩalãng mạn Pháp, V Huygô từng cho rằng, “Chủ nghĩa lãng mạn cuối cùng là chủnghĩa tự do trong văn học” Các nhà thơ của phong trào Thơ mới Việt Nam chịuảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của chủ nghĩa lãng mạn, là bởi họ tìm thấy trong đó

tư tưởng coi trong và đề cao cảm xúc của cái tôi cá nhân, đồng thời tôn trọng tự

do trong sáng tác thơ ca Tuy nhiên, sự chiếm ưu thế của khuynh hướng lãng mạntrong Thơ mới nhưng nó không hoàn toàn đồng nhất Màu sắc lãng mạn trong thơThế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu khác xa với Hàn Mặc

Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và nhất là càng khác xa so với Vũ Hoàng Chương,Đinh Hùng, những nhà thơ thành danh ở thời kỳ cuối của phong trào Thơ mới Tưtưởng của chủ nghĩa lãng mạn nói chung và trường phái thơ lãng mạn Pháp nóiriêng đã có tác động không nhỏ tới quan niệm về thơ ở các nhà thơ của phong tràoThơ mới 1932-1945

Ngoài chịu sự tác động của chủ nghĩa thơ lãng mạn Pháp, phong trào Thơmới 1932-1945 của Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của phong trào thơ tượngtrưng Thơ tượng trưng là một lối sáng tác thơ trên thế giới, xuất hiện vào cuốithế kỷ XIX Thơ tượng trưng ra đời trong bối cảnh tình trạng khủng hoảng củachế độ tư bản bước sang chế độ chủ nghĩa đế quốc độc tài Trong một xã hội cónhiều biến động, rối ren và khủng hoảng ấy, con người trở nên bi quan, mấtniềm tin vào tương lai Con người không còn tin vào sự tiến bộ của lịch sử, thậmchí con người còn không tin vào khả năng lý trí của chính họ, hoài nghi chínhbản thân mình Cơ sở ý thức mà thơ tượng trưng coi là tiền đề tư tưởng của mình

là triết học duy tâm của Schopenhaure và Hecmann với tư tưởng chính là quanniệm thần bí của thuyết nhị nguyên Cuộc sống được chia làm hai thái cực: Phầnhiện thực là cái hàng ngày trong tất cả mọi biểu hiện của nó; phần lý tưởng nằmngoài giới hạn hiểu biết của con người Từ quan điểm nhị nguyên về nhận thứcthế giới đã dẫn tới nhị nguyên trong hoạt động cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật.Những vấn đề này được thể hiện rất rõ trong các nguyên lý mỹ học cơ bản củathơ tượng trưng Loại hình thơ này phủ nhận hiện thực và đi tìm một thế giớikhác, một thế giới huyền bí ẩn đằng sau thế giới hiện thực Một thế giới thuộc vềcõi tâm linh của con người, của những cảm giác và vô thức Trong thế giới ấy,

Trang 13

con người bình thường không thể nào nhận biết được, chỉ có thi sĩ là người thiênbẩm kỳ diệu mới có thể thâm nhập vào và biểu đạt được nó mà thôi Với quanniệm mới về nghệ thuật, chủ nghĩa tượng trưng có khả năng mở ra một thế giớimới cho tư duy thơ, giúp chúng ta đi sâu vào cõi vô tận, khám phá những gì mơ

hồ, huyền bí nhất trong thiên nhiên, tạo vật và lòng người Theo những ngườichủ xướng của chủ nghĩa tượng trưng, bản thân thế giới là “không rõ ràng”,người nghệ sĩ phải biết “tìm thấy trong cuộc phiêu lưu của thơ ca các cách thứckhám phá ra cái điều chưa được biết tới” Người nghệ sĩ không chỉ cảm thấu thếgiới bên ngoài mà còn có khả năng nhận biết thế giới bên trong, không chỉ nắmbắt được cái đang hiện hữu, mà còn nghe thấy, cảm thấy được cái vô hình, cái bí

ẩn, mơ hồ nằm trong một màn sương mờ đặc Để tìm ra một sợi dây liên hệ giữathế giới vô thức và thế giới hữu thức, người nghệ sĩ phải có cái nhìn “thấu thị”xuyên suốt các sự vật để có thể “chọc thủng” màn sương bí ẩn, mơ hồ đó nhằmtìm ra chân lý đích thực của nghệ thuật Để có thể tái hiện được một thế giới siêunghiệm, huyền bí như vậy, thơ tượng trưng đã tìm đến một thứ ngôn ngữ “phithường” để diễn tả nó Ngôn ngữ trong thơ tượng trưng không phải là phươngtiện biểu hiện nghệ thuật mà nó trở thành cứu cánh, trở thành mục đích tự thân.Thứ ngôn ngữ đó đòi hỏi phải có được những ý nghĩa kỳ ảo để biểu đạt những bímật thầm kín của thế giới Lời thơ vì thế mà mất đi ý nghĩa thông thường, trởthành phương tiện thôi miên, khơi dậy những cảm giác mơ hồ, không xác định.Ngôn ngữ bí hiểm mang tính hình thức và duy mĩ Các nhà tượng trưng chủnghĩa cho rằng, tính chất xúc cảm, trữ tình của chủ nghĩa lãng mạn không thểgiúp họ hoàn thành thiên chức của người nghệ sĩ, họ phải cần đến “sự tổng hòacác giác quan” Phát huy tối đa sự cộng hưởng giữa các giác quan ấy, nó có thểmang lại cho chúng ta một bản nhạc huyền diệu trong sự giao thoa giữa các âmthanh, màu sắc, ánh sáng và hương thơm Đặc biệt, trong lý luận của trường pháithơ tượng trưng, yếu tố âm nhạc được nhấn mạnh biểu hiện thành “tinh thần âmnhạc” trong thơ ca Một trong những chủ soái của thơ tượng trưng, Véclen, đã

từng đưa ra một tuyên ngôn về tượng trưng trong Nghệ thuật thơ ca: “âm nhạc

trước hết mọi thứ” và ông chủ trương “mỗi từ trong câu phải là một nốt nhạc”.Theo các nhà thơ tượng trưng, thơ không mô tả, kể lể, mà gợi cảm, và muốn gợi

Trang 14

cảm trước hết phải viện đến âm nhạc Họ cho rằng, nhờ âm thanh của từ mà thơgợi nên được những sắc thái tinh tế nhất của tình cảm, của những thế giới u uẩnbên trong tâm hồn của con người; với nhạc điệu ấy, thơ sẽ mang giá trị củanhững câu thần chú, có thể mê hoặc người đọc Quan niệm này đã trở thành mộtnguyên tắc thẩm mỹ trong sáng tạo thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng Có thểnói, chủ nghĩa tượng trưng ảnh hưởng rất sâu đậm đến phong trào Thơ mới nhất

là vào giai đoạn cuối Lý luận của trường phái tượng trưng đã in dấu ấn rất rõtrong quan niệm về ngôn ngữ thơ (Bích Khê), lời văn thơ “kinh dị” (quan niệm

của Đinh Hùng), tài năng thiên bẩm của người nghệ sĩ (quan niệm của nhóm Dạ

Đài), yếu tố nhạc trong thơ (quan niệm của nhóm Xuân Thu nhã tập)…

Trong quan niệm về thơ cũng như trong sáng tác của Trường thơ Loạn cũng như của Đinh Hùng và nhóm Dạ Đài, người ta còn thấy dấu ấn của thơ

siêu thực Thơ siêu thực là loại hình thơ xuất hiện đầu thế kỷ XX, vào khoảngnhững năm 1910-1920 ở Pháp và có ảnh hưởng to lớn trên khắp thế giới Chịuảnh hưởng của những trào lưu triết học và các khoa học nhân văn hiện đại nhưtriết học trực giác của Bergson, học thuyết phân tâm học của Freud…, thơ siêuthực là sự “nổi loạn” nhằm chống lại nền văn minh tư sản và chủ nghĩa duy lýhiện đại Con người trong quan niệm của chủ nghĩa siêu thực là “con người toànnguyên”, bao gồm cả phần ý thức sáng tỏ tỉnh táo và cả phần bản năng, vô thức

ẩn chìm Cơ sở của lối sáng tác siêu thực, theo A Breton, là “tính tự động thuầntâm lý, nó có mục tiêu là biểu đạt hoạt động chức năng thực tại của tư tưởng,bằng lời nói, bằng chữ viết và bằng bất cứ phương cách nào Bài chính tả của tưtưởng nằm ngoài mọi kiến giải thẩm mỹ hay đạo lý” [28, 100] Người nghệ sĩcần phải dựa vào mọi kinh nghiệm biểu đạt vô thức - giấc mơ, ảo giác, hồi ứcthời thơ ấu, những hình bóng thần bí Thơ siêu thực chủ nghĩa là thơ tiềm thức,của cái viết tự động, của giấc mơ, mê sảng… tất cả tạo nên thế giới ảo diệu, siêu

tự nhiên, thế giới tâm linh, lung linh, vời vợi, thực và hư Trong Thơ mới, ảnhhưởng của thơ siêu thực rõ nét nhất có lẽ phải kể đến trường hợp Hàn Mặc Tử,

Chế Lan Viên, Đinh Hùng và nhóm Dạ Đài, cho dù trong Bản tuyên ngôn tượng

trưng, các tác giả nhóm Dạ Đài tự nhận mình là những “thi sĩ tượng trưng”

Trang 15

nhưng thực chất quan niệm về thơ và thực tiễn sáng tác của họ đã bước sang địahạt siêu thực.

Nói tóm lại, sự ảnh hưởng của các trào lưu thơ lãng mạn, thơ tượng trưng

và thơ siêu thực của Pháp đối với các nhà Thơ mới có tác động không nhỏ trongquan niệm về thơ của họ Trong quan niệm về thơ của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,Xuân Diệu và của cả Vũ Hoàng Chương ở thời kỳ cuối phong trào Thơ mớichúng ta thấy có dấu ấn quan niệm thơ của trào lưu thơ lãng mạn Quan niệm về

sự tương hợp giữa các giác quan, về yếu tố âm nhạc trong thơ, về vai trò của

ngôn ngữ thơ của Bích Khê, nhóm Xuân Thu nhã tập là do sự ảnh hưởng của

trường phái thơ tượng trưng Quan niệm về sự thần bí của thơ, vai trò của vôthức trong quá trình sáng tạo trong quan niệm của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,

Đinh Hùng và nhóm Dạ Đài là do sự ảnh hưởng của trào lưu thơ siêu thực.

1.2 Ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, thơ Đường và thơ ca truyền thống Việt Nam

Từ trước tới nay, khi nghĩ về ảnh hưởng của các nguồn văn hoá đối vớiThơ mới, người ta quen nghĩ đến ảnh hưởng của văn hoá Phương Tây, văn hoáPháp Còn đi tìm ảnh hưởng của nguồn văn hoá phương Đông và truyền thốngthơ ca dân tộc đối với Thơ mới thì người ta lại thấy như làm một công việc cótính chất nghịch lý Bởi lẽ, chính Thơ mới được hình thành từ chỗ “chống lại”

và phủ nhận “thơ cũ” tức là thơ làm theo luật Đường với những niêm luật quáchặt chẽ của nó Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan, chúng ta không thể phủnhận những ảnh hưởng của văn hoá phương Đông, thơ Đường và truyền thốngthơ ca dân tộc đối với Thơ mới Có thể nói, “ảnh hưởng của văn hoá phươngĐông, thơ Đường, thơ Việt Nam trung đại hầu như đều có đối với mỗi nhà Thơmới Điều đó không khó hiểu lắm, bởi các nhà Thơ mới đều lớn lên trong bầukhí quyển văn hoá phương Đông, thơ Đường, thơ Việt Nam trung đại” [87, 67].Trong phong trào Thơ mới, bên cạnh việc thanh lọc và tiếp thu những tác độngcủa phương Tây mà đặc biệt là các trường phái thơ Pháp, Thơ mới còn kế thừa disản thơ ca phương Đông (bao gồm Thơ Đường, thơ ca dân gian và thơ ca trung

đại Việt Nam) khá sâu sắc và tinh vi Trong Thi nhân Việt Nam, tác giả Hoài

Trang 16

Thanh, Hoài Chân đã phân chia dòng mạch Thơ mới thành nhiều dòng thơ khácnhau; dòng chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng chịu ảnh hưởng từ Đường thi, vàdòng thơ mang tính cách thuần Việt “Đó là ba dòng thơ đã đi song song trongmười năm qua Cố nhiên trong sự thực, ba dòng thơ ấy không có cách biệt rõ ràngnhư thế” [76, 37] Riêng đối với dòng thứ hai, các ông khẳng định “Thanh thế thơĐường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn ” và các nhà Thơ mới đã “đi tới thơĐường với một tấm lòng trong sạch và mới mẻ, điều kiện cần thiết để hiểu thơ”[76, 33].

Ảnh hưởng của văn hoá dân gian nói chung, ca dao dân ca dân gian ViệtNam đến Thơ mới khá phong phú trên nhiều phương diện: đề tài, thể loại, giọngđiệu, ngôn ngữ Nhiều nhà thơ như Nguyễn Nhược Pháp, Anh Thơ, Bàng BáLân, Đoàn Văn Cừ, Tế Hanh… đã tạo được nét đặc sắc trong thơ mình, đó làkhung cảnh không gian làng quê cổ truyền Việt Nam Tiêu biểu nhất phải kể đếnNguyễn Bính - “thi sĩ chân quê” Thơ ông thực sự được xem là thứ thơ “dângian hiện đại” Nguyễn Bính đã đưa vào thơ của mình cái rộn ràng của khôngkhí sinh hoạt văn hoá truyền thống Đó là những đêm hội chèo, trong sự khoángđãng của không gian “Hội làng mở giữa mùa thu/ Giời cao gió cả trăng như banngày”, trai gái tự tình, ướm hỏi, hẹn hò, trách cứ nhau:

“Phường chèo đóng Nhị Độ Mai

Sao em lại đứng với người đi xem Mấy lần tôi muốn gọi em Lớp Mai Sinh tiễn Hạnh Nguyên sang Hồ ”

Có thể nói, bằng những sáng tác của mình, nhóm thi sĩ đồng quê (Nguyễn

Bính, Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ) đã khẳng định được những nét đẹpđáng trân trọng, đáng gìn giữ trong nền văn hoá dân tộc với những biểu hiện đadạng, phong phú và sinh động Bên cạnh đó, Thơ mới cũng đã có nhiều cố gắngtìm tòi cách diễn đạt phù hợp với tâm hồn dân tộc, tiếp tục khai thác triệt để thếmạnh của các thể thơ dân gian từ ngàn xưa (lục bát, song thất lục bát, hát nói, cadao, dân ca, hò vè…)

Trang 17

Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông, thơ Đường và thơ ca Việt Namtrung đại (thơ ca Việt Nam thời trung đại phần lớn là thơ được mô phỏng và họctập từ thơ Đường) cũng không kém phần quan trọng đối với Thơ mới Thoạtnghe, ta tưởng như đây là một điều nghịch lý Bởi như trên đã nói, chính Thơmới được hình thành từ chỗ “chống lại” và phủ nhận “thơ cũ”, mà chủ yếu là thơĐường luật vốn mang cảm xúc và tư duy sáo mòn Thơ cũ tưởng như đã rút luikhông kèn trống Nhưng thực ra, không phải thơ Đường đã mất hết thanh thế, cóthể nó chỉ bị đào thải ở những mặt hạn chế, với niêm luật và hình ảnh cũ mòn

mà thôi Các nhà Thơ mới vẫn có ý thức học tập thơ Đường ở những nét tinh tế

về cảm xúc, quan niệm cũng như cách diễn đạt Huống chi, ảnh hưởng thơĐường đến thơ Việt Nam quá sâu sắc, nó đã ngấm vào văn mạch dân tộc và cộinguồn tâm thức, tâm hồn của người Việt Đâu phải một sớm một chiều mà dễdàng vứt bỏ? Hơn nữa, Thơ Đường, bản thân nó cũng mang một giá trị văn hoá

to lớn không phải chỉ riêng đối với người Trung Quốc mà còn đối với toàn bộnền văn hoá nhân loại Đánh giá về sự ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ

mới, tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân khẳng định:

“Trong hàng thanh niên chịu ảnh hưởng thơ văn Pháp nhiều người lại quay vềthơ Đường Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn” Có một

số thi sĩ trước khi vào làng Thơ mới đã có một thời kỳ làm thơ Đường luật(Đông Hồ, Hàn Mặc Tử, Bích Khê…) Có những thi sĩ hầu như trước sau chỉlàm thơ Đường (Quách Tấn) Một số thi sĩ khác làm Thơ mới nhưng có chịu ảnhhưởng của thơ Đướng (J.Leiba, Thái Can, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Vân Đài,

Vũ Hoàng Chương, Thâm Tâm,…) Ngay cả nhà thơ được mệnh danh là “mớinhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh) - Xuân Diệu thì bóng dáng thơĐường vẫn hiển hiện qua những hình ảnh của nàng Lộng Ngọc, Dương Quý Phi,Đường Minh Hoàng,… Lý giải nguyên nhân dẫn đến điều này, Lê Thị Anh

trong luận án Tiến sĩ với đề tài Thơ mới với thơ Đường, đã cho rằng, thơ Đường

đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về số lượng lẫn giá trị hơn hẳn thơ ca các đờikhác của Trung Quốc…; Một lý do khác, “Thơ mới đã bắt gặp những gì rất phùhợp với mình trong nhiều sáng tác của các nhà thơ Đường Những tâm hồn đồngđiệu đã vượt qua rào cản thời gian mà tìm đến với nhau Ngoài ra, Thơ Đường

Trang 18

lại có những đặc điểm tương đồng trên phương diện lý thuyết với thơ tượngtrưng Pháp mà Thơ mới đã tiếp thu” [1, 13-14] Phan Cự Đệ thì cho rằng: “Có lẽkhông phải ngẫu nhiên mà Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường.Ngay tuổi thơ ấu họ đã nghe giọng ngâm thơ Đường giàu nhạc điệu của cha anh,lớn lên mỗi nhà Thơ mới đều thuộc ít nhiều thơ Đường Có người làm quen vớithơ Đường qua bản chữ Hán nhưng cũng có người chỉ biết một số thơ Đườngqua các bản dịch của Tùng Văn, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trúc Khuê v.v… Lại có

người mang duyên nợ với thơ Đường qua Kiều, Chinh phụ ngâm, thơ Tản Đà” [17, 200] Còn, Ngô Văn Phú trong bài Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới

và thơ Đường lại nhận định: “Những vương vất ấy là lẽ tất nhiên, bởi các nhà

thơ trong phong trào Thơ mới trước khi hấp thụ văn minh phương Tây, trong cáigien của họ, văn minh phương Đông đã thành máu thịt, từ cha ông truyền lại”[64, 113] Trong các nguyên nhân ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới kểtrên phải kể đến sự ảnh hưởng gián tiếp của thơ đường đối với Thơ mới qua thơtrung đại Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc củathơ Đường Điều đó, một phần do hoàn cảnh lịch sử - xã hội riêng chi phối, donhu cầu tiếp nhận giao lưu văn học, nhưng cũng là hệ quả tất yếu của một nềnvăn học rực rỡ và phát triển như văn học đời Đường Thế kỷ X, thơ Đường đãđược truyền bá và có nhiều bậc thức giả am hiểu, sáng tác, ứng dụng vào thiềnhọc Các khoa thi Hương, Hội, Đình ở các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn sĩ tửđều phải thi thơ, mà thơ lại chính lại là thơ Đường luật Về sau, chữ Nôm ra đời,nhưng thơ Đường luật vẫn phát triển song song và mạnh mẽ Sự kết hợp ngônngữ dân tộc với luật thi đã đưa hình thức Đường luật phát triển lên một tầm caomới: thơ Nôm Đường luật Trải qua và được bồi đắp thêm biết bao thành tựu: từ

Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập - Lê Thánh Tông với

Hội Tao Đàn; đầu thế kỷ XV với Bạch Vân am thi tập - Nguyễn Bỉnh Khiêm,

đến Hồ Xuân Hương thì thơ Đường luật đã hoà hợp nhuần nhuyễn, tinh tế vàohồn thơ dân tộc Thế kỷ XVIII, XIX với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện ThanhQuan thì hồn Việt, lời nói Việt, tâm trạng Việt đã khiến cho thơ luật Đường đến

độ hoàn hảo Sau đó, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… lại tiếp nối phát triển chođến thời Thơ mới, mạch chảy thơ Đường vẫn không bị cắt rời Những gương

Trang 19

mặt cổ điển tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm…; những

thi phẩm để đời mang tính mẫu mực và đồ sộ như Truyện Kiều, Chinh phụ

ngâm, Cung oán ngâm… đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường.

Như vậy, thơ truyền thống, thơ Trung đại Việt Nam ướp đầy không khí,hương sắc thơ Đường Và các nhà Thơ mới, trong khi tiếp thu văn học truyềnthống dân tộc đã một lần nữa tiếp nhận cái âm vang sâu lắng ấy bằng giác quanbén nhạy của mình

Tóm lại, sự ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, thơ Đường luật và thơ

ca truyền thống dân tộc đối với Thơ mới rất sâu sắc, phong phú và đa dạng Từ

sự ảnh hưởng phong phú đó đã cắt nghĩa một cách đầy thuyết phục rằng bản sắcvăn hoá dân tộc như một dòng chảy ngầm không hề đứt đoạn trong phong tràoThơ mới Thơ mới đã trở thành nguồn mạch nối liền dòng thơ ca dân tộc với thơ

ca hiện đại hôm nay Do vậy, tính dân tộc trong thơ đã trở thành một quan niệmsâu sắc về thơ đối với các nhà thơ của phong trào Thơ mới Quan niệm nàykhông chỉ được ý thức trong tâm hồn các nhà thơ mà còn được phát biểu thànhtuyên ngôn và định hướng cho sáng tác của các nhà thơ

1.3 Khát vọng giải phóng cá nhân và sự khẳng định cái tôi

Thơ ca muôn đời vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước conngười và tạo vật Nếu thơ ca trung đại chủ yếu là hướng ngoại, cái tôi nhà thơthường hòa vào vũ trụ, thiên nhiên thì phong trào Thơ mới ra đời đồng nghĩa với

sự khẳng định “cái tôi” cá nhân Sự giải phóng “cái tôi” cá nhân được xem làmột trong những tiền đề làm nên “một cuộc cách mạng trong thi ca” của phongtrào Thơ mới

Theo Claude Pichois, “cái tôi trong mọi thời đại được coi như nguồn gốccủa mọi hoạt động thơ ca, như lõi cốt của thể loại trữ tình” Trong mối quan hệgiữa thế giới với chính bản thân con người, triết học cho rằng, “cái tôi là trungtâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối vớithế giới và với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát nhữnghành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi

của mình” [62, 17] Theo tác giả Lê Lưu Oanh trong Thơ trữ tình Việt Nam

Trang 20

1975 - 1990: “Cái tôi thực chất là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính

phổ quát Hiện tượng cái tôi vừa mang trạng tính xã hội - lịch sử, vừa phân biệtcái độc đáo và khẳng định tính tích cực của nhân cách cá nhân” [62, 18] Nhưvậy, “cái tôi” cá nhân đóng vai trò rất quan trọng trong thơ trữ tình bởi trữ tình

là một thể loại từ lâu đã được khẳng định là “vương quốc chủ quan” (Biêlinxki),

là “sự biểu hiện và cảm thụ của chủ thể” (Hêghen), trong đó tính chủ quan vừa

là nguyên tắc tiếp cận đời sống vừa là nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật.Trong văn học cổ Việt Nam nói chung, bản chất con người bắt nguồn từ quan hệcộng đồng, giá trị cá nhân nằm trong giá trị quần thể Đó là giai đoạn văn hoá

mà mỗi cá nhân cảm nhận đặc điểm chung của tầng lớp như là cá tính tự nhiên

của mình, nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “Xã hội Việt Nam từ

xưa không có cá nhân, chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình Còn cánhân, cái bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, hoà tan trong quốc gianhư giọt nước biển cả (…) Thảng hoặc họ cũng ghi hình ảnh họ trong văn thơ

và thảng hoặc trong văn thơ họ cũng dùng đến chữ tôi để nói chuyện với ngườikhác Song dầu táo bạo đến đâu họ cũng không một lần dám dùng chữ tôi để nóichuyện với mình, hay - thì cũng thế - với tất cả mọi người Mỗi khi nhìn vào tâmhồn họ hay đứng trước loài người mênh mông, hoặc họ không tự xưng, hoặc họ

ẩn mình sau chữ ta, một chữ có thể chỉ chung nhiều người” [76, 45] Sự chìmđắm và hoà tan của “cái tôi” cá nhân trong thi ca Trung đại Việt Nam biểu hiệnthành khát vọng của thơ ngôn chí, ngôn đạo, thơ tự tình nặng tính chất duy lý vàgiáo huấn Tuy vậy, sẽ là giản đơn nếu chúng ta cho rằng thơ cổ điển thiếu yếu

tố cá nhân ở bên trong bởi nói như Viên Mai đời Thanh: “Thơ không thể là vôngã” Chỉ có điều trong thơ cổ, cái ngã ấy không ngoại lộ hoàn toàn Cái tôi cánhân đã khách thể hoá vào vũ trụ Do vậy, phạm trù chính của thơ cổ là tình -cảnh, cảnh - tình, cảnh - sự Các nhà thơ cổ không dám dùng quan điểm cá nhân,lập trường cá nhân, cái nhìn cá nhân để nhìn đời và nói chuyện với mọi người Ởphương Tây, cái tôi cá nhân xuất hiện cùng với chủ nghĩa lãng mạn Vừa xuấthiện, nó đã đem đến cho văn học những vẻ đẹp mới mà Lamactin đã kiêu hãnh

tự nhận: “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Pacnax, tôi đã tặngcho Nàng Thơ, không phải cây đàn lia bảy dây quy ước mà là trái tim con người

Trang 21

xúc cảm do những rung động của tâm hồn và thiên nhiên” [29, 35] Ở Việt Nam,cái tôi cá nhân tự ý thức về mình như một thế giới phức tạp và phong phú, đánhdấu một giai đoạn phát triển của ý thức xã hội và ý thức nghệ thuật thì phải đếnnhững năm đầu của thế kỷ XX, nhất là những năm 30 của thế kỷ này Tản Đàđược xem là người “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳđương sắp sửa” (Hoài Thanh) Dĩ nhiên, không phải đến Tản Đà “cái tôi” cánhân mới xuất hiện Giai điệu dạo đầu cho xu thế ấy đã được manh nha từNguyễn Trãi với tiếng nói kín đáo qua hình ảnh:

Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem

(Cây chuối)một Hồ Xuân Hương sắc sảo, đáo để nhưng đớn đau, chua xót qua tiếng kêu “tựtình” khắc khoải trong đêm:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

“Mảnh tình san sẻ tí con con!”

(Tự tình II)

một Nguyễn Du:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

(Không biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng?)

(Độc Tiểu Thanh kí)

Và, Nguyễn Công Trứ với ước ao:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Trang 22

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

(Chí nam nhi)

Đến Tản Đà, nó thể hiện thành một “cái tôi ngông” thách thức với thiên hạ, vớiđời và cả với trời khi tuyên bố:

“Hai chữ thiên lương thằng Hiếu có”

Và thách đố với cả thiên hạ trong trường hợp bi đát nhất - thi hỏng:

“Bởi ông hay quá ông không đỗ,

Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông!”

Nhưng, điều mà người ta cảm thấy ở Tản Đà còn là một cái ngông biểuhiện một sự dị biệt trong đời sống vốn quá nhiều mực thước và khuôn phép thìđến Thơ mới “sự trở về với cái tôi là một đóng góp của Thơ mới lãng mạn” [9,tr.163] Cái mới của Thơ mới là đã dám coi cái tôi cá nhân như một quan điểm,một tư cách để nhìn đời và nói chuyện với mọi người Sự thức tỉnh ý thức cánhân đòi hỏi thơ lấy “cái tôi”, cái cá nhân làm đề tài, thậm chí làm trung tâm.Chính vì vậy, trước Thơ mới, chưa bao giờ trong văn học Việt Nam nói chung,trong thơ nói riêng lại có “cái tôi” cá nhân đến thế, đến mức Hoài Thanh gọi thờiđại Thơ mới là “thời đại chữ tôi” “Cái tôi” ấy dõng dạc tự khẳng định và đòiquyền sống cho riêng mình:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Trang 23

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Chưa khi nào nó lại kiêu bạc đến thế:

“Tôi muốn hoá một con chim để cùng gió

Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng;

Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng, Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng;

Muốn có đôi cánh vô ngần to rộng:

Để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi!”

(Trên bãi bể - Phạm Huy Thông)

Song, cũng không lúc nào như lúc này nó lại thật cô đơn:

“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng Ta.”

(Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)

“Ta cao quá, thì núi non thấp lắm

Chẳng chi so, chẳng chi đến giao hoà

Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê thiết

Tôi là một con chim non không tổ Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi.”

(Dối trá - Xuân Diệu)

Chúng ta thường bắt gặp trong Thơ mới những câu thơ mang cấu trúckhẳng định kiểu như: Tôi chỉ là một khách tình si, Tôi chỉ là một kiếp đi hoang,Tôi là con chim đến từ núi lạ, Tôi là kẻ lạc loài, Tôi là chiếc thuyền say… Vớiquan niệm này Thơ mới có thể giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tư Nói về

vai trò của sự giải phóng “cái tôi” cá nhân, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam

Trang 24

từng viết: “Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đànViệt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo mộtquan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” [76, 45] Lê Đình Kỵcho rằng: “Cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức, tự khẳng định đưađến một bước ngoặt quyết định trong lịch sử thơ ca Việt Nam phát triển theohướng hiện đại Thơ mới là thơ của cái tôi” [39, 46] Và, “Tôi trở thành nguyêntắc cắt nghĩa thế giới một cách riêng tư, tạo thành một kiểu thế giới nghệ thuậtmới” [72, 42]

Có thể nói, nếu không có sự giải phóng “cái tôi” cá nhân chúng ta sẽkhông có phong trào Thơ mới 1932 - 1945 phong phú, đa dạng đến thế Quanniệm về “cái tôi” và ý thức về sự tồn tại cá nhân không chỉ quyết định chỗ đứng,điểm nhìn của các nhà thơ trước cuộc đời mà còn chi phối đến quan niệm về thơcủa các nhà Thơ mới

1.4 Nhu cầu đổi mới của thực tiễn thơ ca dân tộc

Phong trào thi ca này được mở đầu bằng cuộc tranh luận Thơ cũ - Thơ

mới với dấu ấn đầu tiên của sự cách tân vĩ đại là bài Một lối thơ trình chánh

giữa làng thơ của Phan Khôi đăng trên Phụ nữ Tân văn số 122 (10/3/1932) kèm

theo bài Tình già “Thơ mới” đã toàn thắng, tuy phe “thơ cũ” chống trả quyết

liệt và không thiếu lý lẽ Chỉ trong một thời gian ngắn, đã có hàng loạt sáng tácđặc sắc của một loạt nhà thơ, trong đó có những nhà thơ tiêu biểu như Thế Lữ,Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,Nguyễn Bính, Anh Thơ, Tế Hanh… đã thâu tóm gần như toàn bộ tinh hoa củaphong trào Thơ mới Người tiên phong của phong trào Thơ mới chính là Thế

Lữ Thế Lữ cùng với tập Mấy vần thơ đã mang đến cho thơ ca bao hương sắc

buổi đầu Đó là một hồn thơ lãng mạn, khao khát cái đẹp, sự phóng khoáng tự

do Tiếp đến là sự góp mặt của Lưu Trọng Lư Lưu Trọng Lư cùng với Tiếng

thu “bước vào làng thơ Việt Nam, gót chân lơ đễnh, cặp mắt ngơ ngác, nụ cười

xa vắng” [94, 104] Ngay ở buổi đầu Thơ mới xuất hiện và đấu tranh quyết liệtvới thơ cũ để chiếm lĩnh chỗ đứng trên thi đàn, Lưu Trọng Lư đã có đóng góplớn cả về thực tế sáng tác lẫn đăng đàn diễn thuyết Đến thời kỳ phát triển đỉnh

Trang 25

cao của Thơ mới, sự xuất hiện của Xuân Diệu đã gây ngạc nhiên cho nhiềungười: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồiXuân Diệu đến Người đã tới giữa chúng ta với một lối y phục tối tân và chúng

ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy.Nhưng rồi ta cũng quên dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng.Nhưng ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặtcâu quá tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơPháp Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất

Việt Nam đã quyến rũ ta” [76, 105] Hàn Mặc Tử với các tập thơ Lệ Thanh thi

tập, Gái quê, Thơ Điên, Xuân như ý… dường như đã vượt qua mọi thi trình từ

cổ điển qua lãng mạn, tượng trưng, chớm đến siêu thực rồi lại trở về lãng mạn.Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng thơ đi về giữa đời và đạo, phần đời đằm thắm và phầnđạo siêu thoát, không có hướng định Tuy nhiên, ngay cả trong nguyện cầu vềmột đấng xa xôi cũng thấm đượm những khao khát của con người và cõi đời

thật Cũng trong thời gian này, Chế Lan Viên và tập thơ Điêu tàn đã “đột ngột

xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” [76, 213] Chế LanViên trở thành một hiện tượng văn học Ông là một trong những người sáng lập

ra Trường thơ Loạn, là một nhà thơ mà nói như chính ông “vừa làm thơ vừa đẩy

lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước” Ngay từ khi xuất hiện giữa làng Thơmới, ông luôn mang trong mình khát vọng cháy bỏng được mang đến cho thơ camột tiếng nói mới lạ “Hơn một phần tư thế kỷ, sự hiện diện của Chế Lan Viên

đã khuấy động và làm đảo lộn thật sâu xa một thế hệ thơ ca Giữa đại dương củacác trào lưu lãng mạn thời tiền chiến, Chế Lan Viên đến như một dũng tướng từmột cõi trời xa lạ nào, với một nguồn suối mới, một khuynh hướng riêng biệt,chàng đã gây ngạc nhiên không nhỏ đối với các nhà phân tâm học, nhất là vềphương diện thần bí” [12, 117] Mặc dù xuất hiện trên thi đàn muộn hơn HànMặc Tử, Chế Lan Viên nhưng sự xuất hiện của Bích Khê giữa bình nguyên vănhọc Việt Nam mới thực sự đem đến sự ngạc nhiên cho nhiều người Bởi, nhưChế Lan Viên từng nhận xét: “Nếu Nguyễn Bính là đồng bằng thân thuộc thìKhê là một đỉnh núi lạ” [59, 133] và “Bích Khê quả là một thi sĩ có tài lớn” [75,148] Thơ đối với Bích Khê như một nghiệp chướng Nó là hơi thở, là máu thịt, là

Trang 26

lẽ sống, là tâm linh của đời ông, là sức mạnh giúp nhà thơ vượt lên bệnh tật, khổđau để sống và sáng tạo Chính vì vậy, Bích Khê đến với thơ mang theo khátvọng muốn vượt lên đi đến một cuộc “duy tân” (tên một bài thơ nổi tiếng củaông) thật mạnh mẽ, sâu sắc và táo bạo đối với thi ca Người thi sĩ tài hoa mà bạcmệnh ấy đã “ghé lại cõi đời này trong chốc lát chỉ để làm xong một việc là đổimới thơ và làm giàu có, cao sang thêm tiếng nói của dân tộc mình” (Hoàng PhủNgọc Tường) Thời kỳ cuối của phong trào Thơ mới cũng đánh dấu sự xuất hiệncủa Vũ Hoàng Chương với hai tập Thơ Say và Mây Vũ Hoàng Chương xuấthiện giữa làng thơ với dáng điệu của một người say: “Vũ Hoàng Chương địnhnối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say Người say đủ thứ,say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa Người lại còn hơn cổ nhân nhữngthứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm Bấy nhiêu say đều nuôibằng một say sưa to lớn hơn mọi say sưa khác: say thơ ” [76, 352] Vũ HoàngChương là “thi nhân tiêu biểu cho hai lớp người đương thời; một lớp trẻ yêucuồng sống vội; một lớp khác quan niệm luân thường đạo lý, tư tưởng cổ truyềnĐông phương” [42, 479] Sự xuất hiện của Vũ Hoàng Chương ở thời kỳ này dùkhông mang đến sự ngạc nhiên như Xuân Diệu hay “một niềm kinh dị” như ChếLan Viên nhưng cũng đủ tạo dấu ấn trong lòng người đọc - như một sự cựa quậyđòi vượt thoát khỏi những cái vốn được xem là mới ở thời kỳ đầu nay đã trở nênsáo mòn, xưa cũ Thời kỳ này cũng ghi dấu ấn sự xuất hiện của Đinh Hùng và

nhóm Dạ Đài (bao gồm Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn

Văn Dậu) Đinh Hùng đi vào thơ ca Việt Nam với vai trò vừa là thi sĩ của phongtrào Thơ mới vừa là thi sĩ của thời kỳ sau Thơ mới “Chất thơ của Đinh Hùngkhông giống và không mang một ý nghĩa thông thường của thi ca với nhữnghình ảnh quen thuộc của thi nhân đang nổi tiếng hồi đó như Xuân Diệu, HuyCận, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính…” [89,213] Đinh Hùng đến với thơ mang theo quyết tâm tự mình tạo nên sắc tháiriêng, rất đặc biệt để ngụp lặn trong vòng mê cảm đó với khổ đau cũng như kiêuhãnh Trong vườn hoa của Thơ mới còn có những bông hoa của đồng nội nhưNguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ… Trong thơ của họ, làngquê được miêu tả với tâm lòng trân trọng, gần gũi

Trang 27

Sự phát triển mau lẹ cả về số lượng và chất lượng các nhà thơ cùng vớicác tác phẩm đã làm nên “một mùa hoa nở rộ” trong thi ca Việt Nam, khiến cho

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại không ngần ngại khẳng định: “ở nước ta,một năm có thể kể như 30 năm của người” Hoài Thanh trong Thi nhân ViệtNam đã miêu tả lại sự phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng của phong tràoThơ mới: “Một thời đại vừa chẵn mười năm Trong mười năm ấy, Thơ mới đãđấu tranh gắt gao với thơ cũ, một bên giành quyền sống, một bên giữ quyềnsống Cuộc tranh đấu kéo dài cho đến ngày thơ mới toàn thắng Trong sự thắnglợi ấy, cũng có công những người tả xung hữu đột nơi chiến trường, nhưng trướchết là công những nhà thơ mới Tôi không so sánh các nhà thơ mới với Nguyễn

Du để xem ai hơn ai kém Đừng lấy một người sánh với một người Hãy sánhthời đại cùng thời đại Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa baogiờ có một thời đại phong phú như thời đại này” [76, 29] Chưa bao giờ người tathấy bức tranh Thơ mới lại huy hoàng đến như vậy Các tác giả Thi nhân ViệtNam đã từng phân loại Thơ mới theo dòng: dòng thơ Pháp (Thế Lữ, Nguyễn Vỹ,Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận ), dòng Thơ Đường (J Leiba, Thái Can, ĐỗHuy Nhiệm, Vân Đài, Lưu Kỳ Linh, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm ), dòng thơViệt (Lưu Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, VũHoầng Chương, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trần Huyền Trân ) Dường như, HoàiThanh, Hoài Chân còn cảm thấy chưa thể hiện hết sự phong phú, đa dạng củaThơ mới nên có lúc còn chia nhóm: nhóm Ngày Nay, nhóm Đông Phương (HàNội báo), nhóm Huế, nhóm Bình Định, nhóm sông Thương Sự phát triểnmạnh mẽ của phong trào Thơ mới còn thể hiện ở sự định hình các phong cáchthơ “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mởnhư Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trongsáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như NguyễnBính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như XuânDiệu” [76, 29]

Như vậy, có thể nói, trong vòng chưa đầy 15 năm, phong trào Thơ mới đã

đi trọn con đường vận mệnh của nó Xuất hiện như “một cuộc cách mạng trongthi ca” (Lê Đình Kỵ), mười mấy năm Thơ mới được coi là “một thời đại trong

Trang 28

thi ca” (Hoài Thanh) và là một “thời đại” đặc biệt phong phú, với một loạt thi sĩ

có bản sắc độc đáo Từ thực tiễn sáng tác vô cùng phong phú đó, “Thơ mới đãgóp phần làm phong phú tâm hồn con người, mở ra những thế giới bí ẩn của cõihữu thức và vô thức, và cũng mở ra vô vàn cung bậc đầy hương sắc của cảm xúctrữ tình, đem lại sinh khí mới cho thơ ca Việt Nam” [61, 1419] Hoạt động thơ

ca sôi nổi, có chiều sâu như vậy đã có ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm vềthơ của các nhà thơ Nó là cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà thơ khái quát nênnhững kinh nghiệm sáng tác quý báu Đồng thời, qua sáng tác, các nhà thơ cóthể thể nghiệm ngay chính những quan niệm của mình, từ đó có sự điều chỉnhcho phù hợp

1.5 Tiểu kết

Quan niệm về thơ của một số tác gia tiêu biểu trong phong trào Thơ mới

là kết quả của sự giải phóng cái tôi cá nhân, sự ảnh hưởng các trường phái thơPháp, của văn hoá phương Đông, thơ Đường và truyền thống thơ ca dân tộc, từthực tiễn sáng tác của các nhà thơ Trong đó, sự giải phóng cái tôi cá nhân đượcxem là tiền đề cho sự hình thành kiểu nhà thơ mới và quan niệm về thơ Sự ảnhhưởng các trường phái thơ Pháp, văn hoá phương Đông, thơ Đường và truyềnthống thơ ca dân tộc đã chi phối đến quan niệm về thơ của các nhà thơ Thựctiễn sáng tác chính là cơ sở để hình thành các quan niệm về thơ và cũng là nơithể nghiệm chính các quan niệm đó Cùng với thời gian và sự phát triển của Thơmới, các yếu tố này xuyên thấm vào nhau chi phối đến quan niệm về thơ của cácnhà Thơ mới

Trang 29

Chương 2 QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA THƠ

2.1 Quan niệm về bản chất của thơ

2.1.1 Thơ biểu hiện sự sống con người

Bản chất của thơ đã được các nhà thi học bàn đến từ thời cổ đại Về cơbản, mọi người đều nhất trí thừa nhận bản chất biểu hiện tình cảm của thơ, xem

“thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiếp) Mỗi tiếng thơ đều xuất phát từ một tiếng lòng

riêng Trong Vân Đài loại ngữ, Lê Quý Đôn từng viết: “Thơ khởi phát tự trong

lòng người” Thống nhất với quan niệm trên của Lê Quý Đôn, Phạm Nguyễn Duviết: “Mỗi người mỗi sự, mỗi sự mỗi cảnh, tức sự mà có thể ngụ hết hứng vào

đó, gặp cảnh thì không gì là không nảy ra ý Lúc bấy giờ, câu thơ theo hứng mànảy sinh, bút đuổi theo ý mà thành thơ, phát ra cái tình nhàn nhã lúc rỗi công

việc, nêu lên cái nỗi lòng chân thực mà riêng mình có” (Tựa Phụng thị cung kỷ

thi tập) [85, 73] Như vậy, có thể nói, đến thế kỷ XVIII, bên cạnh những bài thơ

thể hiện đạo lý quen thuộc đã xuất hiện những bài thơ phản ánh tình cảm chânthực, xúc động của con người Tuy nhiên, do trình độ tư duy nghệ thuật, do quanniệm lý tính chi phối đời sống tinh thần của thời đại nên mặc dù thơ ca trung đại

có nói “tình” của con người thì cái “tình” ấy là một thứ tình cảm nguyên phiến,

bị khoả lấp sau “cái ta cộng đồng”

Đến phong trào Thơ mới 1932 - 1945, với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân,của khát vọng được “thành thực”, được nói rõ “những điều kín nhiệm u uất”,được công khai xem “cái tôi cá nhân như một khách thể nhìn đời hợp pháp” [16,122], các nhà Thơ mới xem thơ ca là phương tiện biểu hiện sự sống của conngười - một sự sống dồi dào, mãnh liệt nhất Lúc này, cái “tình” được nói đếntrong văn học trung đại cũng không còn nguyên phiến nữa mà biến đổi “muôn

Trang 30

hình vạn trạng” Trong quan niệm của các nhà Thơ mới, chúng ta thấy xuất hiệnkhái niệm “người thơ” Ở đây, “người thơ” được hiểu là con người trong thơ chứkhông phải là con người tiểu sử của tác giả Chính vì vậy, khi Hàn Mặc Tửkhẳng định: “Người thơ phong vận như thơ ấy” thì trong ý thức của mình, ông

đã phân biệt con người ngoài đời và “người thơ” Điều này đánh dấu sự pháttriển theo hướng hiện đại trong lý luận thơ ca của các nhà Thơ mới so với cácgiai đoạn trước

Trong bài Bóng mây chiều, Thế Lữ viết:

…Những văn thơ mà bấy lâu tôi yêu quý, Tôi đã rắp tâm không bao giờ nỡ để Cho người đời mua chuộc, vì anh ơi!

Văn thơ kia tức là tâm hồn tôi.

“Văn thơ kia tức là tâm hồn tôi” - một định nghĩa tưởng như không có gìđơn giản hơn thế nhưng đó thực sự là một tuyên ngôn mang tính cách mạng củaThế Lữ về thơ Trong quan niệm của Thế Lữ, người (được hiểu là con ngườingoài đời) và thơ không đồng nhất với nhau Thơ là bản sao sáng tạo bằng vầncủa tâm hồn con người chứ không phải là người Thơ không chỉ “khởi phát tựlòng người” mà thơ chính là tâm hồn con người “muôn hình vạn trạng” Quanniệm này được nảy sinh từ khát vọng giải phóng “cái tôi” cá nhân của tầng lớpthanh niên tiểu tư sản trong xã hội lúc bấy giờ Lớp thanh niên trí thức tiểu tưsản cảm thấy bế tắc, ngột ngạt trước bối cảnh xã hội rối ren, họ tìm đến với thơ

ca để giải toả những “ẩn ức” trong tâm hồn mình Và cái “tâm hồn” mà Thế Lữnhắc tới trong lời tuyên ngôn trên cũng khác với “tâm hồn” của ông cha ta thuởtrước Sự khác nhau đó từng được Lưu Trọng Lư chỉ rõ trong một cuộc diễnthuyết tại nhà Học hội Quy Nhơn (16/2/1934): “…Các cụ ta ưa những màu đỏchoét; ta lại ưa những màu xanh nhạt… các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêmkhuya; ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngâythơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứngtrước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưngđối với ta thì trăm hình muôn trạng: Cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái

Trang 31

tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…” [76,17] Sự khác nhau như vậy làm nảy ra nhu cầu bức thiết phải thay đổi thơ ca,

phương tiện trực tiếp để biểu đạt tâm hồn Dương Quảng Hàm trong Việt Nam

văn học sử yếu, trang 424, từng chỉ ra sự khác biệt trong cảm hứng thơ ca giữa

thơ cũ và Thơ mới: “Về tình cảm thì xưa kia các cụ hay ca vịnh lòng trung, hiếu,tiết, nghĩa hoặc những nỗi buồn rầu, nhớ thương; còn về ái tình thì thường nóiđến ái tình đoan chính mà cách phô diễn thì kín đáo, nhẹ nhàng Nay các nhàlàm Thơ mới cho rằng hết thảy các tình cảm trong lòng người, từ điều mơ ướcngông cuồng đến nỗi thất vọng tê tái đều có thể làm tài liệu cho thơ ca được cả;

về ái tình thì tả đủ cả các trạng thái, mà tả một cách đậm đà, nồng nàn” Chính vìvậy, Thế Lữ đã từng quan niệm tâm hồn mình như một “cây đàn muôn điệu” vớinhững trạng thái buồn, đau, sướng khổ… của mọi kiếp người

Cũng bàn về bản chất của thơ nhưng Lưu Trọng Lư - một trong nhữngngười có công khai sinh ra Thơ mới đã khẳng định một cách rõ hơn Trong bài

viết Thư gửi cho em gái, Lưu Trọng Lư khẳng định: “Thơ không phải chỉ là thơ

mà thôi, thơ còn là người nữa” [80, 521] Theo ông, thơ là tiếng nói của tìnhcảm, cảm xúc; thơ là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ, là nhu cầu trongđời sống tinh thần của chính nhà thơ Như vậy, trong quan niệm của Lưu Trọng

Lư, thơ không chỉ là “cây đàn muôn điệu” tấu lên muôn cung bậc của tình cảmcon người mà còn là sự hiện hữu của nhà thơ nữa Ở đây, Lưu Trọng Lư khẳngđịnh cái gốc của thơ là tình cảm của con người đúng như một nhà nghiên cứutừng nhận định: “Lưu Trọng Lư lấy tình cảm làm gốc sáng tạo của hồn thơ” [66,85] Nhà thơ có thể thể hiện ý nghĩ, cách nhìn của mình qua nhân vật trữ tình,song cuối cùng, thơ vẫn chính là hồn vía của anh ta hiện hình trong tác phẩm.Hồn vía của Lưu Trọng Lư là những dấu ấn của tâm tư khắc khoải, của tìnhduyên dang dở, của buồn thương man mác, của mơ mộng bất thành nên “tiếngthơ của Lưu Trọng Lư hàm súc tiếng thở dài, nỗi nghẹn ngào, niềm đau thương”[42, 150] Câu chuyện về thơ vì thế là câu chuyện từ “trái tim đi và về với trái

tim” [23, 7] Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã từng chỉ ra

điệu hồn riêng biệt của Lưu Trọng Lư là thế giới sầu mộng “Mộng! đó mới làquê hương của Lư” [76, 285] “Thơ là người” nên:

Trang 32

Thơ ta cũng giống tình nàng vậy Mộng! Mộng mà thôi, mộng hão hờ.

(Hôm qua, Tiếng thu) Tập thơ Tiếng thu chính là sự cụ thể hoá cho quan niệm về thơ đó Tiếng

thu chính là tiếng lòng của nhà thơ, là tiếng nói của một tâm hồn nặng về nội

tâm hơn ngoại giới

Như vậy, chúng ta nhận thấy, thời kỳ đầu, vì đấu tranh cho sự tồn tại củaThơ mới nên các nhà thơ tiên phong như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư khi bàn về bảnchất của thơ thường nhấn mạnh tình cảm của “cái tôi” cá nhân với muôn ngàncung điệu - vốn mờ nhạt trong thơ Việt Nam trung đại

Đến Xuân Diệu - một trong những đỉnh cao của phong trào Thơ mới,

quan niệm này được thể hiện một cách trực tiếp Trong Lời đưa duyên mở đầu tập Thơ Thơ, Xuân Diệu từng khẳng định: “Đây là lòng tôi đương thời sôi nổi,

đây là hồn tôi vừa lúc vang ngân, và đây là tuổi xuân của tôi, và đây là sự sốngcủa tôi nữa: tôi đem tặng cho người Tôi để lòng tôi trong những câu, nhữngtiếng, tôi đã gửi nhịp máu trong nhịp thơ, đã gói ghém hơi thơ của tôi trong ítnhiều âm điệu Tôi sợ mất sự sống của tôi, không muốn nó rơi rớt, chảy trôi theodòng ngày tháng, tôi đã ráng bỏ từng mảng đời tôi trong hàng chữ, để gửi đi, gửi

đi cho người, cho người bốn phương” [14, 9-10] Qua lời bộc bạch trên, chúng

ta thấy, trong quan niệm của Xuân Diệu thơ chính là nơi bộc lộ niềm khát khaosống của nhà thơ đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh:

“Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình giữa con người và conngười” [50, 193] Ông muốn ôm tất cả cuộc sống này, riết lấy tất cả trong đôitay hăm hở của mình Và, ông tha thiết mong được mọi người đến với mình:

Đây là quán tha hồ muôn khách đến;

Đây là bình thu hợp trí muôn phương.

Đây là vườn chim nhả hạt mười phương Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc…

Trang 33

(Cảm xúc, Thơ thơ)

Ông mở rộng tâm hồn, chào mời tất cả và muốn lòng mình như phấnthông trên bãi biển bay vàng cả trời đất mênh mông, đem tình yêu đi khắpthế gian

Với Xuân Diệu, thơ còn là nơi cất giấu mùa xuân, tuổi trẻ:

Nắng cũ phai rồi, lòng tôi vẫn cất Một chiều ong vàng đẹp sắc năm mây.

Xuân vội bước, nhưng mà hương chẳng mất:

Tôi với tay giam giữ ở trong nầy.

(Lời thơ vào tập Gửi hương, Gửi hương cho gió)

Xuân ta đã cất trong thơ phú Tuổi trẻ trong thơ thắm với đời.

(Tặng bạn bây giờ, Gửi hương cho gió)

Trong quan niệm của Xuân Diệu, thơ là những trạng thái sống mãnh liệt Mỗibài thơ sẽ là một mảnh hồn Xuân Diệu lưu lại hậu thế như ông từng khẳng định:

Nhưng sách này, tôi để cả trái tim Giở cho khéo kẻo hồn tôi động vỡ Hồn người tình mỏng lắm xếp cho êm

Nếu trang giấy có động mình tuyết bạch,

Êy là tôi dào dạt với âm thanh Hồn thắc mắc vẫn đi về với sách, Dưới tay ai xem lại nỗi lòng mình.

(Lời thơ vào tập Gửi hương, Gửi hương cho gió)

Trang 34

Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên cho rằng:

“Xuân Diệu đã tạo ra một hướng thơ thật là mới, có thể gọi là thơ nội quan Thi

sĩ lấy chính cái nội tâm của mình làm đề tài” [56, 574] Xuân Diệu không xemnhẹ tư duy, nhưng ông đề cao cảm xúc Với Xuân Diệu, cảm xúc là “sự sốngngười” (Chu Văn Sơn) Cảm xúc nồng nàn, cao cả, sâu sắc chính là tinh hoa của

“sự sống người” Xuất phát từ quan niệm đó, Xuân Diệu đã không ngần ngạibộc lộ niềm khát sống, khát yêu mãnh liệt của mình trong thơ:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng, Thơ thơ)

Ông kêu gọi:

Sống toàn tim!toàn trí! sống toàn hồn!

Sống toàn thân! Và thức nhọn giác quan,

Và thức cả trong giấc nồng phải ngủ Sống, tất cả sống, chẳng bao giờ đủ.

(Thanh niên, Gửi hương cho gió)

Đây có thể xem là một cương lĩnh của cái thời đại mà cá nhân đang lêntiếng đòi được sống là mình, sống hết mình

Trang 35

Cũng quan niệm thơ biểu hiện sự sống của con người, nhưng Hàn Mặc Tửlại thể hiện quan niệm đó một cách khác thường, khác thường như chính cuộcđời và hồn thơ ông vậy khi khẳng định: “người thơ phong vận như thơ ấy”

(Xuân đầu tiên) Từng được mệnh danh là người “cai trị Trường thơ Loạn” [76,

36], Hàn Mặc Tử là một hiện tượng có sức ám ảnh nhất trong thơ ca Việt Namhiện đại “ám ảnh Hàn Mặc Tử là một phức hợp gồm nhiều mặt: một thân phậnthơ đầy bất hạnh, một hồn thơ hết sức dị biệt và một nghiệp thơ vừa trong trẻo bí

ẩn, vừa huyền diệu, ma quái” [69, 1] Hàn Mặc Tử từng được tiên tri là nhà cáchtân duy nhất còn lại với thơ và mai sau: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng,mai sau những cái tầm thường mực thước sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kỳ

này chút gì đáng kể dó là Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên - Báo Người mới,

23/11/1940) Quan niệm thơ đó được phóng chiếu từ một thể xác và một tâmhồn đau thương đến điên loạn Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta thấy ông đã thể hiện rất

rõ quan niệm này trong sáng tác Thơ của ông đã tái hiện chân dung của mộtngười thơ đang quằn quại bởi thương đau Nhà thơ muốn phô bày tất cả bản thểcủa mình qua thơ Mỗi chữ, mỗi câu đều “dính não cân” của chính nhà thơ:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngòi bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta.

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt Như mê man tê điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết,

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh

(Rướm máu, Thơ điên) Với Hàn Mặc Tử, thơ là “một tiếng kêu van thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời” (Quan niệm thơ) [86, 264] Tuy nhiên, ở đây,

Trang 36

Hàn Mặc Tử không đồng nhất con người đang rên xiết đớn đau vì bệnh tật vớicon người trong thơ cho dù ông đã “lê” cả tấm thân bệnh hoạn của mình vàothơ, làm nên những vần thơ rướm máu, đớn đau, rên xiết đến không cùng nhưông từng khẳng định:

Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý

(Dấu tích, Thơ điên)

Chúng ta không phủ nhận trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều nhữnghình ảnh chỉ sự đau đớn thân xác của một con người mắc bệnh phong Nhưng nếuchỉ có thế thôi, làm sao có thể thành thơ được và hơn nữa làm sao những thi phẩm

ấy có thể sống trong lòng người đọc lâu đến vậy Chỉ khi nào những đau đớn xácthân chuyển hoá sang địa hạt tinh thần, hoá thân vào nỗi đau khổ tinh thần, thì khi

ấy tiếng nói của nó mới cất lên thành thơ Nói một cách khác, đau đớn thân xácchỉ là những chất liệu để Hàn Mặc Tử biểu hiện những đau khổ tinh thần củamình ở đây, “Không phải thi nhân muốn hy sinh thể xác mình cho nguồn thơ, màchính thi nhân muốn đem cả khối uất hận trong người gửi vào thơ” [20, 276] Nếunhư với Xuân Diệu, thơ là sự biểu cho niềm khát sống mãnh liệt của ông, thì vớiHàn Mặc Tử niềm khát sống đó cũng không kém phần mãnh liệt, thậm chí làkhốc liệt, bởi sống đối với Hàn Mặc Tử là “một cuộc chạy đua bạt vía tuyệt vọngđối với tử thần” [70, 230] Thơ Hàn Mặc Tử vì thế như “tiếng kêu rỏ máu của conchim đỗ quyên, là tiếng nói của những hụt hẫng tan hoang, là tiếng nói của mộtcon người bị dồn đẩy đến miệng vực của cái chết; chới với bên miệng vực ấy màngoái nhìn đời, mà nuối đời, níu đời” [69, 148]

Tóm lại, dù mỗi nhà thơ có một cách thể hiện quan niệm khác nhau, nhưngnhìn chung họ đều xem thơ biểu hiện cho sự sống của con người Quan niệm này

đã khởi lên trong phong trào Thơ mới cái “nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ởchốn nước non lặng lẽ này”

2.1.2 Thơ thuộc phạm trù cái Đẹp

A.P Tsêkhốp từng khẳng định: “Tất cả trong con người từ mặt mũi, áoquần đến tâm hồn, tư tưởng đều phải đẹp” Điều ấy nói ra quả là đơn giản,

Trang 37

nhưng thật sâu sắc và ý vị Người ta ai cũng mong muốn tất cả đều đẹp Các dântộc đấu tranh tự giải phóng, nghệ thuật tạo ra những hình tượng hùng tráng,khoa học đi sâu vào những bí ẩn của vật chất, thì đồng thời tất cả đều đấu tranhcho cái đẹp của cuộc sống Nhưng cũng chính trong công việc nhỏ nhặt củachúng ta, trong sự việc hàng ngày, trong quan hệ với nhau, trong cái vẻ bềngoài, chúng ta đều đi tìm cái đẹp và nâng niu quý mến nó Cái đẹp gần gũi vớichúng ta trong mọi thứ xung quanh, từ cái nhỏ đến cái lớn, từ hình thức đến nộidung bởi: “Con người bẩm sinh là nghệ sĩ Dù ở đâu, bằng cách này hay cáchkhác, con người đều mong muốn đưa cái đẹp vào cuộc sống của mình” (M.

Gorki) Ngay từ thời cổ đại, Aristote trong Nghệ thuật thơ ca đã từng quan niệm

thơ ca là “nghệ thuật bắt chước” Thực chất, Aristote đã chỉ ra bản chất mỹ họccủa thơ ca Bởi, thơ ca là sự mô phỏng vẻ đẹp của tự nhiên qua lăng kính chủquan của con người Qua sự mô phỏng đó, con người bộc lộ khát vọng chiếm

lĩnh cái đẹp của mình Trong công trình Mỹ học, Hêghen đã khẳng định điều này một cách rõ hơn khi ông xem “đối tượng của mỹ học là lĩnh vực nghệ thuật”.

Mỹ học trở thành “triết học của sáng tác nghệ thuật” Như vậy, khi các nhà Thơmới quan niệm “thơ ca thuộc phạm trù cái Đẹp” không phải là không có cơ sở.Mặt khác, không phải đến phong trào Thơ mới các nhà thơ mới khẳng định bảnchất mỹ học của thơ mà quan niệm này đã được các nhà thi học cổ điển ViệtNam đề cập tới Hoàng Đức Lương (đậu Hoàng Giáp năm Hồng Đức thứ chín1468) có một ý rất độc đáo về cái Đẹp của văn Ông cho rằng, văn thơ là “sắcđẹp ngoài cả sắc đẹp” Ông viết: “Đối với văn thơ, cổ nhân ví như gỏi nem, vínhư gấm vóc: gỏi nem là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là mµu rất đẹp trên đời,phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng mà không vứt bỏ, khinhthường Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vịngon, không thể đem mắt thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được Chỉ

có thi nhân là có thể xem mà biết được sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon ấythôi” Đề cao cái đẹp trong văn, cha ông ta đã tiến một bước xa khi cho rằng cáiđẹp trong văn khác cái đẹp thông thường ở chỗ cái đẹp trong văn phải là cái đẹpđạt tới mức điêu luyện, cái đẹp “diễn đạt tình cảm đến tột mức và thu lượm đượcmọi cảnh hay việc lạ” Tuy nhiên, xem thơ thuộc phạm trù cái Đẹp như quan

Trang 38

niệm của Hoàng Đức Lương trong văn học trung đại là chưa nhiều Hơn nữa,trong quan niệm của các nhà thi học trung đại, cái đẹp mới chỉ là tính chất màthơ cần hướng tới chứ chưa trở thành bản chất của thơ như quan niệm của cácnhà Thơ mới sau này Quan niệm “thơ thuộc phạm trù cái Đẹp” của các nhà Thơmới là kết quả từ sự kế thừa lý luận thơ ca cổ đại và gần hơn nữa là từ sự ảnhhưởng quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của các nhà lãng mạn phương Tây,đặc biệt là các nhà lãng mạn Pháp thế kỷ XIX du nhập vào Việt Nam lúc bấygiờ Các nhà lãng mạn phương Tây quan niệm “chân lý nằm trong cái Đẹp” bởitheo họ cái Đẹp đối lập với cái hữu ích, cái Đẹp “vô tư lợi” nên họ xem cái Đẹp

là đối tượng của thơ ca Bị chi phối bởi quan điểm này, các nhà Thơ mới cũng

chủ trương thơ ca hướng tới thể hiện cái Đẹp Thế Lữ từng ví mình như “một

khách tình si” của cái Đẹp, một nhà hoạ sĩ, một nhạc sĩ để vẽ, để ca ngợi cáiĐẹp “muôn hình muôn vẻ” của cuộc sống:

Tôi chỉ là một khách tình si Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ

Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca

Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối hay ngây thơ.

Cũng như vẻ đẹp cao siêu hùng tráng Của non nước, của thi văn, tư tưởng

… Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu;

Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu;

Lấy thanh sắc trần gian làm tài liệu

(Cây đàn muôn điệu, Mấy vần thơ)

Cái Đẹp trong quan niệm của Thế Lữ cũng rất mới mẻ Nếu cái Đẹptrong thơ trung đại thường thuộc về quá khứ, mang tính lý tưởng, cái Đẹp ấy

Trang 39

được thể hiện trong “Đạo”, trong “Chí”, không có trong hiện hữu thì cái Đẹptrong quan niệm của Thế Lữ tàng ẩn ngay trong cuộc sống xung quanh mình.

Vẻ đẹp từ “cảnh vĩ đại sóng nghiêng trời, thác ngàn đổ” hay “cảnh cơ hàn nơinước đọng bùn lầy”, từ vẻ đẹp “u trầm”, “đắm đuối” đến vẻ đẹp “cao siêu hùngtráng”, từ vẻ đẹp của “non nước” đến vẻ đẹp của “thi văn”, “tư tưởng” trongquan niệm của Thế Lữ đều là đối tượng của thi ca Theo Thế Lữ, ở đâu có cáiđẹp ở đó có thơ

Hàn Mặc Tử cũng quan niệm thơ ca thể hiện cái Đẹp Quan niệm này

được thể hiện rõ trong Quan niệm thơ khi ông khẳng định: quan niệm thơ của

mình “không giống Baudelaire lắm” Ông so sánh: “Baudelaire lấy passion (dụctình) làm hứng vị cho thơ”, còn ông lấy “tình cảm” vừa làm đối tượng vừa làcảm hứng của thơ Bởi, theo Hàn Mặc Tử: “Tình cảm là sự thanh sạch hồnnhiên, không một chút gì bợn thơ, tội lỗi, còn dục tình là cả một sự ham muốnphi thường, ngoài điều răn dạy của Đức Chúa Trời” [86, 263] Cũng chính vìvậy, Hàn Mặc Tử xem Đức Chúa Trời là cội nguồn của thơ ông Ông cho rằng:

“Đức Chúa Trời vừa là điểm xuất phát cội nguồn, vừa là đích đi tới, tiêu chuẩncủa thơ” [55, 102] “Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn chovăn thơ Văn thơ không phải bởi không mà có” [86, 265] Thơ chẳng những để

ca tụng Thượng đế mà còn để nối người ta với Thượng đế, để ban ơn phước cho

cả thiên hạ, là khúc “thánh ca”, là lời cầu nguyện, là lời cảm tạ trong lúc lâm lụy

- nghĩa là một cái gì đó rất thiêng liêng, cao đẹp:

Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy

Cơn lâm luỵ vừa trải qua dưới thế.

… Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý, Trượng phu lời và tông đồ triết lý

Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh,

Là nguồn đau chầu luỵ Nữ Đồng Trinh…

(Thánh Nữ đồng trinh Maria, Xuân như ý)

Trang 40

Với Hàn Mặc Tử, “Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạctrong trắng của một cõi trời cách biệt” [86, 265], là “những tiếng ca của tìnhcảm, của tưởng tượng, của mơ màng” [86, 225] như ông từng khẳng định:

Thơ trong trắng như một khối băng tâm Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu

(Thánh nữ đồng trinh Maria, Xuân như ý)

Thơ tôi thường huyền diệu Mọc lên đạo từ bi

(Cao hứng, Thơ điên)

Ta sống mãi cùng trăng sao gấm vóc Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay

(Trường thọ, Xuân như ý)

Trong quan niệm của Hàn Mặc Tử, vũ trụ thi ca thực chất là vũ trụ của cáiĐẹp Vũ trụ ấy được dệt nên bởi bốn yếu tố Trăng, Hoa, Nhạc Hương:

Hiểu gì không ý nghĩa của lời thơ Của hương hoa trong trăng lờn lợt bấy.

Của lời câm muôn vì sao áy náy, Hiểu gì không em hỡi, hiểu gì không?

Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng Cho trăng xuân tràn trề say chới với, Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi, Cho em buồn, trời đất ứa sương khuya.

(Trường tương tư, Thơ điên)

Ta cho ra một nguồn thơm rất mát Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương.

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (1964), Nghệ thuật thơ ca (Lê Đăng Bảng - Thành Thế Thái Bình - Đỗ Xuân Hà - Thành Thế Yên Báy dịch), Nxb Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Nghệ thuật
Năm: 1964
2. Arnauđôp (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học (Hoài Lam, Hoài Ly dịch), Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: Arnauđôp
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1978
3. Lê Thị Anh (2006), Thơ mới và thơ Đường, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới và thơ Đường
Tác giả: Lê Thị Anh
Năm: 2006
4. Ngọc Anh (1999), “Cái thở ban Thơ mới ấy”, Báo Văn nghệ (34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái thở ban Thơ mới ấy”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Phạm Đình Ân (tuyển chọn và giới thiệu, 2006), Thế Lữ, về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế Lữ, về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Nguyễn Bao (biên soạn và giới thiệu, 1991), Xuân Thu nhã tập, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Thu nhã tập
Nhà XB: Nxb Văn học
8. Nguyễn Bao (1994), “Xuân Thu nhã tập - một hướng tìm về dân tộc”, Văn học (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Thu nhã tập" - một hướng tìm về dân tộc”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Bao
Năm: 1994
9. Huy Cận - Hà Minh Đức (chủ biên, 1995), Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Vũ Hoàng Chương (1995), Thơ say, Mây, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ say, Mây
Tác giả: Vũ Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
11. Nguyễn Kim Chương (1974), “Hàn Mặc Tử đau thương và sáng tạo”, Văn học (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử đau thương và sáng tạo”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Kim Chương
Năm: 1974
12. Hoàng Diệp (1969), Chế Lan Viên, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên
Tác giả: Hoàng Diệp
Năm: 1969
13. Xuân Diệu (1995), Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ thơ, Gửi hương cho gió
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
14. Xuân Diệu (1987), Lời đưa duyên, Thơ thơ - Gửi hương cho gió, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời đưa duyên, Thơ thơ - Gửi hương cho gió
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1987
15. Xuân Diệu (1995), Thơ khó (gốc Ngày Nay, số 145 ngày 14/01/1939) in trong Mười ba năm tranh luận văn học, tập 3, Nxb Văn học và Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ khó" (gốc Ngày Nay, số 145 ngày 14/01/1939) in trong "Mười ba năm tranh luận văn học
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học và Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
16. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
17. Phan Cự Đệ (1982), Phong trào thơ mới 1932-1945, (tái bản), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới 1932-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1982
18. Phan Cự Đệ (2005), Tuyển tập (tập 3), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
19. Phan Cự Đệ - Nguyễn Toàn Thắng (tuyển chọn và giới thiệu, 2003), Hàn Mặc Tử về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w