Nếu Truyện Kiều đợc đánh giá là câu chuyện của ngàn tâm trạng “Máu rỏ đầu ngọn bút, nớc mắt thấm qua tờ giấy” Mộng Liên Đờng, thì thơ chữ Hán là thế giới tâm trạng con ngời trong đó bức
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Vinh
Phan Thị Hà
quan niệm thơ của Nguyễn Du
trong thơ chữ Hán
Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60.22.32
Luận văn thạc sĩ Ngữ văn
Ngời hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn
Vinh - 2006
Trang 2Mục Lục
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Chơng 1: Cơ sở văn hoá của sự ra đời thơ chữ Hán Nguyễn Du
1.1 Thời đại và gia đình Nguyễn Du
1.2 Cuộc đời và cá tính Nguyễn Du
1.3 Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du ở thơ chữ Nôm và
chữ Hán
1.4 Cơ sở văn hoá của thơ chữ Hán Nguyễn Du
Chơng 2: Quan niệm thơ của Nguyễn Du phát biểu trực tiếp
3.2 Thơ ca và khả năng phản ánh cuộc sống đời thờng
3.3 Thơ ca và đề tài quê hơng, gia tộc
3.4 Chủ điểm nhân vật lịch sử và con ngời bất hạnh
Kết luận
Trang
112910101113131621
2332
323946
51
5454
Trang 3Tài liệu tham khảo 61
7177100102
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhắc đến Nguyễn Du là ngời Việt Nam nhắc tới Truyện Kiều- đỉnh
cao nghệ thuật của văn học chữ Nôm nói riêng và kiệt tác của văn học Việt Nam nói chung, ghi dấu vị trí đặc biệt của Nguyễn Du trong đời sống văn học dân tộc Song, ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du còn có: Thác lời trai phờng Nón, Văn tế
sống hai cô gái Trờng Lu, Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu
hồn) và thơ chữ Hán Có thể thấy toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Nôm cũng nh
chữ Hán, đều chan chứa một tình yêu thơng đối với con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ Không phải chỉ Truyện Kiều, mà cả thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn đều góp
phần tạo nên một đại thi hào Nguyễn Du Nếu Truyện Kiều đợc đánh giá là câu
chuyện của ngàn tâm trạng “Máu rỏ đầu ngọn bút, nớc mắt thấm qua tờ giấy” (Mộng Liên Đờng), thì thơ chữ Hán là thế giới tâm trạng con ngời trong đó bức chân dung tự hoạ về Nguyễn Du hiện lên sắc nét với đầy đủ những nỗi niềm trớc cuộc đời dâu bể, là thế giới của những tấm lòng yêu thơng, ngợi ca con ngời, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách con ngời
1.2 Ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc
hành tạp lục giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của
Nguyễn Du Đây là những áng văn chơng trác tuyệt ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán Trung Quốc nữa Nhân kỷ
Trang 4niệm 240 năm năm sinh Nguyễn Du (1765 - 2005), Mai Quốc Liên đã nêu lên 9 hớng nghĩ tiếp về Nguyễn Du, trong đó:“Hớng thứ tám nghiên cứu những vấn
đề về thơ chữ Hán Nguyễn Du đặc biệt là Bắc hành tạp lục để thấy rõ một Thái
Sơn nữa trong văn học” [27;2] Khảo sát thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi thấy rằng trong đó đã bộc lộ rõ quan niệm về thơ và bản thân những vần thơ ấy cũng hé lộ quan niệm về thơ của Tố Nh Nguyễn Du không chỉ làm thơ mà ông còn bình thơ của ngời khác, bày tỏ quan điểm của mình về thơ nữa Chính điều này đã gợi mở cho chúng tôi tiếp cận vấn đề “Quan niệm thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”.
1.3 Sở dĩ thơ chữ Hán Nguyễn Du ẩn chứa tiềm năng vô tận về ý nghĩa, mang tính nhân văn sâu sắc là bởi những trang thơ ấy đợc viết ra từ sự ý thức sâu sắc và đúng đắn về vai trò, sức sống và sức mạnh của thơ ca Việc nghiên cứu “Quan niệm thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”, một mặt giúp chúng
ta hiểu hơn“Tài”, ”Tâm” của Nguyễn Du, mặt khác còn giúp chúng ta lý giải
đ-ợc sức sống và vị trí của những vần thơ chữ Hán trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Tố Nh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Sáng tác của Nguyễn Du nói chung và thơ chữ Hán nói riêng không thật đồ sộ về khối lợng, tuy nhiên số lợng những công trình nghiên cứu, những lời bình luận, đánh giá về nó thì hết sức lớn, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Song phần lớn những công trình nghiên cứu ấy đều hớng tới Truyện Kiều
Những công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán cha thật nhiều, cha thật tơng xứng với vị trí của thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du Tổng quan qua các bài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các tác giả tiếp nhận thơ chữ Hán của Nguyễn Du theo các hớng sau
2.1.1 Hớng thứ nhất: đi vào nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, bình giảng
giá trị nội dung và nghệ thuật trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Trang 5Hoài Thanh khám phá thế giới thơ chữ Hán Nguyễn Du bằng việc đi tìm
"Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán" Ông đã bị ám ảnh bởi tâm tình của Nguyễn Du gửi gắm trong thơ chữ Hán Ông cho rằng: "Trong tâm tình
ấy có một điểm khá rắc rối là thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại lần
l-ợt thay thế nhau từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX" [18;33] Từ chỗ khảo sát và phân tích một số bài thơ, Hoài Thanh đã chỉ ra thái độ của Nguyễn Du
đối với triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn: “Nguyễn Du quả thật có nhớ tiếc nhà
Lê và trong sự nhớ tiếc có một cái gì đau xót Tuy làm quan với nhà Nguyễn nhng ông vẫn không nguôi nhớ tiếc nhà Lê” [18;34] Theo nhận định này có thể thấy rằng thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại kế tiếp nhau lúc bấy giờ không lấy gì làm rõ ràng lắm Bên cạnh đó Hoài Thanh còn nhận ra trong tâm tình Nguyễn Du còn có tấm lòng của tác giả đối với những con ngời lao khổ, có cuộc đời éo le, bất hạnh Hoài Thanh đã khẳng định sự gặp gỡ tơng đồng giữa hai nhà thơ lớn của hai nền văn học khác nhau là Đỗ Phủ và Nguyễn Du ở họ
đều chan chứa một tấm lòng dành cho những con ngời bất hạnh và nghèo khổ
Tác giả Trơng Chính cũng nh Hoài Thanh đã đi tìm lời đáp cho câu hỏi: Thái độ của Nguyễn Du với các triều đại phong kiến hồi bấy giờ nh thế nào? Lấy cơ sở từ gia phả của họ Nguyễn Tiên Điền và đặc biệt tìm hiểu Nguyễn Du qua các bài thơ chữ Hán, Trơng Chính đã đi đến khẳng định: “Chí phù Lê chống Tây Sơn của ông không gì lay chuyển đợc” [18;98] Trả lời cho câu hỏi sau khi
ra làm quan với triều Nguyễn, Nguyễn Du còn nhớ nhà Lê nữa không, Trơng Chính đã không cùng quan điểm của Hoài Thanh Tác giả cho rằng “Có nhng
mà khác trớc nhiều Trớc kia, không những nhớ mà còn tính chuyện hành động
“phục quốc” gây dựng lại nhà Lê, chứ bây giờ thì, nói nh nàng Kiều đó là sự muôn năm cũ” [18;102]
Nguyễn Huệ Chi với bài viết "Thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du" đã nêu lên tơng đối đầy đủ những kiểu nhân vật xuất hiện trong thơ của Tố Nh: hình ảnh tự hoạ của chính tác giả, những con ngời có số phận cơ
Trang 6cực hẩm hiu và các nhân vật lịch sử Qua phân tích một số bài thơ ở cả ba tập thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Huệ Chi đã đi đến khẳng định trong thơ chữ Hán xuất hiện “hình tợng một con ngời đi trong bóng đêm dày đặc, hãi hùng, bị gió lạnh dồn cả vào mình, và cứ mong cho chóng sáng mà không thấy sáng, thật đã phản ánh đúng cái cảm nghĩ tuyệt vọng của Nguyễn Du về sự mất phơng hớng
Đấy không chỉ là hình ảnh tự hoạ chính xác nhất của nhà thơ mà còn là hình
ảnh của một ý nghĩa xã hội rộng lớn: tấn bi kịch lịch sử của chế độ phong kiến
ở giai đoạn cực kỳ thối nát, tan rữa” [18;65] Với nhân vật là những ngời nghèo khổ, bất hạnh hay các nhân vật lịch sử, Nguyễn Huệ Chi đã chứng minh dù viết
về đối tợng nào đi chăng nữa thì thi phẩm của Nguyễn Du vẫn thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo cao cả
Phạm Tuấn Vũ với bài viết "Nguyễn Du viết về các nhân vật lịch sử Trung Hoa" đã tổng kết nhà thơ Nguyễn Du viết về hơn 40 nhân vật lịch sử Trung Hoa Qua việc đi sâu phân tích những bài thơ Nguyễn Du viết về các nhân vật lịch sử nh Mã Viện, Chu Du, Khổng Tử, Tào Tháo, Khuất Nguyên, Kinh Kha, Dự Nhợng, Lu Linh, Dơng Quý Phi, tác giả bài viết làm bật nổi thái
độ của Nguyễn Du đối với các nhân vật này, và những suy nghĩ, trăn trở của một tấm lòng trớc cuộc đời Phạm Tuấn Vũ khẳng định: “Mặc dù Nguyễn Du viết về những nhân vật lịch sử - những ngời có hành trạng gắn với những sự kiện văn hoá lịch sử quan trọng của đất nớc Trung Hoa, nhng những bài thơ này cơ bản không phải là thơ vịnh sử Đây là thơ tâm sự của Nguyễn Du vì nổi bật nhất
là t tởng cảm xúc của nhà thơ chứ không phải các chân dung nhân vật lịch sử” [65;1]
Mai Quốc Liên trong "Lời mở đầu" cuốn sách Nguyễn Du toàn tập đã
nhận định: "Thơ chữ Hán là những bài thơ phần lớn là ngắn, theo thể luật Đờng, trong đó Nguyễn Du bộc lộ cái tôi trữ tình của mình, chất trữ tình ở đây hoà quyện với chất triết học, cho nên phần lớn thơ ở đây có thể gọi là thơ trữ tình triết học" [28;8] Chất trữ tình ấy đợc tạo nên phần lớn bởi những tâm sự của
Trang 7Nguyễn Du Tác giả đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng: “Tâm sự của Nguyễn Du vào thời điểm đó, lúc ông viết Thanh Hiên thì bất quá cũng nh tâm sự của bao
nhiêu nhà thơ cổ của Việt Nam và Trung Quốc dới các triều đại phong kiến suy tàn, xã hội loạn lạc Nghĩa là buồn chán, sầu mộng, bất lực và muốn đi ở ẩn, nghĩa là muốn lánh xa đời sống ô trọc để giữ lấy thanh cao trong nhân cách của mình Nhng ở Nguyễn Du thì cái đó có phần sâu sắc hơn, dằn vặt hơn và đợc nói ra thành thật hơn, xúc động hơn” [28;8] Mai Quốc Liên cũng đánh giá rất cao tập thơ Bắc hành tạp lục Ông xem đây là một “Thái Sơn” nữa trong sáng
tác của Nguyễn Du Với tập thơ này, tác giả cho rằng Nguyễn Du đã làm một việc phi thờng là bằng thơ ông đã đánh giá nền văn hoá Trung Hoa cổ đại, từ Tiên Tần cho đến Đờng Tống Tác giả khẳng định, Tố Nh đã phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội: từ các nhân vật lịch sử đến số phận con ngời, từ vấn đề
về văn chơng và số mệnh đến vấn đề tài và mệnh Dù đề cập đến phơng diện nào thì Nguyễn Du vẫn luôn nhạy cảm với nỗi đau khổ của con ngời bằng cái nhìn khoẻ khoắn và chứa đầy những ý tởng lớn
Cũng với t duy khái quát, Nguyễn Hữu Sơn với bài viết " Thơ chữ Hán Nguyễn Du - từ cõi h vô nhìn lại kiếp ngời" đã có cái nhìn tổng quan về nội dung của từng tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du Với Thanh Hiên thi tập,
Nguyễn Hữu Sơn nhận định: "Tập thơ bộc lộ nỗi niềm Nguyễn Du trong những tháng năm sống long đong, mất phơng hớng, mất lòng tin, thậm chí cả tâm trạng hoang mang vô vọng với nhiều những xót xa về thân phận "chân trời góc biển", "mối sầu man mác", "một nhánh cỏ bồng đứt gốc trớc gió tây", "ngời đã
đến bớc đờng cùng" Sống giữa thời buổi loạn ly, Nguyễn Du cảm nhận về…cuộc đời thờng nhật, về nỗi cửa nhà tan tác, ý thức về sự vô vị vô nghĩa của đời mình trớc thời gian đang qua mau và nỗi đơn côi" [45;7] Nguyễn Du là nhà thơ
có đợc một cách cảm nhận về cuộc đời của riêng mình, sớm có ý thức về số phận và sự tồn tại của mỗi thân phận con ngời trong cõi đời mong manh, chập chờn bất định Và cảm nhận ấy, ý thức ấy đã đợc Nguyễn Hữu Sơn cảm nhận
Trang 8khi tác giả đi vào tìm hiểu tập thơ Nam trung tạp ngâm Tác giả bài viết đã khái
quát "nỗi đau đời thơng đời tiếp tục theo đuổi ông trong những ngày ra làm quan và thể hiện bàng bạc trong tập thơ Nam trung tạp ngâm” Đặc biệt
Nguyễn Hữu Sơn đã đánh giá cao tập thơ Bắc hành tạp lục: "Tập thơ với số
l-ợng lớn, đề tài phong phú, có ý nghĩa kết tinh các giá trị nội dung nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du" [45;7]
Có thể thấy điểm gặp gỡ giữa hai nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên và Nguyễn Hữu Sơn là họ đã đánh giá cao và xem thơ chữ Hán có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
Nhìn chung ở hớng tiếp cận thứ nhất này, các tác giả đã đều cố gắng đi tìm và dựng lên chân dung Nguyễn Du một cách rõ nét: hình tợng tác giả tự biểu hiện qua nỗi niềm tâm sự, qua cái nhìn thái độ về cuộc đời và con ngời
2.1.2 Hớng thứ hai: tiếp cận thơ chữ Hán Nguyễn Du từ phơng diện văn
hoá
Có thể thấy rằng trong sáng tác của các tác giả văn học trung đại nói chung và ở Nguyễn Du nói riêng, ít nhiều đều in dấu ấn của t tởng Nho giáo,
Đạo giáo hay Phật giáo Thời trung đại Việt Nam là thời kỳ Nho-Phật-Đạo đều
có ảnh hởng sâu sắc tới đời sống t tởng của con ngời thời đại Do đó chúng ta thấy hiển hiện trong mọi lĩnh vực t tởng của Nguyễn Du, tất cả các sắc thái của triết học phơng Đông từ Nho giáo, Phật giáo đến Đạo giáo là điều bình thờng Nguyễn Thanh Tùng đã đi vào tìm hiểu quan hệ của Nguyễn Du và nhân sinh quan Đạo gia qua thơ chữ Hán Tác giả đã khẳng định nhân sinh quan Đạo gia
in dấu ấn sâu sắc trong t tởng và sáng tác thơ chữ Hán của Tố Nh Ông chỉ ra rằng Nguyễn Du đã vận dụng cái nhìn h ảo về cuộc đời và thái độ phủ nhận danh lợi, triết lý vô vi và quan điểm coi trọng sự thuần phác của tự nhiên, khát vọng "tiêu dao" và chủ trơng trở về thiên nhiên của Đạo gia Đó là những triết lý
có liên quan chặt chẽ đến quan niệm của Nguyễn Du về con ngời, cụ thể là quan niệm về số phận, về phẩm cách, về bẩm tính cá nhân, về tự do Đây là
Trang 9những suy nghiệm mà trớc hết Nguyễn Du vận dụng cho bản thân trong cách nhìn, cách hành xử với đời tơng đối nhất quán, xuyên suốt Dù có ảnh hởng
Đạo gia đi chăng nữa thì Nguyễn Du cố nhiên vẫn là một nhà nho, đợc đào tạo
từ "cửa Khổng, sân Trình" cho nên t tởng chủ đạo trong con ngời Nguyễn Du vẫn là Nho giáo Nguyễn Thanh Tùng đi đến kết luận sau khi đã chứng minh sự
ảnh hởng của Đạo gia: "Nhân sinh quan Đạo gia và Phật giáo ở Nguyễn Du có những điểm tơng đồng nhất định, nh quan niệm h ảo về cuộc đời, về danh lợi, quan niệm về chữ "thân", quan niệm về sự bảo tồn "thiên chân" Nhng nếu triết
lý Phật giáo (Đại thừa) đợc Nguyễn Du sử dụng để lý giải thân phận con ngời nói chung thì t tởng Đạo giáo lại đợc ông vận dụng cho riêng mình trong cách ứng xử với đời" [63;11]
Từ góc nhìn văn hoá có thể thấy Nguyễn Du rất am hiểu về văn hoá và văn học Trung Hoa Nguyễn Du đã tiếp nhận thành tựu của thi ca Trung Quốc trên quê hơng đất nớc mình Trong dịp đi sứ hơn một năm, ông đã có cơ hội đợc thể hiện khả năng thi ca của bản thân ngay trên mảnh đất đợc coi là nguồn mạch của dòng sông thi ca vừa lâu đời vừa rộng lớn Sự trở lại mảnh đất cội nguồn này Phạm ánh Sao gọi là "sự hoàn nguyên" của Nguyễn Du Trong cuộc hành trình "hoàn nguyên" đó Nguyễn Du đã có "đối thoại siêu thời gian" (chữ dùng của Phạm ánh Sao trong bài viết "Thơ đăng lãm của Nguyễn Du - cuộc
hoàn nguyên và đối thoại siêu thời gian") cùng với cổ nhân để kể câu chuyện buồn về thế sự và nhân sinh Phạm ánh Sao đã đi tìm những điểm tơng đồng và khả năng tiếp biến sáng tạo của Nguyễn Du qua đối sánh giữa hai bài thơ cùng viết về lầu Hoàng Hạc - một di tích lịch sử văn hoá đợc coi là “tam đại danh lâu” ở miền Nam Trung Quốc, giữa Nguyễn Du và nhà thơ Thôi Hiệu Từ đó Phạm ánh Sao nêu rõ: "Nguyễn Du không chỉ cho thấy, ông đã tiếp nhận đến mức nhuần nhuyễn nguồn tri thức văn hoá - văn học từ bên ngoài cho mình, hơn nữa bằng trái tim đầy lòng yêu thơng và trắc ẩn, ông còn khẳng định đợc nhân
Trang 10cách văn hoá và tài năng văn chơng của mình ở chính nơi đợc coi là ngọn nguồn của văn hoá, văn học mà ông từng tắm gội Thơ đăng lãm của ông đã cho thấy thái độ tiếp nhận trân trọng, tầm vóc tri thức uyên bác, khả năng tiếp biến và sáng tạo đặc biệt của ông" [44;10].
Nhìn chung, ở hớng tiếp cận từ góc nhìn văn hoá này, các công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán đều cho thấy Nguyễn Du là ngời có vốn văn hoá sâu rộng, không chỉ là văn hoá của con ngời và quê hơng ông mà còn là văn hoá của
đất nớc Trung Hoa rộng lớn, lâu đời Chính vốn văn hoá sâu rộng này đã giúp Nguyễn Du có đợc cơ hội vợt qua mọi ranh giới về thời gian và không gian để tiếng thơ của ông đến đợc với thế giới con ngời và cuộc sống rộng lớn hơn phạm vi lãnh thổ của dân tộc mình
1.3 Hớng thứ ba: bớc đầu đi vào tìm hiểu quan niệm thơ của Nguyễn Du
thông qua lời bình thơ của nhà thơ
Nguyễn Đăng Na là ngời chú trọng nhấn nhấn mạnh những lời bình thơ của Tố Nh về tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định Trong bài viết:
"Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo", ông đã trích dẫn
các bài thơ của Lê Quang Định có lời bình của Nguyễn Tố Nh Từ những lời bình này Nguyễn Đăng Na đã xem Nguyễn Du không chỉ là một đại thi hào mà còn là một ngời bình thơ sâu sắc
Trong bài viết này Nguyễn Đăng Na đã xem xét 16 bài thơ có lời bình của Ngô Lễ Khê và Nguyễn Du Đối sánh giữa lời bình của hai tác giả, Nguyễn
Đăng Na cho rằng đặc điểm nổi bật trong cách bình của Tố Nh là ông rất kiệm lời Số chữ mà Tố Nh dùng để bình một bài thờng rất ít, phần lớn chỉ bằng 1/5 Ngô Lễ Khê, thậm chí một số bài chỉ bằng 1/20 nh khi bình bài thơ Quá Khởi Kính than đề Mã Phục Ba từ (Qua thác Khởi Kính, đề đền thờ Mã Phục Ba)
Lời bình của Nguyễn Du cô đọng mà ý nhiều, thiên về nhận xét phong cách, khí cốt và chất thơ Từ những lời bình này, Nguyễn Đăng Na đã có đợc nhận định xuất phát từ quan niệm về thơ của Nguyễn Du: "Tố Nh thích lối thơ tự nhiên, có
Trang 11lực mà không phải dụng lực, ý sâu trầm lắng mà không thấy ngời cầm bút phải bơn bả truy tìm" [34;12]
Có thể thấy hớng tiếp cận này mang đến một hiệu quả nhất định Trớc hết
nó làm phong phú thêm hớng tiếp cận về tác phẩm cũng nh con ngời Nguyễn
Du Sau nữa, nghiên cứu kỹ các bài thơ đợc Tố Nh bình ta sẽ hiểu thêm khuynh hớng tình cảm và khuynh hớng sáng tác của Nguyễn Du
2.2 Qua những công trình nghiên cứu trên chúng tôi thấy rằng các tác giả đã dựng lên một cách đầy đủ và sắc nét chân dung Nguyễn Du; những lời tâm sự thấm đẫm nỗi đau của nhà thơ trớc bi kịch cuộc đời và thăng trầm của thời đại; tấm lòng nhân đạo xuất phát từ trái tim biết yêu thơng, trân trọng con ngời và từ “con mắt trông thấu sáu cõi” của Tố Nh; khẳng định vốn văn hoá sâu rộng của Nguyễn Du, sự tiếp biến sáng tạo vốn văn hoá từ bên ngoài vào để có
đợc những trang thơ rung động lòng ngời trong thơ chữ Hán
Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, cha có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu quan niệm về thơ, cũng nh các nhân tố văn hoá tạo nền cho sức sống thơ chữ Hán Nguyễn Du, từ đó có cái nhìn tổng quát quan niệm về thơ của
đại thi hào dân tộc Chính bài viết của Nguyễn Đăng Na "Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo" ở Hội thảo khoa học “Đại thi hào
Nguyễn Du danh nhân văn hoá thế giới”, đã góp phần khơi gợi vấn đề để chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu tìm hiểu quan niệm thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Luận văn sẽ hệ thống lại những công trình nghiên cứu để thấy đợc vị trí thơ chữ Hán và những quan niệm về thơ trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
3.2 Luận văn hớng tới giải quyết: thời đại, gia đình, cuộc đời, cá tính Nguyễn Du, cơ sở văn hoá của thơ chữ Hán để tìm ra những yếu tố có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành quan niệm thơ của Nguyễn Du
Trang 123.3 Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu: quan niệm về thơ của Nguyễn Du
đ-ợc bộc lộ trực tiếp (thơ ca là cái đẹp có sức sống trờng tồn; thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống và những trải nghiệm cá nhân; thơ khởi phát từ cảm xúc tự nhiên và thành thật) và gián tiếp qua hệ thống đề tài (thơ “ngôn chí”, thơ ca và khả năng phản ánh đời thờng, đề tài quê hơng gia tộc, chủ điểm nhân vật lịch sử và con ngời bất hạnh) …
3.4 Từ những nghiên cứu trên luận văn sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn những giá trị nội dung t tởng và quan trọng nhất là những cơ sở tạo nên sức sống cho sáng tác bằng chữ Hán của Nguyễn Du bên cạnh một đỉnh cao Truyện Kiều
Đồng thời chúng tôi cũng kỳ vọng những nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc vận dụng trong nghiên cứu, học tập và phục vụ công tác giảng dạy ở trờng phổ thông
4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Nguồn dẫn liệu mà chúng tôi khảo sát, nghiên cứu là thơ chữ Hán Nguyễn Du đợc in trong Nguyễn Du toàn tập (1996 - tập 1), Nhà xuất bản Văn
học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, do Mai Quốc Liên phiên âm, dịch nghĩa chú thích, với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiếp cận thơ chữ Hán Nguyễn Du, sẽ gặp nhiều vấn đề vừa phong phú vừa phức tạp Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này sẽ đi vào tìm hiểu những yếu tố, vấn đề liên quan đến quan niệm thơ của Nguyễn Du (thời đại, gia đình; cuộc đời và cá tính Nguyễn Du; quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du, cơ sở văn hoá của thơ chữ Hán Nguyễn Du); khảo sát và tìm hiểu quan niệm thơ của Tố Nh phát biểu trực tiếp trong thơ chữ Hán; quan niệm thơ qua hệ thống đề tài …
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 13Quan niệm về thơ của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán là đề tài liên quan
đến nhiều vấn đề: lịch sử, văn hoá, tác giả, thể loại văn học, vấn đề nghiên cứu không bó hẹp trong ba tập thơ chữ Hán mà còn liên quan đến các tác phẩm khác của đại thi hào và nhiều lĩnh vực khác nữa Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu
đặt ra, chúng tôi áp dụng những phơng pháp nghiên cứu sau:
Phơng pháp thống kê, tổng hợp nhằm tập hợp ý kiến của nhà nghiên cứu trong các bài viết, công trình khoa học, các sách chuyên khảo đã có để làm t liệu cho nghiên cứu đề tài Mặt khác để khảo sát, thống kê những tác phẩm thể hiện quan niệm thơ của Nguyễn Du
Phơng pháp so sánh, đối chiếu giúp chúng tôi nhận rõ quan niệm thơ của Nguyễn Du trong dòng chảy của thơ ca dân tộc Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp phân tích văn học, phơng pháp loại hình, phơng pháp tổng hợp và khái quát hóa…
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm các chơng sau:
Chơng 1: Cơ sở văn hoá của sự ra đời thơ chữ Hán Nguyễn Du
1.1 Thời đại và gia đình Nguyễn Du1.2 Cuộc đời và cá tính Nguyễn Du 1.3 Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du ở thơ chữ Nôm
và chữ Hán 1.4 Cơ sở văn hoá của thơ chữ Hán Nguyễn Du
Chơng 2: Quan niệm về thơ của Nguyễn Du phát biểu trực tiếp trong thơ chữ Hán
2.1 Giới thuyết về quan niệm sáng tác trong văn học trung đại2.2 Thơ ca là cái đẹp, có sức sống trờng tồn
2.3 Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống và những trải nghiệm cá
nhân
Trang 142.4 Thơ khởi phát từ cảm xúc tự nhiên và thành thật
Chơng 3: Quan niệm về thơ của Nguyễn Du qua hệ thống đề tài
3.1 Nguyễn Du và những vần thơ “ngôn chí”
3.2 Thơ ca và khả năng phản ánh cuộc sống đời thờng
3.3 Thơ ca và đề tài quê hơng, gia tộc
3.4 Chủ điểm nhân vật lịch sử và con ngời bất hạnh
chơng 1: cơ sở văn hoá của sự ra đời
Trang 15thơ chữ Hán Nguyễn Du 1.1 Thời đại và gia đình Nguyễn Du
1.1.1 Thời đại
Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn lịch sử
đầy biến động và chia cắt Chế độ phong kiến đàng ngoài bớc vào cuộc khủng hoảng suy vong Kinh tế suy sụp, sự sa đọa của các quan lại, cuộc sống của nông dân ngày càng khổ cực, lầm than, làm bùng lên các phong trào đấu tranh của nông dân rầm rộ, bùng khắp, lôi cuốn hàng chục vạn ngời tham gia Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Dơng Hng ở vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) năm
1738, tiếp đến là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phơng năm 1740, Nguyễn Hữu Cầu năm 1741, Hoàng Công Chất năm 1848 Tuy nhiên cũng nh các phong trào nông dân trớc đó, phong trào nông dân ở đằng ngoài giữa thế kỷ XVIII tuy rộng khắp, đông đảo, kéo dài nhng đều bị triều đình Lê - Trịnh dẹp yên
ở đằng trong, chế độ phong kiến cũng đi vào con đờng khủng hoảng, nội
bộ chia rẽ Tình hình xã hội bất ổn định, khó khăn, nhân dân rơi vào cảnh đói Từ năm 1771, trong khung cảnh đói kém, khổ cực đó, một cuộc khởi nghĩa đã bùng lên ở ấp Tây Sơn (Bình Định) Đứng đầu cuộc khởi nghĩa là ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ Với khẩu hiệu "Đánh đổ quyền thần Trơng Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Phúc Dơng" anh em Tây Sơn đã phát đi lời hịch với những câu "Trớc là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đãng giặc đật mu ngấp nghé Sau
là tới ma dầm khi hạn, kéo cùng dân ra chốn lầm than" Sau 15 năm đánh Nam dẹp Bắc, phong trào nông dân Tây Sơn đã hoàn thành đợc một sự nghiệp cha từng
có trong lịch sử dân tộc: đánh đổ 3 tập đoàn phong kiến đang thống trị, bớc đầu nối liền hai vùng đất nớc sau gần 200 năm chia cắt Tuy nhiên, phong trào Tây Sơn sau khi giành đợc thắng lợi huy hoàng đã không phát huy đợc vai trò tích cực của mình mà dần dần đi vào con đờng phong kiến hoá để cuối cùng thất bại trớc sức tấn công của tập đoàn phong kiến Nguyễn ánh có cơ sở xã hội trong tầng lớp
Trang 16đại địa chủ đàng trong, lại đợc sự viện trợ về quân sự của bọn T bản nớc ngoài Nguyễn ánh lên ngôi, thành lập triều đại nhà Nguyễn
Có thể thấy thời đại Nguyễn Du sống, những điều gọi bằng lẽ phải, bình yên không hiện ra trớc mắt Đấy là một thời kỳ giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau Tron đời sống t tởng của xã hội, từ mảng nhỏ của hệ thống giáo lý phong kiến cơ hồ bị tung ra, bị lật xáo đến tận gốc, tạo nên không ít những khủng hoảng tinh thần Chiến thắng hiển hách của khởi nghĩa nông dân, sự phục thù của nhiều thế lực phản động, sức vang động của những yêu cầu tự do và công
lý, việc lập trở lại một trật tự "bảo hoàng" vào bật nhất trong lịch sử dân tộc Tất cả những điều trái ngợc đó khiến cho không khí thời đại càng phức tạp với những nét tâm lý phấn khởi và tuyệt vọng, lạc quan và bi quan lẫn lộn của con ngời Trong khi Nguyễn Du đang xót xa tủi nhục cho tình cảnh "sẩy đàn tan nghé" của tập
đoàn phong kiến Lê - Trịnh, thì đồng thời cũng nghe tiếng sấm chiến công của Nguyễn Huệ phá tan 20 vạn quân Thanh; và rồi cũng chính giữa lúc nhà thơ cha kịp làm quen với sự có mặt của những con ngời "cờ đào áo vải" trong cơng vị những chủ nhân xã hội, thì ông lại sửng sốt nhìn thấy tấn bi kịch đổ vỡ của triều
đại Tây Sơn mà thấp thoáng phía sau là mu đồ "phục quốc”" của Gia Long
Quả tình, mọi biến cố đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVIII
đến đầu thế kỷ XIX ập vào Nguyễn Du một cách khá dồn dập làm cho ông nh sống trong một trạng thái choáng váng về t tởng và không phải dễ dàng tìm ngay đợc một lẽ sống, một chỗ đứng nào vững vàng, ổn định Ông là ngời không bao giờ hời hợt với mình và vì không hời hợt mà hoàn cảnh càng buộc nhà thơ không thể nghĩ những điều “đúc khuôn” sẵn Quan niệm thơ của Nguyễn Du vì thế không còn dừng lại theo cái “khuôn mẫu”, quy phạm của một thời mà vợt lên trên tất cả để đến gần với cuộc sống, số phận con ngời đặc biệt
là những con ngời bất hạnh, để đến đợc cái đích cao nhất mang giá trị nhân đạo sâu sắc, hớng con ngời tới những giá trị chân, thiện, mĩ
1.1.2 Gia đình
Trang 17Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình dòng dõi trâm anh Gia đình cũng
nh dòng họ Nguyễn Du có nhiều ngời làm quan dới triều Lê - Trịnh Ngời dân
địa phơng có câu ca dao nói về dòng họ này:
Bao giờ ngàn Hồng hết cây Sông Rum hết nớc họ này hết quan
Thời Lê sơ, họ Nguyễn của Nguyễn Du còn ở Thanh Oai, tỉnh Sơn Nam (nay tỉnh Hà Tây) đã có Nguyễn Thiến đậu trạng nguyên dới thời nhà Mạc, làm quan cho nhà Lê đợc lên đến Thợng th Bộ lại, Đông các đại học sĩ, đợc phong t-
ớc Th Quận công Nguyễn Miễn, ông tổ của họ Nguyễn làng Tiên Điền cũng đã từng làm quan cho triều Lê Đến đời Nguyễn Nghiễm, thân sinh Nguyễn Du vào năm 1771 đợc thăng Đại t đồ, sau đợc vời giữ chức quan Tham tụng, rồi đổi làm Thợng th bộ hộ Khi Nguyễn Nghiễm qua đời, ông đợc truy tặng tớc Huân dụ
Đô hiếu đại vơng, Thợng đẳng phúc thần Anh Nguyễn Khản làm quan dới triều
Lê - Trịnh Bản thân Nguyễn Du cũng là một ông quan dới triều Lê Mẹ Nguyễn
Du, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm là Trần Thị Tần (24/8/1740 - 27/8/1778) cũng là con gái một ngời làm chức câu kê
Hơn thế nữa, gia đình, dòng họ đã sinh ra Nguyễn Du còn có truyền thống về văn chơng Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du là một nhà triết học, một nhà thơ Thân phụ Nguyễn Nghiễm vừa là sử gia, vừa là nhà thơ Nguyễn Khản, anh cả Nguyễn Du là ngời giỏi thơ Nôm Nguyễn Đề, anh cùng mẹ với Nguyễn Du, Nguyễn Thiện, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, Nguyễn Hành
em ruột Nguyễn Thiện đều là nhà thơ, nhà văn cả
Sống trong gia đình nh thế, hồn thơ của Nguyễn Du tựa hồ có trong huyết quản, chảy từ thế hệ cha ông mà đến Nguyễn Du thì thăng hoa tuyệtđỉnh Gia
đình đã nuôi dỡng khả năng thơ ca trong con ngời Tố Nh và cũng vì sống trong gia đình nh thế Nguyễn Du phải chứng tỏ bản lĩnh văn chơng để tôn vinh dòng
họ, gia đình
Trang 18Sống trong môi trờng gia đình ấy, Nguyễn Du có một nhãn quan đặc biệt nhạy cảm Một gia đình phong kiến điển hình mà Nguyễn Du đã lớn lên trong
đó đã giúp ông nhìn nhận, đánh giá thực chất cuộc sống ở chốn quan trờng, đời sống của giai cấp phong kiến Cũng tại nơi đây Nguyễn Du đã đợc trang bị đầy
đủ t tởng, suy nghĩ,đạo đức của một nhà nho Cùng với sự bể dâu của thời đại là
sự "tan đàn sẻ nghé" của gia đình đại quý tộc này Nguyễn Du đã phải rời xa gia
đình để sống "chân trời góc bể" nhng chính gia đình đã sinh ra ông đã góp phần tạo nên một Nguyễn Du thi hào lớn của dân tộc
1.2 Cuộc đời và cá tính Nguyễn Du
1.2.1 Cuộc đời
Cuộc đời Nguyễn Du có thể ví nh một bức tranh đợc tạo nên bởi những mảng màu tối sáng đậm nét và dày đặc Những năm tuổi nhỏ mảng màu ấy là mảng màu sáng bởi ông sống trong nhung lụa của một cuộc đời quý tộc giàu sang Nhng mảng mà sáng ấy nhanh chóng bị mảng màu tối thay thế Những biến cố của thời đại, gia đình đã đẩy nhà thơ ra giữa bão táp của cuộc đời Lên
10 tuổi Nguyễn Du mồ côi cha lẫn mẹ Bốn anh em cùng mẹ với Nguyễn Du cha ai đến tuổi trởng thành, gia đình bên ngoại không phải nơi quyền quý nên anh em phải đến ở với ngời anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản, bấy giờ đang làm Tả thị lang Bộ hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây Nhng chỉ vài năm sau địa vị của Nguyễn Khản cũng lao đao, nghiêng ngửa Năm 1780 xảy ra “Vụ mật án Canh Tý” Nguyễn Khản bị cách chức và bị giam Đến khi Trịnh Tông lên ngôi chúa,
ông đợc nhắc lên chức Lại bộ thợng th rồi thăng Tham tụng Nhng kiêu binh không phục, nổi lên chống lại, kéo đến phá nhà, toan giết Nguyễn Khản Ông trốn vào phủ chúa rồi cải trang chạy lên Sơn Tây, sau đó trở về quê nhà Hà Tĩnh Thời gian đầy biến động này Nguyễn Du còn đang đi học Năm 1784 lúc này Nguyễn Du 19 tuổi, ông đi thi hơng ở trờng Sơn Nam, đậu tam trờng Bớc chân vào đời, vì không đỗ cao, nhà thơ chỉ đợc kế chân ông bố nuôi họ Hà mà giữ một chức quan võ Nhng uy quyền của vua Lê chúa Trịnh đến lúc này nh cái
Trang 19cây mục chỉ chờ một trận gió nhẹ là đổ Năm 1786 quân Tây Sơn ra Bắc Hà, các danh tớng Bắc Hà theo nhau bỏ chạy Nghe quân Tây Sơn Bắc tiến Nguyễn Khản vợt mành ra Bắc giúp chúa, phò vua nhng cuối cùng chẳng làm đợc gì rồi cảm bệnh mà chết (1786) Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Chiêu Thống và một lũ thân thần chạy theo Tôn Sĩ Nghị về ải Nam Quan Hai anh em cùng mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Đề, Nguyễn ức cùng với ông chạy theo Lê Chiêu Thống nhng không kịp Nguyễn Du một mình trở về quê vợ ở Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình) sống nhờ nhà ngời anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, lúc này đã ra cộng tác với Tây Sơn và đang giữ chức Thị lang bộ lại Sau một thời gian Nguyễn Du quay về sống ở quê nhà Hà Tĩnh Năm 1796 nghe tin ở Gia
Định, Nguyễn ánh hoạt động mạnh, Nguyễn Du lên đờng vào Gia Định theo Nguyễn ánh Cha đi khỏi địa phận Nghệ An, Nguyễn Du bị quân Tây Sơn bắt giam ba tháng Sau vì Quận công Nguyễn Thận là bạn của Nguyễn Đề, lại mến tài Nguyễn Du nên tha cho Nguyễn Du lại trở về Tiên Điền sống một thời gian khá dài
Những năm Nguyễn Du về lại Tiên Điền, cơ nghiệp nhà họ Nguyễn đã không còn gì Ông sống trong cảnh bần hàn, thiếu thốn đủ điều Nguyễn Du sống ở Hồng Lĩnh cho đến đầu mùa thu năm 1802, bấy giờ Gia Long đã lật đổ triều đại Nguyễn Quang Toản để làm vua Tháng 8 năm đó, ông đợc bổ làm Tri huyện Phù Dung (thuộc Khoái Châu, Sơn Nam, nay là tỉnh Hng Yên) Đến tháng 11 ông lại làm Tri phủ Thờng Tín Sang năm sau Nguyễn Du đợc thăng
Đông các điện học sĩ, phong tớc Du Đức hầu Năm 1807, ông đợc cử làm giám khảo trờng thi hơng ở Hải Dơng ,đến năm 1809 đợc làm cai bạ Quảng Bình Năm 1813 Nguyễn Du đợc thăng Cần chánh điện học sĩ và đợc cửa làm Chánh
sứ đi Trung Quốc Năm 1820 Minh Mệnh lên ngôi, định cử Nguyễn Du làm chánh sứ sang Trung Quốc lần nữa để cầu phong nhng cha kịp đi thì ngày 10/8/1820 ông mất đột ngột trong một nạn dịch ghê gớm làm chết hàng vạn ng-
ời
Trang 20Hành trình một đời ngời với 66 năm không ngắn ngủi nhng cũng cha đợc coi là dài nhng lại đầy bão dông và thăng trầm Dù có đợc may mắn sinh ra trong một gia đình quý tộc nhng Nguyễn Du vẫn không đợc hởng trọn vẹn cái sung sớng giàu sang của cuộc sống ấy Là con vợ lẽ, lại sớm mồ côi cha mẹ khi gặp thời tao loạn, ông đã phải sống gian truân và khó nhọc, thậm chí bế tắc trong niềm tin và lý tởng Giống nh Đỗ Phủ, Nguyễn Du luôn luôn phải đối mặt với nợ áo cơm "Thập tải phong trần" ở quê vợ Thái Bình, đến những tháng năm sống ở quê nhà hay ngay cả lúc ra làm quan cho triều Nguyễn, ông khốn khó trong cảnh nghèo, bệnh tật, có lúc ốm không có thuốc Nhng chính cuộc đời này đã đa Nguyễn Du từ tầng lớp quý tộc, xuất thân từ giai cấp phong kiến vợt
ra khỏi địa vị giai cấp của mình để đến gần với cuộc sống của nhân dân, cuộc sống của những con ngời lầm than, cơ cực Trong thế giới thơ chữ Hán Nguyễn
Du vì thế luôn luôn hiện lên một Nguyễn Du không đứng trên lập trờng đạo đức chính thống của một nhà nho để xem xét đánh giá các vấn đề mà với lập trờng nhân sinh nhân đạo lên án hay ngợi ca, mỉa mai hay cảm thơng cho mọi số phận, mọi cuộc đời
Cuộc đời Nguyễn Du là cả một câu chuyện dài đầy biến cố: có nỗi đau vì nghèo đói bệnh tật, có cô đơn vì lênh đênh đất khách quê ngời, có bế tắc mất phơng hớng; có vinh hiển trong con đờng quan lộ về sau Những biến cố đó đợc ứng xử qua tâm hồn đa cảm, một trí thông minh bộc lộ từ sớm, một vốn văn hoá uyên thâm, một tính cách tài hoa đôn hậu ở Nguyễn Du nên tất cả đều trở thành thơ ca rung động con ngời Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, hiển hiện giữa những dòng thơ là một con ngời luôn sống trong tâm trạng buồn lo, bức bách về sinh
kế, công danh, thân thế nhng vẫn giữ đợc vẻ đẹp thanh tịnh trong sáng của cõi lòng mình Nguyễn Du vĩ đại ở chỗ dù bản thân bộn bề với nhiều nỗi niềm cá nhân trắc ẩn nhng lúc nào ông vẫn giành trọn trái tim hớng tới thế giới rộng lớn bên ngoài, đau nỗi đau tình ngời sâu sắc Chính cuộc đời Nguyễn Du, tấm lòng Nguyễn Du đã tạo cho ông một vốn sống phong phú, chiêm nghiệm sâu sắc về
Trang 21cuộc đời Đây là cơ sở quan trọng để hình thành ở Nguyễn Du một quan niệm thơ gần với cuộc sống, gần với con ngời và mang tính nhân văn sâu sắc.
Về huyết thống, tức tính trời, Nguyễn Du thuộc đẳng cấp văn thân (nho sĩ
th lại), nòi văn chơng tình chủng (điều này có cả ở Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản) Về nết đất, trớc hết là xứ Nghệ quê cha, một vùng sông núi hùng vĩ, dân
c bền bỉ, kiên cờng, ham sống, giàu tâm huyết Sau đó là đất Bắc Ninh quê mẹ
có bề dày văn hoá, giàu chất quan họ trữ tình Kết tinh hai vùng đất ấy, Nguyễn
Du vừa cứng cỏi, bền tâm với mục đích, vừa yếu mềm đa sầu đa cảm Còn thời
đại Nguyễn Du đợc đặc trng bởi loạn lạc, sự suy sụp của những giá trị Nho giáo, của lớp nho sĩ th lại, sự lên ngôi của đẳng cấp quan binh T tởng bi quan vì thế bao trùm thời đại
Tuổi ấu thơ còn là một yếu tố tạo nên cá tính Nguyễn Du Mồ côi cha mẹ sớm, ông phải sống với Nguyễn Khản anh cùng cha khác mẹ Nhng rồi cuộc đời Nguyễn Du cũng nh đại gia đình ông, cũng nh đẳng cấp nho sĩ th lại, nhanh chóng sụp đổ ấn tợng về sự thay đổi đột ngột của hoàn cảnh ám ảnh ông suốt
đời Điều này thể hiện và in đậm dấu ấn trong sáng tác của nhà thơ:
Kìa những kẻ màn lan trớng huệ, Những tởng mình cung quế hằng nga.
Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu
(Văn chiêu hồn)
Trang 22ông trở thành đa tình, thuộc nòi tình Nguyễn Du, con ngời thông minh, tài tử
ấy muốn hoá giải mặc cảm tớc đoạt "bằng một hành trình tìm kiếm sự hài hoà trong t tởng và nghệ thuật Nguyễn Du đã tìm sự hài hoà giữa ba tôn giáo, ba hệ
ý thức t tởng lớn của thời đại lúc bấy giờ Nho - Phật - Giáo" (Đỗ Lai Thuý) [61;343] Trong thơ chữ Hán Nguyễn Du có rất nhiều bài thơ thể hiện t tởng Phật giáo và nhiều bài thơ thể hiện t tởng của Lão Trang
Có thể khẳng định với cá tính này, "Nhà nho tài tử", Nguyễn Du sẽ có một quan niệm về sáng tạo nghệ thuật cởi mở và “tài tử” nh con ngời ông, cá tính ông
1.3 Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du ở thơ chữ Nôm và chữ Hán
Giống với một số nhà thơ nổi tiếng cùng thời nh Hồ Xuân Hơng, Phạm Thái, Cao Bá Quát quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du diễn ra ở cả thơ chữ Nôm lẫn thơ chữ Hán ở lĩnh vực nào Tố Nh cũng khẳng định đợc vị trí tôn kính và phong cách nghệ thuật riêng của mình trong đời sống văn học dân tộc
Trang 231.3.1 ở thơ chữ Nôm, Nguyễn Du để lại cho hậu thế bài vè Thác lời trai phờng Nón, Văn tế sống hai cô gái Trờng Lu, Văn chiêu hồn và đỉnh cao là
kiệt tác Truyện Kiều
Thác lời trai phờng Nón viết bằng thể lục bát gồm 34 câu, tác giả nhập
vai ngời con trai phờng Nón ở làng Tiên Điền bày tỏ nỗi nhớ ngời yêu là cô gái phờng vải ở làng Trờng Lu
Văn tế sống hai cô gái Trờng Lu viết theo thể phú gồm 100 liên Đây là
bài văn tế đùa cợt, viết khi nghe tin hai cô gái từng quen thân trong dịp hát ví
đầu xuân, nay đi lấy chồng Thác lời trai phờng Nón và Văn tế sống hai cô gái
Trờng Lu là hai sáng tác "có thể thuộc vào những sáng tác Nôm sớm nhất của
Nguyễn Du, cho thấy đôi nét về ông trong các giao tiếp dân gian, bộc lộ khả năng thâm nhập và tiếp nhận các phơng thức và chất liệu của sinh hoạt văn hoá dân gian, khả năng thử nghiệm ngôn ngữ địa phơng Nghệ Tĩnh vốn không thật quen thuộc với ông (vốn sinh ra và lớn lên ngoài Bắc) " (Lại Nguyên Ân) [1;363]
Văn chiêu hồn, đợc Nguyễn Du viết theo thể song thất lục bát, gồm 148
câu Văn chiêu hồn là bài văn tế điểm gọi oan hồn về đàn giải thoát tiết đầu thu
để nhờ đức Phật từ bi gia hộ Oan hồn là những kẻ tranh hùng xng bá, những hoàng phi, mĩ nữ; những kẻ quyền qúy "mũ cao áo rộng" nắm quyền sinh quyền sát trong tay, gây nên bao nỗi oan khốc, oán thù; những kẻ binh nhung chí khí làm biến động cả xã hội, coi mạng ngời nh cỏ rác; những kẻ sĩ tử từ bỏ quê h-
ơng lân la chốn thị thành mỏi mòn vì công danh; những kẻ hành khất; những kẻ
tù oan Những oan hồn ấy "mỗi ngời một nghiệp khác nhau" nhng ở cõi âm, tất cả đều chung cảnh "hồn xiêu phách lạc" thất thiểu, lạc loài, khi mặt trời tắt thì dắt díu nhau sờ soạn trong sơng dới đất, lúc đêm tà nghe gà gáy thì kinh hoàng
"kiếm đờng lánh ẩn" Qua tác phẩm, Nguyễn Du bộ lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình trong những lời ca tụng Phật pháp nhiệm màu "cứu khổ, độ u" và
"hữu tình từ bi phổ độ" cho những oan hồn lạc lõng, cho mọi kiếp chúng sinh
Trang 24Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ viết bằng thể lục bát gồm 3.254 câu
Nó đợc xem là tập đại thành của văn học cổ Việt Nam, là sự thể hiện tập trung nhất, xúc động nhất và cũng thành công nhất "nỗi đau nhân tình” của Tố Nh
Đồng thời Truyện Kiều còn đợc xem là "Một khúc nam âm tuyệt xớng" (Đào
Nguyên Phổ) [30;419].Với kiệt tác này Nguyễn Du đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại ông lên đỉnh cao chói lọi, và Nguyễn Du cũng xứng đáng là bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc
1.3.2 Bên cạnh những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, thơ chữ Hán Nguyễn Du giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông và cả trong hành trình nhiều thế kỷ của thơ chữ Hán dân tộc
Thơ chữ Hán gồm ba tập Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, đợc sáng tác tơng ứng với ba đoạn đờng đời của Tố Nh
Theo thống kê của Mai Quốc Liên trong Nguyễn Du toàn tập (Tập 1)
[28], Thanh Hiên thi tập gồm 67 đề mục với 78 bài Đây là tập thơ đợc làm từ
lúc Nguyễn Du về Quỳnh Côi , tỉnh Thái Bình lánh nạn cho đến lúc ra làm quan cùng nhà Nguyễn ở Bắc Hà, tức từ khoảng năm 1786 đến 1804
Nam trung tạp ngâm gồm 27 đề mục với 40 bài, đợc làm từ lúc Nguyễn
Du vào Quảng Bình và Huế, tức từ khoảng 1805 đến 1812
Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục với 120 bài đợc làm trên hành trình
đi sứ Trung Hoa của nhà thơ, tức vào năm 1813
Với 238 bài thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã hớng tới nhiều đề tài khác nhau,hình tợng nghệ thuật phong phú,với cái nhìn đa chiều về nhân tình thế thái, bằng cảm xúc mãnh liệt và tấm lòng "nghĩ suốt ngàn đời"
Nhìn chung dù sáng tác bằng chữ Nôm hay chữ Hán thì tác phẩm của Nguyễn Du vẫn thấm đẫm giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc Nó đánh dấu và ghi nhận một tài năng thơ ca tuyệt đỉnh của Nguyễn Du để ông xứng
đáng là đại thi hào của dân tộc Việt Nam
1.4 Cơ sở văn hoá của thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trang 25Sáng tác của Nguyễn Du không nhiều về số lợng nhng có vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học, văn hoá dân tộc Những tác phẩm này có mối quan hệ mật thiết với cơ sở văn hoá tạo nên nó Từ Truyện Kiều đã nảy sinh
những hình thức sáng tạo văn học, văn hoá khác nhau: thơ ca về Truyện Kiều,
các phong tác Truyện Kiều về sân khấu; rất nhiều những dạng thức của nghệ
thuật dân gian: đố Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều Còn với sáng tác chữ Hán, tuy không có đợc cái địa vị nh Truyện Kiều nhng in dấu đậm trong sự nghiệp của nhà thơ Thơ chữ Hán Nguyễn Du ra đời là sự tiếp bớc truyền thống thơ chữ Hán của Việt Nam từ nhiều thế kỷ, với những tên tuổi lớn nh Nguyễn Trải ( thế kỷ XIV ), Nguyễn Bỉnh Khiêm ( thế kỷ XV ), Đặng Trần Côn ( thế kỷ XVIII ), Lê Quý Đôn ( thế kỷ XVIII ) Bằng sự trải nghiệm, học vấn, vốn văn hoá sâu rộng, tài năng thơ ca xuất chúng, Nguyễn Du đã sáng tạo ba tập thơ chữ Hán và khẳng định sự phát triển không ngừng của thơ chữ Hán dân tộc Tác phẩm Tố Nh kết tinh đợc
vẻ đẹp của những giá trị văn hoá nh: các thể thơ tự tình và chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam cuối thể kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX, để truyền tải đợc cái
đều thể hiện sự đề cao chữ “tình” hơn là chữ “chí”
Ngâm khúc hình thành vào khoảng thế kỷ XVIII chủ yếu trong văn học chữ Nôm, với một loạt các tác phẩm nh: Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải, Ngoạ Long cơng vãn và T Dung vãn của Đào Duy Từ, Ai t vãn của Lê Ngọc
Hân, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (ngời viết nguyên tác chữ Hán), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ
Tuy đợc gọi bằng những tên khác nhau nh "khúc", "vãn", "ngâm", "ngâm khúc"
Trang 26nhng những tác phẩm thuộc thể tài này có một số đặc điểm chung "là tác phẩm trờng thiên, thờng dùng thể song thất lục bát, trong tác phẩm có yếu tố tự sự (đôi khi có đờng nét của một cốt truyện sơ lợc) nhng yếu tố trữ tình là chủ đạo
và bao trùm Loại tác phẩm này thờng diễn tả những tình cảm có sắc thái trầm t, buồn bã, có khi đau thơng, bi luỵ nhng bao giờ cũng còn hy vọng nào đó bộc lộ
ở đoạn kết"(Lại Nguyên Ân) [2;313] Sự hình thành và phát triển thể tài ngâm khúc cũng tơng ứng với sự định hình thể thơ song thất lục bát, làm bộc lộ khả năng nghệ thuật riêng của thể thơ này "Nó không đa năng nh lục bát, ít thuận lợi khi đợc dùng chỉ để kể chuyện, nhng lại đặc biệt thích hợp cho việc thể hiện thế giới tâm trạng u trầm, dằn vặt, triền miên của con ngời" [2;313] Có thể thấy ngâm khúc có nhiệm vụ phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận Ngâm khúc đã phát triển đến tột độ khả năng tự tình của thơ trung đại
Nếu nh ngâm khúc thể hiện con ngời cô đơn, đau xót, đi tìm những giá trị của mình đã mất thì thể hát nói, một thể thông dụng gắn với lối hát ca trù lại thể hiện một con ngời tài tử thoát vòng cơng toả, thoát sáo, thoát tục luỵ, danh lợi, nắm lấy khúc vui hiện tại.Xét về hình thức: “Thể thơ hát nói là thể thất ngôn biến cách, hoặc có thể coi là biến thể của lục bát và song thất lục bát Một bài hát nói đủ khổ gồm 11 câu thơ chia thành 6 khổ thơ: 1 Khổ nhập đề: câu 1 và 2
mở bài; 2 Khổ xuyên tâm: câu 3 và 4; 3 Khổ đau: câu 5 và 6 là hai câu thơ chữ Hán (hoặc Nôm) có ý chính của bài hát; 4 Khổ xếp: câu 7 và 8 hát mau; 5 Khổ rải: câu 9 và câu 10 hát chậm rãi; 6 Khổ kết: câu 11 tóm tắt ý toàn bài” (Lại Nguyên Ân) [2;170] Với thể hát nói mặc dầu quy định về số câu, số khổ, gieo vần nhng vẫn có sự phá cách Ngoài các bài đủ khổ còn có các loại bài thiếu khổ hoặc khổ đôi ở gieo vần ngoài quy định nhất thiết phải bắt đầu là một vần chân trắc, đến 2 vần chân bằng, 2 vần chân trắc và tận cùng bài thơ là chân bằng thì bài thơ thể hát nói thờng dùng cả vần chân (cớc vận) lẫn vần lng (yên vận)
Có thể thấy ở thể loại này cảm hớng của ngời viết đợc bộc lộ một cách phóng túng Chính sự phóng túng trong cảm hứng đã tạo cho thể hát nói cấu tạo phá
Trang 27cách (pha trộn lời Hán với lời Việt, pha trộn giữa các thể thơ, số lợng câu chữ không cố định).
Cùng với ngâm khúc, hát nói, truyện thơ Nôm là một thể loại sáng tác bằng tiếng Việt (chữ Nôm) phát triển mạnh từ thế kỷ XVIII và suốt thể kỷ XIX
Nó phát triển trong xu hớng "Diễn Nôm - dùng tiếng Việt chủ yếu là để diễn đạt những nội dung tự sự khác nhau, đây là một trong những xu hớng ngày càng mạnh ở văn học trung đại Việt Nam Kết quả là những nguồn tựu sự có bản chất thẩm mỹ và văn hoá khác nhau đã hội tụ ở truyện thơ Nôm"(Lại Nguyên Ân) [2;665] Đó là nguồn tự sự lịch sử gồm huyền sử, dã sử, truyền thuyết; nguồn tự
sự tôn giáo; nguồn tự sự xã hội
Truyện thơ Nôm đợc giới thiệu nghiên cứu phân chia bằng một số thuật ngữ ớc lệ, thành “truyện Nôm khuyết danh” và “Truyện Nôm hữu danh” hoặc
“Truyện Nôm bình dân” và “Truyện Nôm bác học” Khuyết danh là để trỏ những tác phẩm không xác định đợc tác giả Bình dân là để trỏ tính đại chúng của tác phẩm, cùng mức độ chất lợng ngôn ngữ nghệ thuật tơng đối thấp của nó Bác học là trỏ những nét khiến tác phẩm gần với bộ phận văn học chữ Hán, tác phẩm hớng về chuẩn nghệ thuật tơng đối cao
Truyện Nôm bác học, theo phân loại ớc lệ nêu trên thờng có tên tác giả (trừ một vài tác phẩm nh Nhị độ mai ) Họ thờng là quý tộc, quan lại, danh
gia Phần lớn tác phẩm đợc viết theo cốt truyện của những tác phẩm cổ và trung
đại Trung Hoa Đề tài phổ biến của truyện Nôm bác học là tình yêu của các tài
tử giai nhân, loại tình yêu tự do, ít nhiều vợt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến, đợc mô tả nh một phơng diện thể hiện khát vọng tự do của con ngời ở
đỉnh cao và kết tinh của truyện Nôm nh Truyện Kiều có thể thấy từ một truyện
giai nhân tài tử, vơn tới việc nêu lên, đặt ra những vấn đề xã hội và nhân văn rộng lớn nh quyền sống của con ngời trớc thực trạng bất công và tệ đoan xã hội, lên tiếng tố cáo các thế lực đen tối trong xã hội
Trang 28Nếu xét theo thể thơ đợc dùng để sáng tác, ngời ta phân biệt hai thể loại: truyện thơ Đờng luật và truyện thơ lục bát Truyện thơ Nôm viết theo thể lục bát
là một thành tựu lớn của nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt thời trung đại Nó đánh dấu bớc phát triển phong phú của ngôn ngữ tiếng Việt
Nếu ngâm khúc phơi trải tấm lòng đau xót, sầu tủi, tiếc hận với một trờng
độ dài, dung lợng tác phẩm tơng đối, thì thơ Nôm Đờng luật thờng diễn tả một khoảng khắc tâm trạng, hoặc một cảm xúc nào đó của nhà thơ trớc cuộc sống Dung lợng hạn chế và cách luật chặt chẽ nhng các nhà thơ Nôm sáng tác bằng thể thơ Đờng luật vẫn gặt hái đợc những thành tựu đáng kể Thơ Nôm Đờng luật cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX có một bớc phát triển cao Đặc biệt nhất, với phong cách thơ độc đáo không lặp lại lần thứ hai trong lịch sử văn học nớc nhà,
Hồ Xuân Hơng đã thổi vào trong thơ Nôm Đờng luật một luồng sinh khí mới Đó
là một tiếng thơ vừa thanh lại vừa tục, vừa trang trọng lại vừa nôm na bình dị
nh-ng quan trọnh-ng nhất tiếnh-ng thơ của nữ sĩ Xuân Hơnh-ng luôn luôn lấp lánh tiếnh-ng nói nhân đạo đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, bênh vực, tôn vinh, khẳng định giá trị và nhân phẩm của ngời phụ nữ trong một xã hội đầy bất công, đầy những bi hài kịch
Ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du đợc sáng tác phần lớn là thơ luật, cận thể, hoặc cổ thể, câu thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn Bài thơ thờng là bát cú, đôi khi là tứ tuyệt Một số bài đợc viết theo thể hành (Ký mộng, Sở kiến hành ), có
bài theo thể từ (Hành lạc từ- I, II ).
Nh vậy xét từ hình thức thể thơ, thơ chữ Hán Nguyễn Du là sự kế thừa và phát huy truyền thống thơ Đờng luật của ông cha ta
Xét về nội dung, cảm xúc, thơ chữ Hán Nguyễn Du là sự phơi mở và bộc bạch tâm trạng, cách nhìn nhận, đánh giá về cuộc sống xung quanh của thi nhân tơng ứng với ba đoạn đờng đời của ông Nguyễn Du cũng nh Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát đều gặp nhau ở một điểm: thơ đều đề cao cái tình Ngay cả trong những vần thơ “ngôn chí” của mình, Nguyễn Du cũng nói chí
Trang 29bằng những vần thơ đầy tâm trạng Ông không tập trung làm nổi bật “chí làm quan” mà chủ yếu bộc lộ thái độ, cách đánh giá của bản thân về danh lợi nỗi niềm buồn chán và tù túng khi phải bó buộc trong chốn quan trờng
1.4.2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du kết tinh vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân văn trong văn học nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Lại Nguyên Ân xác định: “ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn (còn gọi là chủ nghĩa nhân đạo) là toàn bộ những t tởng, quan điểm, tình cảm, quý trọng các giá trị ngời nh trí tuệ, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần, mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con ngời về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại” [2;74] Thế giới đợc sáng tạo trong văn học nghệ thuật, là thế giới mà trong đó con ngời luôn luôn
đấu tranh chống lại mọi thế lực thù địch xuất hiện dới mọi hình thức, để khẳng
định quyền năng và sức mạnh của mình, đồng thời để thể hiện khát vọng làm ngời mãnh liệt và cao đẹp Lòng yêu thơng, u ái, cảm thông đối với con ngời và thân phận của họ từ trớc đến nay vẫn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà văn, nghệ sĩ trong cảm hứng sáng tạo ngôn từ
Có thể thấy sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn phục hng là một bớc ngoặt quan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và tự ý thức của nhân loại Bắt
đầu từ đây, trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa nhân văn từng bớc gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng con ngời về các phơng diện chính trị - xã hội và các phơng diện khác thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống Nó trở thành lý t-ởng thẩm mỹ, có sức định hớng cho những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật và quy
định bản chất của mỗi nền văn học nghệ thuật
Cùng với chủ nghĩa yêu nớc, chủ nghĩa nhân văn đã trở thành giá trị nổi bật xuyên suốt văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng ở mỗi thời kỳ, chủ nghĩa nhân văn lại có những biểu hiện riêng, sức sống riêng của nó Chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại vừa bắt nguồn từ truyền
Trang 30thống, t tởng nhân đạo tích cực vốn có của Phật giáo là t tởng từ bi bác ái, của Nho giáo là học thuyết nhân nghĩa Chủ nghĩa nhân văn biểu hiện phong phú, muôn màu nhng tập trung ở một số phơng diện: cảm thông, thơng xót trớc những số phận bi đát, những đau khổ của con ngời; khẳng định con ngời về các mặt phẩm chất, tài năng, những nhu cầu về quyền hạnh phúc, quyền sống, quyền tự do; khẳng định những quan hệ đạo đức, đạo lý tốt đẹp giữa ngời với ngời Chủ nghĩa nhân văn biểu hiện tập trung nhất với nhiều phơng diện khác nhau trong văn học nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX Từ ký đến tuỳ bút, từ truyện đến thơ, từ tác phẩm viết bằng chữ Hán đến tác phẩm viết bằng chữ Nôm đều thấm đẫm tinh thần nhân văn Chủ nghĩa nhân văn thời kỳ này đã bén rễ từ một thời kỳ lịch sử đầy ba động, từ cuộc sống khổ cực của con ngời và hơn hết là từ nhu cầu giải phóng con ngời thoát ra ngoài vòng cơng toả của mọi sự ràng buộc, áp bức trong xã hội Nhìn chung chủ nghĩa nhân văn thời
kỳ này phát triển trên hai bình diện bổ sung và tơng tác lẫn nhau: phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con ngời và đề cao con ngời, đề cao cuộc sống trần tục
Các nhà thơ, nhà văn giai đoạn này đã phê phán gay gắt những hiện tợng suy đồi của xã hội phong kiến Trong những tác phẩm bằng chữ Hán theo thể
ký, hơn bất cứ một tác phẩm nào khác, Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh
sinh động về cảnh thối nát, mục rữa của triều đình phong kiến lúc bấy giờ Trong văn học Nôm, việc tố cáo những vấn đề thuộc đời sống áo cơm không nhiều trong khi đó thơ chữ Hán việc miêu tả đời sống của nhân dân đậm nét hơn Các tác giả nh: Phạm Nguyễn Du, Ngô Thế Lân, Bùi Huy Bích, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Lý Văn Phức, Doãn Uẩn, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu
đã ghi lại đợc nhiều bức tranh sinh động về cuộc sống đói khổ của quần chúng,
có giá trị tố cáo hiện thực Điều cốt lõi ở đây là các tác giả thời kỳ này không
đứng trên lập trờng đạo đức phong kiến để phê phán những hiện tợng phi đạo đức
mà chủ yếu đứng trên lập trờng nhân sinh để tố cáo tất cả những gì là phản nhân
Trang 31sinh, phản tiến hoá Do đó diện tố cáo trong văn học đợc mở rộng và nội dung tố cáo cũng sâu sắc hơn
Bình diện thứ hai của chủ nghĩa nhân văn là đề cao con ngời, đề cao cuộc sống trần tục lại đợc thể hiện đậm nét trong văn học chữ Nôm Trung tâm của
bộ phận văn học này là vấn đề giải phóng tình cảm của con ngời và những ràng buộc của xã hội phong kiến Chinh phụ ngâm tố cáo chiến tranh phong kiến
làm tan vỡ hạnh phúc tình yêu và tuổi trẻ Cung oán ngâm khúc tố cáo chế độ
cung nữ làm cho cuộc đời biết bao cô gái héo hắt, tàn lụi trong cung vua, phủ chúa Hồ Xuân Hơng tố cáo chế độ đa thê và toàn bộ nền đạo đức phong kiến
đối với phụ nữ Nguyễn Du với Truyện Kiều, đỉnh cao chói lọi của văn học giai
đoạn này, qua cuộc đời của một ngời phụ nữ đã đặt ra vấn đề bao quát là quyền sống của con ngời trong xã hội phong kiến Có thể thấy "Giải phóng tình cảm là nội dung chủ yếu của văn học chữ Nôm, đồng thời đó cũng là vấn đề trung tâm của trào lu nhân đạo chủ nghĩa trong giai đoạn này" (Nguyễn Lộc) [30;63] Đấu tranh để giải phóng tình cảm cho con ngời, thì vấn đề hàng đầu là đấu tranh để
đợc tự do yêu đơng Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề tình yêu lại trở thành một đề tài có sức hấp dẫn lớn đối với văn học giai đoạn này Từ truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học đến ngâm khúc đều đậm nét đề tài tình yêu Nhiều khúc ngâm thông qua tình yêu để tố cáo xã hội Hầu hết các sáng tác của Phạm Thái viết xung quanh chủ đề tình yêu của bản thân nhà thơ Phần quan trọng trong sáng tác của Hồ Xuân Hơng là nói về tình yêu không toại nguyện Phạm Nguyễn Du viết Đoạn trờng lục, Ngô Thì Sĩ viết Khuê ai lục để khóc vợ
Nhìn chung, trừ một số tác phẩm phản ánh những mối tình có thật thờng
ít nhiều có tình cảm bi kịch nh trờng hợp của Phạm Thái khóc Trơng Quỳnh
Nh, hay Hồ Xuân Hơng viết về tình duyên của mình, thơ viết về đề tài tình yêu thờng thể hiện mơ ớc của con ngời về một tình yêu tự do, không bị ràng buộc bởi luân lý, lễ giáo phong kiến Các nhà thơ cha đặt vấn đề đấu tranh trực diện
Trang 32với lễ giáo phong kiến để có tự do yêu đơng mà muốn bằng con đờng khẳng
định tự do yêu đơng để gián tiếp phủ nhận lễ giáo phong kiến
Nếu ở Truyện Kiều, chủ nghĩa nhân văn đợc bộc lộ cao nhất ở cái bình
diện thứ hai thì ở thơ chữ Hán, đó là sự có mặt đầy đủ của cả hai bình diện
ở bình diện thứ nhất, với những vần thơ mang sức nặng tố cáo, Nguyễn
Du đã hớng đến cuộc sống nghèo đói của con ngời trong sự đối lập với cảnh sống giàu sang, xa hoa của giai cấp phong kiến (Thái Bình mại giả ca, Sở kiến
hành )
Trên bình diện thứ hai của chủ nghĩa nhân văn, thơ chữ Hán Nguyễn Du
ẩn chứa một cái nhìn đầy ngỡng mộ đói với những bậc anh tài, tiết liệt; cảm thông trân trọng đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là số phận ngời phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh (Độc Tiểu Thanh ký, Điếu La Thành giả ca, Long Thành
cầm giả ca ) Thơ chữ Hán còn là thế giới của một tấm lòng yêu thơng, ngợi ca
con ngời, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách con ngời
Tiểu kết:
Thơ chữ Hán Nguyễn Du ra đời trên cái nền văn hoá vững chắc Đó là sự
kế thừa và phát huy vẻ đẹp của thơ chữ Hán dân tộc và cả thơ chữ Hán của Trung Hoa nữa; kết tinh vẻ đẹp của các thể thơ tự tình trong văn học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX; hội tụ và thể hiện sắc nét chủ nghĩa nhân văn trong văn học thời đại Những vần thơ chữ Hán Nguyễn Du có sức sống lâu bền bởi nó đợc sáng tạo dựa trên quan niệm thơ sâu sắc Quan niệm thơ ấy đợc hình thành từ cá tính Nguyễn Du, cuộc đời Nguyễn Du và chịu ảnh hởng của thời
đại, gia đình nơi nhà thơ sống và trởng thành
Trang 33chơng 2: quan niệm về thơ của Nguyễn Du phát biểu
trực tiếp trong thơ chữ Hán 2.1 Giới thuyết về quan niệm sáng tác trong văn học trung đại
Từ cổ chí kim, khi cầm bút mỗi nhà văn nhà thơ tất yếu phải có một quan niệm nhất định về việc sáng tác, dù cho họ có ý thức rõ rệt về nó hay không Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam trung đại chúng ta thấy có hai quan niệm sáng tác chủ yếu: "Văn dĩ tải đạo" và "Thi dĩ ngôn chí" chi phối sâu sắc đến quá trình sáng tạo văn chơng của các tác giả thời kỳ này
2.1.1 Quan niệm "Văn dĩ tải đạo" có nguồn gốc từ Trung Quốc Tinh thần "Văn dĩ tải đạo" đã có từ thời Chu, Tần, trải qua Hán, Đờng là những thời
kỳ nho học đợc đặc biệt xem trọng, tinh thần này càng đợc củng cố Nhng cũng chỉ đến đời Tống thì bốn chữ "Văn dĩ tải đạo" mới lần đầu tiên đợc nêu trong tác phẩm Chu Đôn Di Mục đích cuối cùng là xem văn học nh một phơng tiện phục vụ cho việc củng cố địa vị giai cấp phong kiến thống trị Giai cấp phong kiến đời sau kể cả Minh, Thanh đều đón nhận quan niệm "Văn dĩ tải đạo" của nhà nho "nh với đợc một phép màu khả dĩ lung lạc ngời cầm bút Và ngợc lại, trớc sự cổ vũ, khuyến khích, mơn trớn của giai cấp thống trị, quan niệm "Văn dĩ tải đạo" cũng đã chi phối không ít tao nhân mặc khách tạo nên một lối mòn dới chân nho sĩ vào ra nơi cửa Khổng sân Trình" (Trần Nghĩa) [37;86]
Có thể thấy trong văn học cổ Trung Quốc, quan niệm "Văn dĩ tải đạo"đã nảy sinh từ sớm và chủ yếu là do các nhà nho đề xớng Văn học thờng đợc trao nhiệm vụ truyền bá đạo lý thánh hiền mà cụ thể là đạo "vua tôi", đạo "cha con",
đạo "vợ chồng" (Tam cơng), cùng Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (Ngũ thờng) Tất cả những điều đó suy đến cùng đều không ngoài mục đích biện hộ và giữ vững chiếc ngai vàng cho bọn vua chúa qua các triều đại
ở nớc ta, các triều đại phong kiến nói chung rất quan tâm tới vấn đề
"Văn dĩ tải đạo", nhng tuỳ theo tình hình chính trị và xã hội từng nơi, từng lúc, việc tiếp thu quan niệm này cũng khác nhau
Trang 34Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, quan niệm "Văn dĩ tải đạo" bắt nguồn từ quan niệm "Văn dĩ tải đạo" chính thống của Trung Quốc nhng cũng thấm đợm một ý thức tự cờng dân tộc, vừa nhằm phục vụ cho việc củng cố địa vị giai cấp thống trị, nhng cũng vừa chiếu cố đến yêu cầu của nhân dân Bởi lẽ từ khi giành
đợc quyền tự chủ trên dải đất Lĩnh Nam cho đến thế kỷ XV, nhiều dòng họ đã thay nhau làm vua, nhà nớc phong kiến có lúc thịnh lúc suy, nhng nói chung là
đang trên đà phát triển Để góp phần củng cố quyền lực nhà nớc, một mặt có thể thống trị nhân dân, mặt khác có thể đẩy lùi mọi cuộc chiến tranh xâm lợc, giai cấp phong kiến rất cần có một học thuyết, một chỗ dựa tinh thần, một cơ sở lý luận khả dĩ giải thích và biện hộ cho hành động của mình Sau mấy thế kỷ thử thách, Nho giáo đã tỏ ra có nhiều hiệu lực trong việc đáp ứng nhu cầu trên Trải qua các triều đại Lý, Trần cho đến đầu đời Lê, Nho giáo đã dần dần lấn át hẳn Phật giáo và Lão giáo để cuối cùng chiếm địa vị độc tôn Thế là trên đờng xây dựng một bộ máy chuyên chế trung ơng tập quyền, giai cấp phong kiến Việt Nam đã tìm tới học thuyết Khổng Mạnh
Từ thế kỷ XVI trở đi, giai cấp phong kiến Việt Nam không còn đóng vai trò tích cực trong lịch sử, thì quan niệm "Văn dĩ tải đạo" của bộ phận phong kiến cầm quyền phần nhiều chỉ là rập khuôn theo Tống Nho (đề cao đạo Khổng Mạnh)
Trong cảnh xã hội rối ren và đạo đức phong kiến suy tàn, quan niệm
"Văn dĩ tải đạo" đã ngày càng đợc mở rộng Có ngời làm thơ để "nói lên chí ớng" (Ngôn chí), có ngời viết văn để "chở đạo thánh hiền" (Tải đạo) cũng có ngời sáng tác để "trải trăng tình cảm" (Tự tình, duyên tình) hay "mợn đời xa để nói chuyện đời nay" (Vịnh sử, hoài cổ, cảm ngụ) Cái "đạo" của họ rất khác nhau
h-Bớc sang giai đoạn chế độ phong kiến suy tàn, kể từ khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến xâm lợc, quan niệm "Văn dĩ tải đạo" lại đợc lồng thêm những nội dung mới Các tác giả sáng tác để vạch trần bộ mặt xâm lợc và sự áp
Trang 35bức bóc lột tàn tệ của bọn "quỷ trắng', bọn "râu quắm mắt xanh" Họ viết để lên
án triều đình Huế đầu hàng giặc và cam tâm làm tay sai cho giặc, phê phán bọn Việt gian buôn dân bán nớc Và nhất là họ viết để tuyên truyền việc đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng tổ quốc, ngợi ca những con ngời ngã xuống cho độc lập tự do Hai câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu đã nói lên những nét mới trong quan niệm "Văn dĩ tải đạo" của các nhà văn, nhà thơ yêu nớc thời
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Rõ ràng ở đây "Văn dĩ tải đạo" khá tiến bộ vì cái đạo ấy phục vụ cho nớc, cho dân Và cơ sở cho quan niệm mới này là cuộc kháng chiến chống xâm lăng của dân tộc
2.1.2 "Thi ngôn chí" đã có từ thời Trung Quốc cổ Thực tế từ lâu, nhà nho nớc ta đã có quan niệm "Thơ nói chí" ở thế kỷ XVI, Phùng Khắc Khoan
có tập Ngôn chí thi tập Đầu thế kỷ XIX, Dơng Bá Cung xếp 21 bài thơ Quốc
âm của Nguyễn Trãi vào mục " Ngôn chí thi" Từ giữa đến cuối thế kỷ XIX, ba chữ "Thơ nói chí" đã đợc nhắc đi nhắc lại nhiều hơn
ở mỗi thời kỳ khác nhau "Thi ngôn chí" đợc hiểu theo một cách riêng Một trong những đặc điểm lớn của nớc ta là dân tộc luôn luôn phải chống chọi với ngoại xâm để giành độc lập và đã viết lên những trang sử hết sức vẻ vang Nền thơ cổ nớc ta cũng góp phần nói lên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc trong sự nghiệp chống giặc giữ nớc "Chí" trong "Thơ nói chí” ở trờng hợp này sẽ đợc hiểu là chí khí giết giặc Bài thơ Nam quốc sơn hà nếu đúng là
của Lý Thờng Kiệt thì ông là nhà thơ đầu tiên đã nói đến cái "chí" ấy một cách
rõ ràng:
Nam quốc sơn hà Nam đế c, Tiệt nhiên định phận tại thiên th
Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại h.
Trang 36Chữ "chí" đợc quan niệm là chí khí giết giặc này còn kết tinh rõ trong văn học đời Trần với những bài thơ đầy "hào khí Đông A" của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão Quan niệm "thi ngôn chí" là thơ nói chí khí giết giặc tuy
bị hạn chế bởi t tởng trung quân của Nho giáo song nó lại thể hiện đợc tinh thần yêu nớc một cách mạnh mẽ của nhà nho nớc ta Thơ họ làm có tác dụng động viên mọi ngời tham gia vào công cuộc chống giặc giữ nớc
Bên cạnh quan niệm "thơ nói chí" là thơ nói chí khí giết giặc, nhà nho
n-ớc ta còn quan niệm "thơ nói chí" là thơ nói chí hớng thánh hiền Một hiện tợng phổ biến ở quan niệm này là làm thơ để ngợi ca thơ vua Loại thơ này xuất hiện nhiều ở cuối đời Trần, đến đời Lê càng nhiều, biểu hiện rõ nhất là thơ của nhóm Nhị thập bát tú trong hội Tao đàn
Không dừng lại ở đó chữ "chí" còn đợc hiểu là tình Phùng Khắc Khoan
đã từng nói lên cái chí của mình:
Lữ mộng loạn tuỳ hồ điệp tán, Dạ ngâm ng giác nguyệt quang hàn.
(Lữ ngụ thi hoài)
(Trong giấc mộng nơi đất khách thấy mình theo bớm bay tán loạn,
Làm thơ lúc đêm khuya, cảm thấy ánh trăng lạnh ngắt)
Cái chí của Phùng Khắc Khoan chủ trơng là chí "nhàn c" Một điều tởng chừng là nghịch lý khi Phùng Khắc Khoan làm thơ để nói các chí "nhàn c" trong khi bản thân ông đang hiên ngang thẳng bớc trên đờng công danh sự nghiệp Nh thế, ông đã quan niệm làm thơ để nói lên tình cảm riêng t của mình trong những lúc tâm hồn thảnh thơi, không bận bịu với việc đời Vì vậy khi ông
đặt tên "Tập thơ nói chí" thì chữ "chí" ở đây đợc hiểu là "tình cảm riêng của nhà thơ Nói rõ hơn đó là cái ớc vọng của nhà thơ" (Trần Lê Sáng) [43;114]
Trong khi đó, Nguyễn Trãi làm thơ là để thổ lộ tâm tình mà ông gọi là
“cởi buồn”:
Nào của cởi buồn trong thủa ấy,
Trang 37Có thơ đầy túi rợu đầy bình.
(Tự thán, bài 16)
Mặc dầu ông biết xa nay văn chơng đem đến bi luỵ cho ngời ta không ít nhng ông vẫn cứ làm thơ:
Văn chơng tự cổ đa vi luỵ, Thi tửu tùng kim thả phóng hoài.
(Tặng Khổng Nhan Mạnh tam thi tử tôn giáo thụ Thái Bình)
(Từ xa văn chơng làm luỵ nhiều,
Nhng đến nay ta vẫn cứ thơ rợu, thả lòng cho tự do)
Nguyễn Trãi làm thơ là để nói cái tình của mình Nhng cái tình mà Nguyễn Trãi quan niệm là tình cảm rộng lớn, bao quát cả tình cảm với dân với nớc, với cảnh vật và con ngời
1.2.3 Văn học giai đoạn cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là "nền văn học của chữ tình" (Trần Nho Thìn) [55;158] Về quan niệm thi ca, đó là sự thắng thế của quan niệm thơ nói tình so với thơ nói chí (chí giết giặc, chí thánh hiền ) Vấn đề "thi duyên tình" là vấn đề không chỉ của cả thời kỳ văn học lúc Nguyễn Du sống và sáng tác mà còn tiếp nối mãi cuối thế kỷ XIX Tình ở đây không chỉ là tình yêu mặc dầu tình yêu chiếm một địa vị rất quan trọng Tình còn là cảm xúc nói chung của con ngời, những cảm xúc chân thực nhất, tự nhiên nhất Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du đều rất coi trọng chữ tình trong thơ Thế kỷ XVIII là thế kỷ có nhiều tiếng khóc trong văn thơ Mà khóc cũng là thể hiện tình Ngô Thì Sĩ có Khuê ai lục, Phạm Nguyễn
Du có Đoạn trờng lục khóc vợ, Phạm Thái có Văn tế Trơng Quỳnh Nh khóc
ngời yêu, Lê Ngọc Hân có Ai t vãn khóc chồng, Hồ Xuân Hơng có thơ khóc
ông Phủ Vĩnh Tờng và Tổng Cóc, trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã bao lần
nhỏ lệ cho ngời con gái tài sắc mà bất hạnh Vơng Thuý Kiều
Cuối thế kỷ XIX nhà thơ Nguyễn Thợng Hiền đã có lúc cảm thấy mình làm nhiều thơ không thật lòng nên ông đã có lúc muốn đốt sách:
Trang 38Tập thơ trau chuốt bởi ham danh , Say đốt quách đi dạ cũng đành Cha dễ về sau lừa kẻ khác,
Mà còn giữ mãi một thân mình.
(Cảm xúc lúc say đốt tập thơ)
Nguyễn Thợng Hiền đã nói lên một sự thật mà nhiều ngời không dám nói: làm thơ bằng kĩ xảo chứ không xuất phát từ tình cảm thực Ông đã chủ tr-
ơng thơ nói tình cảm nhng bớc thêm một bớc nữa: thơ phải nói thật
Nhìn chung từ quan niệm thơ nói tình, nhà nho (những ngời sáng tác) dám nói thật những cảm xúc của mình trớc thời thế, trớc cảnh vật và quan hệ con ngời trong xã hội
Với Nguyễn Du ông không có cái vinh quang đạt đợc bằng con đờng quen thuộc là đỗ đạt cao trong các kỳ thi, sự nghiệp cai trị, quan lộ cũng không
có thành tựu gì nổi bật, không thấy ông trăn trở nhiều theo hớng "kinh bang tế thế" hay "trí quân trạch dân" Là trai thời loạn, ông ít nhiều tự vấn, tự thán về
"chí làm trai" nhng nổi bật hơn cả, rõ rệt hơn cả ở ông lại là ý thức về tài năng văn chơng và cùng với nó, là khả năng sống chết với tài năng đó Trong bài thơ
Tự thán-II viết vào năm 30 tuổi, Nguyễn Du nói thật rõ ràng:
Tam thập hành canh lục xích thân, Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân.
Trang 39Lục xích phù sinh thiên địa trung.
(Cuộc đời trăm năm chết xác trong chốn văn chơng,Tấm thân sáu thớc sống nổi trôi giữa vòng trời đất)
ông tự dằn vặt trong cảnh :
Văn tự hà tằng vi ngã dụng ? Cơ hàn bất giác thụ nhân liên.
Nhất cùng chí thử khởi công thi?
( Cùng quẫn đến thế, có phải vì giỏi làm thơ? )
(Lỗi Dơng Đỗ Thiếu Lăng mộ-I)
Hoặc nh:
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,
Hà hữu Ly tao kế Quốc phong?
(Tơng Đàm điếu Tam L đại phu - II)
(Ví nh hiến lệnh đợc ban hành trong thiên hạ thiên hạ, Thì làm gì có đợc Ly tao nối tiếp Quốc phong?)
ý thức rõ nét về tài năng văn chơng của mình, Nguyễn Du cũng cảm nhận một cách thấm thía cái thân phận khốn cùng mà ngời có tài văn chơng phải cáng đáng Tuy nhiên xét đến cùng, ông đã coi văn chơng là lối mở thông giữa cái hữu hạn của kiếp ngời cụ thể với sự tiếp biến vô cùng của đời sống Cho nên trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du dù cho diễn đạt trực tiếp hay
Trang 40gián tiếp qua đề tài thì Nguyễn Du cũng đã có một quan niệm thơ rõ ràng và sâu sắc của riêng mình
2.2 Thơ ca là cái đẹp, có sức sống trờng tồn
2.2.1 Trong văn học trung đại, văn chơng đợc xem là thứ quý báu, thiêng liêng Mà trong đó thơ lại chiếm một địa vị quan trọng và cao quý nhất Vì vậy, nhà thơ, trong con mắt của ngời xa, phải là ngời có tài đức, học vấn uyên thâm
Lê Hữu Kiều đã từng cho rằng: "Ngời làm thơ hay đợc nh thế, tất phải là ngời tài hoa, tình tứ vợt bậc, bụng dạ chung đúc bao la, mà ngời lại là học vấn đầy
đủ, kiến văn rộng rãi Nếu không nh thế thì quê mùa nông cạn, làm thơ chỉ nói một cách chung chung nh thế có thể gọi là thơ thế nào đợc" [22;214]
Vua Lê Thái Tổ đã thấy ý nghĩa của thơ văn trong việc góp phần gìn giữ biên cơng của đất nớc:
Đề thi khắc vu thạch, Trấn ngã Việt tây quang
(Thân chinh phục Lễ Châu)
(Đề thơ khắc vào đá, Để trấn giữ miền Tây nớc ta)
Đặc biệt Nguyễn Trãi từng tuyên bố "đao bút" của mình là dùng những bài văn từ mệnh khéo léo góp phần vào việc dẹp yên giặc Bắc, xây dựng và bảo
vệ nớc Nam:
Đao bút phải dùng tài đã vẹn, Chỉ th mấy chép việc càng chuyên
Vệ Nam mãi mãi ra tay thớc,
Điện Bắc đà đà yên phận tiên
(Bảo kính cảnh giới, bài 6)
Văn chơng không những góp phần vào sứ mệnh cứu nớc và giữ nớc, mà còn làm vẻ vang cho đất nớc Trong Quỳnh Uyển cửu ca, vua Lê Thánh Tông