Nguyễn Đình Chú trong Phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam, khi so sánhhai phạm trù văn học trung đại và hiện đại trên 12 yếu tố ngoài gián tiếp, trựctiếp, yếu tố trong, đã nhấn mạnh nét khá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ NHẠN
QUAN NIỆM VỀ NGHỀ VĂN CỦA MỘT SỐ
NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGÔ THỊ NHẠN
QUAN NIỆM VỀ NGHỀ VĂN CỦA MỘT SỐ
NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS HOÀNG MẠNH HÙNG
Trang 3Vinh, 2011
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 GIỚI THUYẾT NHỮNG QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ NGHỀ VĂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM 6
1.1 Khái niệm và tiền đề lịch sử, văn hoá của nghề văn 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Tiền đề lịch sử, văn hoá của nghề văn 6
1.1.3 Nghề văn trong văn học Việt Nam hiện đại với tiến trình lý luận và thực tiễn sáng tác của các nhà văn 7
1.2 Sự vận động của quan niệm văn chương và nghề văn trong lịch sử văn học Việt Nam 9
1.2.1 Quan niệm truyền thống về văn chương và nghề văn 9
1.2.2 Quan niệm hiện đại về văn chương và nghề văn 12
1.2.3 Nguồn gốc hình thành nghề văn, nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại 16
Chương 2 NHẬN THỨC CỦA NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VỀ THỀ GIỚI QUAN, TÀI NĂNG, CÁCH VIẾT, NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI 20
2.1 Nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại về thế giới quan 20
2.1.1 Những tác động đến việc hình thành thế giới quan nhà văn Việt Nam hiện đại 20
Trang 52.1.2 Thế giới quan của nhà văn Việt Nam hiện đại trước 1975 23
2.1.3 Thế giới quan của nhà văn Việt Nam sau 1975 27
2.2 Nhận thức của nhà văn Việt Nam hiện đại về tài năng 29
2.2.1 Nghề văn phải có tài năng 29
2.2.2 Kết hợp tài năng và vốn sống 30
2.2.3 Nhận thức về tài năng của các nhà văn Việt Nam hiện đại 35
2.3 Nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại về cách viết 37
2.3.1 Cách viết làm sao đi sâu đời sống của quần chúng lao động, kháng chiến 37
2.3.2 Cách viết giản dị, dễ hiểu 41
2.3.3 Cách viết có chiều sâu, có chất lượng 42
2.3.4 Những hạn chế của cách viết 43
2.4 Nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại về ngôn ngữ 44
2.4.1 Ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn chương 44
2.4.2 Nhận thức của nhà văn Việt Nam hiện đại về ngôn ngữ 48
2.5 Nhận thức của nhà văn hiện đại về thể loại 50
Chương 3 NHỮNG TỔNG KẾT LÍ LUẬN VỀ NGHỀ VĂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 54
3.1 Những phát biểu đúc kết thành lý luận trong quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại 54
3.1.1 Nghề văn là công việc phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ cuộc sống 54
3.1.2 Nghề văn luôn đòi hỏi phải tạo ra “sản phẩm” có giá trị cao 60
3.1.3 Vấn đề tả thực, tả chân trong quan niệm nghề văn của các nhà văn 64
3.1.4 Những quan niệm khác về nghề văn 66
3.2 Đóng góp và hạn chế quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại 69
3.2.1 Đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc 69
3.2.2 Việc hình thành nghề văn trong văn học Việt Nam hiện đại 70
Trang 63.2.3 Nghề văn phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến 72
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong truyền thống văn chương khu vực Đông Á (Trung Quốc,Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản) văn chương chưa từng được quan niệm làmột nghề tồn tại tự thân Từ rất sớm văn chương tồn tại trong sự hỗn nguyêncủa nhiều thể loại khác như: sử, triết,… dần dần văn chương trở thành mộtloại hình tồn tại độc lập Tuy nhiên kể cả khi văn chương trở thành một loạihình độc lập đi chăng nữa thì nghề văn chưa bao giờ là một nghề mang tínhchuyên nghiệp với đầy đủ tiêu chí và ý nghĩa của nó Văn làm ra để “thoảchí” để “tải đạo” để truyền tụng đọc chơi Tóm lại, nghề văn chưa từng xuấthiện trong truyền thống văn chương khu vực Nghề văn chỉ xuất hiện khi có
sự thâm nhập của nền văn hoá phương Tây vào Việt Nam và ảnh hưởng củavăn học, văn hoá phương Tây đối với Việt Nam cùng với sự hình thành vàphát triển của các đô thị mới dẫn đến sự hình thành một nghề được gọi lànghề văn Rõ ràng sự hình thành nghề văn trong quan niệm của các nhà vănViệt Nam giai đoạn này từ góc độ nghề nghiệp là sản phẩm của sự giao thoaĐông Tây Sản phẩm này có đặc tính là các nhà văn Việt Nam hiện đại ýthức rõ văn chương không còn đơn thuần là đọc chơi, là một thú tiêu khiển,
là một nghiệp nữa mà văn chương là một nghề nghiệp mà ở đó nhà văn cóthể dành trọn cả đời mình cho nghề, theo nghĩa “sinh ư nghệ tử ử nghệ” Rõràng sự xuất hiện “nghề văn” trong đời sống văn hoá tình thần dân tộc để lạinhiều ý nghĩa đáng quan tâm Với văn học, nó đánh dấu sự chuyên nghiệpcủa văn chương Việt Nam trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc, vớivăn hoá và tình thần người Việt, lộ trình chuyên nghiệp và phân hoá sâutrong đời sống tinh thần dân tộc từng bước rõ nét hơn Vì vậy, tìm hiểu quanniệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại có ý nghĩa lớn đối với
Trang 8việc tìm hiểu tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc, tìm hiểu thêm đượcnhững quy luật và ý nghĩa trong giao thoa văn hoá Đông Tây.
1.2 Việc xem sáng tác văn chương là một nghề, lấy xây dựng sự nghiệp vănchương là lẽ sống, tùy hoàn cảnh riêng của từng người, từng thời điểm họ phấnđấu trở thành nhà văn chuyên nghiệp Hơn bao giờ hết cộng đồng người viết nàynhận thức dầy đủ, sâu sắc về nghề văn, về ý nghĩa xã hội hay các chức năng củasáng tác văn học về giá trị tinh thần cũng như vật chất, về vinh quang và cay đắng
mà tác phẩm, sự nghiệp văn chương có thể mang lại
Xuất phát từ những quan niệm, nhận thức về nghề viết của các nhà vănhiện đại đã tác động mạnh mẽ đến sáng tác của họ Đó chính là lý do trực tiếp đểcác nhà văn có một số bài nói về nghề viết sâu sắc và cho đến nay vẫn còn giá trị
như: Nguyễn Tuân (1986) Chuyện Nghề, Nguyễn Đình Thi (1964) Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyên Hồng (1971) Bước đường viết của tôi, Nguyễn
Minh Châu (1994) Trang giấy trước đèn…
1.3 Nhà văn Việt Nam hiện đại và quan niệm về nghề văn của họtrưởng thành trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc nhưng nằm gọntrong thời kỳ đất nước bị ngoại bang bảo hộ và đô hộ Quan niệm về nghềvăn của các nhà văn Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn sau năm 1945 có mộtđặc điểm hết sức đáng lưu tâm là ảnh hưởng của quan điểm văn nghệ phục
vụ đất nước phục vụ cách mạng chi phối đậm nét
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Viết về vấn đề nghề văn của các nhà văn Việt Nam, nhiều tác phẩm đã
đề cập đến như:
Hoài Thanh, Hoài Chân (1942), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà
Nội Cuốn sách này vấn đề nhà phê bình đề cập đến vẫn là thể loại và sựbiểu đạt ngôn ngữ phong phú của các nhà thơ, quan niệm về “nghề văn” cónói đến nhưng chưa rõ nét
Trang 9Nguyễn Đình Chú trong Phân kỳ lịch sử văn học Việt Nam, khi so sánh
hai phạm trù văn học trung đại và hiện đại trên 12 yếu tố ngoài (gián tiếp, trựctiếp), yếu tố trong, đã nhấn mạnh nét khác biệt: Văn học trung đại “văn chươngchưa phải là một thứ hàng hóa, viết văn chưa phải là một nghề, chưa có nhuậnbút” còn văn học hiện đại “ văn chương trở thành một thứ hàng hóa, viết văntrở thành một nghề, mẫu nhà văn chuyên nghiệp ra đời”
Trong Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học, Nxb Văn mới
Califomia.), Nguyễn Hưng Quốc đã quả quyết xem tính chất chuyên nghiệp
là một trong ba đặc điểm quan trọng của văn học hiện đại trong sự đối lậpvới văn học trung đại Theo nhà nghiên cứu này, trong khi văn chương trungđại có “tính chất nghiệp dư”, thì văn chương hiện đại có “tính chất chuyênnghiệp, đặc tuyển”
Nguyễn Thành Thi, “Chuyên nghiệp hóa hoạt động sáng tác một đòi hỏi
tất yếu của cuộc sống”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 4/2010 Trong bài
viết này ông đã nhấn mạnh “Tính chuyên nghiệp” ở người viết văn biểu hiện
ở mấy tiêu chí sau: a) Xem sáng tác văn chương là một nghề, có ý thức sâusắc, đầy đủ về nghề và có năng lực chuyên môn trong hành nghề; b) Có một
sự nghiệp văn chương sáng tác với ý thức và các bài bản chuyên nghiệp; c)
Có nguồn thu nhập chính là từ các ấn bản văn học
Vương Trí Nhàn (2002), Cây bút, đời người, Nxb Hội Nhà văn, Hà
Nội Trong tập sách này ông bàn nhiều đến các nhà văn Việt Nam hiện đại
về văn chương và nghề văn nhưng chủ yếu vẫn là chân dung các nhà vănchưa đi sâu nghiên cứu về quan niệm “nghề văn” của các nhà văn ViệtNam hiện đại
Như vậy, đã có người trực tiếp hay gián tiếp nói đến nghề văn Đángchú ý hơn cả trong một số công trình nghiên cứu hay giáo trình lịch sử vănhọc và khoảng vài năm gần đây, có một số nhà nghiên cứu, ở mức độ khác
Trang 10nhau, nhấn mạnh; việc xem sáng tác văn chương như là một nghề là nét mớicủa văn học hiện đại so với văn học trung đại, thậm chí xem tính chấtchuyên nghiệp hay phi chuyên nghiệp như là một đặc điểm khu biệt quantrọng giữa hai phạm trù văn học hiện đại và trung đại Các bài viết này đềuxuất phát từ kết quả phân tích, so sánh hai thời đại văn học, vừa có cơ sở líluận vừa có cơ sở thực tiển Nó không chỉ cho thấy sự khác biệt mà quantrọng hơn còn cho thấy tính tất yếu của vận động văn học Tuy nhiên nhữngcông trình trên một mặt chỉ là những bài viết nhỏ, hoặc những tác phẩm trựctiếp dùng lý luận… chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống vàtoàn diện về quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại nhưcách đặt vấn đề của chúng tôi.
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn này xuất hiện nhiều nhà văn lớnvừa có ý thức sáng tác vừa có ý thức tổng kết kinh nghiệp về nghề viết văncủa mình, trong đó chúng ta quan sát thấy một số tác giả lớn tiêu biểu như:
Nguyễn Tuân (1986), chuyện nghề, Nxb Tác phẩm mới.
Nguyễn Đình Thi (1969) Công việc của người viết tiểu thuyết Nxb Văn
học
Nguyên Hồng (1971) Bước đường viết văn của tôi, Nxb Văn học.
Nguyễn Minh Châu (20020, Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội.
Ngoài ra còn có Tô Hoài, Nam Cao… đều có những trang viết hoặcnhững ý tưởng lý luận về nghề văn
Phạm vi tư liệu trên đây cùng với một số những dẫn chứng của nhà vănViệt Nam hiện đại khác đủ để có thể dựng lại diện mạo quan niệm về nghềvăn của các nhà văn Việt Nam hiện đại
4 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Thông qua tìm hiểu quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Namhiện đại, chúng tôi đi đến khẳng định có một quan niệm về nghề văn củacác nhà văn Việt Nam hiện đại mà trong truyền thống chưa từng xuất hiện.
Sự xuất hiện quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiệnđại khẳng định tính hiện đại của tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc,đồng thời trên cơ sở chỉ ra những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quan niệm
về nghề văn của các nhà văn Đặc biệt, quan niệm về nghề văn là cơ sở đểchỉ ra sản phẩm văn chương của các nhà văn Việt Nam hiện đại là sản phẩm
từ chính những quan niệm này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn người viết sử dụng các phương pháp cơ bản sau
- Phương pháp phân tích
- Phuơng pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
Tất cả những phương pháp trên đây được sử dụng linh hoạt và tương
hỗ cho nhau trong tiến trình triển khai vấn đề
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp một tiếng nói vào việc khẳng định đã có và tồn tại mộtquan niệm về nghề văn đã được phát biểu thành lý thuyết và tổng kết thành
lý luận trong thực tiễn sáng tác
Luận văn góp phần khẳng định tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc
từ sự hình thành quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương
Chương 1 Giới thuyết những quan niệm văn chương và nghề văn trong lịch sử văn học Việt Nam
Trang 12Chương 2 Nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại về thế giới quan, tài năng và vốn sống, cách viết, ngôn ngữ, thể loại
Chương 3 Những tổng kết lí luận về nghề văn và ý nghĩa của nó đối với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại
Trang 13
Chương 1 GIỚI THUYẾT NHỮNG QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG
VÀ NGHỀ VĂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và tiền đề lịch sử, văn hoá của nghề văn
1.1.1 Khái niệm
Căn cứ vào định nghĩa của từ điển tiếng Việt, từ điển Hán Việt và căn
cứ vào đặc trưng của văn chương, có thể định nghĩa, nghề văn là một loạihình nghề nghiệp tồn tại độc lập tự thân với đặc trưng nghề nghiệp khu biệtvới cách loại hình nghề nghiệp khác Đặc trưng của nó là, lấy văn chương,văn học, lấy hoạt động sáng tác, sáng tạo, phê bình văn chương làm mộtnghề nghiệp, trong đó sản phẩm được xã hội hoá, có thể mang ra định giá vàtrao đổi
1.1.2 Tiền đề lịch sử, văn hoá của nghề văn
Để có thể xem sáng tác văn học như là một nghề, thường phải hội đủnhững yếu tố sau:
Thứ nhất, có một nhóm các nhà văn trong xã hội sống bằng nghề viếtvăn, và xem sáng tác văn chương là một nghề Trong văn học Việt Nam hiệnđại, dần xuất hiện những nhóm nhà văn mà cả đời sống bằng nghề viết văn
Có thể nói đây là tiêu chí quan trọng bậc nhất quyết định hình thành nghềvăn
Thứ hai, giai đoạn đầu thế kỷ hình thành những trường phái vănchương như trường phái chủ nghĩa hiện thực: Vũ Trọng Phụng, NguyễnCông Hoan, Nam Cao họ, hay trường phái chủ nghĩa lãng mạn: Tự lực vănđoàn, về cơ bản cả cuộc đời họ gắn bó với nghề văn
Thứ ba, phải có những tổng kết lý luận, những phương châm sáng tác.Như trên đã đề cập, những nhóm nhà văn như chủ nghĩa hiện thực, lãng mạn
Trang 14về cơ bản cả cuộc đời họ là nghề văn Chính họ với định hướng về nội dung
và chủ đề đã tự nhiên nhóm họp thành các trường phái văn chương Nhưngmặt khác bản thân họ từ trong quá trình sáng tác có nhu cầu đúc rút kinhnghiệm thành lý luận sáng tác của mình Các nhà văn Việt Nam hiện đại nhưNguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Hồng, NamCao, Tô Hoài… Và có những nhà phê bình văn chương chuyên nghiệp, có lýthuyết phê bình văn chương Trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ dần hìnhthành nhiều nhà phê bình văn chương chuyên nghiệp như: Phạm Quỳnh, VũNgọc Phan, Thiếu Sơn, Trương Tửu, Lê TRàng Kiều, Hoài Thanh - HoàiChân Đây là những nhà phê bình hết sức tiêu biểu cho nền phê bình văn họcnước nhà, đến nay vẫn còn nguyên giá trị Có thể nói đây là tiêu chí thứ baquyết định có hay không một nghề văn
Thứ tư, có hệ thống nhà xuất bản, in ấn tác phẩm ở mức độ chuyênnghiệp, có công chúng độc giả rộng lớn, đa dạng
Trên đây là cách hiểu về nghề văn và những tiêu chí về nghề văn Rõràng, nhìn từ những tiêu chí này văn học Việt Nam truyền thống chưa hìnhthành một nghề văn chuyên nghiệp Ở Việt Nam, văn học hình thành nghềvăn chuyên nghiệp vào những năm đầu thế kỷ XX, gắn liền với tiến trìnhhiện đại hoá nền văn học dân tộc
1.1.3 Nghề văn trong văn học Việt Nam hiện đại với tiến trình lý luận và thực tiễn sáng tác của các nhà văn
Tiến trình hình thành nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại chịu
sự chi phối và tác động rất sâu sắc của tiến trình hiện đại hóa văn học dântộc, sự chi phối của những yếu tố truyền thống Sự chi phối của văn hóa họcthuật và tư tưởng phương Tây, và đặc biệt trong quan niệm về nghề văn củacác nhà văn Việt Nam hiện đại chịu sự chi phối quan niệm lý luận của Đảng
Trang 15cộng sản Việt Nam về mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổquốc và tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Trước tiên, trong quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Namhiện đại là sự chi phối sâu sắc của truyền thống “văn dĩ tải đạo”, trongnhững nội dung căn cốt của văn chương truyền thống là thể hiện và làm sángđạo đức thánh hiền Nho gia Văn phải nói đạo, thi phải nói chí Nhà văn ViệtNam hiện đại, có người xuất thân từ nho gia hoặc có học và ảnh hưởng củanho gia, tuy nhiên do yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là thực tiễncuộc kháng chiến của dân tộc, nhà văn Việt Nam hiện đại chịu sự chi phốisâu sắc của quan niệm văn chương, văn học phụ vụ tổ quốc, phục vụ khángchiến Một trong những nội dung chủ đạo của văn chương hiện đại thể hiệntrong những sáng tác và cả trong những lý luận của nhà văn Việt Nam hiệnđại là văn chương phục vụ kháng chiến Khái quát về toàn bộ nền văn học
này, Nguyễn Minh Châu trong bài Đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa đã thẳng thắn nhìn nhận văn học giai đoạn này được xem là giai đoạn
của một nền văn học “minh họa” Sau này nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến
đã tiếp tục khẳng định, đây là một nền văn học “Phải đạo” Như vậy, mộttrong những đặc điểm đầu tiên của nền văn học thời kỳ này là sự tiếp mạchtruyền thống của nền văn chương, văn dĩ tải đạo và nền văn chương phục vụnhu cầu thực tiễn cuộc kháng chiến của dân tộc Nếu như trước đây nhà nhoViệt Nam lấy tiêu chuẩn đạo đức Nho gia làm mục tiêu thì đến giai đoạn nàycác nhà văn Việt Nam phải thể hiện cho được nội dung phục vụ kháng chiến,phục vụ dân tộc
Thứ hai, quan niệm về nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện ở thời
kỳ đầu tính chuyên nghiệp chưa cao Văn học Việt Nam đi vào tiến trìnhhiện đại hóa văn học dân tộc khi văn chương truyền thống chưa hoàn toànmất hẳn Những yếu tố của truyền thống, như thể loại, mỹ học, văn học
Trang 16truyền thống… vẫn tiếp tục tham gia vào cấu trúc của nền văn chương hiệnđại Bên cạnh kịch, tiểu thuyết còn có thơ 5 chữ, bảy chữ, bên cạnh vănchương lãng mạng, hiện thực còn có văn chương về đạo đức nhà nho Tất cảnhững yếu tố đó đan xen, cấu trúc lại trong văn học Việt Nam hiện đại, tạo
ra những đặc thù của nền văn học Việt Nam hiện đại, đó là sự phát triểnchưa thực sự đến chuyên nghiệp của nền văn học Việt Nam hiện đại Về lýluận, văn học Việt Nam có nhiều cuốn sách và nhiều nhà phê bình lớn nhưngchưa khi nào hình thành một đội ngũ những nhà phê bình chuyên nghiệp đủlớn và đông đảo Văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm và tác giả ảnh hưởngcủa văn hóa phương Tây trong sáng tác như: Hàn Mặc Tử, Vũ Trọng Phụngnhưng không hoàn toàn triệt để theo phong cách sáng tác này Đặc biệt làsau năm 1945 nhất loạt đều chịu sự chi phối tư tưởng macxit của Đảng cộngsản văn nghệ phục vụ kháng chiến… tất cả điều đó tạo nên một bức tranhkhông thật chuyên nghiệp và đạt đến tầm vóc cổ điển của nhiều tác phẩm vàtác giả văn học, trong đó có những tác phẩm quan niệm về nghề văn của cácnhà văn Việt Nam hiện đại Trong quan niệm của họ về nghề văn, nổi bậtvẫn là những trang viết thể hiện về văn học phải phục vụ kháng chiến, phục
vụ tổ quốc,…
Tất cả những đặc điểm này ảnh xạ rất rõ trong quan niệm của nhà văntrong giai đoạn này như: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, NguyênHồng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài…
1.2 Sự vận động của quan niệm văn chương và nghề văn trong lịch
sử văn học Việt Nam
1.2.1 Quan niệm truyền thống về văn chương và nghề văn
Những quốc gia nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa TrungHoa như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc đều có chung một quan niệm vềvăn chương nhìn từ sự ảnh hưởng này Văn chương truyền thống khu vực
Trang 17này trước thời hiện đại về cơ bản vẫn nằm trong tính nguyên hợp của nhiềuloại hình khác như, sử, triết,… khái niệm “văn sử triết bất phân” nhằm đểchỉ tính nguyên hợp của nhiều loại hình này, trong đó có văn học Một tác
phẩm được coi là tác phẩm văn chương như: Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì
Nhậm… theo như quan niệm này ngày nay chưa được gọi là một tác phẩmvăn học riêng biệt, bởi ở trong đó chúng ta thấy các lĩnh vực như Sử, triếtcũng có thể khai thác ý nghĩa, giá trị của nó và đều được hai lĩnh vực nàyxem như là thể loại thuộc lĩnh vực của mình… càng về sau, trong những thế
kỷ tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn văn học thế kỷ 18-19 dần xuất hiện nhiềuhơn những tác phẩm của những nhà văn mà ở đó dáng dấp của một tác phẩm
văn chương đích thực như: Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương Tuy nhiên
trên đại thể văn học trong truyền thống chịu ảnh hưởng của văn hoá khu vựcvẫn chưa tồn tại thực sự độc lập với tư cách đặc thù Vì vậy, trong thời trungđại Việt Nam đến trước khi có tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc thìchưa có một nền văn học tồn tại tự thân, chưa có một đội ngũ tác giả độc lập
Vì thế chưa có một nghề văn và một quan niệm về nghề văn mang tínhchuyên nghiệp
Tác giả trong văn chương truyền thống chủ yếu là nhà nho Nhà nhotrước tiên là một nhân vật chính trị chứ không phải là một tác giả vănchương Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu vẫn tâm đắcvới câu thơ của Viên Mai: “mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, lập thê tối hạthị văn chương” (Mỗi bữa ăn không thể quên được, lập thân kỵ nhất là bằngvăn chương) Điều này có nghĩa con đường chính thống của các nhà nho tạonghiệp là bằng con đường lập công, trở thành anh hùng Văn chương chỉ làcon đuờng cuối cùng và bất đắc dĩ Mặt khác, những tác phẩm thơ văntruyền thống của các nhà nho về cơ bản tính thống nhất là để diễn tả con
Trang 18đường đắc đạo, con đường thực hiện đạo Nho và ý chí vươn lên của mình.Thơ văn xưa có câu “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí’ để nói lên vai trò chínhcủa văn chương là nhằm đạt tới điều đó Bản thân văn chương được quanniệm là một công cụ trong tiến trình tu dưỡng của nhà nho Văn chươngchưa được ý thức, được hình dung là một loại hình độc lập với ý nghĩa thẩm
mỹ riêng biệt Vì vậy, chưa có một quan niệm về nghề nghiệp văn chươngtrong giai đoạn này
Trong văn chương truyền thống, nếu quan sát chúng ta sẽ thấy độc giảchủ yếu của tác phẩm văn chương này ban đầu và chủ yếu nhất là nhữngngười bạn, tri âm tri kỷ trao cho nhau đọc nhằm thể hiện và chia sẻ ý chí vàkhát vọng giữa những người đồng chí hướng Xưa kia về cơ bản dân ta ítngười biết chữ, người biết chữ chủ yếu là những người đi học đạo nho vàchữ thánh hiện, độc giả chủ yếu của những tác phẩm nho gia là những nhànho, trước tiên là những người bạn Do vậy, chúng ta sẽ thấy trong vănchương truyền thống diễn ra nhiều hoạt động, giữa hai người bạn tri kỷ hoặcgiữa một nhóm những tác giả Trong văn chương trung đại Việt Nam, cónhiều hội hoạt động theo hình thức này như: nhóm “Tao đàn” của vua tôi LêThánh Tông, nhóm những người bạn thơ và đối đáp thơ văn giữa HồXuân Hương và những người bạn Về cơ bản trong văn chương trung đạichưa có độc giả chuyên nghiệp, độc giả chủ yếu là một nhóm nhỏ nhữngngười bạn tri âm tri kỷ Mặt khác, hoạt động lý luận về văn chương củavăn học trung đại cơ bản vẫn chưa xuất hiện Văn học Trung Quốc ngay
từ rất sớm thời Ngụy Tấn đã có những tác phẩm lý luận lớn, tiêu biểu
như Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp Trong toàn bộ nền văn chương
truyền thống dân tộc, không có một cuốn sách lý luận văn học chuyênbiệt về Lý luận về văn chương của văn học Việt Nam trung đại chủ yếunằm ở những bài đề, bài tự nằm trong những tập sách, những đề tựa cho
Trang 19những tuyển tập Lý luận văn chương truyền thống không hình thành hệthống, thiếu nền lý luận văn chương chuyên nghiệp và chuyên sâu Từphương diện lý luận văn học mà xét, nền văn chương trung đại Việt Namchưa xuất hiện lý luận văn học chuyên biệt Vì thế, khó có thể nói đếnvăn chương với tư cách là một nghề nghiệp đặc thù Hoạt động in ấntrong nền văn chương dân tộc truyền thống Về cơ bản những ấn phẩmvăn chương chủ yếu được in ở những nhà in của nhà chùa hoặc sau nàykhi đô thị phát triển mới dần hình thành những nhà in với quy mô nhỏ ở
Hà Nội, ở Huế, việc in ấn các tác phẩm lẻ tẻ với quy mô nhỏ Việc phổbiến các tác phẩm rất hạn chế, diện phổ biến hẹp Nhìn từ góc độ nàycũng rất khó có thể nói đến một nghề văn trong nền văn chương trungđại
Như vậy, việc lược thuật những phương diện trên trong văn chươngtrung đại dân tộc khẳng định một thực tế là, trong văn chương truyền thốngdân tộc chưa xuất hiện một nghề văn với ý nghĩa chuyên nghiệp của nó
1.2.2 Quan niệm hiện đại về văn chương và nghề văn
Có thể nói trong văn học Việt Nam hiện đại đã thể hiện đẩy đủ nhữngyếu tố của một nghề văn tồn tại với tư cách là một loại hình nghề nghiệp độclập Tuy nhiên sự hình thành và nhận thức về nghề văn văn học Việt Namhiện đại chịu sự chi phối sâu sắc của văn chương truyền thống dân tộc vàvăn chương truyền thống khu vực Đông Á đặc biệt chịu sự tác động, chiphối sâu sắc và toàn diện của công cuộc tiến trình hiện đại hoá dân tộc vàcông cuộc kháng Pháp kháng Mỹ của dân tộc
Thứ nhất, có một nhóm các nhà văn, đủ lớn hình thành một nhóm xãhội sống bằng nghề viết văn Trong truyền thống, đã có nhiều nhà nho viếtvăn làm thơ Tuy nhiên, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du viết văn làm thơkhông phải với tư cách là nghề nghiệp của cả cuộc đời mình Họ viết văn
Trang 20làm thơ là để giải sầu, thỏa chí, đắc đạo Trong văn học Việt Nam giai đoạnnày xuất hiện một đội ngũ những nhà văn, nhà thơ mà ở đó công việc chính,nghề nghiệp chính của họ là viết văn làm thơ, hay nói cụ thể hơn là sốngbằng nghề viết văn làm thơ Về thơ, chúng ta thấy Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,
… cả đời họ dành cho thơ, họ sống làm thơ, nói chuyện về thơ Và đây lànhững công việc chính trong nghề nghiệp của họ Về văn, những nhà vănlớn như: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân…đều gắn bó cả đời mình với sự nghiệp viết văn Và chính họ để lại cho vănhọc nước nhà di sản văn học đồ sộ mà họ gắn bó cả đời mình
Thứ hai, phải hình thành những trường phái văn chương Trong vănhọc Việt Nam truyền thống, về cơ bản chưa hình thành những trường pháisáng tác văn chương Trong văn học Việt Nam hiện đại, nhiều trường pháivăn chương đã xuất hiện Những năm đầu thế kỷ XX, chúng ta bắt gặp nhiềutrường phái văn chương tiêu biểu như trường phái văn học lãng mạn, với tổchức lớn, tiêu biểu là Tự lực văn đoàn, trường phái của nhóm Xuân thu nhãtập, trường phái văn học Việt Nam hiện đại, văn học cách mạng Nhữngtrường phái văn chương này là những trường phái lớn, gắn với một địnhhướng sáng tác có tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái mình Nhữngtrường phái này đóng góp phần rất lớn cho tiến trình hiện đại hóa văn họcdân tộc Những nhà văn trường phái này có nhiều nhà văn lớn đều có nhữngquan niệm cá nhân về nghề văn như: Nguyễn Tuân, nhóm Tự lực văn đoàn,Nam Cao, Nguyên Hồng
Thứ ba, phải có những tổng kết lý luận, những phương châm sáng tác.Như trên luận văn đã chỉ ra, trong văn chương truyền thống, chưa hình thànhnhững tổng kết mang tính lý luận về văn chương và nghề văn Văn học ViệtNam hiện đại xuất hiện một loạt những tác phẩm lý luận có tổng kết lý luậnmang tính chuyên nghiệp về văn chương, văn học Trong đó có thể kể đến
Trang 21những tác phẩm lý luận tiêu biểu như: Chuyện nghề của Nguyễn Tuân, Trang sách trước đèn của Nguyễn Minh Châu, Công việc của người viết tiếu thuyết của Nguyễn Đình Thi Như vậy, so với văn chương truyền thống,
giai đoạn này văn học dân tộc đã có những tổng kết thành công trình lý luận
về văn chương và nghề văn Chính trong những công trình này những nhàvăn có điều kiện đúc kết thành lý luận, suy nghĩ trình bày những quan niệmcủa mình về nghề văn Và phải có những nhà phê bình văn chương chuyênnghiệp, có lý thuyết phê bình văn chương Trong văn chương truyền thốngchưa xuất hiện những nhà phê bình, chưa có những nhà phê bình dựa trên lýthuyết phê bình Văn học Việt Nam hiện đại do ảnh hưởng của văn hóa Pháp
và văn hóa Phương Tây nhiều lý uyết phê bình Phương Tây đã được giới thiệuvào Việt Nam hoặc những nhà văn Việt Nam học trong những nhà trường Pháphoặc trực tiếp sang Pháp học đã học tập lối phê bình Phương Tây trong vănhọc Việt Nam, những lý thuyêt phê bình như: ấn tượng chủ nghĩa, siêu thực,phân tâm, macxit… Trong văn học Việt Nam hiện đại xuất hiện nhiều nhàphê bình chuyên nghiệp như:
Phạm Quỳnh chủ trương “Gây lấy một nền văn học mới để thay thế vàocái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tự trào mới hợp với thời thế cùngtrình độ dân ta Cái tính cách học vấn mới cùng cái tự trào mới ấy là tổ thuậtcái học vấn tư tưởng của Thái, Tây, nhất là nước đại Pháp mà không quêncái quốc túy trong nước” Có thể nói Phạm Quỳnh là một trong những ngườisớm có ý thức vận dụng phương pháp văn học của Phương Tây, của Phápvào nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam và ông được coi là người khaiphá mở đường thế hệ phê bình văn học thế kỷ XX
Thiếu Sơn với cuốn Phê bình và cảo luận (1933), ông đã bộc lộ đầy đủ
phẩm chất của một nhà phê bình có bản lĩnh, có quan điểm riêng khi đánhgiá tác phẩm, các hiện tượng văn học đương thời, có ý nghĩa mở đường cho
Trang 22phê bình văn học trở thành một hoạt động chuyên nghiệp có tính lý luận.Mặc dù một số ý kiến của ông còn mang tính chủ quan phiến diện như:người nào muốn sống với văn chương, trước hết phải giải phóng cho linhhồn Phải thoát li được với hết thảy những thành kiến về luân lý xã hội, vềchính trị, tôn giáo, và chỉ biết có nghệ thuật mà thôi” [14; 253].
Vũ ngọc Phan với cuốn Nhà văn hiện đại là một công trình phê bình
văn học Việt nam hiện đại đồ sộ nữa đầu thế kỷ XX Xuất phát từ một quanđiểm mỹ học nhất định, có trình độ lý luận cơ bản: phương pháp phê bìnhkhoa học tỉ mỉ, khen chê có căn cứ Ông viết “ Viết bộ nhà văn hiện đại, tôi
đã theo phương pháp khoa học và căn cứ vào những bằng chứng thực để phêbình, sự khen chê không bao giờ vu vơ cả Bởi thế, độc giả đã có thấy nhiềuđọan trích ở các văn phẩm, để chứng thực cho lời xét đoán Sau nữa, đã theophương pháp khoa học thì phải tựa vào một lý thuyết, công việc phê bìnhmới vững vàng được [47; 1175] Hay Trương Tửu cũng là một trong nhữngngười sớm vận dụng thuyết khoa học vào phê bình văn học
Đọc Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, ta nhận thấy ông
đã sớm chọn cho mình nghề phê bình văn học đặc biệt là bình thơ mới vớimột phong cách phê bình riêng không lẫn với ai Bên cạnh Hoài Thanh có
Lê Tràng Kiều một nhà phê bình không mấy nổi danh nhưng cũng có nhiềuđóng góp cho phê bình văn học Nam Hiện đại
Tiêu biểu cho văn học macxit trước 1945 Hải Triều là người có côngtruyền bá chủ nghĩa Mác và tư tưởng văn nghệ macxit vào Việt Nam Sau
1945 số lượng các nhà phê bình ngày một đông và để lại nhiều công trìnhphê bình, đánh dấu sự thay đổi và phát triển của văn học nước nhà
Thứ Tư, có hệ thống nhà xuất bản, in ấn tác phẩm ở mức độ chuyênnghiệp Nếu như trong văn chương truyền thống chưa xuất hiện nhiều nhà in
ấn và những nhà xuất bản sách, báo chuyên nghiệp thì đến văn học Việt
Trang 23Nam hiện đại có nhiều nhà xuất bản, những tờ báo in những sáng tác vănchương của các nhà văn Những năm đầu thế kỷ chúng ta được biết tới nhiều
tờ báo lớn: như Nam Phong tạp chí, Thanh Nghị, Tri Tân, Phụ nữ TânVăn…cùng với nhiều nhà xuất bản lớn đã góp phần rất lớn tạo ra sự pháttriển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Có công chúng độc giả rộng lớn,
đa dạng Nếu như trong văn chương truyền thống, công chúng chủ yếu nhấtcủa văn học là những nhà nho biết chữ, với một số lượng rất hạn chế thì đếnvăn học Việt Nam hiện đại, một lượng độc giả lớn hơn và thay đổi nhiều.Ngoài nhà nho còn có một loạt những trí thức Tây học, những người buônbán thị dân, người ngoại quốc và những người đi học khác, tạo thành một hệthống rộng lớn công chúng đông đảo, tập trung ở những đô thị lớn của đấtnước như: Hà Nội, Sài Gòn Bộ phận công chúng văn học lớn này phân ralàm nhiều nhóm khác nhau với những thị hiếu thẩm mỹ khác nhau, chính họgóp phần to lớn tiến tới sự hiện đại hóa văn học dân tộc
Trên đây là những yếu tố của một nền văn học chuyên nghiệp đánh dấu
ở việc hình thành một nghề văn chuyên nghiệp Tất cả những yếu tố nàysoi chiếu vào văn chương truyền thống về cơ bản chưa tồn tại trong vănchương truyền thống Ngược lại văn chương Việt Nam hiện đại từng bướcđáp ứng đầy đủ những yếu tố trên Vì vậy có thể khẳng định, văn học ViệtNam hiện đại đã hình thành một nghề văn với tư cách là một nghề chuyênnghiệp
Như vậy, mục đích đưa ra tiêu chí của việc hình thành nghề văn để qua
đó khẳng định, đặt vấn đề nghiên cứu nghề văn trong văn học Việt Nam hiệnđại là có cơ sơ Bởi lẽ, văn chương truyền thống chưa hình thành nghề vănnhưng văn học Việt Nam hiện đại đã từng bước hình thành nghề văn
1.2.3 Nguồn gốc hình thành nghề văn, nhà văn trong văn học Việt Nam hiện đại
Trang 24Ở trên luận văn đã chứng minh và chỉ ra khái niệm, tiêu chí và nhữngtiêu chí này đã được soi chiếu vào văn học Việt Nam hiện đại Vậy tại sao,đến những năm 30 dầu thế kỷ XX và tiếp theo những năm sau này, trong vănhọc Việt Nam mới hình thành nghề văn với tư cách là một nghề nghiệpchuyên nghiệp, tại sao trước đây chưa hình thành, tại sao giai đoạn này lạihình thành, cơ sở, nguồn gốc của nó và những yếu tố nào của hiện đại,truyền thống, khu vực và Phương Tây tác động đến hình thành nghề văn.Những tác động đó quy định như thế nào đối với quá trình hình thành quanniệm của nhà văn Việt Nam hiện đại về nghề văn
Đề cập đến nguyên nhân hình thành nghề văn trong văn học Việt Namhiện đại thì một trong những nguyên nhân đầu tiên phải đề cập đến là sựhình thành và phát triển các đô thị lớn ở Việt Nam, đặc biệt là đô thị Hà Nội
và Sai Gòn Trong lịch sử Việt Nam truyền thống, Hà Nội là thủ đô và là đôthị lâu đời bậc nhất của nước Việt Nam, Sài Gòn là thành phố trẻ Nhưngphát triển nhanh và năng động những yếu tố phi truyền thống Thế kỷ XVIII
- XIX Hà Nội không phải là thủ đô của nước Việt Nam nhưng lại là một đôthị lớn của cả nước Đến đầu thế kỷ XX cùng với sự đô hộ của thực dânPháp, hoạt đông thương mại, văn hóa nhiều chiều diễn ra mạnh mẽ ở đây
Đô thi Hà Nội hình thành và phát triển cùng với sự xuất hiện tầng lớp cư dânmới, cư dân đô thị với đặc trưng là sống ở đô thị và sinh sống bằng nghề phitruyền thống là hoạt động buôn bán, dịch vụ Họ là một lực lượng mới của
xã hội, lực lương phi truyền thống, ảnh hưởng nhiều của văn hóa PhươngTây Đây là bộ phận biết chữ tiếng Tây, chữ Hán và đặc biệt nhiều ngườibiết chữ quốc ngữ Lớp người này có nhu cầu rất lớn về văn hóa, giải trí tinhthần Họ là tầng lớp có học thức có nhu cầu văn hóa cao, là lực lượng quantrọng thúc đẩy văn học Việt Nam phát triển Họ là tầng lớp tiêu thụ rất lớnnhững tác phẩm và tác phẩm văn chương Một nhu cầu thường trực của một
Trang 25lớp người như vậy đòi hỏi một lực lượng sáng tác thường xuyên và nhữngkhuynh hướng sáng tác đa dạng Chính điều này đòi hỏi cần có một đội ngũnhững nhà văn chuyên nghiệp viết văn phục vụ cho nhu cầu của nhóm ngườimới này Nghề văn của những nhà văn Việt Nam hiện đại được hình thànhtrên cơ sở này.
Đăc biệt xã hội Việt Nam những năm 1930, 1940 đã hình thành mộtcộng đồng người viết trẻ trung, mới mẻ Đó là một thế hệ tinh hoa, giàu tàinăng và cũng sẵn hùng tâm tráng chí Họ tự nguyện gánh vác trọng tráchhiện đại hóa văn học nước nhà Xem văn chương là một nghề, lấy xây dựng
sự nghiệp văn chương là lẽ sống, tùy hoàn cảnh riêng từng người, từng thờiđiểm, họ phấn đấu trở thành nhà văn chuyên nghiệp, hay chí ít, bán chuyênnghiệp Hơn bao giờ hết, cộng đồng người viết này phải ý thức đầy đủ, sâusắc về nghề văn, về ý nghĩa xã hội hay các chức năng của sáng tác văn học,
về giá trị tinh thần cũng như vật chất, về vinh quang và cay đắng mà tácphẩm, sự nghiệp văn chương có thể mang lại Xã hội hiện đại đã chấp nhậnvăn chương thành hàng hóa, xem sáng tác văn chương như một nghề thìcũng có thể biến nó thành “nghiệp” đối với nhà văn Trong bài Chữ và tiếng nói Tô Hoài nói về nghề : Người viết văn như cái cửa hàng bách hoá, càng
nhiều mặt hàng càng dễ chạy [ 28; 119]
Dù muốn dù không, nhà văn chuyên nghiệp phải sống bằng trang viếtcủa mình Sáng tác văn chương sẽ trở thành một phương tiện, có thể làphương tiện duy nhất, nuôi sống bản thân và gia đình họ Tô Hoài đã từngnói “đến với nghề để kiếm sống” Khốn nỗi thời kỳ đầu nền văn học hiện đạikhông mấy ai có thể sống được một cách thảnh thơi bằng tiền nhuận bút.Chả thế mà thi sĩ Tản Đà từng phải chua chát thốt lên “văn chương hạ giới rẻnhư bèo” và tuyên bố “đem văn đi bán chợ trời”; còn Xuân Diệu, Thế Lữ,Huy Cận, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, và nói chung các nhà văn Việt Nam
Trang 26trước 1945 đều thấm thía cái sự thật cay đắng “cơm áo không đùa với kháchthơ” Nói đúng ra, không riêng gì người viết văn có nguy cơ lâm vào tìnhtrạng túng kiết, mà đến cả các ông chủ báo, chủ nhà in, chủ phát hành lắmkhi cũng sa cơ lỡ vận
Như vậy đòi hỏi các nhà văn Việt Nam hiện đại phải nâng cao ý thức vềnghề, thậm chí là cả một thách thức đối với một hệ thống sáng tác, xuất bản,phát hành Bởi, sáng tác văn chương giờ đây được quan niệm không chỉ như
là một loại sản phẩm tinh thần vô giá, mà còn như là một loại hàng hóa đặcbiệt Tạo ra những giá trị đặc biệt của loại hàng hóa này không thể thiếunhững bàn tay, khối óc chuyên nghiệp Nhưng việc tạo ra những bàn tay,khối óc chuyên nghiệp chẳng phải là việc có thể làm trong ngày một, ngàyhai mà cả một quá trình hình thành
Mặt khác, như chúng ta đã biết, thực dân Pháp vào nước ta kéo mangtheo những nét văn hóa phương Tây trong đó một bộ phận rất lớn là vănhóa, tinh hoa văn học Pháp được giới thiệu liên tục và bài bản ở Việt Namtrên các tờ báo lớn như: Nam Phong tạp chí, Tân Văn, Thanh nghị (Nguyễn
Văn Vĩnh dịch, cho đăng nhiều kỳ tác phẩm Những người khốn khổ của đại
văn hào V Huygo trên báo)…Nhiều nhà văn lớn và những tác phẩm lớn, cảnhững nhà phê bình, lý luận văn học cũng được giới thiệu vào nước ta giaiđoạn này Cùng với lực lượng xã hội mới hình thành và tiến trình đô thị hóamạnh mẽ, văn hóa phương Tây được trí thức lớn tiếp thu học tập truyền bávào nước nhà từng bước phá vỡ cấu trúc mô thức văn hóa truyền thống,đồng thời phá vỡ những khuôn khổ đề tài, thể loại, quan niệm văn chương
và mỹ học văn học truyền thống Một nền văn học mới, với những tác giảvăn học mới và cũ đan cài, hệ thống tác phẩm mới, thể loại mới, quan niệmvăn học mới, mỹ học mới, và hệ thống chủ đề, đề tài mới dần hình thànhtrong xã hội Việt Nam hiện đại Trong đó đặc biệt quan trọng là sự tác động
Trang 27của tổng thể những yếu tố này đối với sự hình thành một đội ngũ những nhàvăn chuyên nghiệp, chính từ họ đã chiết xuất ra những quan niệm về nghề
văn mà sau này chính họ đã tổng kết thành lý luận về nghề văn như: Chuyện nghề của Nguyễn Tuân, Trang sách trước đèn của Nguyễn Minh Châu, Bước đường viết văn của Nguyên Hồng, Công việc của người viết tiếu thuyết của Nguyễn Đình Thi, …
Trang 28
Chương 2 NHẬN THỨC CỦA NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
VỀ THỀ GIỚI QUAN, TÀI NĂNG, CÁCH VIẾT, NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI
Hoạt động sáng tác văn học, đòi hỏi nâng cao nhận thức về nghề và khát
vọng tạo được phong cách nghệ thuật cá nhân của nhà văn Không thể có mộtnền văn học hiện đại nếu hoạt động sáng tác văn học không được chuyênnghiệp coi sáng tác văn chương như là một nghề nằm trong quỷ đạo các ngànhnghề khác Nhà văn hiện đại không thể tạo được cho mình một phong cáchnghệ thuật độc đáo hay cá tính sáng tạo mạnh mẽ nếu chỉ bằng lòng với nhữngsáng tác mang tính chất nghiệp dư, hoặc thiếu đi một sự tự ý thức sâu sắc vềnghề thì sẽ không có được những quan niệm sâu sắc về nghề văn Hơn bao giờhết một đòi hỏi khách quan tất yếu Đó vừa là một cơ hội vừa là thách thức đốivới nhà văn Các nhà văn phải nhận thức được đòi hỏi của thời đại một cách tựgiác, và biến nhận thức thành ý trí sáng tạo trong niềm đam mê nghề nghiệp, vàcác nhà văn Việt Nam hiện đại họ đã nhận thức như: thế giới quan, vốn sống,tài năng, cách viết, ngôn ngữ, thể loại như thế nào để viết được những tác phẩmhay, có giá trị
2.1 Nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại về thế giới quan
Thế giới quan trong quan niệm của các nhà văn Việt Nam hiện đạiđược hiểu là những quan niệm, cách nhìn về cuộc sống về đời sống, về conngười Thế giới quan của nhà văn Việt Nam hiện đại mang tính đặc thù vàchịu sự quy định chặt chẽ quan điểm của Đảng về thế giới quan Thời kỳnày, nhà văn Việt Nam chịu sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc bởi nhữngquan điểm về cuộc sống của thế giới quan Phương Tây và những định hướng
về thế giới quan của Đảng
Trang 292.1.1 Những tác động đến việc hình thành thế giới quan nhà văn Việt Nam hiện đại
Việt Nam hiện đại nói chung chịu sự chi phối sâu sắc của văn họcphương Tây hiện đại Do vậy thế giới quan của các nhà văn phương Tây ảnhhưởng lớn đến nhà văn Việt Nam hiện đại Thông quan những tác phẩm dịchthuật, sách dịch và báo chí phương Tây như Pháp và Đức truyền vào ViệtNam Những thế giới quan mới này đã từng bước phá vỡ thế giới quantruyền thống của các nhà văn Việt Nam hiện đại, tạo ra nhiều sáng tạo vănhọc mới khác với truyền thống Trong thế giới quan truyền thống, các nhànho, nhà thơ Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng và chi phối bởi thế giới quanTrung Hoa cổ đại Ở đó, cuộc sống, nhân sinh được nhìn nhận ở góc độ tudưỡng đạo đức, tu tâm dưỡng tính hoàn thiện nhân tính, sáng tác văn chương
là để thể hiện sự tu dưỡng đạo đức này
Sang quỹ đạo của hiện đại hóa nền văn học dân tộc, thế giới quan củanhà văn Việt Nam hiện đại trong đó có các nhà nho Việt Nam trước đây chịu
sự chi phối sâu sắc thế giới quan truyền thống đã có những nhìn nhận hếtsức quan trọng và mới mẻ về cuộc sống Nếu như trước đây, sáng tác vănchương chủ yếu là đề tu tâm dưỡng tính, thì sáng tác văn chương giờ đây làmột nghề nghiệp, phản ảnh những nhận thức mới hơn của các nhà văn ViệtNam hiện đại Giờ đây, mỹ học, văn học hiện đại không dừng lại ở việc tudưỡng mà quan trọng hơn văn chương thể hiện được những vẻ đẹp của cuộcsống Vũ Trụng Phụng thể hiện toàn bộ sự biến đổi trong cuộc sống xã hội
trong những giai đoạn đầu của Tây hóa qua tác phẩm Số đỏ Thơ mới thi
nhân nhận thức mỹ học của văn chương là vẻ đẹp của tự do, tình yêu củacuộc sống Chính thay đổi nhận thức mới này là cơ sở tạo ra những thay đổimang tính mỹ học của toàn bộ nền văn học hiện đại, đặc biệt là giai đoạnvăn học 1930-1945 Nhìn chung hoạt động nghề văn của các nhà văn Việt
Trang 30Nam hiện đại trước 1945 không thật tiêu biểu Cách hành nghề phổ biến củanhững người viết văn đương thời là vừa viết văn vừa viết báo.
Sau Cách mạng tháng Tám, thế giới quan của nhà văn Việt Nam về cơbản chịu sự ảnh hưởng và quy định hết sức rõ nét quan điểm của Đảng vềthế giới quan và nhân sinh quan Thế giới quan theo quan điểm của Đảng đòihỏi có nhận thức sâu sắc về cuộc sống kháng chiến, cuộc sống quần chúngnhân dân lao động, lý tưởng xã hội chủ nghĩa Tất cả quan điểm của Đảng vềthế giới quan nhà văn ảnh hướng tới tất cả nhà văn Việt Nam Tiêu biểu,
Nam Cao viết Nhận đường Nguyễn Tuân viết Lột xác, Chùa Đàn, Nguyễn Đình Thi viết Nhận đường
Trong bài bút ký nổi tiếng Nhận đường (1947), Nguyễn Đình Thi viết:
“Văn nghệ với kháng chiến, nhiệm vụ văn nghệ, đường sáng tác của chúng
ta, đã bốn năm ngày ngòi bút thiểu nảo của tôi loanh quanh với với mấydòng chữ riễu cợt Còn tìm, còn lý luận gì nữa, đường di đã sáng chói trướcmắt Nhưng bước chân vẫn còn loạng choạng Tôi ghi lại lộn xộn nhữngthắc mắc nhiều khi đau xót của một cuộc lột võ, cái xác cũ rụng xuống, chưadứt hẳn, da non mới mọc chưa lành, một chút gì chạm phải cũng rõ máu Không còn thể nhầm lẫn, không còn nghi ngờ, chúng ta mạnh bạo bước lên,nhưng sao chúng ta lắm khi còn khổ sở, ngập ngừng Đặt bút nhìn lại nhữngsáng tác đã song, chúng ta mới thấy một nghệ thuật vụng về, yếu ớt, khôngthổi lên một chút hơi gió Nhiều anh em chúng ta muốn vứt bút làm mộtcông việc khác hiệu nghiệm hơn”
Nguyễn Tuân về cuộc Lột xác còn được trình bày trong tập truyện Chùa Đàn Ông cho rằng, đối vời nghệ sĩ, đấu tranh tư tưởng phải thông qua
sáng tác Tác phẩm kể chuyện kể một con bệnh nặng của chủ nghĩa cá nhâních kỷ, hưởng lạc đã tự cải tạo thành một nhà cách mạng Ông lấy nhữngtrang “yêu ngôn” thật sự đem chắp đầu chắp đuôi với những lời thuyết lý ồn
ào vào văn nghệ phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân Điều đó nói rằng, ở
Trang 31một nghệ sĩ tiểu tư sản bước đầu đi theo cách mạng, sự chuyển biến ít nhiều
về nhận thức chính trị, sự giác ngộ ít nhiều về lý thuyết cách mạng
Băn khoăn ấy chính là tâm thế chung của cả một lớp nhà văn đi theo cáchmạng, nhiệt huyết thì có đủ như Xuân Diệu tha thiết: “thấy còn dư máu đỏ để
trang hoàng “mà bước vào sáng tác thì ngập ngừng Nhận đường vì thế có thể
nói là “một cuộc tái sinh mầu nhiệm” (Hoài Thanh), một cuộc lột sác của chínhnhà văn để có khả năng nhìn thấu suốt thời đại và con người
2.1.2 Thế giới quan của nhà văn Việt Nam hiện đại trước 1975
Trong số những nhận thức của nhà văn Việt Nam theo định hướng củaĐảng là yêu câu về nhận thức đúng đắn về cuộc kháng chiến, đời sống nhândân lao động Những nhận thức này thể hiện trong tác phẩm và trong tổngkết lý thuyết của các nhà văn hiện đại thời kỳ này “ Ngày nay không phải chỉ
có những văn nghệ sĩ sống trong những nước xã hội chủ nghĩa mới có mộtthái độ nhìn nhận cách mạng đối với cuộc sống, mà ngay nhiều nhà văn vànghệ sĩ sống trong những dân tộc còn bị nô lệ, trong những xã hội còn ách tưbản chủ nghĩa, cũng đã có trong lòng cái ánh sáng chiến đấu đầy tin tưởngcủa Cách mạng” [57; 31] “Trong công việc khó khăn và nặng trách nhiệm,những người văn nghệ chúng ta được sự chăm sóc và giúp đỡ chưa từngthấy Vì chúng ta có nhân dân, có Đảng Nhân dân ta, Đảng ta coi công việcsáng tác không phải việc riêng của những văn nghệ sĩ mà là sự nghiệp chungcủa Cách mạng Chúng ta có chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam giúpcho chúng ta nhận xét và hiểu được phương hướng thay đổi của xã hội.Một trong những nội dung quan trọng trong thế giới quan của nhà vănViệt Nam hiện đại là phải nhận thức và phản ánh cho được sức mạng củanhân dân Trong “Công việc của người viết tiểu thuyết”, Nguyễn Đình Thiviết: “Nhìn chung lại, tôi tưởng chúng ta có thể nói rằng lực lượng mới trongvăn học ta hiện nay chính là một lực lượng văn học của mọi tầng lớp nhândân lao động, của công nông binh Lực lượng chiến đấu ấy chiến đấu dưới
Trang 32sự lãnh đạo của Đảng, và bao gồm mỗi ngày càng thêm nhiều những ngườivừa lao động sản xuất, công tác, vừa làm việc viết văn và học viết văn Bảnchất cái mới, cái trẻ chính là ở chỗ ấy, chính là ở chỗ chúng ta có những câybút mới ở hàng ngũ công nông binh mà ra, hoặc là gắn bó mật thiết với đờisống lao động, phấn đấu của công nông binh Một mặt Đảng ta giáo dụcgiúp đỡ các nhà văn lớp trước, để các nhà văn ấy đi vào quần chúng, tự biếnmình thành những nhà văn của quần chúng, phục vụ quần chúng” [57; 50].Trong nhận thức về nhân dân nói chung, Nguyễn Đình Thi không chỉnhấn mạnh đến vai trò của quần chúng nhân dân nói chung, ông còn đặc biệtnhấn mạnh đến phương diện nghệ thuật nhân dân: “nền văn nghệ nhân dâncủa chúng ta đang lớn lên nhanh chóng như cậu bé đáng giặc trong câuchuyện cổ tích Chỉ cần bước vào bất cứ đại đội chính quy hay đại đội dukích nào, bất cứ cơ quan kháng chiến hay thôn xã nào là thấy báo tường, báotay, ca dao, bài hát, tranh vẽ Nhân dân chúng ta vừa đánh giặc vừa sáng tácnghệ thuật Anh bộ đội trên đường hành quân, đặt ba-lô xuống là giở sổ tay
hý hoáy chép nhật ký Và không một nơi kháng chiến nào thiếu một cái sânkhấu, dựng lên với những phương tiện đơn giản của rừng sâu Điều gì đãlàm cho văn nghệ ta nảy nơ tốt đẹp như vậy? Tôi nghĩ rằng trước hết đó là
do sự giải phóng và giác ngộ của những con người Việt Nam Sau nhữngkhoảng đêm dài nô lệ, cách mạng đã đến, trả lại quyền sống, quyền làmngười cho chúng ta Kháng chiến thật gian khổ, những đời sống tự do củachúng ta hiện này có giá trị và ý nghĩa hơn bao giờ hết Anh bộ đội, anh dukích khai hội, thảo luận, phê bình Những chị cu, chị thẽm đi bầu cử, ứngcử” [57; 13]
Nguyên Hồng nhận thức sự sống và vận mệnh của đân tộc của đất nước
là nguồn cảm hứng cho sáng tác Vì vậy người viết với tất cả tình thần tráchnhiệm và sáng tạo Mỗi cảnh ngộ, mỗi tình huống, mỗi con người, mỗi cuộc
Trang 33đời phải được viết ra bằng những dòng chữ có mồ hôi, máu thấm, và chí nãocủa người viết.
Nhận thức về nghề văn là một công việc hết sức phức tạp và mâu thuẫn.Nguyễn Minh Châu là người nhiều băn khoăn suy tư sâu sắc về nghề văn:
“mỗi lúc nghĩ về nghề nghiệp, tôi không khỏi lo sợ về mình, thậm chí đôilúc bi quan Chắc những anh em viết văn đã có thể gọi là có ý thức đều cólúc mang tâm trạng lo lắng như thế Bởi vì điều mong mỏi vẫn còn là mộtcái đích xa lắc Có không biết bao nhiêu điều mong mỏi và kỳ vọng, kể saocho hết những điều mình rắp tâm dặn dò mình Nhưng khả năng lại có hạn,kiểm điểm trong hành lý mang theo trong một đời viết văn thấy thiếu đủ mọithứ Mình cứ kỳ cạch ý như một anh làm nghề thủ công cá thể Cũng vắt ócsuy nghĩ, cùng tìm cách dùng kỹ thuật và tạo vốn liếng nhưng vẫn trong cáikhoảng đất một người thợ thủ công Có khi mình thực sự thấy mình chẳng
có tài năng ” [6; 35]
Chiến tranh và cách mạng đã trở thành đề tài trung tâm của văn học vàvăn xuôi viết về đề tài chiến tranh đã đốt lên ngọn lửa sáng trong tâm hồnngười đọc, đã góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước anh hùng cho hàngchục triệu quần chúng Đó là một nền văn học anh hùng, một nền văn họccháy sáng ngọn lữa lí tưởng Chính những thành tựu đó của văn xuôi viết về
đề tài chiến tranh cách mạng đã góp phần làm cho văn học nghệ thuật ViệtNam xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệthuật chống đế quốc Hàng loạt tác phẩm mang tính sử thi ra đời tạo nên một
bộ mặt hoàn toàn mới cho nền văn học cách mạng: Sống mãi với Thủ đô, Vùng trời, Dấu chân người lính, Những tầm cao, Thôn ven đường, Mẫn và tôi, Rừng U Minh, Hòn đất, Dòng song phẳng lặng, Đất miền Đông, Quãng đời xưa in bong, Đường thời đại,…
Trang 34Những tác phẩm mang âm hưởng sử thi này có tham vọng dựng lại mộtbức tranh hoành tráng về những thời kỳ lịch sử anh hùng của dân tộc vớihàng loạt nhân vật đại diện cho đội ngũ nhân dân tham gia vào tiến trình lịch
sử
Sống mãi với thủ đô, trực tiếp miêu tả cuộc chiến đấu quyết tử của Hà
Nội vùng lên đêm 19 tháng Chạp năm 1946 Cuốn tiểu thuyết sử thi này đã ítnhiều phản ánh được cái không khí của Hà Nội những ngày đầu khángchiến Có cái sô bồ, chệnh choạng, hỗn độn, phức tạp của một thành phốchuyển mình vào trận đánh, có cái thiêng liêng kỳ diệu của những giây phúttrang nghiêm đi vào lịch sử, lại có cái say xưa náo nức của những buổi đầuđến với cách mạng, bồi hồi bở ngỡ như đến với một cuộc tình duyên mới.Cuộc kháng chiến khơi dậy trong tâm hồn mỗi người những tình cảm đẹp
nhất, cởi mở và rộng lớn Trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, những chất
liệu phong phú của hiện thực, tính hiện đại được soi sáng từ một chiều sâulịch sử, tầm khái quát sử thi rộng lớn kết hợp với những yếu tố tâm lí phứctạp, tinh tế tạo nên một sức hấp dẫn độc đáo, đánh dấu một bước chuyểnbiến về phong cách và phương pháp sáng tác của các nhà văn Việt nam hiệnđại
Dấu chân người lính là một trong những cuốn sách được bạn đọc chú
ý hơn cả vì tính chất sinh động và phong phú của cái hiện thực hoànhtráng được phản ánh Những mầu sắc thẩm mĩ đa dạng của cuộc sốngthực như cái cao cả, cái thấp hèn, cái hài và cái bi, chất sử thi và chất trữtình, chất văn xuôi và chất thơ… cùng đan chéo lẫn nhau, chuyển hóavào nhau Có cái âm hưởng hùng tráng của những cuộc hành quân trùngtrùng, điệp điệp của các trung đoàn, sư đoàn vượt Trường Sơn, cái khôngkhí dữ dội của toàn cảnh một chiến trường khổng lồ ở miền tây QuảngTrị với các trận đánh ác liệt trên những điểm cao, lại có những phút lắng
Trang 35xuống, bâng khuâng ngắm một vầng trăng khuya, ngẩn ngơ giữa mộtngàn hoa mai nở trắng xóa, trầm tư trước vẻ đẹp của những đám khóibếp lửa dọc các tuyến đường Trường Sơn… Nguyễn Minh Châu đã suynghĩ về những vẽ đẹp khác nhau của lớp người cầm súng trước đây vàlớp ngưởi trẻ tuổi hôm nay Nguyễn Minh Châu muốn có một sự đốichiếu so sánh giữa hai thế hệ bộ đội chống Pháp và chống Mỹ, nhà văn
đã cố gắng giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa hai thời kỳ lịch sử trongcuộc chiến đấu thiêng liêng của dân tộc
Những tác động đến thế giới quan của nhà văn Việt Nam hiện đại, đặcbiệt là trong giai đoạn trước năm 1975, có một yếu tố rất quan trọng tácđộng đến tất cả các nhà văn Việt Nam hiện đại là “tính sử thi” của thờiđại Tính chất sử thi được hiểu là tầm vóc lớn lao của cuộc kháng chiến,của dân tộc Ở đó tính sử thi của thời đại đòi hỏi các nhà văn Việt Namhiện đại phải nhận thức cho được tầm vóc cuộc kháng chiến của nhân dân,tầm vóc của dân tộc và điều quan trọng nhất là từ trong nhận thức của nhàvăn Việt Nam hiện đại phải hiện thực hoá chúng thành những tác phẩm cótầm vóc sử thi Đây là một nhận thức của các nhà văn Việt Nam hiện đại vềtính sử thi trong văn giai đoạn trước năm 1975
2.1.3 Thế giới quan của nhà văn Việt Nam sau 1975
Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, văn nghệ bước sang một thờiđoạn khác, đây là thời đoạn diễn ra nhiều biến chuyển quan trọng, đặc biệt lànhững biến chuyển về thế giới quan, trong đó quan trọng nhất là sự tái nhậnthức, sự suy tư lại của các nhà văn về thế giới quan, đặc biệt là những tácphẩm do chính các nhà văn viết ra Có thể xem đây là một đặc điểm quantrọng của thế giới quan nhà văn giai đoạn này so với giai đoạn trước
Đi sâu vào quan niệm của nhà văn Việt Nam hiện đại về thế giới quan,cần đi sâu vào mối quan hệ của thế giới quan sáng tác văn chương và việc tái
Trang 36nhận sức của nhà văn đối với mối quan hệ thế giới quan và trước tác vănchương Như đã đề cập, thế giới quan của nhà văn việt Nam hiện đại chịu sựchi phối của quan điểm của Đảng, về văn nghệ phục vụ cách mạng Có thếnói nền văn học Việt Nam hiện đại chịu sự chi phối sâu sắc và toàn diện củaquan điểm văn học phục vụ cách mạng Toàn bộ nền văn học Việt Nam giaiđoạn cách mạng về cơ bản là một nền văn học mà Nguyễn Minh Châu địnhdanh là nền văn học “minh họa” Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến gọi lànền văn học “phải đạo”.
Vấn đề đặt ra là, có một thời kỳ các nhà văn hiện đại đã nhận thứcthấm nhuần quan điểm và hiện thực hóa trong tác phẩm của mình Bản thân
họ viết những tác phẩm phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến hoàn toànnằm trong ý thức của nhà văn, hiểu nhiệm vụ của họ, nghề văn phục vụ cáchmạng
Tuy nhiên với tư cách là một nghề văn, hoạt động mỹ học đặc thù vănhọc một khi trở thành một tác phẩm “minh họa’ cho một quan điểm, một lýtưởng văn học tự trở nên sơ cứng và mất đi sức cuốn hút Một mặt, họ đãthấm nhuần và hoàn thành định hướng và vai trò của nghề văn phục vụkháng chiến, phục vụ cách mạng như chính các nhà văn nói: “văn học họthiếu những tác phẩm nghệ thuật lớn” Với tư cách là những nhà văn có ýthức sâu sắc về nghề nghiệp nên họ thường xuyên phản ánh tư tưởng sâu sắc
về đặc trưng nghề nghiệp của mình Trong số những nhà văn Việt Namhiện đại, Nguyễn Minh Châu là người tiên phong trong việc phản ánh sâu
hơn về nghề Trong Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa
Nguyễn Minh Châu như một phát biểu lý luận sâu sắc: “Là một ngườisáng tác, chắc tôi cũng giống như nhiều anh em sáng tác khác, có thóiquen vừa viết vừa tự quan sát nhìn theo cái ngòi bút của mình có lúc đầy
Trang 37hào sảng có lúc lại đầy đắn đo, hồi hộp lẫn e ngại chạy trên mặt tờ giấyđịnh mệnh.
“Chao ôi, để bụng không nói ra thì thôi chứ nói ra cái chuyện này nóvui lắm, mà nó cũng buồn lắm, có khi buồn đến thối ruột! Thú thực chừng
ba bốn năm trở lại đây tôi cứ hay nổi lên những con ngán giấy bút, hay sosánh mình với anh em bạn bè cầm bút một cách suôn sẻ bình thản, được trờiđất ban cho một cái tạng nhà văn luôn luôn [6; 127] Quả thật tôi không cótài rào đón, che chắn nhưng cầm bút viết văn đến một lúc ngồi nghĩ lại cũng
tự nhiên giật mình, đến phát chán mình, chán cả đồng nghiệp, bạn bè Điềuđáng buồn nhất là những người xoay trở, vặn vẹo cây bút, phải làm động tácgiả nhiều nhất là những nhà văn có tâm huyết, có tài, muốn văn học phải cócái gì của văn học, chứ không phải muốn học chỉ là một sự minh họa Trongkhi đó những cây bút minh họa, những tác phẩm minh họa ca ngợi một chiềuthì thoải mái Người viết cầm bút thoải mái chẳng có gì phải luồn lách, phảiđắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức và sơ lược, nó nhạt; và càngngày càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sựgiả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời bên ngoài”[6; 129]
2.2 Nhận thức của nhà văn Việt Nam hiện đại về tài năng
Từ quan điểm nghề của các nhà văn trong khi thực hiện chức năng củamình họ luôn tự trau dồi kỹ năng trình độ để viết, để sáng tác Từ nhận thứcnày giúp cho rất nhiều nhà văn xác định được tầm vóc và phạm vi tác phẩm
mà họ phản ánh
2.2.1 Nghề văn phải có tài năng
Trong đời sống văn học, có những nhà văn tài năng có công đóng gópvào một cách viết, một sự cách tân về thể loại, có nhà văn đóng góp chínhvào phần ngôn ngữ, có người cho người đọc thưởng thức một vẽ đẹp độc
Trang 38đáo rất đáng quý Làm được điều đó không phải nhà văn nào cũng làmđược, không phải nhà văn nào cũng viết nên được tác phẩm hay có giá trị.
Để có được những tác phẩm hay có giá trị nhà văn cần phải có tài năng Cóthể nói tài là năng vốn qúy thiên phú của các nhà văn, sinh ra họ đã có cáivốn quý ấy cộng với sự miệt mài, trải nghiệm họ đã cho ra đời những đứacon tinh thần trong đời sống văn học và đời sống xã hội
Đã là người viết văn phải có trong mình một tài năng nhất định, chínhcái gốc tài năng tạo cho người viết, thay vì cho người đọc được cảm nhậnmột bức tranh tả thực, Nguyễn Đình Thi viết trong “Thực tại và nghệ thuật”nhấn mạnh: “Khi người nghệ sĩ ghi chép, miêu tả lại thực tại bên ngoài thìđồng thời anh ta cũng in dấu tâm hồn đang sống, đang xúc động của anh tavào tác phẩm Chính điều đó làm cho giây phút say mê, ý nghĩa yêu mến haytức giận chỉ có một lần của người nghệ sĩ có thể sống lại trong tâm hồn khác,
có khi hàng mấy trăm năm sau” [57; 6]
Cuộc sống muôn hình, rộng lớn và vận động không ngừng Cuộc sống
vô cùng, các nhà văn đưa vào tác phẩm của mình bằng một cái hữu hạn làmsao chỉ một chữ trong khuôn khổ tác phẩm phản ánh được nhịp điệu, khônggian của cuộc sống điều đó đòi hỏi người viết phải có tài năng
Người viết bằng tài năng của mình, không chỉ cảm nhận được nhữngđiều đang diễn ra quanh mình, họ phải có khả năng nhìn thấy những gì phíatrước, trong tương lai Tác phẩm của họ mang tính dự báo cho một điều mới
mẻ, đem tới cho bạn đọc sự chờ đợi, mong mỏi và phát hiện Hiểu cuộc sống
sẽ đi tới đâu, người viết phải trông thấy tận mắt sự sống mới của con ngườimới tạo ra tác phẩm đích thực “Những người viết văn bình thường, lấy cônglàm lãi, hay những tài năng văn học mà xã hội đang trông đợi, thì cũng phảitrãi qua những thời kỳ làm việc căm cụi, kiên nhẫn, trước khi tác phẩm ramắt; vẫn là công việc cần mẫn của những người cần mẫn; vẫn là quá trình
Trang 39khai phá những vỉa quặng của cuộc đời kết tinh trong bản thân người cầmbút” [6; 49]
Nhà văn với tài năng của mình, bằng tác phẩm của mình, họ tạo ra sựphê phán sớm nhất cho những cổ hủ, lạc hậu của xã hội thịnh hành Trên cở
sở đó, những ý tưởng Cách mạng lành mạnh, tiến bộ trong xã hội được hìnhthành, nảy nở và phát triển không ngừng
2.2.2 Kết hợp tài năng và vốn sống
Với nhà văn tài năng là điều kiện cần nhưng để phát huy được tài năng
ấy họ phải có vốn sống Từ những chuyến đi sâm nhập thực tế họ cho ra đờihàng loạt tác phẩm có giá trị bám sát đời sống xã hội Như Võ Huy Tâm với
tác phẩm Vùng mỏ, Nguyễn Khải với Mùa lạc, Nguyễn Tuân với Tùy bút Sông Đà, Nam Cao với Đôi mắt… Mỗi người viết văn có cách viết riêng,
nhưng ai cũng phải viết bằng kinh nghiệm sống của mình Do đó, công việcviết đòi hỏi nhà văn phải biết rõ, biết cặn kẽ, tỉ mỉ, những điều mà mìnhmiêu tả Những điều này chỉ có được qua vốn sống của nhà văn
Với Nguyên Hồng, vốn sống, thực tế cuộc sống là cái quyết định đối vớinghề văn ông Ở Nguyên Hồng vốn sống, thực tế cuộc sống gắn với cuộcsống lam lũ của ông lúc còn trẻ và thời gian lăn lộn cuộc sống Vốn sốngvốn tri thức góp nên hình thành nghề văn Nguyên Hồng còn là những cơ hộihọc tập giao lưu với các nhà văn, đặc biệt hơn nữa vốn kiến thức của ôngđược hình thành cùng với những ngày thơ ấu ông đọc được trong những bộtruyện mà ông mượn và sưu tầm được Sau đây là một đoạn ông băn khoănvới lựa chọn nghề viết văn: “càng đọc, tôi càng dằn lên một sự kích thíchcũng như càng ngày càng dữ dội; viết Phải! nếu như tôi phải ăn để sống, thìtôi sống phải học, phải đọc, đồng thời còn phải viết nữa Nhưng viết gì đây,truyện ngắn, truyện dài hay nghị luận, hay làm thơ? Cái gì cũng thấy là đẹpvới mình, là có thể hay được Nghị luận sẽ đăng báo, thơ cũng sẽ đăng báo
Trang 40Và cả in sách nữa Nhưng đăng báo hay in sách đó là việc thứ yếu, gần nhưkhông cần lắm! Cần thiết đối với tôi là phải viết, viết ra thành chữ tất cảnhững gì chứa đựng, nung nấu, quằn quại, đau xót, bay bổng và bát ngát củatâm hồn, của suy nghĩ Viết để mình đọc trước nhất! Viết cho mình đọctrước nhất Tôi sẽ viết về những cảnh đói khổ, về những sự áp bức, về nhữngnỗi trái ngược bất công Tôi sẽ đứng về những con người lầm than bị đầyđọa, bị lăng nhục Tôi sẽ vạch trần ra những vết thương xã hội, những việclàm bạo ngược lộng hành của xã hội thời bấy giờ Tôi sẽ gánh nhận lấy mọitrách nhiệm, chống đối cũng như bào chữa bảo vệ Tôi sẽ chỉ có tiến bước,chỉ có đi thẳng Tôi sẽ chỉ biết có ánh sáng Và chính tôi là ánh sáng… chao
ôi, thế thì còn gì làm tôi đáng sống hơn nữa? Thế thì còn có hạnh phúc và sựgiàu có nào đáng đổi hay so sánh” [29; 28]
Một cốt truyện được phản ánh trong một tác phẩm chỉ trở nên sốngđộng khi người viết phải có đủ vốn hiểu biết về cuộc sống để từ cốt truyện
ấy mà dựng lên những cảnh đời, những con người sống như thực Trong mộttác phẩm phải xây dựng rất nhiều nhân vật với những tính cách, đối tượngmiêu tả khác nhau, với những đặc trưng khác nhau… đòi hỏi người viết phải
có vốn hiểu biế rộng lớn phong phú về nhiều mặt cuộc sống
Trong công việc tìm hiểu về đời sống, không có gì thay thế được sự từngtrải và kinh nghiệm bản thân nhà văn Có nhà văn phải lăn lộn nhiều, đi nhiềunơi, gặp gỡ nhiều người, trải qua nhiều hoàn cảnh, sống một cuộc đời sóng gió.Tuy nhiên cũng có nhiều nhà văn sống cuộc đời bình lặng, khiêm tốn vẫn viếtđược những tác phẩm hay Cái vốn sống ở đây không phải đi nhiều hay ít màphải gắn bó với đối tượng phản ánh trong tác phẩm của mình Nguyễn Đình Thinói: Điều mà ta gọi “sống nhiều” không nhất thiết là phải long đong chìm nỗinhiều Điều quan trọng là cuộc đời nhà văn phải gắn bó gần gũi với nhân dân