Lịch sử vấn đề Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn cũng nh quan niệm về vănchơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cho đến nay cũng đã có bề dày hơn bốn trămnăm, kể từ việc su tập tác phẩm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG MẠNH HÙNG
QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
QUA BẠCH VÂN AM THI TẬP VÀ BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI
Chuyªn ngµnh: v¨n häc viÖt nam
Trang 23 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Phạm vi t liệu và đối tợng nghiên cứu 12
5 Phơng pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp mới của luận văn 13
7 Cấu trúc của luận văn 13
Chơng 1 Những tiền đề văn hoá - văn học chi phối quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm 14
1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm - cuộc đời và thơ văn 14
1.1.1 Cuộc đời 14
1.1.2 Sự nghiệp thơ văn 16
1.2 Cơ sở văn hoá- văn học và quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm 19
1.2.1 Cơ sở văn hoá và sự hình thành kiểu nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm 19
1.2.2 Tiến trình phát triển văn học và sự định hình quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm 27
Chơng 2 Những nội dung cơ bản trong quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi 38
2.1 Quan niệm văn chơng gắn với nhiệm vụ hành đạo của Nho sĩ 38
2.1.1 Hành đạo gắn với lý tởng phò vua, giúp nớc 38
2.1.2 Hành đạo gắn với tấm lòng lo nớc, thơng đời 45
2.2 Quan niệm văn chơng gắn với chức năng giáo huấn, tải đạo 51
2.2.1 Giáo huấn, khuyên răn noi theo chính đạo và giữ gìn đạo lý của dân tộc 51
2.2.2 Giáo huấn qua việc phê phán những tệ lậu của xã hội 57
2.3 Quan niệm văn chơng gắn với t tởng nhàn dật 62
2.3.1 T tởng nhàn dật gắn với nội dung khẳng định cuộc sống an bần, lạc đạo 62
2.3.2 T tởng nhàn dật gắn với việc chiêm nghiệm lẽ biến dời của nhân sinh, vũ trụ 68
Chơng 3 Quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua các phơng diện hình thức thể hiện 75
3.1 Quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua hệ thống đề tài 75
3.1.1 Hệ thống đề tài trong Bạch Vân am thi tập 75
3.1.2 Hệ thống đề tài trong Bạch Vân quốc ngữ thi 81
3.2 Quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật 88
3.2.1 Ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật trong Bạch Vân am thi tập 88
3.2.2 Ngôn ngữ và bút pháp nghệ thuật trong Bạch Vân quốc ngữ thi 92
KếT LUậN 100
TàI LIệU THAM KHảO 103
Trang 3mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Bỉnh Khiêm là gơng mặt tiêu biểu nhất của văn học Việt
Nam thế kỉ XVI Với một khối lợng sáng tác thơ văn khá đồ sộ, chỉ riêng vềthơ, cho đến nay còn khoảng hơn tám trăm bài thơ cả chữ Hán lẫn chữ Nôm đ-
ợc tuyển trong hai tập Bạch Vân am thi tập (thơ chữ Hán) và Bạch Vân quốc
ngữ thi (thơ chữ Nôm) ngoài ra ông còn có một số bài văn bia và kí có giá trị
khác Đợc đánh giá là “cây đại thụ rợp bóng đến một thế kỉ, một thế kỉ lắmbiến cố nhất trong lịch sử Việt Nam” [18; 94], tác phẩm của Nguyễn BỉnhKhiêm có sức lan toả và tầm ảnh hởng sâu rộng không những ở thời đại của
ông mà còn trong cả thời kì văn học Việt Nam trung đại Bên cạnh đó,Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là một trong những tác giả có quan niệm về văn ch-
ơng khá sớm trong lịch sử văn học dân tộc Quan niệm này không chỉ đợc phát
biểu qua bài Tựa tập thơ Bạch Vân am mà còn đợc đề cập đến trong một số
tác phẩm, cả về thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm Do đó, việc nghiên cứu quanniệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không những góp phần hiểu thêmnhững giá trị độc đáo trong thơ văn của ông mà còn hình dung đợc rõ nét về
sự định hình và tiếp biến những quan niệm văn chơng Việt Nam thời trung
đại
1.2 Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ lâu vốn đợc đánh giá là thơ
“triết lý về thế sự”, thờng chú trọng chức năng “giáo huấn, dạy đời” và “giàutính chất thuyết lý” Việc nghiên cứu, tìm hiểu quan niệm văn chơng củaNguyễn Bỉnh Khiêm một mặt lí giải đợc những đặc tính vừa nêu, mặt kháccũng có thể khẳng định: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ngoài đặc điểm chung củanhững đặc trng thi pháp thơ ca thời trung đại vẫn có một phong cách riêng: đadạng trong sự độc đáo và đợc chi phối bởi một quan niệm văn chơng - quanniệm thơ cụ thể
1.3 Về mặt thực tiễn, là một trong những đại biểu mặt xuất sắc của văn
học Việt Nam thời trung đại, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đợc tuyển chọn vào
ch-ơng trình môn văn ở các cấp học trong nhà trờng khá sớm - cả về thơ chữ Hán
và chữ Nôm Và lẽ dĩ nhiên, đó là những thi phẩm tiêu biểu cho phong cáchnghệ thuật và ít nhiều thể hiện quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Tuy vậy, để tiếp nhận một cách thấu đáo nội dung tởng của tác giả trong cácthi phẩm đợc tuyển chọn không phải dễ dàng, đặc biệt là khoảng cách về mặtthời gian và nhận thức của đối tợng tiếp nhận Do đó, việc nghiên cứu quanniệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
Trang 4việc giảng dạy tác phẩm của ông cũng nh thơ văn Việt Nam thời trung đại nóichung trong nhà trờng
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn cũng nh quan niệm về vănchơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cho đến nay cũng đã có bề dày hơn bốn trămnăm, kể từ việc su tập tác phẩm của ông các môn sinh thực hiện đến bài viếtcủa Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn (thế kỉ XVIII), Phan Huy Chú (thế kỉ XIX) và
hàng loạt công trình có quy mô và mang tính chất hợp tuyển Nguyễn Bỉnh
Khiêm - danh nhân văn hoá, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm… Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụvăn hoá” Nguyễn Bỉnh Khiêm, các học giả, nhà khoa học đều tập trung ở một
số phơng diện nh những biến động của thời đại có tác động đến cuộc đời và sựnghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nhà t tởng - triết học Nguyễn BỉnhKhiêm; Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức dân gian, đặc biệtquy tụ nhiều công trình, bài viết công phu và chất lợng hơn cả là nghiên cứuNguyễn Bỉnh Khiêm với t cách là một đỉnh cao, một đại diện tiêu biểu nhấtcủa thơ văn thế kỉ XVI, đồng thời là một gơng mặt xuất sắc của văn học ViệtNam thời trung đại Với phạm vi là một luận văn khoa học nghiên cứu về
quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, chúng tôi tổng hợp lại nội dung những công trình
nghiên cứu có liên quan đến đề tài gắn với những mốc thời gian cụ thể
2.1 Trớc thế kỉ XX
Bên cạnh việc su tầm và biên soạn trớc tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm,các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều bài viết đề cập đến những giá trị văn ch-
ơng đặc sắc và độc đáo của ông Và mặc dù cha tìm hiểu quan niệm văn
ch-ơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm nh một đối tợng cụ thể, tuy nhiên trong nhữngcông trình nghiên cứu đó, các tác giả đã ít nhiều đề cập đến những biểu hiệntrong quan niệm văn chơng của ông Đáng chú ý, có thể kể đến tác giả Vũ
Khâm Lân trong thiên: “Bạch Vân am c sĩ Nguyễn Công Văn Đạt phả kí”
(Công d tiệp kí) ở bài viết này, Vũ Khâm Lân đã đề cập khá toàn diện về
Nguyễn Bỉnh Khiêm ở con ngời và cuộc đời Đặc biệt tác giả của bài phả kí
này cũng đã đánh giá cao về sức hấp dẫn của văn chơng Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Văn chơng tiên sinh rất tự nhiên không cần điêu luyện, giản dị mà lu loát,thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng có quan hệ đến sự dạy đời” [62; 632].Tác giả còn khẳng định: “Nay ta đọc những văn chơng còn lại, khác chi nghe
Trang 5thấy những tiếng ném ngọc gieo vàng, rực rỡ nh mây năm sắc, sáng sủa nhvừng thái dơng; mà cái phong vị tắm sông Nghi, hóng mát ở cầu Vũ Vu của
ông Tăng Điểm ngày trớc, và cái phong thú yêu sen, hái lan của tiền nho ngày
xa, thì khiến cho ta hình nh lại đợc nhìn thấy tiên sinh và đợc bái kiến ở tronggiáng trớng” [62; 635 ] Và theo ngời viết sức hấp dẫn của văn chơng NguyễnBỉnh Khiêm xét cho cùng cũng chịu sự chi phối của một lối viết, một quanniệm “tự nhiên, giản dị gắn đến việc dạy đời” bởi vậy mà hấp dẫn, có giá trị
Phan Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến chơng loại chí cũng đã có
cái nhìn tơng tự khi đánh giá Nguyễn Bỉnh Khiêm ở tài năng văn chơng Theotác giả, Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng là: “một bậc kì tài, hiển danh muônthuở”, và “Ông rong chơi nhàn nhã hơn 40 năm mà không ngày nào quên đời;lòng lo thời, thơng đời thể hiện ra ở văn thơ” [62; 642] Không chỉ vậy, ở thiên
Nhân vật chí ngoài việc giới thiệu Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, Phan Huy Chú còn có những tình cảm u ái khi đánh giá sức hấp dẫn của
văn chơng Trạng Trình: “Văn chơng ông tự nhiên, nói ra là thành, không cầngọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đếnviệc dạy đời” [62; 642]
2.2 Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
ở giai đoạn này, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn BỉnhKhiêm tiếp tục là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học Theo đó, đối tợngnghiên cứu không chỉ ở phạm vi văn chơng mà còn ở mảng “Sấm ký”- tơngtruyền đây là những lời “tiên tri”, “tiên giác” của Trạng Trình đợc lu truyềntrong dân gian Tuy nhiên, đáng kể hơn là những bài viết đề cập đến giá trịvăn chơng của Trạng Trình Có thể kể đến là bài giới thiệu về Nguyễn Bỉnh
Khiêm của Dơng Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1943).
Trong bài viết, mặc dù cha đề cập trực tiếp đến quan niệm văn chơng của ôngnhng qua những nhận xét ngắn gọn tác giả một mặt đã có phần “điểm trúng”
về phong cách thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, mặt khác cũng đã làm rõ sức hấpdẫn cũng nh nét đặc sắc trong thơ Nôm của ông cũng bị chi phối từ quan niệm
về văn chơng, cả về nội dung và hình thức Theo Dơng Quảng Hàm, thơ Nômcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm có những nét đặc sắc và độc đáo: “Những bài ấy,hoặc vịnh cảnh nhàn tản, hoặc tả thế thái nhân tình để ngụ ý khuyên răn ng ời
đời, lời thơ bình đạm mà có ý vị; những bài thơ vịnh cảnh nhàn thì phóngkhoáng, thanh tao rõ ra phẩm cách một bậc quân tử đã thoát vòng danh lợi màbiết thởng thức cảnh vật thiên nhiên; còn những bài văn răn đời thì có giọngtrào phúng nhẹ nhàng kín đáo, rõ ra một bậc triết nhân đã từng trải việc đời và
Trang 6am hiểu tâm lý ngời đời Thật là một lối thơ đặc biệt trong nền văn Nôm củata” [11; 290].
ở giai đoạn này đáng kể nhất vẫn là cuốn Tuyết giang phu tử của ChuThiên (1945), đây là một công trình khá quy mô và tỉ mỉ nhất từ trớc tới thời
điểm này về văn nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm Chu Thiên trong cuốn sáchnày đã tìm hiểu, nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nhiều phơng diện, từcon ngời, cuộc đời đến sự nghiệp sáng tác và những giá trị về nội dung cũng
nh nghệ thuật của thơ văn Trạng Trình Chính vì tính chất chuyên sâu, toàn
diện cũng nh những tìm tòi phát hiện của tác giả mà cuốn Tuyết giang phu tử
đợc các nhà nghiên cứu đánh giá là một cột mốc quan trọng trong các chặng
đờng nghiên cứu và tìm hiểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm - con ngời và thơ văn
Do đó có nhà nghiên cứu đã xác định: “Cuốn sách đó đã trở thành tài liệutham khảo quan trọng cho các nhà khoa học sau này” [62; 50]
2.3 Từ sau năm 1945 đến nay
Sau khi đất nớc giành độc lập, đặc biệt là sau ngày thống nhất hai miềnNam Bắc, việc nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục thu hút sự quantâm của đông đảo các nhà khoa học Ngoài việc dịch thơ chữ Hán, phiên âmthơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm để tuyển chọn và biên soạn, các côngtrình chuyên luận, bài nghiên cứu về ông có thể lên đến con số trăm Trong
đó, có những chuyên luận, những bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu, rấtcông phu và bề thế Nhờ đó mà hình ảnh, vị thế cũng nh quan niệm văn chơngcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên rõ nét hơn, toàn diện hơn không những ởtrong các bộ giáo trình dạy học ở các trờng đại học, các viện nghiên cứu màcòn ở trong nhà trờng phổ thông
Thành tựu nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm giai đoạn này có thể kể
đến đầu tiên là cuốn: Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ triết lý (1957) của Lê
Trọng Khánh và Lê Anh Trà Đây là một chuyên luận bề thế có chiều sâu vàchất lợng, trong đó nhiều vấn đề về t tởng và nghệ thuật của Nguyễn BỉnhKhiêm đợc soi chiếu một cách toàn diện, kĩ lỡng và có sự tìm tòi, phát hiện
Có ý kiến đánh giá đã trở thành những “định luận” mang tính định hớng choviệc nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này Tiếp nối thành tựu đó, nhà
nghiên cứu Văn Tân trong cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Quyển II),
bên cạnh việc giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp văn học, tác giả cũng đã cónhững đánh giá cao về giá trị t tởng và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn BỉnhKhiêm Theo Văn Tân thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là ở sựgiản dị và chân thực, đặc điểm cơ bản này hơn hết cũng xuất phát từ quan
Trang 7niệm về nội dung và hình thức của văn chơng Nhà nghiên cứu cho rằng: “ThơNguyễn Bỉnh Khiêm tự nhiên, bình dị, không cầu kì, không có có cái hùng khímạnh mẽ nh thơ văn Nguyễn Trãi”, còn thơ chữ Nôm “thờng là văn thơ thờithế và có nhiều tính chất hiện thực” [58; 227].
Trong cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhóm tác giả Đinh Gia
Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Nh Sơn, không chỉ dừng lại ở việc chọn và dịch 96tác phẩm chữ Hán (93 bài thơ, 3 bài văn) và 161 bài thơ Nôm của NguyễnBỉnh Khiêm Đây là lần đầu tiên một hợp tuyển bề thế và đầy đủ nhất về tác
phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm đợc giới thiệu đến độc giả, trong đó có bài Tựa tập thơ Am Bạch Vân do Đinh Gia Khánh dịch ở bài Tựa này, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã phát biểu trực tiếp quan niệm văn chơng - quan niệm thơ của mình,theo ông “ nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nóichí Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàndật Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bớc vào giới sĩ phu, lúc
về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nớc làm vui, rất là vụng vềtrong nghề thơ Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày cha chữa đợc khỏi vậy,mỗi khi đợc th thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽcủa sơn thuỷ, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc , hoặc là tức cảnh mà ngụ
ý, tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí” [21; 165] Bên cạnh đó, trong bài giới thiệu về văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Đinh Gia Khánh đã có cái nhìn thấu đáo về con ngời và văn chơng củaNguyễn Bỉnh Khiêm Cùng với sự khẳng định tài năng và uy vọng của NguyễnBỉnh Khiêm đối với chế độ phong kiến đơng thời, tác giả của bài viết còn đisâu vào việc phân tích, lí giải tính chất phê phán hiện thực và “tấm lòng lo trớcthiên hạ đến già cha nguôi” cũng nh những nét đặc sắc trong nghệ thuật củathơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo tác giả: “Mâu thuẫn trong t tởng, tình cảmcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm có nguyên nhân ở chỗ ông không thể thoát khỏi vòngvây của ý thức hệ phong kiến” [62; 273] Tuy nhiên, “Nguyễn Bỉnh Khiêmcũng đã đem những quan niệm về trung dung, về chí thiện của kinh điển củaNho giáo áp dụng linh hoạt vào hoàn cảnh nớc ta lúc đơng thời” [62; 276].Khi đề cập đến chữ “nhàn” trong thơ ông, nhà nghiên cứu khẳng định: “Nhngcần thấy rằng quan niệm về chữ nhàn của ông gắn với quan niệm về một phẩmchất cao khiết trong xã hội mà ông cho là đục lầm, về một thái độ tự chủ trongmột cõi đời mà ông cho là hỗn loạn, về một chỗ đứng vững vàng trong mộtthời thế mà ông cho là đảo điên” [62; 279] Bên cạnh đó, Nguyễn BỉnhKhiêm còn đợc tác giả nhìn nhận trong mối quan hệ đối sánh với Nguyễn
Trang 8Trãi, để từ đó khẳng định “Nguyễn Trãi hành nhiều mà tàng ít, xuất nhiều mà
xử ít, Nguyễn Bỉnh Khiêm thì trái lại Nhng phẩm chất của hai ngời có chỗ
giống nhau: lo cho đời, mà không lo cho mình, lo trớc thiên hạ, vui sau thiênhạ” [62; 278] Cùng chung quan điểm này, nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân trong
bài “Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng tiên u đến già cha thôi” đã nói rõ: “ Chữ
nhàn nói riêng, quan niệm xuất xử nói chung trong thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm quả có phức tạp” [56; 272] Đặc biệt, tác giả của bài viết đã tập trungphân tích những biểu hiện của “tấm lòng u ái mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đãgiành cho dân, cho nớc” Theo Bùi Duy Tân: “Trong niềm u ái của mình,Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giành những tình cảm trong sáng, cao đẹp hớng vềdân chúng” [55; 272] Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định: “Nguyễn BỉnhKhiêm là một tác giả tiêu biểu cho xu hớng đạo lý Trong tác phẩm của ông,
đạo lý trở thành một trong những nội dung chủ yếu” và “Nguyễn Bỉnh Khiêm
có những đức tính thuộc về truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc” [55;315]
Phạm Tú Châu trong bài viết Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ, bên cạnh việc
nêu bật những nét đặc sắc về thơ Nôm, tác giả cũng đã đề cập đến sự chi phốicủa quan niệm “thi ngôn chí” trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo Phạm
Tú Châu: “Những bài “thơ nói chí” bằng chữ Hán cho ngời đọc thấy rõNguyễn Bỉnh Khiêm tuy “chí thích nhàn dật” nhng ông không để chí ở việc ẩndật” [62; 355] Sau khi khảo sát và phân tích, tác giả chỉ rõ “Ông dành số thơ
Nôm còn lại để tỏ chí ở đạo đức Đó là loại thơ nói chí thứ ba của ông mà
ngày nay chúng ta gọi chung là thơ đạo lý” [62; 356] Tiếp theo những dẫnchứng để minh hoạ cho kết luận của mình, nhà nghiên cứu đã khẳng định:
“Quan niệm sáng tác, quan niệm thẩm mĩ thống soái của thi gia thế kỉ XVIvẫn không ngoài “thi ngôn chí” và quan điểm này còn giữ địa vị chủ đạo trongsáng tác của các thi sĩ nhà nho đời sau Thi ngôn chí có bút pháp, mẫu mực,thể thức, quy định riêng và trở thành truyền thống Loại thơ này không cónhiêm vụ và mục đích phản ánh hiện thực khách quan nh nó vốn có trongcuộc đời” [62; 358]
Là một chuyên gia hàng đầu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà nghiên cứuBùi Văn Nguyên không chỉ dừng lại ở việc biên soạn và dịch thơ Trạng Trình
mà ông còn là tác giả của nhiều bài viết trong các bộ giáo trình lịch sử văn học
về Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam - Tập II, khi
viết về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác giả quan tâm nhiều đến chữ “nhàn”
và mọi sự biểu hiện cũng nh sự chi phối của quan niệm văn chơng đều xuất
Trang 9phát từ chữ nhàn Ông viết: “Có thể chữ nhàn là một chủ đề nổi bật trong thơ của ông, chỉ riêng 101 bài thơ quốc âm đã có 17 chữ nhàn” [37; 236] Khi đề
cập đến nghệ thuật thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Văn Nguyên đã khẳng định:
“Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ đạo lý nên thờng dùng lối thơ triết một lối thơ rõ ràng, cô đọng nh những châm ngôn, những công thức toán học”
học-và lẽ dĩ nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng bị chi phối bởi một quan niệm sángtác, quan niệm văn chơng “Đơng nhiên, ông làm thơ với mục đích là nói về
đạo lí, nói về cái chí của mình, nh ông đã trình bày trong bài Tựa cuốn Bạch
Vân am thi tập” [37; 244] ở cuốn giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XVIII, nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên đã có những trang viết xuất
sắc về văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo ông, cũng giống nh NguyễnTrãi, quan niệm văn chơng Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện chí lớn vì dân vì nớc
và đó là “văn u thời, mẫn thế, văn chơng u quốc, ái dân” bởi “các bậc tiền bối
xa làm thơ không phải tự khoe khoang mà làm thơ là để nói lên cái chí củamình, nói lên tấm lòng của mình” [38; 316] Trong một bài viết khác, nhànghiên cứu còn khẳng định: “Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ trữ tình, nhà thơ
có chiều sâu triết học và tầm cao giáo huấn” mệnh đề này trở thành một luận
điểm chính chi phối đến toàn bộ nội dung của chuyên luận Đó là cái “trữ tình
đau đời, rớm lệ” và biểu hiện qua nhiều chủ đề nh: thiên nhiên, tình bạn, thơgiáo huấn Về nghệ thuật, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có “lý tởng thẩm mỹ đậm
đà tính dân tộc” bởi nó gắn với lý tởng xây dựng nền văn hiến dân tộc và đợcthể hiện qua một nghệ thuật diễn tả tự nhiên, tinh tế mang “âm vang của cadao, tục ngữ” [62; 518]
Trần Đình Hợu trong bài viết: Triết lí và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm,
không chỉ đi sâu vào tìm hiểu và phân tích những biểu hiện của tính chất triết
lí cũng nh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thơ và triết học Trình - Chutrong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn lí giải sự chi phối từ các phơng diệnvăn hoá, tởng Theo tác giả, muốn đi tìm cái triết học, cái thơ và mối quan hệcủa hai yếu tố này trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cần chú ý đến quanniệm văn chơng của ông “ Tìm cái thơ thì cũng không phải khó lắm NguyễnBỉnh Khiêm cũng nói về quan niệm làm thơ của mình Thơ nói về chí lại làtức cảnh, tức sự, phô bày cái đẹp của thiên nhiên, cái gây cảm hứng cho nhàthơ là cái Đẹp, cái Thực cũng nh trờng hợp nhiều thi nhân khác” [62; 123-124]
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi trong bài viết: Nguyễn Bỉnh
Khiêm - nhìn từ một nhân cách lịch sử đến dòng thơ t duy thế sự, đã có sự
Trang 10phân tích và lý giải một cách thuyết phục về những lý do cơ bản để xác định tcách văn hoá cũng nh tính chất thế sự trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tácgiả đã đặt Nguyễn Bỉnh Khiêm trong mối quan hệ đối sánh với Nguyễn Trãi -với t cách là một nhà nho trớc quan niệm “xuất xử” Về phơng diện này, tácgiả đặt ra câu hỏi: “phải chăng ông - Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có đợc mộtquan niệm cởi mở đối với nhà Mạc nh Nguyễn Trãi với nhà Hồ?” [62; 385].Nhng cái khác ở chỗ, trong khi “Nguyễn Trãi là con ngời hành động thìNguyễn Bỉnh Khiêm lại mang t thế một ngời ung dung tự tại, một triết nhân,một bậc thầy” [62; 383] Hơn nữa, chữ “quân thân” với Nguyễn Trãi có ýnghĩa nh một lẽ sống, một “nhiệm vụ” còn Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ có tínhchất “chữ nghĩa” biểu tợng Do đó, về phơng diện này, Nguyễn bỉnh Khiêm làngòi “bản lĩnh và biết làm chủ suy nghĩ” Trong bài viết của mình, NguyễnHuệ Chi cũng đã có những lí giải về nét độc đáo chữ “nhàn” của Nguyễn BỉnhKhiêm so với các nhà thơ khác Trong bài viết, nhà nghiên cứu cũng đã có
những lý giải sâu sắc về chữ nhàn: Nhàn“ với ông cũng có nghĩa là một cáchthanh lọc những tình cảm yêu ghét quá mạnh mẽ trong thơ, để giảm bớt cấp
độ hng phấn của cái tôi chủ thể” [62; 392] và “mạch thơ nhàn dật tự tại, trongthơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bớc sang dòng thơ t duy thế sự” [62; 394]
Trong bài viết Một số vấn đề con ngời, t tởng thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Mai Quốc Liên không chỉ nêu vấn đề cần nghiên cứu và đánh giá một
cách khách quan, đúng đắn hơn về vơng triều Mạc và t tởng cũng nh nét đặcsắc trong thơ triết lí Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn khẳng định những đóng gópcủa ông cho nền thơ ca Tiếng Việt ở các phơng diện nh: ngôn ngữ, chất liệu,truyền thống hiện thực chủ nghĩa Theo đó, tác giả của bài viết còn nêu lênnhiều vấn đề cần nghiên cứu kĩ hơn về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong đó
có những biểu hiện của quan niệm văn chơng “ở đây, ta cần phải tìm ra đợcquan niệm nghệ thuật riêng của nhà thơ, quan niệm nghệ thuật về con ngời vềthế giới là cái cốt lõi của thi pháp học, một cách tiếp cận mới đối với văn học”[42; 140]
Mặc dù cha có một công trình nghiên cứu riêng về thơ văn Nguyễn BỉnhKhiêm cũng nh quan niệm thơ của ông, nhng với t cách là một chuyên gia về
lí luận văn học phơng Đông thời trung đại, Phơng Lựu khi tìm hiểu về quanniệm văn học Việt Nam thời trung đại, tác giả đã khẳng định: “Đến Nguyễn
Bỉnh Khiêm, thì hai yếu tố nữa đợc thêm vào là cảnh và sự Ông cho làm thơ
thì có thể “tức cảnh mà ngụ ý hoặc là tức sự mà tự thuật” [29; 335]
Trang 11Ngoài ra còn có nhiều bài viết, nhiều công trình khoa học nghiên cứu vềcuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà trong phạm vi giớihạn của đề tài chúng tôi chỉ khảo sát những công trình tiêu biểu có liên quan
đến phạm vi bàn bạc Điều đó, chứng tỏ rằng: cuộc đời và sự nghiệp sáng táccũng nh quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thu hút sự quantâm nghiên cứu của đông đảo các học giả và nhà khoa học Tuy nhiên, nghiêncứu về quan niệm văn chơng chi phối đến giá trị t tởng và nghệ thuật của thơvăn Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là một vấn đề cần thiết Đó là hớng đi phù hợp
và quan trọng để có cái nhìn toàn diện cũng nh đánh giá khách quan, đúng
đắn về sự nghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu và tìm hiểu quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm qua Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, đề tài hớng đến
tìm hiểu những nội dung cơ bản trong quan niệm nh: quan niệm văn chơnggắn với lí tởng “nhập thế, hành đạo” của Nho sĩ; quan niệm văn chơng gắnvới chức năng giáo huấn, tải đạo và quan niệm văn chơng gắn với t tởng “nhàndật” Từ đó để thấy đợc sự chi phối của nó đối với nội dung t tởng cũng nh
hình thức nghệ thuật của văn chơng Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân Am
thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi
3.2 Để tìm hiểu quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua
Bạch Vân Am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, luận văn hớng tới việc xem
xét những tiền đề văn hoá, văn học đã chi phối và tác động đến sự hình thànhquan niệm cũng nh sự thể hiện của nó qua hệ thống đề tài, chủ đề, phơng tiệnngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật nổi bật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
3.3 Khi tìm hiểu Quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua
Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, luận văn còn đặt trong mối
quan hệ với hệ thống quan niệm văn chơng thời trung đại để có những đánhgiá toàn diện, thấu đáo vấn đề đã đợc đặt ra
3.4 Từ những nghiên cứu trên, luận văn sẽ góp phần vào việc tìm hiểu
và lý giải những giá trị đặc sắc cũng nh sức hấp dẫn riêng của thơ văn NguyễnBỉnh Khiêm Từ kết quả này, hy vọng rằng luận văn sẽ trở thành một côngtrình khoa học nhỏ, có ý nghĩa, góp phần vào việc nghiên cứu cũng nh học tập
và giảng dạy thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà trờng
Trang 124 Phạm vi t liệu và đối tợng nghiên cứu
4.1 Phạm vi t liệu
Thực hiện đề tài này, chủ yếu chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm đợc tuyển chọn và biên soạn trong cuốn Thơ văn Nguyễn
Bỉnh Khiêm của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Nh Sơn, Nxb
Văn học, Hà Nội – 1983
4.2 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là lời phát biểu của Nguyễn Bỉnh
Khiêm về quan niệm văn chơng - quan niệm thơ qua bài Tựa Bạch Vân Am thi
tập và sự thể hiện trực tiếp qua các tác phẩm, cả thơ chữ Hán và chữ Nôm của
tác giả đợc tuyển chọn trong cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do nhóm tác
giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Nh Sơn biên soạn
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn một cách khoa học, chúng tôi sử dụng những
ph-ơng pháp nghiên cứu sau:
Từ việc làm rõ những quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
qua Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi, đề tài sẽ góp thêm tiếng
nói khẳng định những giá trị văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhìn từquan niệm văn chơng, trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam thờitrung đại
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1 Những tiền đề văn hoá - văn học chi phối quan niệm văn
ch-ơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 13Chơng 2 Những nội dung cơ bản trong quan niệm văn chơng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập và Bạch
Vân quốc ngữ thi
Chơng 3 Quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua các phơng
diện hình thức thể hiện
Chơng 1 Những tiền đề văn hoá - văn học chi phối quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm - cuộc đời và thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân trong một gia đình hàn nho, thân phụ làNguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh, có học ở Quốc tử giám và
đỗ Hơng cống nhng không ra làm quan mà chỉ ở nhà dạy học Thân mẫu làNhữ Thị Thục - con gái của Tiến sĩ, thợng th hu trí Nhữ Văn Lan ngời làng An
Trang 14Tử hạ, huyện Tiên Minh (nay là xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phốHải Phòng) Về ngời mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm tơng truyền là ngời phụ nữthông tuệ, giỏi văn chơng, biết lý số và có những hoài bão lớn lao Sống trongmột gia đình nh vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đợc hởng thụ môi trờng giáo dụcrất chu đáo và điều này cũng đã góp phần làm nên tài năng và nhân cách của
ông sau này
Nguyễn Bỉnh Khiêm từ nhỏ vốn nổi tiếng là nguời thông minh, học giỏi
đ-ợc mẹ đem chính văn, kinh truyện và thơ quốc âm ra dạy Lớn lên lại theohọc quan Bảng nhãn Lơng Đắc Bằng - một danh nho đơng thời Tuy vậy, con
đờng khoa cử của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá muộn, mãi đến năm bốn mơi t tuổi(năm 1534) ông mới dự kỳ thi Hơng và liền năm sau thi Hội, đỗ Trạng nguyên(khoa ất Mùi năm 1535, niên hiệu Đại Chính thứ 6 triều Mạc Đăng Doanh).Sau khi đỗ đạt, với khát vọng đem tài sức để “thi thố phò nguy” và thực hiệnnhiệm vụ “trí quân, trạch dân” của Nho gia, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận chức
Đông các hiệu th , rồi Tả thị lang bộ Hình kiêm Đông các đại học sĩ, cuốicùng đợc gia phong Trình quốc công
Cuộc đời làm quan chính thức của ông chỉ kéo dài tám năm Đến khoảngmùa thu năm Nhâm Dần (1542) niên hiệu Quảng Hoà thứ 2 triều Mạc PhúcHải, chính sự nhà Mạc đã bắt đầu rối ren, lục đục do bọn gian thần kéo bè, kết
đảng nhũng nhiễu triều chính Chán ghét cảnh tranh giành quyền lực và thấymọi việc không hợp với kì vọng của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ lênvua Mạc đòi chém 18 kẻ lộng thần nhng không đợc nhà vua chấp thuận, ôngbèn cáo quan về quê mở trờng dạy học Về làng, Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa tiếptục công việc “hành đạo” của một nho sĩ khi ông cùng dân làng và môn sinhdựng Am Bạch vân, làm quán Trung Tân, xây cầu Nghinh Phong, sửa chữachùa chiền, mở trờng dạy học vừa sống thực hành triết lí “tiêu dao, phóngnhiệm” của Lão - Trang và lấy hiệu là Bạch Vân c sĩ sống cuộc đời giản dị vàthanh bạch nh một ẩn sĩ :
Cao khiết: thuỳ vi thiên hạ sĩ?
An nhàn: ngã thị địa trung tiên.
(Trong sạch: trên đời ai kẻ sĩ?
An nhàn: giữa cõi ấy ta tiên)
(Ngụ hứng - bài 10, Bạch Vân am thi tập)
Là ngời có tài năng và uy vọng, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đợc các thế lựcphong kiến đơng thời kính nể và trọng thị, đặc biệt là nhà Mạc Tài năng và uyvọng không chỉ ở tớc vị Trạng nguyên từ khoa cử, ở tài triên tri, tiên giác do đ-
Trang 15ợc thầy học truyền pho Thái ất thần kinh để suy đoán lẽ biến dịch của nhân
sinh, thế cuộc mà còn ở việc đào tạo ra nhiều nhân tài nh Lơng Hữu Khánh,Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Đinh Thì Trung, Trơng Thời Cử Do
đó, mặc dù đã nghỉ quan nhng mỗi khi đất nớc có đại sự ông vẫn đợc vua Mạctin dùng, kể cả việc bày mu tính kế cũng nh theo quân đi đánh dẹp các cuộcbạo loạn Khi ông mất, vua Mạc đã cử Khiêm vơng Mạc Kính Điển về viếng
tang, và nhà vua còn ban cho mấy chữ Mạc triều Trạng nguyên Tể t“ ớng từ”
để treo trớc cửa đền, còn học trò suy tôn ông là Tuyết Giang phu tử Tất cả,
nhằm thể hiện sự tôn vinh và ngỡng mộ về một tài năng, một nhân cách cao
đẹp “một nhân cách lớn, một nhân cách kết tinh và toả sáng bao gồm những
đức tính lớn, những tình cảm u ái trung chính, chân thành” [55; 335]
Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gần nh sống trọn thế kỷ XVI, mộtthế kỷ mà xã hội phong kiến Việt Nam xảy ra nhiều biến động dữ dội về chínhtrị và xã hội Đó là cuộc đời của một ông Trạng tài năng và uy vọng, cuộc đờicủa một nhà văn hoá lớn của Việt Nam thời trung đại
1.1.2 Sự nghiệp thơ văn
Đợc đánh giá là “cây đại thụ rợp bóng một thế kỉ văn học”, sự nghiệpthơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ sộ, bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm
Về chữ Hán, ngoài một số bài văn nh Bi kí quán Trung Tân, Thạch khánh
kí, Tam giáo tợng minh bi Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có tập Bạch Vân Am thi tập (có dị bản khác là Bạch Vân Trình Quốc Công thi tập), với số lợng ngót
một nghìn bài, nh tác giả đã viết Thi tá oanh hoa thiên thủ hữu“ ” (Thơ mợn đề
tài oanh hoa có tới ngàn bài - Trung Tân quán ngụ hứng, bài 3) và một lần nữa
đợc nhắc lại trong bài Tựa tập thơ Am Bạch Vân “ Mỗi khi đợc th thả lại dậy
hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thuỷ, hoặc là tô vẽnét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tựthuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, đợc tất cả nghìn bài, biên tập
thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân” Cho đến nay con số ấy chỉ
còn lại khoảng sáu, bảy trăm bài Trong số đó, mới chỉ đợc khảo cứu, phiên
âm và dịch nghĩa khoảng trên dới một trăm bài, phần lớn tập trung ở công
trình hợp tuyển Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhóm tác giả Đinh Gia
Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Nh Sơn, gồm 93 bài thơ và 3 bài văn
Về thơ chữ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm có tập Bạch Vân quốc ngữ thi (còn có các dị bản khác nh Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Trình Quốc công Bạch Vân
thi tập, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập ) với số lợng khoảng
200 bài, trong số đó có khoảng 30 bài trùng với thơ Nguyễn Trãi, hiện cha xác
Trang 16định rõ tác giả là ai Cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhóm tác giả
Đinh Gia Khánh, phiên âm và giới thiệu 161 bài, nhiều hơn con số đó là cuốn
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tập I, của Bùi Văn Nguyên phiên âm và giới
thiệu gồm 172 bài Với tình hình văn bản nh vậy, bớc đầu có thể khẳng định
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tên tuổi lớn, một bậc “đại gia” của nền văn họcViệt Nam thời trung đại và việc biên tập, phân định tác phẩm của ông đang là
vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học.
Nhà nghiên cứu văn học Bùi Duy Tân đã có lý khi cho rằng “Cả hai
Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi đều là Tâm - Chí, là con ngời
Nguyễn Bỉnh Khiêm” [55; 317] Và điều này cũng đã đợc Nguyễn Bỉnh
Khiêm bộc bạch trong bài Tựa “hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thuỷ,
hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, tức sự mà
tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí” (Tựa - Bạch Vân am thi
tập) Cái Chí ở đây chính là lí tởng và hoài bão tốt đẹp của kẻ sĩ đợc tào tạo
chốn cửa Khổng sân Trình khao khát đem tài năng và tâm huyết để thực hiệngiấc mộng “kinh bang tế thế”, để thi thố và hành động lúc “vận nớc ngả
nghiêng”, để “Kéo lại giang sơn, đế kinh đợc vững vàng nh cũ” (Cự ngao đới
sơn) Cái Chí trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là thế giới tâm hồn của
bậc ẩn sĩ - nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm với cốt cách, một tâm hồn thanh cao
và tuyệt nhiên không màng công danh phú quý, coi danh lợi chỉ là “chiêmbao” nh gió thoảng mây bay trong thoáng chốc “ái u vằng vằng vặc trăng in
nớc - Danh lợi lâng lâng, gió thổi hoa” (Thơ Nôm, Bài 1)
Cái tâm, cái chí đó còn là tình cảm ái - u đối với nhân tâm, thế sự, là
“tấm lòng tiên u đến già cha thôi” của bậc thức giả nơi sông Tuyết Đó là nỗi
đau đời, là nỗi xót xa trớc cảnh đau thơng, chết chóc của nhân dân do chiếntranh, loạn lạc và còn là sự xót xa, phẫn uất trớc nhân tâm thế đạo đang ngả
nghiêng chao đảo trong vòng tiền tài, danh lợi, điều mà ông viết ở Bi ký quán
Trung Tân: “ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái
lợi Khoe là sang thì xe mát quán ấm, khoe là giàu thì nhà múa lầu hát Thấyngời chết đói dọc đờng, không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp, thấy nơi
trống trải không có gì che ma, không dám bỏ một bó tranh để che đậy” (Bi kí
quán Trung Tân) Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “ phản ánh nỗi băn khoăn,
niềm khát vọng của cả một tầng lớp nho sĩ đơng thời muốn lý giải những biến
đổi của thời cuộc và tìm kiếm phơng hớng, vận động cho sự phát triển của xãhội và cá nhân” [3; 348] Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ tiểu biểucho tính chất triết lý về thế sự mà còn mang tầm cao giáo huấn Nội dung giáo
Trang 17huấn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đều hớng đến mục đích cao cả, đó là dạy
đời và khuyên ngời bằng một cách nói “kín đáo, nhẹ nhàng khiến ngời đọc dễcảm, không mất lòng ai, kể cả những ngời thuộc vòng than trách” [62; 512]
Về nghệ thuật, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú về đề tài và thểloại Thơ chữ Hán đặc sắc với đề tài vịnh vật Có thể nói, đến Nguyễn BỉnhKhiêm thơ vịnh vật đã thoát khỏi sự gò ép, khô khan và hơn hẳn so với thơ
vịnh vật trong Hồng Đức quốc âm thi tập Thơ chữ Hán của ông đợc viết theo
nhiều thể loại khác nhau, từ thơ ngũ ngôn, thất ngôn đến cổ thể hoặc Đờngluật và dung lợng cũng đa dạng Có bài bốn hoặc tám câu, có bài dài cả vài
chục câu, riêng bài Cảm hứng dài đến ba trăm câu “đầy tính chất bi tráng về
sự biến thiên của vũ trụ, nhân sinh, qua cách nhìn khái quát của, kết hợp vớikinh nghiệm cụ thể của một ngời từng trải trong xã hội đầy biến động” [56;302] Thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ đặc sắc ở tầm baoquát một hệ thống đề tài phong phú mà còn đậm đà tính dân tộc ở hình thứcthể hiện Đó là sự tiếp thu và vận dụng một cách linh hoạt đầy sáng tạo ngônngữ dân gian Từ tục ngữ, thành ngữ đến cách diễn đạt hoặc Việt hoá các yếu
tố ngôn ngữ Hán Bên cạnh đó, đến thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể thơthất ngôn pha lục ngôn đợc sử dụng nhuần nhuyễn và biến hoá hơn, nhất là ở
sự giãn nở và “mở rộng dung lợng hiện thực” Chính sự giãn nở và mở rộngnày đã “góp phần quyết định tạo nên bản sắc thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm”[62; 606]
Tất cả những phơng diện trên đã tạo nên giá trị sâu sắc cũng nh sức hấpdẫn đặc biệt trong thơ văn của Bạch Vân c sĩ Đồng thời nó cũng góp phầnlàm nên tên tuổi của một danh nhân văn hoá tầm cỡ dân tộc Trạng Trình -Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.2 Cơ sở văn hoá - văn học và quan niệm về văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.2.1 Cơ sở văn hoá và sự hình thành kiểu nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nếu nói rằng, quan niệm văn chơng là cách nhìn, cách cảm; là thái độcủa nhà văn trớc hiện thực cuộc sống và là sự thể hiện cái giới hạn tối đa trongcách hiểu về thế giới con ngời của nhà văn thì cũng cần chú ý đến mối liện hệ
và sự hình thành hệ thống quan niệm từ các yếu tố về hoàn cảnh xã hội đã chiphối và tác động đến t duy, tình cảm của nhà văn trong việc hình thành nhữngquan niệm Đành rằng, quan niệm văn chơng là những tri thức khái quát, trừutợng và mang tính chất lí luận, đồng thời là mục tiêu, là định hớng cho nhàvăn thực hiện nhng nó vẫn chịu sự tác động của các yếu tố về hoàn cảnh xã
Trang 18hội, về thời đại cũng nh yếu tố về con ngời cá nhân - kiểu nhà văn Những yếu
tố ấy đã ít nhiều chi phối và tác động đến việc để hình thành những quan niệm
về văn học Điều này càng có ý nghĩa hơn khi nghiên cứu, tìm hiểu quan niệmvăn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chế độ phong kiến Việt nam sau một giai đoạn phát triển cực thịnh dớivơng triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497), đến đầu thế kỉ XVI đã bắt đầu bớcvào thời kì có những khủng hoảng sâu sắc về chính trị, xã hội Cha đầy ba mơinăm (1498 - 1527), bảy đời vua Lê kế tiếp nhau nối ngôi (Hiến Tông, TúcTông, Uy Mục, Tơng Dực, Quang Trị, Chiêu Tông, Cung Hoàng), cùng vớinhững cuộc tranh giành quyền lực của các phe phái, đã dẫn đến nhiều cuộcnội chiến đẫm máu Cục diện chính trờng càng trở nên rệu rã, chao đảo hơnkhi liên tiếp nổ ra những cuộc khởi nghĩa nông dân nh Thân Duy Nhạc, TrầnTuân, Trần Cảo Tất cả khiến cho bức tranh chính trị của chế độ phong kiếnViệt Nam trong khoảng hai thập kỉ đầu của thế kỉ XVI thêm tối tăm và ảm
đạm Trớc thực trạng đó, nhà nớc quân chủ phong kiến vốn trớc đây đợc tổchức chặt chẽ bây giờ trở nên lỏng lẻo hơn bao giờ hết Nho giáo không còngiữ vai trò độc tôn trong đời sống chính trị xã hội, thậm chí nhiều nhà nho có
uy vọng trở thành đối tợng hãm hại của bọn lộng thần Kỉ cơng triều chínhlỏng lẻo, sa sút cũng đã làm cho những chuẩn tắc quan trọng của Nho giáokhông còn thiêng liêng nữa, thậm chí còn nảy sinh nhiều tập tục thối nát, tệhại từ tầng lớp sĩ phu nh “chạy đua theo lối học phù phiếm, nạn mua quan,bán tớc diễn ra công khai ngay ở triều đình ” [55; 418] Trớc thực trạng đó,tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung đã ép vua Lê Cung Hoàng nhờng ngôi vàlập nên vơng triều nhà Mạc Phải nói rằng, giành ngôi vị từ một chính thểkhông lấy gì là ổn định, lại phải liên tiếp chống trả những cuộc phản công củatập đoàn Lê - Trịnh, đàng trong - từ Thanh Hoá trở vào, cùng với phong tràophục Lê dai dẳng của anh em họ Vũ ở vùng miền núi phía Tây, tuy nhiênnhững kinh nghiệm từ chính trờng và tầm nhìn xa trông rộng của mình, Mạc
Đăng Dung đã nhanh chóng thiết lập triều cơng, thi hành những chính sáchcai trị khá mềm mỏng và cởi mở từ đó mà đất nớc dần vào thế ổn định Nhữngchính sách ấy đã nhận đợc sự ủng hộ của dân chúng, trong đó có không ítnhững nho sĩ thủ cựu
Ngay cả những sử gia chính thống của nhà Lê - Trịnh vốn đứng trên lậptrờng thù địch với Mạc triều cũng đã thừa nhận sự ổn định về triều chính mà
“nguỵ Mạc” đã làm đợc: “Năm Nhâm thìn, (1532) Mạc có lệnh cấm nguời các
xứ trong ngoài không đợc cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở ngoài đờng
Trang 19sá, ai trái thì cho pháp ty bắt Từ đấy, ngời buôn bán và ngời đi đờng đều đitay không, ban đêm không có trộm cớp, trâu bò thả chăn không phải mang về,chỉ mỗi tháng điểm soát một lần, hoặc có sinh sản cũng không thể biết là vậtcủa nhà mình Trong khoảng vài năm, đờng sá không nhặt của rơi, cổng ngoàikhông đóng, thờng xuyên đợc mùa to, trong cõi tạm yên” [62; 416]
Về cơ bản, triều Mạc vẫn dựa vào những chuẩn tắc của Nho giáo để củng
cố vơng quyền, duy trì các thiết chế chính trị xã hội, lập lại kỉ cơng, vực hồi
đạo lí trải qua một thời chao đảo, xộc xệch, rạn nứt Đó là việc khôi phục cácquy định, những lễ nghi của Nho giáo trong cả bang giao lẫn nội trị Và cũng
nh các triều đại trớc, sau khi giành ngôi và ổn định triều chính, nhà Mạc vẫnkhông quên chính sách chiêu hiền, đãi sĩ, trọng dụng nho sĩ của cựu triều raphục vụ triều đại mới Nhà Mạc cũng chú trọng đờng lối văn trị, võ công bằngviệc tổ chức các kì thi để tuyển chọn hiền tài Về phơng diện này, nhà Mạc đã
đạt đợc những thành tựu đáng trân trọng Sử sách đã ghi lại: “Chỉ trong 65năm nắm giữ vơng quyền, nhà Mạc đã tổ chức đợc 22 kì thi hội, đào tạo đợc
485 tiến sĩ và hàng chục trạng nguyên” [55; 417] trong đó có những nhân vậtnổi tiếng nh Giáp Hải, Nguyễn Thiến, Hà Nhậm Đại, Hoàng Sĩ Khải đặcbiệt là trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Vốn xuất thân trong một gia đình nhà nho mặc dù không phải là dòngdõi khoa bảng - thân phụ là Nguyễn Văn Định chỉ đỗ Hơng cống, không ralàm quan chỉ ở nhà dạy học, nhng ắt hẳn Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa đợc ngời
Mẹ, con gái quan thợng th - tiến sĩ Nhữ Văn Lan truyền cho cả một hoài bãolớn lao Nếu không thu phục đợc cả trăm họ thì cũng là quan đầu triều ngựahồng võng tía Bản thân ông cũng nhận đợc sự dạy dỗ chu đáo của quan bảngnhãn Lơng Đắc Bằng và cùng với sự thông minh, dĩnh ngộ của mình chắcchắn ông sẽ sở đắc lí tởng “trí quân trạch dân” và ít ra cũng trở thành bậc lơng
đống, rờng cột của triều đình Điều mà ông đã từng bộc bạch với một ngời bạnkhi tuổi còn tráng niên:
Hà Phần phụ cập cộng tòng si (s), Khí nghiệp tơng tơng viễn đại kì.
Trang 20Thánh, bốn mơi tuổi chẳng còn ngờ,
Ta, tuổi bốn mơi vẫn líu lo
(Thơ Nôm, bài 100)
Mãi đến khi nhà Mạc bớc vào giai đoạn ổn định dới triều vua ĐăngDoanh và thợng hoàng Đăng Dung thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thật sự tin tởngvào tơng lai xán lạn của vơng triều Khi đó ông đã nhận thấy:
Xán lạn cảnh tinh kim thoái đổ,
Hoàng đồ Cơ thọ vĩnh thanh minh.
(Rực rỡ sao lành, ngày nay sung sớng đợc thấy,
Cơ đồ nhà vua với cửu trù Cơ tử, trong sáng, yên ổn lâu dài)
(Tinh, Bạch Vân am thi tập)
Từ hiện thực đã đợc chứng kiến và trải nghiệm, Nguyễn Bỉnh Khiêmnhận thấy đây là lúc mà ông có thể đem tài năng và tâm huyết để thi thố vàcũng là để thực hiện những lí tởng, hoài bão mà bản thân đã từng ấp ủ sau cảmột thời gian dài đắn đo, cân nhắc Nguyễn Bỉnh Khiêm bớc vào con đờngkhoa cử khi nhà Mạc đã ổn định và bớc đầu gây đợc niềm tin ở dân chúngcũng nh giới trí thức Nho giáo Năm 1534 ông đã đỗ đầu trong kì thi Hơng vàngay năm sau đỗ Trạng nguyên Có thể nói, từ đây ông bắt đầu thực hiện giấcmộng “kinh bang tế thế” của một Nho sĩ đỗ đạt, để thực hiện khát vọng:
Giúp vua phò nớc dấn gian nguy,
Gắng gỏi xông pha sá quản gì
(Cảm hứng thi - bài 4, Bạch Vân am thi tập)
Tài năng, bản lĩnh và những trải nghiệm từ thực tế đã khiến Nguyễn BỉnhKhiêm cảm thấy không phân vân, dè dặt về tâm thế khi bắt tay cộng tác với
“tân triều” bằng một niềm tin tuyệt đối Điều này cũng góp phần khẳng địnhNguyễn Bỉnh Khiêm đã toàn tâm, toàn ý với nhà Mạc và ông đã thực hiện
đúng nghĩa vụ cũng nh con đờng “xuất - xử” của một Nho sĩ Tuy nhiên, nhàMạc sau một thời gian ngắn ổn định, lại bắt đầu bớc vào giai đoạn rối ren, lục
đục do bọn lộng thần kéo bè, kết đảng tranh giành quyền lực, hãm hại lẫnnhau, cảnh chiến tranh, cớp phá diễn ra liên miên, nhân dân khốn khổ.Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể nhắm mắt làm ngơ trớc thảm cảnh
Lạc lạc can qua mãn mục tiền,
Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền.
(Giáo và mộc tua tủa bày ra đầy trớc mặt,
Trang 21Nhân dân chạy trốn muốn tìm nơi an toàn)
(Cảm hứng thi - bài 3, Bạch Vân am thi tập)
Do đó, gắn bó và thực lòng với nhà Mạc, nhng ông vẫn nhận thấy triều đại
mà ông đang tôn phù không phải là thời Đờng Nghiêu thái hoà “Thái hoà vũtrụ bất Ngu, Chu” Phép ứng xử của Nho giáo “vô quan khinh thân” (khônglàm quan thì nhẹ ngời) và “đạt: tắc kiêm tế thiên hạ, cùng: tắc độc thiện kìthân” (đạt thì hành đạo khắp thiên hạ, lúc cùng thì giữ riêng phận mình chotốt) ít nhiều cũng đã định hớng cho quyết định từ quan về ở ẩn tại quê nhà saukhi ông đã có một gắng gợng cuối cùng là dâng sớ lên vua Mạc đòi chém 18tên lộng thần để những mong đem lại chút ít kỉ cơng cho triều chính Nh vậy,thời gian mà ông phục vụ tại triều cho nhà Mạc không dài, chỉ tám năm, từ
1535 đến 1542 nh trong bài kí quán Trung Tân: “ Mùa thu năm Nhâm dần
(1542), ta bỏ quan chức về nghỉ ở quê nhà” Thế là con đờng “kiêm tế thiênhạ” vẫn dở dang, nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm đành ôm tấm lòng cô trung về
am Bạch Vân làm một “ông nhàn” và lấy cảnh trăng trong gió mát để ngâmngợi, tuy vậy con ngời nhà nho hành đạo trong ông vẫn luôn dằn vặt:
“Ba đời chúa đợc phúc tình cờ,
Ơn nặng cha từng báo tóc tơ”
(Thơ Nôm, bài 24)
Đã có không ít nhà nghiên cứu văn học xếp Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộckiểu nhà nho ẩn dật, ẩn sĩ “Bên cạnh tầng lớp nho sĩ quan liêu xuất hiện mộtlực lợng sáng tác, có thể xem là mới, nếu so với lực lợng sáng tác của văn họcnửa sau thế kỉ XV, đó là nho sĩ ẩn dật, với các tên tuổi nổi tiếng NguyễnHàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ Hàng ngũ nho sĩ ẩn dật tuy không
đông nh nho sĩ quan liêu, nhng hầu hết lại là danh gia, có kiệt tác” [55; 425].Nhận định này hoàn toàn có cơ sở khi xem xét một số tiền đề nảy sinh kiểunhà nho ẩn dật Kiểu tác giả nhà nho ẩn sĩ ra đời khi nhà nớc phong kiến lâmvào tình trạng khủng hoảng Trong đó, những giá trị cao đẹp đợc coi là chuẩnmực của Nho giáo bị sa sút, huỷ hoại kéo theo sự mất niềm tin vào thời cuộckhiến họ phải chọn lối ứng xử “độc thiện kì thân”, xa lánh chốn quan trờngdanh lợi, chọn cuộc sống ẩn dật để bảo toàn danh tiết Thực ra, Khổng Tửcũng đã khuyên môn đệ của mình phải thấu suốt con đờng “hành- tàng”, “xuất
- xử” Lời khuyên ấy đợc thể hiện qua một mệnh đề có tính khuôn thớc tronglối ứng xử của nhà nho đó là “dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng” và nó đã trởthành một quan niệm, một lối ứng xử mang tính nguyên tắc, thậm chí nh một
“minh triết bảo thân” của Nho sĩ Mặt khác, quan niệm của Nho giáo cũng đặt
Trang 22ra hai sự lựa chọn mang tính chuẩn mực cho ngời quân tử: hoặc “xuất” hoặc
“xử” hay “hành” và “tàng”: Quân tử chi“ đạo, hoặc xuất hoặc xử” (cái đạo
của ngời quân là xuất hoặc xử) Nho giáo còn chỉ rõ điều kiện cho ngời quân
tử thực hiện phép ứng xử “hành - tàng” Theo đó, khi thiên hạ có đạo thì xuất
hiện, còn khi vô đạo thì ở ẩn và giữ mình (thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo
tắc ẩn) [24; 116] Nh vậy, về cơ sở văn hoá xã hội, bớc đầu có thể khẳng định
kiểu nhà Nho ẩn dật thờng xuất hiện khi nhà nớc quân chủ phong kiến không
đáp ứng những điều kiện cơ bản để Nho sĩ thực hiện nhiệm vụ hành đạo củamình Đây cũng là mâu thuẫn giữa lí tởng và hoài bão của cá nhân với hiệnthực xã hội và mâu thuẫn ấy không thể điều hoà, giải quyết đợc Kết cục từ sựbất mãn với hiện thực đã dẫn đến sự lựa chọn tối u của nhà Nho là thoát lichốn quan trờng, danh lợi cũng nh xa lánh chốn phồn hoa, đô hội, tìm về nơirừng sâu, ngõ thẳm, nơi am thanh, cảnh vắng để “độc thiện kì thân” - giữ cáithiện cho riêng mình, thực ra là để bảo toàn danh tiết Điều này ít nhiều lí giảitại sao trong sáng tác thơ văn của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm thờng đề cao chữ
“thiện”, ca tụng chữ “nhàn”, tự nhận mình là “dại” để đối lập với cái “khôn”của ngời đời Và mặc nhiên, “Con ngời cá nhân trong thơ Nguyễn BỉnhKhiêm cũng tự khẳng định mình bằng hình thức đối lập, khép kín, không giao
tiếp, bằng t thế: độc thiện kì thân - cô độc một cách cao quý, thanh sạch” [41;
(Tấm lòng lo trớc thiên hạ đến già cha thôi,
Cùng, thông, đắc, táng, ta có lo chi cho riêng mình)
(Tự thuật - bài 2, Bạch Vân am thi tập)
Rõ ràng, nhìn bề ngoài con ngời Nguyễn Bỉnh Khiêm có vẻ chứa đầy mâuthuẫn, bởi trong lịch sử phong kiến Việt Nam ít có nhà nho nào vừa làm quan
Trang 23vừa ở ẩn, vừa “hành” vừa “tàng” mà ung dung, chủ động nh ông Có thể trớc
đó, Nguyễn Trãi đã từng “xuất” - “xử”, “hành” - “tàng” nh vậy Nhng dẫu sao
ức Trai vẫn ôm một mối day dứt khi cáo quan để về Côn Sơn ẩn dật Tuynhiên, ông vẫn day dứt một nỗi lòng: “Quân thân cha báo lòng canh cánh –
Tình phụ, cơm trời áo cha” (Ngôn chí, bài 7) hoặc “Còn một tấc lòng âu việc nớc - Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”(Thuật hứng, bài 23) Rồi cả khi “bị”
gọi lại tham chính chốn quan trờng ông vẫn luôn mang một nỗi ám ảnh: “Kim
cổ vô cùng giang mạc mạc - Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu” (Vãn hứng, ức
Trai thi tập) Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, dù làm quan hay ở ẩn vẫn “lâng lâng”
và tự tại, ông vẫn chủ trơng lối sống “vô vi”, “vô u” Có khi, ông tự nhận mình
là “ông nhàn”, là tiên khách: Cao khiết thuỳ vi thiên hạ sĩ - An nhàn ngã thị“
địa trung tiên (Ngụ hứng).” Nhng cũng có nhiều lần ông đã bộc lộ tấm lòng
“tiên u, hậu lạc” đến già cha thôi
Có thể nói sự thấm nhuần t tởng Khổng giáo và tiếp thu cách ứng xử củatriết học Lão - Trang đã khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn chủ động trongcon đờng “xuất” - “xử” Điều này cũng góp phần làm nên t tởng, nhân cáchcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm, một “nhân cách nhà nho mang chí hớng hành đạonhững không gặp thời” [49; 28] Do đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa làm quanvừa ở ẩn Lúc làm quan, nhà nho hành đạo ấy toàn tâm, toàn ý, dấn thân hếtmình nhng khi ở ẩn lại hoàn toàn tự do, tự tại mặc cho miệng thế khen chê:
Yên đòi phận dầu tự tại Lành dữ khen chê, cũng mặc ai (Thơ Nôm,
đã thoát khỏi vòng danh lợi Bề ngoài những biểu hiện của quan niệm ấy tởng
nh mâu thuẫn nhng chúng lại có sự thống nhất, chuyển hoá và ràng buộc lẫnnhau để thể hiện nhân cách, con ngời của Nguyễn Bỉnh Khiêm, vừa là một
“nhà nho hành động” nhng vừa đồng thời là một bậc “ẩn sĩ cao khiết”
1.2.2 Tiến trình phát triển văn học và sự định hình quan niệm về văn
ch-ơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tiến trình văn học là một khái niệm chỉ sự vận động của đời sống văn
học gắn với sự hình thành và phát triển của các trào lu, khuynh hớng hay tínhchất văn học cụ thể Tiến trình văn học còn đợc gọi là quá trình văn học Theo
Từ điển thuật ngữ văn học: “Sự tồn tại vận động và tiến hoá của bản thân văn
Trang 24học trong từng thời kỳ, thời đại lịch sử của từng dân tộc, từng vùng cũng nhtrong toàn bộ lịch sử của dân tộc, khu vực và toàn thế giới” [12; 181] và quatiến trình văn học: “Ngời ta cũng thấy đợc sự hình thành, phát triển của vănhọc nh một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một loại hình nghệ thuật, trong đó
có quá trình đổi thay về bản chất, chức năng văn học, ý thức văn học, tiếpnhận văn học, hình thức văn học” [12; 181], trong đó có cả quan niệm về vănhọc Xét cho cùng, quan niệm văn chơng cũng chịu sự tác động và chi phốicủa sự vận động của đời sống văn học Là những tri thức khái quát, trừu tợng
và mang tính chất lý luận, quan niệm văn chơng chỉ xuất hiện khi văn học đãphát triển đến một mức độ nhất định Trong đó có mối quan hệ và tác độngqua lại của các khuynh hớng hoặc tính chất văn học trong quá trình vận động Quan niệm cơ bản và mang tính chất đặc thù của văn chơng Việt Nam
thời trung đại không nằm ngoài hai mệnh đề “Thi dĩ ngôn chí” và Văn dĩ tải“
đạo ” Quan niệm “Thi dĩ ngôn chí” (Thơ để nói chí) xuất hiện ở Trung Quốc vào thời thợng cổ và đợc chép lại trong một số kinh sách nh: Thợng th, Tả
truyện, Lễ ký … Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ Thi ngôn chí thịnh thành từ đời Hán và trở thành một quan “
niệm áp đảo, gắn liền với t tởng Nho gia Chí ở đây, chủ yếu là hoài bão chính
trị, đạo đức lễ nghĩa, là chí hớng làm ngời, cũng bao hàm cả tình cảm… Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ Thi
ngôn chí là quan niệm về bản chất quan trọng, cơ bản của thơ nhng không
phải là tất cả Tuỳ theo cách hiểu rộng, hẹp về “chí” mà mệnh đề có nội dung phong phú hay nghèo nàn” [13; 1665] Còn mệnh đề Văn dĩ tải đạo“ ” (Văn đểchở đạo), xuất hiện muộn hơn “Nó chỉ là đặc sản của Tống Nho, là sản phẩmcủa Chu Trình” [29; 93] Và “đạo” ở đây đợc hiểu là những phép tắc, lễ nghĩacủa Nho giáo, trong đó có cả phần cực đoan máy móc khi Nho giáo trên đà
thoái hoá Tuy nhiên tuỳ từng ngời, từng thời đại mà khái niệm đạo“ ” biểu đạtnhững nội dung khác nhau “Có cái đạo vì dân vì nớc, vì tổ quốc giống nòitrong văn thơ yêu nớc nhng cũng có cái đạo thuần tuý là lễ giáo phong kiến, là
t tởng thánh hiền” [13; 1942] Quan niệm “Thi dĩ ngôn chí” và Văn dĩ tải“
đạo” đã chi phối và tác động sâu sắc đến t tởng nhận thức trong quá trình sáng
tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời trung đại Tuy nhiên, tuỳ từng giai
đoạn lịch sử, từng cách nhìn và cách thể hiện riêng của tác giả mà hình thức
và nội dung biểu đạt không phải lúc nào cũng giống nhau
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một gơng mặt tiêu biểu của văn học Việt Namthế kỉ XVI, một thế kỉ có nhiều biến động về chính trị xã hội và nó đã tác
động sâu sắc đến tiến trình phát triển chung của nền văn học Sự tác động đó,
đã làm nên sự phân hoá khá sâu sắc trong đời sống văn học mà biểu hiện là ở
Trang 25sự “hình thành những chủ đề, những khuynh hớng t tởng, tình cảm khác nhau,thậm chí chống đối nhau” [22; 45] Theo đó, tính chất nhất thống về quanniệm văn chơng và khuynh hớng văn học vốn đã đợc củng cố trong một thờigian khá dài, ngót nửa thế kỉ dới vơng triều Lê Thánh Tông thì giờ đây đã cónhiều ngả rẽ Về tính chất văn học, hai đặc tính: quan phơng, cung đình- baogồm những sáng tác của nhà nho hành đạo và thế sự - đời thờng, đặc tính lytâm chính thống, bao gồm những sáng tác của nhà nho ẩn dật đã tạo nên diệnmạo chung cho nền văn học Lẽ dĩ nhiên, ranh giới chung của hai tính chấtnày không phải lúc nào cũng tách bạch, riêng rẽ Điều đó, không chỉ thể hiện
ở tác giả này với tác giả khác mà còn ở trong cùng một tác giả: có mảng sángtác này đậm đặc tính quan phơng nhng ở mảng sáng tác kia lại nằm trọn trong
địa hạt thế sự, thậm chí đối lập với tính quan phơng cung đình Sự phân hoá vềtính chất văn học cũng đã tác động đến việc định hình quan niệm văn chơngtrong từng loại hình tác giả Mặc dù quan niệm văn chơng của hai loại hìnhnhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật vẫn không nằm ngoài chức năng “tỏ chí”
và “tải đạo” của văn học trung đại Nhng “chí” và “đạo” mà họ hớng vào đâu
và đợc thể hiện nh thế nào không phải lúc cũng có sự gặp gỡ và đồng nhất Bởiquan niệm văn chơng không chỉ là sự thức nhận của chủ thể sáng tạo về vaitrò, vị trí, chức năng, mục đích của văn học đối với đời sống xã hội, theo gócnhìn của lí luận hiện đại mà ở một phơng diện nào đó quan niệm văn chơngcòn chịu sự chi phối và tác động của tiến trình văn học, trong đó không thểkhông xét đến tính chất của nền văn học Tìm hiểu sự định hình quan niệmvăn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể không xét đến sự tác động củanhững yếu tố này
Nh trên đã nói, văn học quan phơng cung đình, một khuynh hớng đề caonhững quan điểm mang tính chất chính thống và thờng là tiếng nói của nhànho hành đạo Khuynh hớng này đã trở thành một trong hai dòng chủ lu củavăn học Việt Nam thế kỉ XVI Trách nhiệm hàng đầu của nhà nho hành đạo là
“thực hành những nguyên tắc của đạo lý Nho gia, sẵn sàng dấn thân, nhập
cuộc, thực hiện lý tởng trí quân trạch dân, mong ớc một xã hội phong kiến
mẫu mực theo mô hình Nghiêu Thuấn” [6; 88] Đây cũng là một biểu hiện nổibật nhất trong quan niệm văn chơng của nhà nho hành đạo Quan niệm vănchơng chú ý đến tính chất “tỏ chí”, cái chí với ý nghĩa là lý tởng của kẻ namnhi nhập thế, an nguy trị loạn Quan niệm này chi phối đến hệ thống đề tài,chủ đề cũng nh giọng điệu thể hiện Nhà nho hành đạo thờng nhìn cuộc đời vàcon ngời trong ánh mắt của ngời trong cuộc Họ thờng nhìn sự vật, hiện tợng
Trang 26trong trạng thái vận động và quan niệm về thế giới trong tính chất tôn ti, trật
tự Nhà nho hành đạo cũng thể hiện mình trong t cách của con ngời hành
động, con ngời luôn mang trong mình một lý tởng và hoài bão lớn lao Đó làniềm ao ớc đợc thoả nguyện cái hứng “tắm mát ở sông Nghi và hóng gió ở nền
Vũ vu nh ngời xa” (Đống cách vân dung, Vũ Cán) Về sắc thái tình cảm, xét
một cách tổng quan, sáng tác của nhà nho hành đạo thờng là sự khẳng định
v-ơng triều, chế độ mà họ gắn bó với một niềm lạc quan tin yêu là tuyệt đối Bởivậy mà tác phẩm của họ thờng “mang đậm màu sắc đạo lý, mang tính quyphạm cao, quy phạm trên cả hai phơng diện nội dung t tởng và hình thức, thểloại ngôn ngữ” [6, tr88]
Theo dõi diễn tiến của văn học Việt Nam trung đại, bớc đầu có thể khẳng
định: cùng với loại hình nhà nho ẩn dật đây là loại hình tác giả nổi bật hơn cả,với những gơng mặt tiêu biểu nh Vũ Duệ, Đặng Minh Khiêm, Vũ Cán và đặcbiệt là Phùng Khắc Khoan, một học trò nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.Sáng tác của nhà nho hành đạo thờng đề cập đến những vấn đề về giang sơnxã tắc và trách nhiệm của bề tôi với quân vơng Nội dung đó cũng đã chi phối
đến đề tài, chủ đề thể hiện Với những đề tài nh: hoặc ngôn chí, tự thuật hoặcvịnh vật, vịnh sử… Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ Tất cả nhằm để ngợi ca và khẳng định nhà nớc phong kiến,ngợi ca vua hiền tôi giỏi, những gơng trung thần tiết liệt hay ít ra cũng đểkhẳng định chí nam nhi, nhập thế an nguy, trị loạn nếu không cũng nhằm mục
đích giáo huấn ngời đời giữ gìn kỉ cơng nho giáo Dờng nh trong sáng tác của
họ cái hùng tâm tráng chí của ngời nam nhi không bao giờ cạn kiệt Ngay cả
khi loạn lạc, cùng đờng cái Tâm, cái Chí của trạng nguyên Vũ Duệ vẫn bi
tráng:
Thăng long tự cổ hng vơng địa,
Hà bất th hùng quyết nhất trơng.
(Thăng long từ cổ nên vua chúa,
Trống mái sao không quyết một trơng)
(Chạy loạn ra Bảo Châu cảm tác)
Hoặc qua việc vịnh những nhân vật lịch sử để tỏ thái độ khen chê Đây là
một đề tài mang đậm tính chất giáo huấn, theo quan niệm chính thống của nhànho hành đạo Nhân vật đợc đề vịnh cũng khá phong phú đợc lấy trong sửsách của dân tộc và chủ yếu là những bậc trung thần tiết liệt đã giữ trọn đạotrung quân hoặc những ông vua của cựu triều, từ thời Kinh Dơng Vơng đếnthời Lê sơ Nói chung, thơ vịnh sử giai đoạn này ít nhiều cũng đã thoát khỏitính chất giáo huấn khô khan mà trở nên “sống động, nhuần nhuyễn và giàu
Trang 27cảm xúc hơn” [55; 436], đặc biệt trong thơ của Thoát Hiên - Đặng MinhKhiêm hoặc thơ vịnh sử của Hà Nhậm Đại, Lê Quang Bí Do đó, cùng vớithơ đi sứ và diễn ca lịch sử thơ vịnh sử trở thành đề tài nổi bật trong sáng táccủa nhà nho hành đạo thế kỉ XVI.
Nổi bật cho loại hình nhà nho hành đạo giai đoạn này phải kể đến PhùngKhắc Khoan (1528- 1613) Với quan niệm làm thơ để tỏ chí: “Mà cái gọi làthơ thì không phải là láu lỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dới ngòi bút thôi đâu mà
để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra ý chí nữa Ta đối với thơ vốnthờng có chí.” [45; 54] Đó là cái chí của ngời nam nhi nhập thế, an nguy, trịloạn Quan niệm đó đã chi phối đến nội dung, đề tài, giọng điệu trong thơ ông.Cái “chí” mà Phùng Khắc Khoan thể hiện ở trong thơ không gì khác ngoàinhững lí tởng và hoài bão lớn lao của nhà nho Đó là lí tởng “kinh bang tếthế”, giúp vua trị nớc và lập công danh, lu hậu thế Bởi vậy, đọc thơ PhùngKhắc Khoan cái chí hành đạo luôn thôi thúc một cách mãnh liệt:
Bình sinh chính trực hựu tung hoành, Tráng chí cao huyền nhật nguyệt minh.
(Ta bình sinh chính trực lại trung thành, Cái chí hùng mạnh rõ ràng nh mặt trăng)
(Bệnh trung th hoài) Ông cũng không tán thành thái độ ẩn dật để bảo vệ danh tiết mà khuyên ng-
ời làm trai phải “Có bổn phận làm nổi bật thanh danh của mình để đợc vẻvang cho cha mẹ, không khi nào chịu làm một ngời trợng phu hiên ngang màkhông có sự nghiệp gì”
Nam nhi tự hữu hiển dơng sự,
Khẳng tác ngang tàng, nhất trợng phu.
( Tự thuật)
Rõ ràng, qua việc khảo sát những sáng tác của nhà nho hành đạo sẽ dễdàng nhận ra nhiều nét tơng đồng về nội dung, chủ đề Đó là sự khẳng địnhtrật tự của nhà nớc phong kiến, khẳng định lý tởng và trách nhiệm cao cả củanho sĩ trong quan niệm chính thống Tuy nhiên, tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể màsắc thái biểu hiện và giọng điệu riêng trong từng tác giả không phải lúc nàocũng giống nhau Chẳng hạn, nếu thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm, HàNhậm Đại đợc đánh giá là “hào sảng và thanh thoát” thì thơ của Vũ Duệ lạimang âm hởng bi tráng Nhng tiêu biểu cho tính chất quan phơng của văn họcgiai đoạn này vẫn là sáng tác của Phùng Khắc Khoan Với một giọng điệu rắnrỏi, mạnh mẽ và đầy “hùng tâm, tráng chí”, âm hởng và giọng điệu ấy rất phù
Trang 28hợp với tiếng nói của nho sĩ hành đạo cũng nh thể hiện đợc quan niệm tỏ‘tỏ
chí” của thơ trung đại
Văn học thế kỉ XVI, bên cạnh mảng sáng tác mang đậm tính chất quanphơng của nhà nho hành đạo còn đánh dấu sự gia tăng của tính chất “ly tâmchính thống”, bao gồm những sáng tác của nhà nho ẩn dật Đây là khuynh h-ớng nổi bật trên văn đàn lúc bấy giờ, và mặc dù không có số lợng nhiều nhnho sĩ hành đạo nhng nhà nho ẩn dật hầu hết là “danh gia có kiệt tác” [56;425] mà đại biểu là Nguyễn Hàng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Cũng chịu sự chi phối của quan niệm văn chơng “tỏ chí” và “tải đạo” thời trung đại, nhng nội dung của “chí” và đạo“ ” mà các nhà nho ẩn dật giai
đoạn này hớng tới quả có nét khác biệt so với các nhà nho hành đạo Với quan
niệm: chí“ để ở sự nhàn dật” (Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tựa Bạch vân am thi
tập), sáng tác văn học của nhà nho ẩn dật giai đoạn này thờng đề cập nhiều
đến chữ “nhàn” thậm chí nó đã đợc nâng lên tầm triết lý: nh một quan niệm,một phép ứng xử với một hoàn cảnh xã hội đầy biến động ba đào Tuy nhiên,
cũng cần phải hiểu thấu đáo về nội hàm của chữ “nhàn” ở đây, “chữ nhàn
không có nghĩa là lời nhác, là hành động “đắp tai, cài trốc”, ăn không ngồi rồi
Nhàn có nghĩa là giữ cho tâm hồn lúc nào cũng ở trạng thái yên tĩnh trong
trẻo, hài hoà Nhàn còn là sự chấp nhận và thuận theo lẽ tự nhiên, không đua
chen, giành dật, không vớng víu phải cái bả vinh hoa phú quý mà sống thoảthích trong cảnh trí non xanh, nớc biếc, bạn bày với trăng trong, gió mát, với
ông lão già thực, trẻ thơ hồn toàn, ấm áp tình ngời trong hơng đồng gió nội,mây sớm trăng khuya” [55; 322] Và “nhàn” xét cho cũng cũng là thứ “minhtriết bảo thân” để giữ trọn danh tiết trong sạch của nhà nho trong thời loạn lạc
Về mặt cảm hứng, nếu sáng tác của nhà nho hành đạo thờng hớng đến sự cangợi và khẳng định nhà nớc phong kiến, ca ngợi những bậc trung thần, tiết liệt
và đề cao lý tởng phò vua, giúp nớc, “an nguy trị loạn” của ngời quân tử thìnhà nho ẩn dật lại hớng về cuộc sống đời thờng “ Nhà nho ẩn dật, vẻ ngoài nhmột biểu hiện đối cực của loại nhà nho hành đạo, họ phủ nhận việc hành đạo,nhng là loại hành đạo ngu trung, thiếu tỉnh táo” [6; 89] Họ ca ngợi cuộc sống
tự do, tự tại đồng thời đề cao và khẳng định nhân cách, tiết tháo trong sạch củangời ẩn sĩ lánh đời Hai hình tợng nổi bật trong sáng tác của họ là hình ảnhthiên nhiên và hình ảnh ngời ẩn sĩ khi đã thoát khỏi vòng danh lợi để bằnglòng chấp nhận cuộc sống thanh bần nơi thôn dã Họ cũng “tự nhận về mìnhbao nhiêu thứ dại dột, ngu hèn, tăm tối” [6; 89] để nhằm đối lập với sự “khônngoan, tinh tờng” của ngời đời
Trang 29Đó là một Nguyễn Hàng đã trọn đời sống trong cảnh ẩn dật, ông quay lnglại với chính trờng để tìm cuộc sống thanh tĩnh nơi thôn tịch Nhà nho nàychấp nhận chọn một nơi “Xó xỉnh góc trời một mom đất, một bầu thu cảnhmọn hẹp hòi” và bằng lòng với cuộc sống thanh bần, giản dị: “Sớm ba chénchè sen mát ruột”, “Bữa vài lng cơm lốc no lòng” và thờng “quảy túi thơ xốcxếch, thơ thẩn dới ngàn mai”, để thoả cái thú: “tựa mây tắm suối, miễn đợctiêu dao mà lãng quên thế sự” mặc cho “ai cời thơ thẩn ngẩn ngơ- Thì ta cũng
phát biểu trực tiếp quan niệm văn chơng của mình nhng qua câu chuyện Kim
Hoa thi thoại kí (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) ở tập Truyền kì mạn lục,
Nguyễn Dữ đã thể hiện rõ quan niệm này Mợn lời đối thoại giữa hai nhân vật,
đồng thời là hai nhà thơ lớn đời Hồng Đức là Sái Thuận và Ngô Chi Lan ở
điện Kim Hoa, Nguyễn Dữ đã kín đáo phê phán thứ văn chơng xa lánh nhiệm
vụ giáo hoá “nhân tâm thế đạo” Với Nguyễn Dữ, văn chơng không thể khôngliên quan đến chuyện “phong giáo” Do đó, chẳng phải ngẫu nhiên trong hai
mơi truyện của tập Truyền kì mạn lục, mặc dù những câu chuyện đợc kể đều
là chuyện xa, tích cũ và mang đậm yếu tố hoang đờng, quái dị nhng đều liênquan đến “luân thờng, đạo lý hoặc giáo huấn, khen chê” và hớng nhiều vàohiện thực xã hội đơng thời
Từ góc nhìn về tiến trình văn học, bớc đầu có thể khẳng định NguyễnBỉnh Khiêm là một gơng mặt xuất sắc của khuynh hớng văn học ẩn dật thế kỉXVI Tuy nhiên, khác với một số nhà nho ẩn dật cùng thời, Nguyễn BỉnhKhiêm có một quan niệm văn chơng khá rõ ràng không những đợc ông phát
biểu trực tiếp qua bài Tựa tập thơ Bạch Vân am thi tập mà còn ở rải rác trong
các sáng tác cụ thể Là một nho sĩ đợc đào tạo qua sách vở của thánh hiền, lýtởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không nằm ngoài sự nghiệp kinh bang tế thế,giúp vua trị nớc, an dân xây dựng một xã hội theo mô hình Nghiêu - Thuấn.Tuy nhiên, sống trong một giai đoạn lịch sử mà chế độ phong kiến trải quanhiều cuộc khủng hoảng do đó những lý tởng đẹp đẽ mà ông theo đuổi vẫn chỉ
là mơ ớc và khát vọng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm cả vào trong thi tậpcủa mình những hoài bão lớn lao cũng nh niềm u ái trớc nhân tâm thế sự Hiển
Trang 30nhiên, đó còn là hiện thực, là nỗi niềm và tình cảm của một thức giả, một triếtnhân và một thi sĩ bên dòng sông Tuyết.
Trong bài Tựa Bạch Vân am thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm thừa nhận bản
chất của thơ là để bày tỏ “tâm - chí” ông viết: “nói tâm là nói về cái chỗ màchí đạt tới vậy, mà thơ là để nói chí” Nh vậy, với ông mục đích và cũng làchức năng của thơ không nằm ngoài việc thể hiện cái "chí” của kẻ sĩ Khôngchỉ khẳng định mục đích tỏ “chí” của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn chỉ rõ: “Có
kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật”.
Nh vậy, trong ý kiến của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng làm rõ những nộidung biểu hiện của “chí” bao gồm: “chí để ở đạo đức” nghĩa là sự thể hiện cáitâm của kẻ sĩ, mà đạo đức hay cái tâm của kẻ sĩ không gì khác ngoài việc noitheo chuẩn mực của đạo đức nho giáo qua những phép tắc ở đạo “tam cơng,ngũ thờng” hay việc nêu gơng những bậc trung thần tiết liệt Còn “chí để ởcông danh” mà ông nói cũng không nằm ngoài việc thực hiện những lý tởng
và hoài bão “trí quân trạch dân, kinh bang tế thế” của nho sĩ Lẽ dĩ nhiên, tuỳtừng hoàn cảnh cụ thể mà việc thực hiện những lý tởng và hoài bão đó khôngphải lúc nào cũng giống nhau Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng thừa nhận: “có kẻchí để ở sự nhàn dật” Sự “nhàn dật” mà ông muốn nói đến ở đây chính là tâmhồn hoà hợp với thiên nhiên, với cuộc sống dân dã mà không đua chen trongvòng danh lợi, là cốt cách thanh cao của ngời ẩn sĩ Chính vì vậy mà cái
‘tỏ‘tỏnhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn thể hiện những day dứt về lẽ xuất - xử
và bản thân nó cũng mang chiều sâu triết học Trong bài Tựa tập thơ Am Bạch
vân Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng bộc bạch: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia
đình, lớn lên bớc vào giới sĩ phu, về già chỉ thích nhàn dật, lấy cảnh núi nonsông nớc làm vui, rất vụng về trong nghề thơ Hoặc tức sự mà tự thuật, đềughi lại thành thơ nói về chí” Theo quan niệm đó, mọi sự ngâm vịnh về cảnhvật, thiên nhiên hay những cảm xúc của nhà thơ trớc hiện thực cuộc sống cũngchỉ là cái cớ, là phơng tiện để bộc lộ cái “chí” mà thôi Điều này đợc chứng tỏ
khi khảo sát Bạch Vân am thi tập, tập thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm,
trong số hàng trăm bài có nhiều chùm thơ cùng nhan đề và mang nội dung "tỏ
chí” Chẳng hạn: chùm thơ Ngụ hứng (34 bài), Trung Tân ngụ hứng (87 bài),
Tự thuật (21 bài), Cảm hứng (7 bài), trong đó có bài dài 300 câu [21; 256].
Cái "chí” ở đây ngoài sự để ở sự "nhàn dật” mà nhà thơ thờng nhắc đến còn là
lý tởng và hoài bão của nhà nho nhập thế hành đạo với những sắc thái tìnhcảm riêng Bên cạnh đó, cũng có hàng chục bài thơ với đề tài vịnh vật nhng
Trang 31cũng mang nội dung "tỏ chí” Chẳng hạn, mợn hình ảnh Con ngao lớn
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi gắm cái "hùng tâm, tráng chí” lớn lao của mình:
Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
.
Ngã kim lực triển phù nguy lực,
Vãn khớc quan hà cựu đế thành.
(Nớc biếc ngấm núi tiên trong đến đáy,
Nh con ngao lớn đội đợc bầu ngọc mà sinh ra
Ta nay muốn thi thố sức phò nguy,
Cứu vãn lại quan hà, thành cũ của nhà vua.)
(Cự ngao đới sơn, Bạch Vân am thi tập)
Cũng có nhiều bài thơ mà nội dung “tỏ chí” đợc thể hiện qua hình thức
“thuật hoài”, “tự thuật”, “tức sự” Rõ ràng, đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, quanniệm “tỏ chí” của thơ chẳng những đợc cụ thể hoá mà còn đợc mở rộng về nộidung và hình thức biểu đạt
Vốn nổi tiếng thông minh từ nhỏ, lại đỗ đạt cao, hơn ai hết Nguyễn BỉnhKhiêm đã thấm nhuần t tởng Nho giáo, một học thuyết về t tởng đạo đức cótác động và ảnh hởng sâu sắc đến cả thiết chế xã hội cũng nh đời sống tinhthần của nớc ta thời trung đại, trong đó có văn học Sự tác động và ảnh hởngcủa t tởng Nho giáo đến văn học trung đại là toàn diện, bao gồm cả hệ thốngnhững quan niệm về con ngời, thế giới và quan niệm về văn học Do đó, đềcập đến quan niệm văn chơng của nhà văn thời trung đại không thể không xét
đến quan niệm về văn học của Nho giáo
Thực tế, trớc Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm văn chơng với chức năng
“tải đạo” cũng đã tác động và chi phối sâu sắc đến nội dung, đề tài và cảmhứng sáng tác của ngời viết Theo đó, văn học vừa là phơng tiện, là hình thức
để tỏ chí vừa có chức năng giáo hoá, giáo hối con ngời tuân theo những chuẩn
mực đạo đức đợc xã hội quy định mà ngời ta gọi là “chính đạo” Với NguyễnTrãi, văn chơng phải là “đao bút”:
Đao bút phải dùng tài đã vẹn,
Chỉ th nấy chép việc càng chuyên
(Bảo kính cảnh giới, bài 6)
Văn chơng với Nguyễn Trãi còn phải mang chức năng truyền bá đạo thánhhiền, phải giữ gìn đạo trung chính để giữ gìn kỉ cơng, phép nớc:
Trang 32Văn chơng chép lấy đòi câu thánh,
Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung
(Bảo kính cảnh giới, bài 5)
Đến thời Hồng Đức, vua tôi Lê Thánh Tông trong hội Tao đàn đã đaquan niệm văn chơng với chức năng “chở đạo” lên một mức độ cao và triệt để
hơn Quan niệm này đợc chính nhà vua phát biểu trong bài Tựa tập Quỳnh
uyển cửu ca và đợc xem nh một tuyên ngôn của hội Tao đàn Quan niệm cũng
nói rõ: “Ta lúc rảnh rỗi sau muôn việc, trong khoảng nửa ngày, mắt xem rừsách, lòng dạo vờn văn, không nghe huyên náo, lòng nh hoa thơm, dục thầntrong, ở yên cao hứng, bèn hăng hái nghĩ đến phép lớn của những bậc đế vơngthánh triết, đến lòng cặn kẽ của những bề tôi trung lơng, mới gọi chàng
“giấy”, họ “bút”, thợng khách “mực”, trọng thần “nghiên đá”, báo cho biếtrằng: Tình của ta th thái, khí tinh anh cuồn cuộn tuôn ra, lời khuôn mẫu từngtừng lớp lớp, các ngời có thể vì ta ghi lấy đợc không?” [45; 31] Trong bàiTựa, vua Lê Thánh Tông một mặt vừa phê phán thứ văn chơng chỉ chú ý ởhình thức bề ngoài “trăng gió mây sơng của đời Tống Nguỵ” mặt khác cũngchỉ rõ nhiệm vụ truyền bá chính đạo “vua sáng tôi hiền” để vừa “biểu dơng”vừa “khuyến giới” và làm “cho sáng tỏ những lời ca khuyên răn của đời ĐờngNgu” [45; 31]
Nằm trong sự tác động chung, quan niệm văn chơng của Nguyễn BỉnhKhiêm một mặt vừa hấp thụ quan niệm “văn dĩ tải đạo” của Nho giáo mặtkhác cũng mở rộng nội dung biểu hiện của “đạo” Do đó, tính chất và nộidung giáo huấn, tải đạo trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phong phú và
đa dạng: không chỉ là đạo đức của Nho giáo mà còn đạo đức truyền thống củadân tộc, không chỉ ở bộ phận thơ chữ Hán mà còn ở thơ chữ Nôm Điều nàykhiến quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không những phản ánh
đợc diễn tiến trong quan niệm văn chơng thời trung đại mà ở một mức độ nào
đó đã có sự mở rộng “đờng biên” của “chí” và “đạo” trong quan niệm văn
ch-ơng thế kỉ XVI
Nh vậy, quan niệm văn chơng là sự nhận thức của nhà văn về vai trò, vị trícũng nh chức năng và bản chất xã hội của văn học đợc biểu đạt qua một hìnhthức nghệ thuật thích ứng Quan niệm văn chơng chỉ đợc định hình trên mộtnền tảng vững chắc của các nhân tố về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và diễntiến của quá trình vận động, phát triển của đời sống văn hoá - văn học Sự tác
động của các nhân tố đó ít nhiều đã chi phối đến quá trình hình thành và lựachọn những nội dung biểu hiện của quan niệm Do đó, việc tìm hiểu và nghiên
Trang 33cứu quan niệm văn chơng của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập
và Bạch Vân quốc ngữ thi cũng không thể bỏ qua việc xem xét những tiền đề văn hoá văn học đã chi phối đến sự hình thành của quan niệm
Chơng 2 những nội dung cơ bản trong quan niệm văn chơng
của nguyễn bỉnh khiêm qua Bạch Vân am thi tập và
Bạch Vân quốc ngữ thi Văn học Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hởng sâu sắc của quan niệm
Nho giáo về văn học, thể hiện tập trung qua hai mệnh đề: “Thi dĩ ngôn chí” và
“Văn dĩ tải đạo ” Nguyễn Bỉnh Khiêm không nằm ngoài sự ảnh hởng đó Tuy
nhiên, tuỳ từng ngời, từng thời đại mà nội dung biểu đạt của chí“ ” và đạo“ ”không phải lúc nào cũng giống nhau
Là một nho sĩ đợc đào tạo qua sách vở của Thánh hiền, lẽ dĩ nhiên sángtác thơ văn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là mục đích chính, nhngqua đó để ông thể hiện lý tởng và hoài bão lớn lao mà bản thân đã từng ôm
ấp Đó là chí“ ” và đạo“ ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bên cạnh đó, cái “chí”, cái
“đạo ” mà thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm hớng đến còn là phơng tiện để giáohoá nhân tâm thế đạo, để bộc bạch về lẽ xuất xử của một nhà nho hành đạonhng không gặp thời và đợc ông phát biểu qua chữ “nhàn dật” Nh vậy, với
Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm “tỏ chí” có những nội dung và hình thức biểu
đạt khác nhau, ở cả thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập cũng nh thơ chữ Nôm
-Bạch Vân quốc ngữ thi nhng đều nhất quán với quan niệm mà ông đã phát
biểu qua bài Tựa cũng nh trực tiếp qua các tác phẩm cụ thể.
2.1 Quan niệm văn chơng gắn với nhiệm vụ hành đạo của Nho sĩ
2.1.1 Hành đạo gắn với lý tởng phò vua, giúp nớc
Xuất thân trong một gia đình nhà nho, đợc giáo dục trong môi trờngKhổng - Mạnh, hoài bão và lý tởng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm khao khát thực
hiện không gì khác ngoài việc phò vua, giúp nớc Đây cũng là cái "chí”: nhập
thế an nguy, trị loạn của nhà nho hành đạo Nguyễn Bỉnh Khiêm Để thực hiện
lý tởng cao đẹp này, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ bằng những việc làm,những hành động cụ thể trong thời gian làm quan dới triều Mạc mà ông còngửi gắm vào trong những sáng tác của mình và xem nh một quan niệm văn ch-
ơng: viết văn, làm thơ không ngoài mục đích "tỏ chí” Theo ông, chức năng,
bản chất vừa đồng thời là nhiệm vụ của thơ không nằm ngoài mục đích cao cả
Trang 34đầu tiên là việc thể hiện lý tởng phò vua, giúp nớc Lý tởng đó có khi đợc ông
gọi là "Thờng liễn dân thân trí trạch dân” (Cho thoả tấm lòng phò vua, giúp dân - Tự thuật) hoặc có khi là tấm lòng "chí nghĩa” luôn thờng trực, nung nấu
ở trong lòng và nó trở thành nội dung biểu đạt, trở thành nguồn cảm hứng chi
phối tất cả những bài thơ có tính chất tỏ chí“ ” trong Bạch Vân am thi tập nh:
tự thuật, ngụ ý, cảm hứng… Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụ Hoặc gián tiếp qua những hình tợng mang tínhchất ẩn dụ tợng trng ở các bài thơ vịnh vật
Cũng cần phải nói rằng, nội hàm của từ chí trong thơ trung đại mang những nội dung biểu đạt khác nhau Theo nghĩa từ nguyên, chí nghĩa là thơ, bởi: “Thơ, ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ” (Thi: tại tâm vi chí, phát
ngôn vi thi) Lẽ dĩ nhiên, lời phải trau chuốt vì theo Khổng Tử lời thơ không
trau chuốt chẳng những không bay xa mà không thể hiện đợc cái chí (Ngôn
chi vô văn, hành nhi bất viễn) Từ chí còn có nghĩa là ghi chép, kí lục Chí
đồng thời là hoài bão, lý tởng Đó là chí hớng của ngời nam nhi giữa cuộc đời:
“Nam nhi tự hữu xung thiên chí - Hu hớng Nh Lai hành xứ hành” (Làm trai lập chí xông trời thẳm - Theo gót Nh Lai luống nhọc mình, Thị tật - Quảng Nghiêm thiền s) Quan niệm “Thi ngôn chí ” trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêmcũng mang đầy đủ những nội dung đó
Trong bài Tựa tập thơ Am Bạch vân, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết “… Nhìn chung, khi nghiên cứu về “cây đại thụnói tâm
là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí” Lẽ dĩ nhiên,
trong số những nội dung mà cái “chí” trong thơ của ông hớng đến có cái chí
của nhà nho với hoài bão “kinh bang tế thế” để phò vua, giúp nớc Là một nhànho đỗ đạt cao, Nguyễn Bỉnh Khiêm ý thức sâu sắc điều này, trong đó ở bộphận thơ chữ Hán thể hiện đậm nét hơn cả
Chịu sự ảnh hởng và chi phối từ những t tởng của nho giáo về văn chơng
mà Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm, văn chơng không chỉ là phơng tiện để ghilại những lời ngâm vịnh “hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thuỷ, hoặc là tô
vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, tức sự mà tự thuật”
mà còn là phơng tiện để thể hiện lý tởng “phò vua, giúp nớc”, kiêm tế thiên hạcủa kẻ sĩ hành đạo Hiển nhiên, cái lý tởng mà ông nói đến ở trong thơ khôngnằm ngoài lý tởng chung của nho gia nhng nó đợc phát biểu trực tiếp qua thơvăn, xem thơ văn có nhiệm vụ chuyển tải những hoài bão cao đẹp của một nhànho có trách nhiệm với đời Điều đáng nói còn ở chỗ, ông cũng đã đem vănchơng gắn liền với cuộc sống, gắn với chí hớng hành đạo giúp nớc, giúp đời vàthực hiện nhiệm vụ “trí quân trạch dân” của nhà nho khát khao nhập thế và đãtừng nhập thế một cách hăng hái, tích cực
Trang 35Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết,
Dạ bán sơn gia nhập mộng dung.
Khởi vị nhất thi năng khớc dịch,
ng tri bàn giáp tố bàn hung.
(Bình sinh, chí hớng về việc nghĩa tha thiết ở trong lòng,
Nửa đêm mảnh tình quê hơng nhẹ nhàng đi vào giấc mộng
Há bảo một bài thơ có thể đẩy lui quân địch,
Nên biết hàng vạn giáp binh vẫn núp trong lồng ngực)
(Phụng căn tòng phát hành thuật hoài, Bạch Vân am thi tập)
Trớc Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ - ngời anh hùng giải phóng dân tộc,
Nguyễn Trãi từng quan niệm: “ Hảo bả tân thi hớng chí luân” (Lấy câu thơ mới để hớng vào cái chí của mình - Thu dạ dữ Hoàng giang Nguyễn Nhợc
Thuỷ phú) và ông cũng quan niệm văn chơng phải là “đao bút” để giúp nớc,
cứu đời: “Đao bút phải dùng tài đã vẹn - Chỉ th nấy chép việc càng chuyên”
(Bảo kính cảnh giới, Bài 6) Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh việc “tự thuật”
về nỗi lòng, về cái "chí nghĩa tha thiết" muốn giúp vua, giúp nớc còn mongmuốn có “một bài thơ có thể đẩy lui đợc quân địch” để đem lại sự yên ổn chogiang sơn, xã tắc để thoả cái chí nam nhi Nh vậy, với Nguyễn Bỉnh Khiêmthơ là nơi để ngụ ý, để kí thác những dòng tâm sự nh: tự thuật, thuật hoài, ngụ
hứng, qua đó để bộc lộ tâm - chí, đồng thời cũng là một thứ “vũ khí” có thể
đẩy lùi và đánh tan “nghịch tặc” và ở một phơng diện nào đó ông cũng khaokhát có đợc: “Túi thơ chứa hết mọi giang san” nh các bậc tiền nhân
Xuất phát từ quan niệm, thơ ca gắn với lý tởng phò vua, giúp nớc mà
trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt là Bạch Vân am thi tập những cụm từ
nh “phù nguy”, “vị quốc, tồn cô”, “trí trạch dân” thờng đợc hay nhắc đến
trong những chùm thơ Cảm hứng, Ngụ hứng hoặc Tự thuật Trong những bài thơ ngôn chí đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện một cách rõ nét hoài bão và
lý tởng đẹp đẽ của một nhà nho, nhập thế hành đạo ở đó, không còn bóngdáng của một ẩn sĩ lánh đời tìm nơi am thanh cảnh vắng để vui với chén rợucâu thơ mà thay vào đó là một nho sĩ có trách nhiệm với đời, với thế sự Điều
đáng nói, những vần thơ đầy “tráng chí” này không chỉ đợc Nguyễn BỉnhKhiêm viết khi tuổi đã già mà khi còn “cắp tráp theo thầy”, ông đã từng ấp ủmột mơ ớc:
Hà phần phụ cập cộng tòng si (s),
Khí nghiệp tơng tơng viễn đại kỳ.
Quý thế khí tài tuy tam khuất,
Trang 36Hng vơng lơng tá dĩ điền tri.
(Hà phần cắp tráp học cùng thầy, Khoa hoạn thênh thang hẹn có ngày
Thời loạn bỏ tài tuy tạm khuất, Hng vơng tôi giỏi biết là đây)
(Kí hữu, Bạch Vân am thi tập)
Con đờng “xuất - xử” của nho sĩ không có gì khác ngoài việc học hành,thi cử, đỗ đạt, làm quan để thực hiện nhiệm vụ “kiêm tế thiên hạ” và NguyễnBỉnh Khiêm đã gửi gắm cả một niềm tin lớn lao, một khát khao cháy bỏng đợcrảo bớc trên con đờng "khoa hoạn rộng thênh thang” Hiện lên trong bài thơ
ấy còn là kẻ sĩ có trách nhiệm với đời, có ý thức một cách sâu sắc về đạo
“quân thân”
Sinh ra và lớn lên khi chế độ phong kiến Việt Nam đang chìm trongnhững cơn khủng hoảng về chính trị xã hội Hơn ai hết, Nguyễn Bỉnh Khiêmnhận thức và thấm thía cảnh ngộ đau thơng tang tóc: “Khắp nơi chỗ nào cũng
máu chảy thành sông, xơng chất thành núi” (Ngụ ý), lúc đó ông đã xác định
việc phò vua, giúp nớc là nhiệm vụ của bề tôi để làm trọn đạo trung quân và
đó cũng là cái “chí” mà thơ ông hớng đến
Xã tắc điên nguy xuất lực phù,
Lão lai mị đạn hiệu trì khu.
Vô cô dân cửu ly đồ độc,
Bất sát thuỳ năng uý hễ tô.
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa,
Chỉ kỳ diệt giặc phục thần châu.
(Xã tắc nguy ngập nghiêng đổ, ra sức phù trì,
Tuổi già chẳng ngại, gắng gỏi ruổi rong
Nhân dân vô tội gặp phải cảnh cay cực, độc ác từ lâu,
Hỏi ai là kẻ nhân từ không giết ngời, dân chờ cứu sống
Vì nớc bảo toàn đứa trẻ mồ côi, nêu rõ nghĩa lớn,
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô)
(Cảm hứng - Bài 4, Bạch Vân am thi tập)
Nh vậy, với Nguyễn Bỉnh Khiêm văn chơng đã trở thành phơng tiện đểbộc lộ cái chí “hành đạo”, giúp vua, giết giặc đem lại cuộc sống yên bình, no
ấm cho ngời dân vô tội Về phơng diện này, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng giống
nh Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV và Phùng Khắc Khoan sau này, khi nhận thức
Trang 37đ-ợc vai trò cũng nh mục đích cao cả của văn chơng, xem văn chơng là “phơngtiện cao quý để phục vụ cuộc sống, vì dân, vì nớc” [38; 123]
Niềm tin vào vơng triều mà mình phò tá đã thôi thúc Nguyễn BỉnhKhiêm ý thức một cách sâu sắc nhiệm vụ của nho sĩ đỗ đạt ở triều đình, ôngkhông những đem hết tài sức để truyền thụ học nghiệp, đào tạo nhân tài mởmang và phát huy nền t văn mà còn dám đàn hặc lộng thần, can gián nhà vua
để giữ vững kỉ cơng phép nớc, thậm chí khi tuổi đã cao ông vẫn gắng gợngtheo vua đi dẹp loạn không chỉ một lần, mà nhiều lần Nguyễn Bỉnh Khiêmphải “lỡng độ tòng nhung” để dốc sức, dốc lòng vì vua vì nớc:
Lão lai tơng dữ cỡng tòng nhung,
Diệt tặc do hoài báo quốc trung.
(Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung,
Giết giặc mong vì nớc dốc lòng trung)
(Tòng Tây chinh - Bài 2, Bạch Vân am thi tập)
ợc gợi cảm hứng từ những cuộc Tây chinh - dẹp loạn ở miền Tây Trong
những bài thơ đó, cái chí "phò vua, giúp nớc” đợc thể hiện rõ nét hơn bao giờhết Đó là hình ảnh của một "vị tham mu, tớng soái cầm quân bôn ba xuôi ng-ợc” nơi chiến trờng đầy hiểm nguy, gian khổ với một niềm lạc quan tin tởng:
Thử hành hảo triển an biên sách,
Hu đạo đa niên ủng hoạ tràng.
(Chuyến này đi hãy bày kế sách vỗ yên bờ cõi,
Đừng nói rằng nhiều năm ôm chiếc lọng hoa)
(Phụng căn tòng quá Thao giang, Bạch Vân am thi tập)
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm thơ vịnh vật cũng là một hình thức để bộc lộ
Tâm - Chí Trong số hàng chục bài thơ vịnh vật ở Bạch Vân am thi tập, đằng
sau thế giới của cỏ cây, muông thú hay đồ vật hàng ngày là một con ngời sống
có hoài bão, có trách nhiệm với đời:
Ngã kim lực triển phù diên thủ,
Trang 38Vãn đắc quan hà cựu đế thành.
(Ta nay muốn thi thố thủ đoạn nâng đỡ vận nớc lúc ngả nghiêng,
Kéo lại giang sơn, đế kinh đợc vững vàng nh cũ.)
(Cự ngao đới sơn, Bạch Vân am thi tập) Ông cũng đã từng ví mình nh một cây tùng làm rờng cột vững chắc để
“chống bên tả, đỡ bên hữu”, hay chí ít ra cũng “chữa bệnh cho nớc cho dân”
để thoả “giấc mộng tam công” (Tùng, Bạch Vân am thi tập) Ngay cả quả dừa
kia, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gửi gắm một hoài bão “Khá đem một gáo nớc
thiên nhiên rót ra - Để làm thoả lòng khát vọng của nhân dân” (Dự thi, Bạch Vân am thi tập) Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không ít lần ao ớc trở thành những
bậc lơng tớng nh: Lã Vọng, Trơng Lơng, Tiêu Hà để củng cố và gây dựngmột vơng triều thịnh trị buổi Đờng Ngu Bởi vậy mà không ít lần trong thơ,
ông đã cảm thấy tủi thẹn khi mình đã “già yếu vụng về cha biết làm việc binh
đao”, rồi ông còn tự cời mình khi cha dâng lên nhà vua kế sách để vỗ yên bờ
cõi “Cáo hậu mu du tiếu ngã vô” (Cời ta không mu mô dâng nhà vua” - Tây
hộ thứ Nguyễn Cảo Xuyên thị th công vận, Bạch Vân am thi tập) Chấp nhận
sự dở dang trong việc thực hiện “giấc mộng tam công”, Nguyễn Bỉnh Khiêm
đành treo mũ từ quan thành một “ông nhàn” vui với bầu rợu, túi thơ và làm
bạn với cảnh trăng trong gió mát Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu cái chí nhàn
dật mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thờng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thơ, cả Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi nhiều khi không thật, có khi
chỉ là cách nói đầy ẩn ý mà chủ yếu vẫn là cái chí “kiêm tế thiên hạ” của nho
sĩ hành đạo: “ Thì ra, cái chí ẩn dật không phải là t tởng thực của Nguyễn BỉnhKhiêm, nhiều lắm chỉ thực một nửa, và ngay với một nửa thực đó cũng là vìhoàn cảnh đẩy đa, còn cái chí vì việc nghĩa mới là cái chí đích thực của ông”[42; 196] Do đó mà con ngời “nhập thế, hành đạo” của ông cha hết những ớc
mơ, khát vọng: Hà thời tái đổ Đ“ ờng Ngu trị - Y cựu kiền khôn nhất thái hoà”
(Bao giờ lại thấy đời Nghiêu Thuấn - Xoay lại kiền khôn buổi thái hoà, Ngụ
hứng, Bài 2 - Bạch Vân am thi tập).
Nho giáo quan niệm văn chơng là phơng tiện để bày tỏ chí hớng mà chí ớng của nhà nho không nằm ngoài việc thực hiện nhiệm vụ “kinh bang tế thế”nhằm ổn định kỷ cơng của nhà nớc phong kiến đồng thời để giữ vững nhântâm thế đạo Văn chơng với Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một phơng tiện để bày
h-tỏ tấm lòng “chí nghĩa” vừa gắn với những hành động cụ thể nhằm thực hiệnnhững hoài bão lớn lao của một con ngời “đã từng nhập thế tích cực, với hoàibão và tráng chí của một con ngời hành động” [55; 244]
Trang 392.1.2 Hành đạo gắn với tấm lòng lo nớc, thơng đời
Văn chơng với Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là phơng tiện để thực hiện
nhiệm vụ phò vua, giúp nớc, thực hiện cái chí “kiêm tế thiên hạ” mà còn gắn với tấm lòng “tiên u, hậu lạc” của một nhà nho đã từng nhập thế hành đạo.
Sống trong một giai đoạn lịch sử mà chế độ phong kiến Việt Nam xảy ranhiều biến động dữ dội, chứng kiến những lần thay ngôi, đổi chủ liên tiếp,những cuộc nội chiến huynh đệ tơng tàn, hơn ai hết Nguyễn Bỉnh Khiêm đãthấm thía thảm cảnh u ám của đất nớc và nỗi cực khổ, lầm than của nhân dân
lao động, và khi đó cái chí hành đạo mà thơ ông hớng tới bên cạnh việc thực
hiện nhiệm vụ “kinh bang tế thế” còn là tấm lòng u thời, mẫn thế, lo nớc
th-ơng đời Đây vừa là sự nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của văn chth-ơng vừa
là nội dung phản ánh trong tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Cũng giống nh Nguyễn Trãi, tấm lòng lo nớc, thơng đời của NguyễnBỉnh Khiêm cũng “thao thức, dằn vặt và cuồn cuộn nớc triều đông” Đây
cũng là một trong những nội dung biểu hiện của cái Tâm - chí mà thơ ông
h-ớng đến Tất thảy những bài thơ, “hoặc ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp
đẽ của sơn thuỷ hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh màngụ ý hoặc là tức sự mà tự thuật” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều biểu đạt nộidung của quan niệm này
Thơ chữ Hán ở Bạch Vân am thi tập, nhất là những bài thơ viết về chiến
tranh, loạn lạc chứng kiến cảnh “gơm giáo đầy mắt”, nỗi khổ binh đao vẫn
đeo đẳng muôn dân, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bộc bạch tấm lòng “tiên u” củamình “đến già cha thôi”
Lão lai vị ngải tiên u chí,
Đắc, táng, cùng, thông khởi ngã u.
(Tấm lòng lo trớc thiên hạ đến già cha thôi,
Cùng, thông, đắc, táng, ta có lo chi riêng mình)
(Tự thuật, Bài 3 - Bạch Vân am thi tập)
Điều đáng nói, trong thơ ông tấm lòng “tiên u” đã trở thành một sắc thái cảmxúc đợc nhắc đi, nhắc lại nhiều lần với những mức độ khác nhau Đó là nỗi lo
nớc đến “bạc đầu”: “Khu khu u quốc mẫn thành ty - Kh kh tấm lòng lo nớc mái tóc bạc nh tơ” (Trung Tân quán ngụ hứng, bài 10), có khi day dứt, dằn vặt
không thể nguôi ngoai:
Ưu thời thốn niệm bằng thuỳ tả,
Duy hữu hàn sơn bán dạ chung.
(Tấc dạ lo đời ai miêu tả,
Trang 40Chỉ có tiếng chuông chùa nửa đêm từ trên núi lạnh vẳng đến)
(Trung Tân quán ngụ hứng, Bạch Vân am thi tập)
Chính vì tấm lòng “u ái”, lo nớc thơng đời mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đãkhông quản ngại tuổi già để gắng gỏi theo nhà vua nhiều lần “tòng chinh” dẹploạn Trong những lần “gắng gỏi” ấy ông cũng đặt niềm tin vào ngày “khảihoàn” của nhà vua và tơng lai xán lạn của vơng triều mà mình đã phò tá
Thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn hớng về nhân dân, giành cho ngờidân lầm than khốn đốn vì chiến tranh, loạn lạc một vị trí quan trọng Đó làniềm cảm thông, thơng xót trớc nỗi khổ đau mất mát của những ngời dân lam
lũ, tội nghiệp Cái chí trong thơ ông là vậy
Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cha một lần phát biểu, hoặc trực tiếp hoặcgián tiếp quan niệm làm thơ hớng đến dân, vì dân nh Nguyễn Trãi trớc đó đãlàm, nhng khảo sát thơ ông số lần xuất hiện của từ “dân” không kém so vớithơ ức Trai, cả về thơ chữ Hán và chữ Nôm Điều này chứng tỏ, phải xuất phát
từ quan niệm, từ ý thức mang tính chất nhất quán mà quyết định cách lựachọn các phơng tiện từ ngữ để biểu đạt nội dung quan niệm Bởi vậy, có thểkhẳng định: con đờng hành đạo và thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ban đầukhông phải là để thoả mãn thú “nhàn” mà đợc đặt trên nền tảng vì dân, vì nớc.Chính vì thế mà tấm lòng lo nớc, thơng đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn h-ớng về nhân dân và “dành những tình cảm trong sáng, cao đẹp hớng về dânchúng” [39; 313]
Hớng về nhân dân, trớc hết thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánhchân thực tình cảnh loạn lạc khốn đốn của nhân dân trớc chiến tranh, loạn lạcqua đó bộc lộ niềm cảm thông, thơng xót
Lạc lạc can qua mãn mục tiền,
Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền.
Điên liên huề bão ta vô địa,
ái hộ căng linh bản hữu thiên.
(Giáo và mộc tua tủa bày ra đầy trớc mắt, Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn
Khốn đốn dắt díu nhau, thở than không có đất,
Thơng xót che chở cho, may thay còn có trời)
(Cảm hứng thi, Bài 3 - Bạch Vân am thi tập)
Thơ trung đại, đến Nguyễn Bỉnh Khiêm bức tranh hiện thực cuộc sốngcủa nhân dân lao động đợc phản ánh chân thực và rõ nét hơn cả Đặc biệt là
thơ viết về chiến tranh, loạn lạc Chỉ riêng trong chùm thơ “Cảm hứng”, cả sáu