Có thể nói rằng ba học thuyết này đãchi phối mạnh mẽ tới văn học trung đại Việt Nam trên nhiều phơng diện: đềtài, thể loại, cách cảm, cách nghĩ, quan niệm văn học… Nguyễn Trãi là mộttác
Trang 1luËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n
Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.TS NguyÔn H÷u S¬n
==== Vinh - 2006===
Trang 21 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 5
3.Đối tợng nghiên cứu 5
4 Lịch sử vấn đề 5
5 Phơng pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
Chơng 1: Cơ sở hình thành quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi 12
1.1 Quan niệm Nho - Phật - Đạo trong văn học trung đại Việt Nam 12
1.2 Quan niệm Nho - Phật - Đạo trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV 15
1.3 Sự hình thành quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ Nguyễn Trãi 21
Tiểu kết 25
Chơng 2: Quan niệm Nho - Phật - Đạo từ điểm nhìn cái tôi tác giả 27
2.1 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Nho giáo 30
2.2 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Phật giáo 40
2.3 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Đạo giáo 48
Tiểu kết: 54
Chơng 3: Quan niệm Nho - Phật - Đạo từ điểm nhìn hệ thống đề tài 56
3.1 Thơ tỏ chí 56
3.2 Thơ thiên nhiên 63
3.3 Thơ vịnh sử 71
3.4 Thơ thế sự 77
Tiểu kết 82
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo 88
Trang 3Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1.Chúng ta biết rằng văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hởng sâu
sắc của các hệ t tởng Nho - Phật - Đạo Có thể nói rằng ba học thuyết này đãchi phối mạnh mẽ tới văn học trung đại Việt Nam trên nhiều phơng diện: đềtài, thể loại, cách cảm, cách nghĩ, quan niệm văn học… Nguyễn Trãi là mộttác gia tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, ông đợc xem là "Nhà thơ mở
đầu thơ ca cổ điển Việt Nam", cho nên tìm hiểu quan niệm Nho - Phật - Đạotrong thơ chữ Hán của tác giả sẽ góp phần làm sáng tỏ một trong những đặctrng của văn học trung đại Việt Nam, đó là chịu sự ảnh hởng sâu sắc của t t-ởng kinh điển và tôn giáo
1.2.Tìm hiểu sự tác động, chi phối của ba hệ t tởng Nho - Phật - Đạo
trong thơ chữ Hán Nguyển Trãi tức là đi vào giải mã những quan niệm triếthọc đợc tác giả gửi gắm trong đó Do vậy, thực hiện đề tài sẽ góp phần soisáng cho tính nguyên hợp (còn gọi là tính văn - sử - triết bất phân, một đặc
điểm nổi bật của văn học trung đại thế giới) trong văn học trung đại ViệtNam
1.3.Thành tựu sáng tác văn học của Nguyễn Trãi phong phú và đồ sộ, ở
thể loại nào ông cũng có những tác phẩm xuất sắc và đạt trình độ nghệ thuậtcao nhng nổi bật nhất vẫn là thể loại thơ (chữ Hán và chữ Nôm) Nói tới thơ
Nguyễn Trãi chúng ta trớc hết phải kể tới tập thơ chữ Hán ức Trai thi tập, một
tập thơ thể hiện tơng đối đầy đủ chân dung tinh thần tác giả Tìm hiểu quanniệm Nho - Phật - Đạo trong tập thơ này sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thứcmột cách toàn diện hơn con ngời nhà thơ trong sáng tác của mình
1.4.Văn chơng của Nguyễn Trãi từ lâu đã đợc đa vào giảng dạy trong
chơng trình văn học ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông Thực hiện
đề tài này sẽ góp phần phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy thơ Nguyễn Trãinói chung và thơ chữ Hán Nguyễn Trãi nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nhằm hớng tới những mục đích sau:
2.1.Xác định đợc quan niệm Nho - Phật - Đạo đợc Nguyễn Trãi gửi gắm
và thể hiện trong thơ chữ Hán
2.2.Lý giải đợc vì sao t tởng của ba học thuyết Nho - Phật - Đạo đều
hiện diện trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi
Trang 42.3.Bớc đầu so sánh quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ chữ Hán và
thơ chữ Nôm của tác giả
3.Đối tợng nghiên cứu
đối tợng nghiên nghiên cứu chính của chúng tôi là tập thơ chữ Hán của
Nguyễn Trãi có tựa đề ức Trai thi tập đợc tập hợp trong công trình Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976 nghiên cứu
4.Lịch sử vấn đề
Nhìn vào th mục nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Trãi chúng ta nhận thấy
có đến hàng trăm đơn vị, bởi Nguyễn Trãi là một tác gia lớn của nền văn họcdân tộc nên việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ văn của ông đã trải qua một quá
trình dài Có thể tính từ 1868, năm mà bộ su tập văn bản ức Trai di tập đợc
phổ biến rộng rãi trong giới nho sĩ cho đến tận hôm nay công việc nghiên cứuthơ văn của thi sĩ ức Trai vẫn đợc tiếp tục
4.1.Về tập thơ chữ Hán ức Trai thi tập cũng đã đợc nghiên cứu, nhìn
nhận từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vàonhận thức chân dung của con ngời Nguyễn Trãi cũng nh cảnh ngộ và niềmtâm sự lắng đọng trong hồn thơ của ông Vấn đề quan niệm Nho - Phật - Đạotrong thơ chữ Hán cũng đã đợc một số nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu,trao đổi, tranh luận Trong phạm vi tài liệu bao quát đợc, chúng tôi xin đợc
điểm lại các nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề này:
- Nhiều tác giả, Mấy vấn đề sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1963
- Nguyễn Thiên Thụ, "T tởng của Nguyễn Trãi", in trong sách Nguyễn Trãi, Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1973 (đợc Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn vào công trình Nguyễn Trãi - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, tái bản,
2002, Tr 70 - 83)
- Nhiều tác giả, Nguyễn Trãi - Khí phách và tinh hoa của dân tộc, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1980
- Bùi Văn Nguyên, Văn chơng Nguyễn Trãi, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984
- Trần Đình Hợu, Nho giáo và Văn học trung cận đại Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1999 (tái bản)
- Nhiều tác giả, Vấn đề con ngời cá nhân trong văn học cổ Việt Nam,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997
Trang 5- Trần Ngọc Vơng, Văn học Việt Nam - dòng riêng giữa nguồn chung,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999
- Lã Nhâm Thìn, “ảnh hởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi”, Tạp chí Văn học, số 6 - 2000.
- Nguyễn Hữu Sơn,”Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn
Trãi", Tạp chí Văn học, số 6 - 2000, …
4.2.Nhiềuvấn đề liên quan tới đề tài đã đợc đề cập đến ở những công
trình trên Trong công trình Mấy vấn đề sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi, có bài viết Thử tìm hiểu t tởng "nhân nghĩa" của Nguyễn Trãi của Trần Nghĩa.
Tác giả khẳng định: "T tởng nhân nghĩa ở đây chẳng qua là lòng yêu nớc
th-ơng dân nồng nàn của Nguyễn Trãi" và "lòng thth-ơng dân tha thiết" [30, 180]
Từ đó bài viết đi đến khẳng định t tởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi
có nhiều yếu tố tích cực, vì nó đã đợc "dân tộc hóa và Việt Nam hóa" [30,182].Tác giả bài viết xuất phát từ t tởng tự tôn dân tộc nên đã xem nhẹ yếu tốngoại lai Đây là cách nhìn nhận khá phổ biến một thời ở những ngời làmcông tác nghiên cứu khoa học xã hội
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên Thụ trong bài viết T tởng của Nguyễn Trãi đã đi vào tìm hiểu sự hoà điệu của ba t tởng Nho, Lão, Phật trong thơ văn
Nguyễn Trãi ở đây, tác giả đã vạch đợc một số nét cơ bản của ba hệ thống t
t-ởng Nho - Lão - Phật hiện diện trong thơ văn Nguyễn Trãi nhng các luận điểm
đa ra còn khái quát chứ cha có sự luận giải kỹ càng, hơn nữa dẫn chứng mà tác
giả đa ra chủ yếu là thơ Nôm và một ít Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo chứ không lấy dẫn chứng từ thơ chữ Hán.
Trong cuốn Nguyễn Trãi - Khí phách và tinh hoa của dân tộc cũng có
bài viết của tác giả Đinh Gia Khánh có đề cập đến vấn đề ảnh hởng của Phật - Đạo đối với sáng tác của Nguyễn Trãi: "Không thể phủ nhận rằng trongmột số trờng hợp mà Nguyễn Trãi đề cập đến nhân và nghĩa, ông cũng nhắclại những khía cạnh nào đó của t tởng Khổng, Mạnh và nói chung thì ảnh h-ởng của Nho giáo đối với Nguyễn Trãi là có thực Hơn nữa, Nguyễn Trãi còntiếp thu ảnh hởng của Phật giáo và Đạo giáo, và ảnh hởng này cũng thể hiệntrong sự nghiệp trớc tác và sáng tác của ông" [31, 103] Tuy nhiên, đây là mộtnhận định chung chứ tác giả cha đi sâu vào luận giải, bởi bài viết này chỉ khaithác t tởng "nhân nghĩa" với t cách là một biểu hiện của tinh thần văn hóaViệt
Trang 6Nho-Trong chuyên luận Văn chơng Nguyễn Trãi, Giáo s Bùi Văn Nguyên đã
nhìn nhận sự ảnh hởng của Nho - Phật - Đạo tới con ngời nghệ sĩ Nguyễn Trãidới góc độ con ngời nhập thế và con ngời xuất thế, hành - tàng và xuất - xử
Từ đó ông đa ra nhận xét về con ngời Nguyễn Trãi trong thơ: "Nguyễn Trãinói đến lẽ xuất - xử của nhà Nho, rồi cũng nói đến lẽ biến dịch ở đời, nói đến
thuyết sắc - không của nhà Phật… Nhng chiều sâu về tình đời trong một sốcâu thơ của Nguyễn Trãi lại có nhuốm ít nhiều t tởng Lão - Trang" [46, 269]
Đây là cuốn chuyên luận nghiên cứu nội dung t tởng của toàn bộ sự nghiệpvăn chơng Nguyễn Trãi cho nên tác giả cha có điều kiện đi sâu luận giải vàchứng minh sự hiện diện của quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ NguyễnTrãi, đặc biệt là mảng thơ chữ Hán
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, hai thầy trò Giáo s Trần Đình Hợu
và Tiến sĩ Trần Ngọc Vơng đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiêncứu, tìm hiểu quan niệm Nho - Phật - Đạo trong văn học trung đại Việt Nam,trong đó Nguyễn Trãi là một trong những tác giả đợc chú ý nhất Giáo s Trần
Đình Hợu trong bài viết Nguyễn Trãi và Nho giáo in trong chuyên luận Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam cũng đã khẳng định cả Nho- - Phật -
Đạo đều tác động đến thơ Nguyễn Trãi, từ đó ông xác định mức độ ảnh hởngkhác nhau giữa các học thuyết: "Nguyễn Trãi lấy ở Trang rất nhiều, nếu tínhtrong thơ thì nhiều hơn hẳn so với Nho và nhất là Phật" và "Nhiều luận điểm
về cuộc đời ở Nguyễn Trãi rút ra từ triết lý Trang Tử, nhng cả hệ thống thì t ởng ông lại thuộc Nho gia" [22, 112] Tuy nhiên, ở đây tác giả tập trung làm
t-rõ vấn đề quan điểm làm ngời và những day dứt quanh vấn đề xuất - xử nêncha chú ý đến quan niệm Nho - Phật - Đạo đợc thể hiện trong thơ Đối vớichúng tôi đây là một sự gợi mở quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài
Tiến sĩ Trần Ngọc Vơng trong công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam đã bớc đầu xác định sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi ít nhiều có dấu hiệu tính chất của một nhà nho tài tử Trong chuyên luận Văn học Việt Nam - Dòng riêng giữa nguồn chung Trần Ngọc Vơng cũng đề cập ít nhiều
vấn đề quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ Nguyễn Trãi nhng cha có điềukiện đi sâu luận giải vấn đề một cách hệ thống và toàn diện, đặc biệt là tác giảmới chú ý nhiều tới mảng thơ chữ Nôm chứ cha thực sự chú ý tới thơ chữ Hán.Nói chung, Tiến sĩ Trần Ngọc Vơng xác định quan niệm của ba học thuyếttrên trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi chỉ mới ở mức độ vừa phải, bởi họ nỗ lực
Trang 7nghiên cứu ba quan niệm này trong cả tiến trình văn học trung đại Việt Namnên cha có điều kiện đi sâu vào một tác giả cụ thể.
Trong bài viết ảnh hởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi, Tiến sĩ Lã
Nhâm Thìn đã nêu ra một số biểu hiện của t tởng Đạo gia trong thơ Nguyễn
Trãi Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Về cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi đã chỉ ra một số biểu hiện của cảm quan Phật giáo trong thơ
Nguyễn Trãi và lý giải bi kịch cuộc đời tác giả có sự "thông kênh" với quanniệm Phật giáo về cuộc đời Tuy vậy, trong khuôn khổ một bài báo các tác giảtrên cha có điều kiện trình bày, lý giải một cách sâu sắc, hệ thống
Ngoài ra, trong một số giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam cũng có đề
cập đến vấn đề này(Văn học Việt Nam(Thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII) của
Đinh Gia Khánh—Bùi DuyTân-Mai Cao Chơng,Nxb Giáo dục,tái bản2004;
Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII-hết thế kỷXIX) của Nguyễn Lộc Nxb
Giáo dục, tái bản 1999).Tuy nhiên, vấn đề đợc trình bày ở đây rất sơ lợc, chỉ
có tính chất định hớng và gợi mở Gần đây, một số luận văn Thạc sĩ nghiêncứu vấn đề con ngời cá nhân, con ngời nghệ sĩ trong thơ văn Nguyễn Trãicũng ít nhiều đề cập đến sự chi phối, ảnh hởng của quan niệm Nho - Phật -
Đạo trong thơ Nguyễn Trãi (Sự phát triển ý thức nghệ sĩ trong sáng tác từ thơ Lý-Trần đến thơ Nguyễn Trãi của Nguyễn Thị Phơng Thảo,Th viện ĐHSP Hà Nội,2000; Phơng thức thể hiện con ngời cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi của
Nguyễn Thị Tính, Th viện ĐHSP Hà Nội,2002) Mặc dù chỉ là những dòngnhận định khái quát nhng các công trình này đã gợi mở cho chúng tôi đợcnhiều điều
Nói tóm lại, vấn đề quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ Nguyễn Trãi
đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, phát hiện và lý giải từ nhiều góc độkhác nhau nhng phần lớn chỉ mới dừng lại ở những nhận định chung hoặc đivào tìm hiểu sự hiện diện quan niệm của các học thuyết một cách riêng lẻ,trong lúc đó Nho - Phật - Đạo lại tác động đồng thời đối với nhà thơ NguyễnTrãi và tạo thành một hệ thống chặt chẽ Nói cách khác, do tính chất của cáccông trình nên các tác giả cha có điều kiện đi sâu trình bày, luận giải quanniệm Nho - Phật - Đạo trong thơ Nguyễn Trãi một cách toàn diện và có hệthống Hơn nữa, đối tợng nghiên cứu của các tác giả này hoặc là toàn bộ sựnghiệp thơ văn Nguyễn Trãi hoặc thơ Nguyễn Trãi nói chung (thơ chữ Hán vàthơ chữ Nôm) chứ cha có công trình nào nghiên cứu thơ chữ Hán với t cách là
Trang 8một đối tợng độc lập, mà nh chúng ta đã biết, các tác phẩm của cùng một tácgiả bên cạnh sự tơng đồng còn có sự khác nhau về tơng quan lý tởng thẩm mỹ.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển thành quả của ngời đi trớc, trong côngtrình này chúng tôi cố gắng trình bày, lý giải quan niệm Nho - Phật - Đạotrong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi một cách có hệ thống và tơng đối toàn diệnhơn
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích và thực hiện đợc nhiệm vụ đề ra, trong luận vănnày chúng tôi kết hợp sử dụng một số phơng pháp thông dụng của khoanghiên cứu văn học:
- Phơng pháp tiểu sử: Căn cứ vào các sự kiện chính trong cuộc đời tácgiả để lý giải một số vấn đề đặt ra trong luận văn
- Phơng pháp so sánh: Phơng pháp này đợc áp dụng khi cần so sánh vớithơ chữ Nôm và các sáng tác khác của Nguyễn Trãi cũng nh so sánh thơNguyễn Trãi với một số tác giả khác trong văn học trung đại Việt Nam
- Phơng pháp hệ thống: Đặt Nguyễn Trãi trong các mối quan hệ giữacác yếu tố cấu thành văn học trung đại Việt Nam, đó là các hệ t tởng, quanniệm, tác giả và tác phẩm…
- Phơng pháp liên ngành: Phơng pháp nghiên cứu kết hợp giữa triết học,văn hóa học và văn học
6.Đóng góp của luận văn
Luận văn đi vào xác định và lý giải quan niệm Nho - Phật - Đạo trongthơ chữ Hán Nguyễn Trãi một cách tơng đối đầy đủ và hệ thống Đồng thời,luận văn cũng xác định đợc mức độ và mối quan hệ của các quan niệm nàytrong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
Trang 9Chơng 1 Cơ sở hình thành quan niệm Nho - Phật - Đạo
trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãii
Tìm hiểu t tởng, quan niệm của một nhà văn chúng ta không thể cô lập
đối tợng mà cần đặt nó trong nguồn mạch văn hóa dân tộc và thời đại Chonên, để tìm hiểu quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,chúng ta không thể không xác định cơ sở hình thành hệ thống quan niệm nàytrong thơ ông Đó là cơ sở văn hóa - xã hội, sự hình thành và vận động của cácquan niệm Nho - Phật - Đạo ở thời đại Nguyễn Trãi và cả nền văn học trung
đại Việt Nam
1.1 Quan niệm Nho - Phật - Đạo trong văn học trung đại Việt Nam
Xuất phát từ quan niệm Tam giáo đồng nguyên, điều mà nhà nghiêncứu Trần Ngọc Vơng gọi là "Một hình thức khoan dung ở khu vực Đông á"[71, 67] nên văn học trung đại khu vực này luôn chịu ảnh hởng nhiều mặt củacác học thuyết Nho, Phật và Đạo Là một "Dòng riêng giữa nguồn chung",Văn học trung đại Việt Nam cũng thể hiện rõ đặc điểm này Điều này đã đợcnhiều nhà nghiên cứu nh Đinh Gia Khánh, Trần Đình Hợu, Nguyễn Huệ Chi,Trần Ngọc Vơng khẳng định Đặc biệt, Giáo s Nguyễn Huệ Chi trong bài viết
Mấy đặc trng loại biệt của Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Tạp chí Văn học, số 5 - 2003) đã xem đây là một trong những đặc trng loại
Trang 10biệt Ông khẳng định: "Văn học cổ Việt Nam chịu sự chi phối của cả ba hệthống t tởng - tôn giáo - thẩm mỹ: Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo" [6].
Mở rộng phạm vi sang các yếu tố văn hoá và ngành nghệ thuật khác,chúng ta cũng thấy đợc sự chi phối của ba hệ thống t tởng này Chẳng hạn vềlĩnh vực kiến trúc chúng ta thấy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống chùachiền (riêng đời Lý có 950 ngôi chùa đợc xây dựng) chứng tỏ đợc vai trò củaPhật giáo trong đời sống tinh thần của nhân dân; việc xây dựng Văn Miếunhằm mục đích thờ Chu Công, Khổng Tử và tôn vinh các bậc hiền sĩ chứng tỏ
sự phát triển mạnh mẽ của Nho giáo; việc xuất hiện một số Đạo quán và một
số phong tục khẳng định rằng Đạo giáo tuy mức độ không bằng Phật giáo vàNho giáo nhng vẫn luôn tồn tại trong đời sống tinh thần ngời Việt Bên cạnh
đó, ngành điêu khắc cũng có tầm quan trọng trong đời sống tinh thần dân tộc
ta, hình tợng con rồng đợc khắc họa độc đáo qua các thời kỳ tợng trng cho sự
độc lập của các triều đại phong kiến Việt Nam
Trở lại với vấn đề đặt ra, nh chúng ta biết rằng, ba hệ thống t tởng Nho Phật - Đạo đều đợc du nhập từ Trung Hoa ngay từ thời Bắc thuộc (riêng Phậtgiáo đợc du nhập từ hai con đờng: trực tiếp từ ấn Độ và gián tiếp từ TrungHoa) Vào Việt Nam, đến thời Lý - Trần, cả ba học thuyết này đạt đến sựdung hợp và có sự tác động, chi phối sâu sắc tới quan niệm sáng tác của cácvăn nhân thi sĩ lúc bấy giờ Cho nên, đọc thơ văn Lý - Trần ta bắt gặp cái nhìntrực giác vào cõi siêu hình:
-Thân nh điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy nh lộ thảo đầu phô.
(Thị đệ tử - Vạn Hạnh)
(Đời ngời nh bóng chớp, có rồi lại không,
Nh cây cỏ mùa xuân tốt tơi, mùa thu khô héo
Mặc cho vận đời thịnh suy đừng có sợ hãi,Vì sự thịnh suy nh giọt sơng đầu ngọn cỏ.)
Và bên cạnh đó là cảm hứng trần tục, hào hứng một tinh thần nhập thế:
Quốc tộ nh đằng lạc, Nam thiên lý thái bình.
Vô vi c điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
Trang 11(Quốc tộ - Đỗ Pháp Thuận)
(Ngôi nớc nh dây leo quấn quýt,
ở góc trời Nam (mở ra) cảnh thái bình
(Dùng đờng lối) vô vi ở nơi cung điện,Thì khắp mọi nơi đều hết đao binh)
ở những chặng đờng tiếp theo của văn học trung đại, Nho giáo có lúcphá vỡ thế Tam giáo đồng nguyên để giữ địa vị độc tôn nhng không có nghĩa
là Phật giáo và t tởng Lão - Trang mất hẳn vị thế mà hai hệ thống quan niệmnày vẫn tiếp tục chắp cánh cho cảm hứng văn chơng của các nhà văn thờitrung đại Nhờ tiếp nhận quan niệm của Tam giáo mà các nhà thơ nh NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ mới có đợc những
áng thơ đằm thắm nghĩa Đạo, tình Đời, những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ.Ngay nh Nguyễn Khuyến, ngời đứng đầu ba kỳ thi của Nho giáo nhng ở đây
"Nho trên bề mặt Tín ngỡng đa thần ở bề sâu nền tảng Tam giáo (Nho, Phật,
Đạo) thịnh hành" [39, 49] Nh vậy, Nho, Phật, Đạo có sức sống lâu bền, có tácdụng làm cân bằng cảm hứng sáng tạo của các văn nhân trung đại Về vấn đềnày chúng tôi hoàn toàn tán thành với ý kiến của Giáo s Trần Đình Hợu:
"Xuất hay xử là lý thuyết của Nho giáo Nhng với ngời ẩn dật, lý luận Nhogiáo không cung cấp đầy đủ thức ăn tinh thần Nho giáo không cho họ triết lý
để sống cô độc, không cho họ nhìn ra cái đẹp của thiên nhiên mà vui thú, nhìn
ra cái vô nghĩa của cuộc đời để xa lánh, thây kệ, yên tâm hởng cảnh thanhnhàn Những ngời ẩn dật thờng tìm những chỗ thiếu thốn đó ở Trang Tử" [39,107]
Nói tóm lại Nho - Phật - Đạo luôn gắn liền với dòng chảy của văn họctrung đại Việt Nam, ba hệ thống quan niệm này hoàn chỉnh, bổ sung lẫn nhaulàm nên vẻ đẹp của văn chơng trung đại Bên cạnh quan niệm chuyển tải đạo
lý của văn chơng Nho giáo là sự màu nhiệm của Phật giáo và sự phóng nhiệmcủa Lão - Trang
1.2 Quan niệm Nho - Phật - Đạo trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
hết thế kỷ XV
Từ thế kỷ X, dân tộc ta thoát khỏi hoạ nô dịch nghìn năm của phongkiến phơng Bắc, quốc gia Đại Việt ra đời và ngày càng phát triển Trong bốicảnh ấy, nền văn học viết của dân tộc ra đời và phát triển bên cạnh dòng vănhọc dân gian đã rất phát triển từ trớc đó Tác giả dòng văn học dân gian lànhân dân lao động, tác giả của dòng văn học viết là tăng lữ, nho sĩ, vua quan,
Trang 12quý tộc Lực lợng sáng tác này chịu ảnh hởng nhiều mặt của t tởng Phật giáo,
Đạo giáo và Nho giáo Nói khác đi, trong dòng văn học viết trung đại nóichung, văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV nói riêng luôn chịu sự chi phốicủa quan niệm Nho - Phật - Đạo trong quá trình sáng tạo
Thời Lý - Trần, nhất là vào đời nhà Lý, Phật giáo rất thịnh hành và đợcxem là quốc giáo nên dòng văn học chủ lu ở giai đoạn này là dòng văn họcPhật giáo, trong đó nổi bật là hiện tợng thơ Thiền Theo cách giải thích của tác
giả Nguyễn Phạm Hùng trong chuyên luận Văn học Lý - Trần nhìn từ thể loại
thì "Thơ Thiền" là bộ phận thơ chữ Hán đời Lý - Trần do các thiền s và tăng
ni, Phật tử cũng nh những ngời tinh thông Phật đạo, có khả năng vận dụnggiáo lý thiền học vào cuộc sống và sáng tác thơ [18, 36] Nội dung cốt lõi củagiáo lý nhà Phật là thuyết luân hồi, quan niệm vạn vật biến dịch vô thờng vàcuộc sống con ngời cũng không nằm ngoài vòng luân hồi biến dịch đó Chonên, thơ Thiền Lý - Trần là một phơng tiện đắc lực cho các thiền s thuyết phápvới đệ tử, cũng là nơi để những ngời tinh thông Phật học thể hiện t tởng củamình Chẳng hạn, trớc cái chết của Thiền s Quảng Trí, nhà thơ Đoàn VănKhâm viếng bằng một bài thơ:
Lâm loan bạch thủ độn kinh thành, Phất tụ cao sơn viễn cảnh linh.
Kỷ nguyện tịnh cân tru tợng tịch, Hốt văn di lý yểm Thiền quynh.
Trai đình u điểu không đề nguyệt,
Mộ tháp thùy nhân vị tác minh.
Đạo lữ bất tu thơng vĩnh biệt, Viện tiền sơn thủy thị chân hình.
(Vãn Quảng Trí Thiền s) (Xa lánh kinh thành, vào nơi rừng núi cho đến bạc đầu,
Phất tay áo trên núi cao, càng xa càng ngát thơm
Đã mấy lần (tôi) những muốn chít khăn tu hành đến hầu bên chiếu, (Thế mà nay) bỗng nghe nhà s qua đời, cửa chùa đã khép kín Trớc sân nhà trai, tiếng chim khuya khắc khoải kêu dới trăng,
Có ai vì ngời mà đề bài minh vào ngọn tháp trên mộ?
Các bạn tu hành chớ nên đau thơng vì nỗi vĩnh biệt,
Sông núi trớc chùa chính là hình ảnh chân thực của ngời)
Trang 13Phật giáo quan niệm cái chết của con ngời không phải là hết, mà đó là
sự hóa thân thành kiếp khác, bởi vạn vật trong thế gian này chỉ là muôn vàndạng thức của một bản thể Do vậy, theo nhà thơ, cái chết của Thiền s QuảngTrí chỉ là sự hủy diệt về thể xác, sự biến đổi của pháp tớng vô thờng, còn bảnthể của nhà s đang hòa lẫn vào vạn vật Từ đó nhà thơ an ủi các đạo hữu khôngnên đau buồn vì chân hình của nhà s đang hiện hữu trong phong cảnh quanhchùa
Thơ Lý - Trần không chỉ thể hiện thiên nhiên, con ngời và những gì liênquan đến giáo lý nhà Phật mà còn nói lên tình cảm sâu nặng với non sông đấtnớc, nỗi niềm "Tiên u, hậu lạc" của một kẻ sĩ Nho gia Đó là ý chí quyết tâm
và những suy t của tớng quân Phạm Ngũ Lão trong bài thơ Thuật hoài (Tỏ
lòng):
Hoành sáo giang san cáp kỷ thu, Tam quân tì hổ khí thôn Ngu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
(Cầm ngang ngọn giáo bảo vệ non sông đã mấy năm,
Ba quân mạnh mẽ nh hổ báo, khí thế bối lên át cả sao Ngu
Nam nhi cha trả hết nợ công danh,Thẹn khi nghe ngời đời nói chuyện về Vũ Hầu)
Đó là khí thế, chiến công của một vị anh hùng lãnh đạo một đội quânanh hùng Tầm vóc của con ngời này, đội quân này phải đo bằng kích thớc vũtrụ Với khí thế, tầm vóc đó đội quân này đã làm kinh hồn bạt vía quân xâm l-
ợc, lập nên những chiến công lẫy lừng Nhng vị tớng anh hùng này còn nỗithẹn vì cha trả hết nợ công danh, thẹn vì cha đủ tài thao lợc nh Vũ Hầu GiaCát Lợng Với bài thơ này, có thể nói Phạm Ngũ Lão là một trong những ngời
mở đầu cho phạm trù "hữu chí", đặc biệt là "nam nhi chí" trong quan điểmsáng tác của các nhà Nho trong văn học trung đại Việt Nam với đỉnh cao làNguyễn Công Trứ sau này
Vào thời Vãn Trần, nhà Trần bớc vào giai đoạn suy vi, khủng hoảng,
đời sống nhân dân cơ cực trăm bề Trớc tình hình đó, Băng Hồ tớng công TrầnNguyên Đán (ông ngoại Nguyễn Trãi) và con rể Nguyễn Phi Khanh (thân phụNguyễn Trãi) đã gửi gắm nỗi niềm "tiên u" của một kẻ sĩ có trách nhiệm với
đời, với cuộc sống muôn dân Đây là nỗi niềm của Trần Nguyên Đán trong bài
thơ Nhâm Dần lục nguyệt tác (Thơ làm ngày tháng sáu năm Nhâm Dần):
Trang 14Niên lai hạ hạn hữu thu lâm, Hòa cảo miêu thơng hại chuyển thâm.
Tam vạn quyển th vô dụng xứ, Bạch đầu tâm phụ ái dân tâm.
(Mấy năm liền mùa hè bị hạn, mùa thu bị lụt, Lúa khô mạ thối tai hại rất nhiều
Đọc ba vạn sách mà thành vô dụng, Đầu bạc tuổi già rồi, luống phụ lòng yêu dân)
Đó chính là niềm u ái của một kẻ sĩ đợc hấp thu t tởng tốt đẹp củaKhổng giáo, đặc biệt là t tởng "thân dân"
Chế độ phong kiến khủng hoảng, suy vi, nhiều kẻ sĩ có chí lớn nhngkhông có đất dụng võ, đành gửi gắm nỗi bất lực, chán chờng của mình vào thi
ca Và ở đây chúng ta bắt gặp những vần thơ mang đậm màu sắc Lão - Trang:
Công danh dĩ lạc hoang đờng mộng,
Hồ hải liêu vi hãm mạn du.
Tự khứ tự lai hồn bất quản, Thơng ba vạn khoảnh tiện phi âu.
(Giang Đình tác - Chu An)
(Giấc mộng công danh đà chán ngắt, Thú chơi hồ hải hãy vung vênh
Đi về đủng đỉnh chi còn lụy, Thẳng cánh âu bay bể rộng thênh)Bài thơ biểu lộ tâm trạng chán chờng của Chu An trớc con đờng côngdanh sự nghiệp Đối với ông công danh chỉ là giấc mộng và ông khát khao đợc
du nhàn sơn thủy, sống phóng khoáng, thanh thản giữa cuộc đời Và ở đây,
chúng ta bắt gặp hình ảnh Giấc mộng hoàng lơng và ít nhiều t tởng vô vi của
triết học Lão - Trang
Vào giai đoạn cuối triều Trần, sự khủng hoảng đã đến mức trầm trọng
và bị Hồ Quý Ly tiếm vị, lập nên triều đại nhà Hồ (1400 - 1407) Nếu nh ở
thời Trần, Nho - Phật - Đạo tồn tại ở trạng thái "tĩnh lập", "đồng nguyên" thì
đến Hồ Quý Ly có xu hớng độc tôn Nho giáo Lên ngôi, Hồ Quý Ly thực hiệnmột số chính sách cải cách kinh tế - xã hội tiến bộ nhng vì không đợc lòngdân nên vơng triều của ông tồn tại khá ngắn ngủi (trong vòng 7 năm) để cuốicùng đất nớc rơi vào ách đô hộ của quân Minh
Trang 15Đặt ách đô hộ lên đời sống nhân dân ta, giặc Minh đã thực hiện nhữngchính sách vô cùng tàn khốc nh thuế má, phu phen, tạp dịch… khiến muôndân rên xiết dới gông cùm tàn bạo Đặc biệt về phơng diện văn hóa, với chủ tr-
ơng đồng hóa dân tộc Đại Việt, biến nớc ta thành một châu, quận của chúng,giặc Minh đã thi hành chính sách hủy diệt văn hóa: đốt các th tịch, phá hủy tr-ờng học, chùa chiền… Với truyền thống yêu nớc, không cam tâm làm nô lệ,các cuộc khởi nghĩa chống Minh nổi lên rầm rộ khắp mọi nơi, trong đó tiêubiểu nhất là khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Trớc tìnhhình đó, với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Trãi đã chọn Lê Lợi làmminh chúa Từ đây ông "Nếm mật nằm gai" cùng nghĩa quân, vạch đờng lốichiến lợc, sách lợc cho cuộc khởi nghĩa và đã góp công không nhỏ để đi đếnngày toàn thắng (1428) Kháng chiến thành công, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi
viết áng văn Bình Ngô đại cáo đầy hào sảng, xa nay luôn đợc coi là "thiên cổ
hùng văn" Hòa bình lập lại, triều đình Lê sơ bắt tay vào công cuộc kiến thiết
đất nớc, Nguyễn Trãi đợc xem là một kiến trúc s thiết kế đất nớc trong thờibình Với t cách này, ông lựa chọn xây dựng đất nớc theo đờng lối của Nhogiáo Việc lựa chọn này rất phù hợp với xu thế lịch sử Đây chính là tiền đề để
đi đến thời đại hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam dới thời Lê ThánhTông sau này, thời kỳ độc tôn Nho giáo Nói tóm lại, thời Nguyễn Trãi là mộtgiai đoạn lịch sử đầy bão táp, về phơng diện văn hóa có thể nói Nguyễn Trãi là
ngời chứng kiến bớc chuyển từ tình thế Tam giáo đồng nguyên sang xu thế
độc tôn Nho giáo Điều này thể hiện trớc tiên ở việc nhà s mất dần vị thế trongxã hội, và thay vào đó là vai trò của nhà nho Trong lĩnh vực kiến trúc và điêukhắc sự tác động của hệ thống t tởng mà triều đình lựa chọn rất mạnh Hệthống chùa chiền ít đợc trùng tu, xây dựng mà thay vào đó là sự phát triển của
hệ thống trờng lớp đào tạo nho sĩ Con rồng đời Lê đã chuyển hoá khác vớicon rồng thời Lý - Trần: đầu to và khoẻ hơn, có sừng và lông gáy tua tủa, cóchân năm móng quặp vào, trở thành biểu tợng cho quyền uy phong kiến
Đến thời Lê Thánh Tông trị vì, Nho giáo đã trở thành quốc giáo Nhà
n-ớc phong kiến lúc này đã đạt đến độ hoàn bị về mọi mặt, là giai đoạn hoàngkim của xã hội phong kiến Việt Nam Các cuộc thi tuyển chọn hiền tài diễn ra
đều đặn và đã tuyển chọn đợc khá nhiều kẻ sĩ có tài đức theo quan niệm củaNho giáo Do vậy, thơ văn giai đoạn này cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi thế
giới quan và ý thức hệ Nho giáo Ta thấy trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi tác giả đứng trên, lập trờng Nho giáo để tố cáo tội ác, sự bất nhân bất
Trang 16nghĩa của giặc Minh và khẳng định tinh thần nhân nghĩa của dân tộc ta Cácsáng tác khác của ức Trai cũng chứa đựng những tinh thần cốt lõi của Nhogiáo Tiếp đến là sáng tác của các tác giả khác nh: Nguyễn Mộng Tuân, LêThánh Tông, Nguyễn Bảo, Đàm Văn Lễ… cũng đều hào hứng tinh thần nhậpthế Đọc thơ Lê Thánh Tông ta thấy đợc ý thức trách nhiệm và niềm tự hàocủa ngời đứng đầu vơng triều:
Lòng vì thiên hạ những sơ âu, Thay việc trời dám trễ đâu.
Trống dời canh còn đọc sách, Chiêng xế bóng chửa thôi chầu.
(Thơ Nôm - Tự thuật)
Nho giáo đợc đề cao và trở thành công cụ đắc lực của chế độ phongkiến, đồng thời nó chi phối sâu sắc tới quan niệm sáng tác văn chơng T tởngPhật và Đạo giờ đây không còn đợc coi trọng nhng chúng vẫn còn sự ảnh h-ởng mạnh mẽ trong đời sống nhân dân Và có khi, hai hệ t tởng này còn xuyênthấm vào thơ văn của các thành viên Tao Đàn nhị thập bát tú Đây là thơ củaThân Nhân Trung viết về cảnh động Lục Vân:
Tam sinh hơng hỏa duyên phong kế, Nhất chẩm yên hà mộng dĩ hàn.
Ngỡng tục thần chơng trần lự tức, Nham hoa lộng ảnh điểu thanh nhàn.
(Đề Lục Vân động)
(Duyên hơng lửa ba sinh còn đang gắn bó, Giấc mộng khói mây đã nguội lạnh
Đợc nối thơ nhà vua, lòng trần tắt hẳn, Hoa núi đùa với bóng, tiếng chim hót th nhàn)
Cũng đề ở động Lục Vân, nhà thơ Đỗ Nhuận viết:
Thế thợng hồng trần lao nhiễu nhiễu, Nhất sinh thùy thức bạch vân nhàn.
Trang 17hệ Nho giáo khi sáng tác nhng các thi sĩ thời kỳ này vẫn dành một góc tâmhồn mình cho Phật và Đạo để những khi cần sẽ thăng hoa thành những vần thơxúc động lòng ngời.
Nói tóm lại, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là một thời kỳ lịch sử - văn hóa
đầy biến động ở mỗi giai đoạn lịch sử, ba hệ thống quan niệm Nho Phật
-Đạo có vị trí khác nhau trong đời sống xã hội và trong sáng tác văn học nhngchúng vẫn cùng tồn tại xuyên suốt cả tiến trình văn học Đối với văn học, ba
hệ thống t tởng này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, làm cho văn học ngày càngphong phú về mặt quan niệm
1.3 Sự hình thành quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ Nguyễn Trãi
"Trong xã hội cổ đại hầu hết nghệ thuật đều chứa đựng giá trị tôn giáohay chức năng xã hội Nghệ thuật thuần nghệ thuật không tồn tại" [13, 87] Làmột thi nhân trung đại, khi mà nền văn học chịu ảnh hởng bởi quan niệm Tamgiáo đồng nguyên thì việc sáng tạo thi ca của Nguyễn Trãi ít nhiều góp phầnthể hiện quan niệm triết học - tôn giáo của mình Nhng những quan niệm ấykhông phải "xuất hiện một cách đột ngột" (chữ của HoàiThanh) trong thơ ứcTrai mà chính là sự tiếp nối mạch nguồn văn chơng dân tộc, cụ thể là nhữngyếu tố văn hóa - văn học thời Lý - Trần, bởi suy cho cùng "truyền thống cómột ý nghĩa vô cùng to lớn Có thể nói, truyền thống vừa là một nguồn sống,vừa là một nguồn sáng tạo" [7, 111].Thời Lý - Trần là giai đoạn của công cuộcphục hng dân tộc sau nghìn năm đô hộ của phong kiến phơng Bắc Đây là giai
đoạn lịch sử mà chế độ phong kiến đang tiến bộ, nó còn đang đại diện choquyền lợi của dân tộc Cho nên, các nhà nghiên cứu gọi đây là giai đoạn "giàuchất dân chủ và rộng mở" Trong văn học, biểu hiện của tính dân chủ và rộng
mở đó là sự dung hòa các quan niệm Nho - Phật - Đạo, trong đó Phật giáo giữ
vị trí, âm hởng chủ đạo trong dòng chảy văn học Sống vào thời Vãn Trần, khi
mà Nho giáo đã mạnh dần thêm và từng bớc thay thế vai trò của Phật giáotrong đời sống chính trị - xã hội, hay nói khác đi đây chính là bớc chuyển từquân chủ Phật giáo tới chỗ xác định Nho giáo, hơn nữa, lại sinh ra trong dòngdõi Nho gia, ông ngoại là T đồ Trần Nguyên Đán, thân phụ là Tiến sĩ NguyễnPhi Khanh, bản thân từng xuất thân từ cửa Khổng, sân Trình, từng đỗ đạt làmquan và nhìn ra những hạn chế của triều Trần - Hồ nhng những d âm của tinhthần dân chủ và rộng mở của những thế kỷ trớc vẫn còn vang vọng trong hồnthơ Nguyễn Trãi Đối với Nguyễn Trãi, tinh thần Nho học luôn thấm sâu vàohuyết quản của ông Khi là quân s của Lê Lợi trong công cuộc chống quân
Trang 18Minh, Nguyễn Trãi dùng quan niệm nhân nghĩa của Nho giáo làm đờng lối
chiến lợc, khi là kiến trúc s kiến tạo xã hội trong hòa bình ông chủ trơng Văn trị chung tu trí thái bình (Rốt cuộc phải xây dựng thái bình bằng văn trị), và
ông luôn tự cho mình là Một đời phỏng đạo tiên Nho (thơ Nôm) Do vậy,
trong thơ ức Trai, chúng ta thờng bắt gặp các phạm trù, quan niệm và hệ t ởng Nho giáo cũng là điều dễ hiểu Nhng nh chúng ta đã biết, Nho giáo chủyếu là một học thuyết về chính trị - đạo đức có phần khô khan nên tâm hồn thi
t-sĩ của Nguyễn Trãi mở rộng ra để đón nhận thêm cái huyền diệu của Thiền
gia và cái tiêu dao của Trang Tử Trong Quốc âm thi tập, có lần Nguyễn Trãi
nói nhà quan mà giống nhà chùa là muốn nói lên tấm lòng thanh bạch, trongveo sự đời Khi đến thăm chùa Tiên Du, thi nhân đã biểu lộ tinh thần vô ngôn
đốn ngộ của mình:
Cá chân trung hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vơng.
(Tiên Du tự)
(Trong cảnh ấy thực có ý,
Ta muốn nói bỗng lại quên)
Tiễn bạn cũ là một s tăng về núi, thi sĩ ức Trai bộc bạch tâm sự muốntrút bỏ việc đời để đi vào mọi lẽ nhân duyên của nhà Phật Có khi nhà thơ daydứt với núi rừng xa, với miền đất Phật:
Giản quý lâm tàm túc nguyệt quai
(Đề Đông Sơn tự)
(Thẹn với khe, tủi với rừng, nguyền cũ sai trái)Cho nên, đối với Nguyễn Trãi, chúng ta không nên hiểu giản đơn, mộtchiều, ông không chỉ là một khách vãng chùa mà hơn nữa tâm hồn thi sĩ của
ông luôn hớng về cõi Phật
Còn đối với Đạo giáo, ta bắt gặp trong thơ Nguyễn Trãi hình ảnh cánhchim bằng, lửa lò luyện đơn, Bồng Lai Nhợc Thủy, cuộc đời là giấc mộng… Chẳng hạn, đến thăm lèn Bảo Phúc, Nguyễn Trãi suy t:
Thị xứ chân kham dung ngã ẩn, Sơn trung hoàn hữu cựu sa phù.
(Đề Bảo Phúc nham)
(Chốn này thực đáng cho ta ở ẩn, Trong núi có còn đơn sa cũ (để luyện thuốc) chăng?)
Trang 19Rõ ràng đây là một ớc muốn tu tiên học đạo của ức Trai thi sĩ Nói cáchkhác, trong những phút giây bất đắc chí trớc cuộc đời ức Trai tiên sinh đãthoáng nghĩ về Đạo giáo Màu sắc Đạo giáo hiện lên đậm nét hơn nữa trong
Trên đây chúng ta đã đi vào tìm hiểu cơ sở hình thành quan niệm Nho Phật - Đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi Vậy đến đây một câu hỏi đặt ra là
-t -tởng Nho - Phậ-t - Đạo -trong -tơng quan lý -tởng -thẩm mỹ và -thực -tiễn văn
ch-ơng và qua bộ phận thơ chữ Hán nh thế nào? Trả lời câu hỏi này không phải là
điều dễ dàng Theo chúng tôi, Nguyễn Trãi đã tiếp nhận tơng đối đầy đủ và có
hệ thống các quan niệm trên, nhng trong thực tiễn sáng tạo, tùy vào mục đích
cụ thể, tùy từng thể loại và phơng tiện biểu đạt mà ở từng tác phẩm ít nhiều có
sự khác nhau về tơng quan thẩm mỹ Riêng ở bộ phận thơ chữ Hán, NguyễnTrãi chỉ thể hiện những khía cạnh chuẩn mực của hệ thống quan niệm Nho -Phật - Đạo chứ không có điều kiện mở rộng nh ở trong thơ Nôm
Tiểu kết
Trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi các giá trị Nho - Phật - Đạo đều có chỗ
đứng và bổ sung lẫn nhau, cùng góp phần làm cho hồn thơ ức Trai cất cánh.Nhng ba hệ giá trị này không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong thơNguyễn Trãi mà đợc hình thành trên nền tảng văn hóa, văn học trung đại ViệtNam nói chung và bối cảnh văn hóa - xã hội thời đại Nguyễn Trãi nói riêng.Chính bối cảnh văn hóa - xã hội thời Nguyễn Trãi đã tạo điều kiện cho tâmhồn thi nhân rộng mở để hấp thu tinh hoa của ba hệ thống t tởng triết học - tôn
Trang 20giáo này Hơn nữa, Nho - Phật - Đạo tuy là những hệ t tởng ngoại lai nhng lạitồn tại và chi phối suốt dòng chảy văn học trung đại Việt Nam Nằm trongdòng chảy ấy, thi sĩ ức Trai đã tiếp nhận đợc cả ba hệ thống t tởng này Đặcbiệt, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là thời kỳ chứng kiến sự tồn tại của trạng tháiTam giáo tĩnh lập và sự phá vỡ của chính trạng thái này Điều này đồng nghĩavới việc Phật giáo mất dần vị thế "quốc giáo", thay vào đó là việc xác lập vaitrò của Nho giáo và nó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học và gópphần không nhỏ tới việc hình thành hệ thống quan niệm Nho - Phật - Đạotrong sáng tác của Nguyễn Trãi nói chung và thơ chữ Hán của ông nói riêng.Khi xét cơ sở hình thành Nho - Phật - Đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãichúng ta không thể bỏ qua thời kỳ văn học Lý - Trần, yếu tố trực tiếp tác độngtới hồn thơ Nguyễn Trãi Trong đó phải kể tới vai trò của Trần Nguyên Đán(1325 - 1390), ông ngoại của thi nhân và Nguyễn Phi Khanh (1336 - 1408),thân phụ của Ngời, hai nhà thơ nổi tiếng đời Trần - Hồ Đặc biệt là thân phụNguyễn Phi Khanh, ngời có ảnh hởng trực tiếp tới Nguyễn Trãi với những vầnthơ u ái khôn nguôi và cả những vần thơ tiêu sái, một nhà thơ mà "tình cảmlớn nhất của ông là tình cảm đối với dân, với nớc" [35, 134] và trong thơ ông
"thể hiện một con ngời trí thức yêu nớc nhng coi danh nh áng phù vân , nặngtình với đồng quê, thơng dân cày và muốn sống an nhàn"[53, 212] Ngoài ra,kinh nghiệm trờng đời và sở học uyên thâm cũng là một yếu tố để hình thànhnên hệ thống quan niệm Nho - Phật - Đạo trong thơ ông
Trang 21Chơng 2 Quan niệm Nho - Phật - Đạo từ điểm nhìn
cái tôi tác giả
Trớc khi đi vào nội dung chơng này chúng tôi xin lu ý ý nghĩa của từ
“điểm nhìn”đợc dùng trong luận văn không giống với khái niệm điểm nhìncủa Thi pháp học Trong Thi pháp học, khái niệm điểm nhìn đợc xem là mộtyếu tố của cấu trúc văn bản trần thuật, “là vấn đề quan hệ giữa ngời sáng tạo
và cái đợc sáng tạo” [55,149] ở đây từ điểm nhìn đợc dùng với ý nghĩa là sựquan sát, thâm nhập của ngời nghiên cứu vào các yếu tố trong cấu trúc chỉnhthể của tác phẩm văn học (Hình tợng cái tôi-chơng 2 và hệ thống đề tài-chơng3) nhằm mục đích giải mã hệ thống quan niệm Nho-Phật-Đạo đợc tác giả mãhoá trong đó
Tiếp đến, cần có sự giới thuyết sơ lợc về khái niệm cái tôi và con ngờicá nhân trong văn học Trên thực tế, hai khái niệm này gắn bó mật thiết vớinhau, bao hàm lẫn nhau, trong đó cái tôi chính là sự tự ý thức của con ngời cánhân Theo Tiến sĩ Lê Lu Oanh, thì "Cái tôi là đơn vị tồn tại của cái chủ quan.Trong thơ, cái tôi trữ tình là hình thức tự ý thức của tác phẩm trữ tình Kháiniệm cái tôi trữ tình do đó có khả năng khái quát đợc mối quan hệ giữa thơ và
đời sống, bao quát đợc toàn bộ thế giới tinh thần của chủ thể" [47, 5] Nh vậy,cái tôi là một quan hệ, một thái độ của chủ thể đối với hiện thực, là sự ý thức
về cá nhân, cá tính của chủ thể trữ tình Do vậy, có thể nói cái tôi trữ tình làmột yếu tố phổ quát của thơ trữ tình
Một thời gian dài ngời ta cho rằng con ngời trong văn học trung đạiluôn bị ràng buộc bởi chức năng phận vị, quanh quẩn với tam cơng ngũ thờngnên yếu tố cá nhân đã bị triệt tiêu, thậm chí có ngời cho rằng văn học trung
đại mang thuộc tính vô ngã Đứng trớc tình hình đó, nhà nghiên cứu Trần
Đình Sử khẳng định: "Không thể lý giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua conngời đợc thể hiện ở trong đó… Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời thựcchất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ảnh hiện thực, lýgiải con ngời bằng các phơng tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm vichiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của
nó vào các miền khác nhau của cuộc đời" [50, 97] Sau đó, Giáo s Trần Đình
Sử và nhóm cộng sự đã cho ra đời chuyên luận Về con ngời cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tái bản 1998) Trong công
trình này, các tác giả đã cố gắng chứng minh có sự hiện diện của con ngời cá
Trang 22nhân và cái tôi trong văn học trung đại Việt Nam trên cả phơng diện lý thuyết
và thực tiễn văn học ở đây, tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã không phủ nhận tínhchất quan phơng, khép kín, quy phạm của bối cảnh văn hóa trung đại đã hạnchế ý thức cá tính của nhà văn, nhng mặt khác, tác giả cũng thấy đợc một hiệntợng phổ biến là " Có sự giao thoa, đan cài giữa yếu tố quy phạm lẫn xu thế lytâm, xu thế bộc lộ những chiêm nghiệm nghệ thuật riêng" [37, 26] Tác giảHuyền Giang và Trần Đình Sử thì đi vào chứng minh có những quan niệm vềcon ngời cá nhân ở phơng Đông và cái tôi trong các học thuyết (Nho - Phật -
Đạo) trong đời sống và trong văn học Đặc biệt, đáng lu ý là các tác giả đã tìmthấy yếu tố cái tôi trong các học thuyết Nho - Phật - Đạo, trong lúc đó văn họctrung đại Việt Nam chịu ảnh hởng sâu sắc quan niệm của các học thuyết này.Trên cơ sở đó, Giáo s Trần Đình Sử khẳng định: "Nh vậy là cả Đạo, Phật, Nho,tam giáo đều chủ trơng lý tởng phá ngã, vô ngã, vô kỷ nhng không hề là một
sự "diệt ngã" tuyệt đối Trái lại, tất cả đều dựa vào phẩm chất cá nhân để giảiphóng cho cái "ngã" nội tại khao khát tự do đợc bớc sang một thế giới khác,không gò bó, tạm bợ" [37, 75] Nói tóm lại, trong chuyên luận này, các tác giả
đều đi đến nhất trí ở chỗ tuy có mức độ đậm nhạt khác nhau nhng đã có sựxuất hiện của con ngời cá nhân và cái tôi trong văn học trung đại Việt Nam
Đến đây, chúng tôi xin đợc bày tỏ sự đồng tình với nhà nghiên cứu Lê LuOanh khi khẳng định: "Không phải đợi có xuất hiện từ "tôi" thì thơ mới có cáitôi Bản thân thơ trữ tình cổ kim đều là sự hiện diện của cái tôi… Phân biệttrong thơ một thời đại từ ta và thời đại từ tôi chỉ có ý nghĩa về ph ơng diện xãhội học của thơ, chứ cha hẳn là sự phân biệt thơ của hai thời đại Sự khác biệtcác thời đại thơ ca suy cho cùng chính là ở quan niệm về cái tôi, ở hệ quychiếu quy định chức năng cái tôi trữ tình và đến lợt mình, các yếu tố này quy
định ngôn ngữ, màu sắc, âm điệu của thơ" [47, 31] Nói cách khác, khái niệmcon ngời cá nhân và cái tôi mà chúng tôi vận dụng ở đây với ý nghĩa là mộthiện tợng phổ quát trong thơ trữ tình nói chung chứ không phải theo cách hiểucủa một số nhà nghiên cứu khi đánh giá cái tôi trong thơ hiện đại
Nói riêng về nhà thơ Nguyễn Trãi, một cây đại thụ của nền văn họcViệt Nam, ngời đợc xem là "mở đầu nền thơ ca cổ điển Việt Nam" (XuânDiệu), sống và làm thơ trong bối cảnh văn hóa - xã hội thời trung đại nêntrong sáng tác của ông có một số bộ phận thơ ca mang đậm tính quy phạm vàhầu nh không có dấu ấn cá nhân, đó là bộ phận thơ ca truyền tải đạo lí thánhhiền Nhng cũng có lúc nhà thơ của chúng ta tỏ ra chán nản, tuyệt vọng:
Trang 23Sự thế dữ lành ai hỏi đến, Bảo rằng ông đã điếc hai tai.
(Ngôn chí, bài 5)
Và cũng có lúc nhà thơ ý thức về mình:
Đao bút phải dùng tài đã vẹn, Chỉ th chép nấy việc càng chuyên.
(Bảo kính cảnh giới, bài 56)
Nói cách khác, ở nhà thơ Nguyễn Trãi có mối tơng quan giữa con ngời
"hữu ngã" và "phi ngã", giữa tính chất "quan phơng" và "tự do", giữa lực ớng tâm" và "ly tâm" Đúng nh nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn từng khẳng
"h-định: "Ông có cả quan phơng, cả nhập thế lẫn ly tâm, hớng về tự do tuyệt đối.Trong ông có cả Nho, cả Phật, cả Đạo, cả h vô viễn vọng và đời thờng trầntục, cả uyên bác và bình dân, cả thiên nhiên và tình yêu, cả thơng cảm và đắmsay lẫn giận hờn trách cứ… Nh thế, cái hằng số đan kết tất cả mọi điều ngỡ
nh trái ngợc để làm thành mẫu hình con ngời cá nhân Nguyễn Trãi chính lànội lực mạnh mẽ, sống hết mình, sống dấn thân nhập cuộc tới từng sát - nacuối cùng của cuộc đời ông chi phối" [37, 153] Trên cơ sở xác định cái tôi cánhân của Nguyễn Trãi, chúng tôi đi vào tìm hiểu sự quy chiếu với quan niệmNho - Phật - Đạo trong thơ chữ Hán của thi nhân
2.1 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Nho giáo
2.1.1 Nho giáo không phải là một tôn giáo mà là một học thuyết chính
trị - xã hội, học thuyết về tu thân, t tởng cốt lõi của Nho giáo đợc thể hiện
trong Tứ th và Ngũ kinh Một trong những phạm trù nổi bật của học thuyết
Nho giáo là nhân nghĩa Theo quan niệm của những ngời sáng lập Nho giáothì nhân nghĩa là một chủ nghĩa nhân đạo chủ trơng yêu thơng con ngời nhng
"Con ngời không phải là con ngời bình đẳng nh nhau, mà là con ngời nằmtrong quan hệ cha con, anh em, vua tôi, bè bạn, tức là quan hệ luân thờng"[23, 213] Sinh ra trong một gia đình thế gia vọng tộc lại là một môn sinh xuấtsắc của cửa Khổng, sân Trình, Nguyễn Trãi chắc đã thấm nhuần lý tởng này.Nhng trong thơ Nguyễn Trãi có lúc ta thấy quan niệm của ông vợt ra ngoàivòng luân thờng của Nho giáo:
Quyền mu bản thị dụng trừ gian, Nhân nghĩa duy trì quốc thế an.
Đài các hữu nhân nho tịch noãn, Biên thùy vô sự liễu doanh nhàn.
Trang 24(Hạ quy Lam Sơn, bài 1)
(Quyền mu vốn là để trừ gian ác, Nhân nghĩa thì giữ gìn cho thế nớc đợc yên
Chốn đài các có ngời giỏi, chiếu nhà Nho ấm, Nơi biên thùy không có việc, doanh liễu đợc nhàn)
Rõ ràng, t tởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã vợt ra khỏi quan niệmgiai cấp hẹp hòi và vơn lên một tầm cao mới: đất nớc và nhân dân Theo ứcTrai, nhân nghĩa là làm cho đất nớc yên bình, làm yên lòng muôn dân, là chốnbiên thùy không có cảnh đầu rơi máu chảy… Điều này cũng đã đợc Nguyễn
Trãi nói tới trong Bình Ngô đại cáo: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" ở đây,
Nguyễn Trãi đã tiếp nhận lý tởng nhân nghĩa của Nho giáo và vận dụng mộtcách sáng tạo, bởi ông là một con ngời nhạy bén, nắm bắt đợc hoàn cảnh lịch
sử - văn hóa cũng nh khát vọng của muôn dân lúc bấy giờ là cuộc sống yênbình, no ấm sau hàng chục năm chiến tranh loạn lạc: "T tởng nhân nghĩa củaNguyễn Trãi là sự tổng hợp ba nguồn t tởng: t tởng hiện thực có nội dung nhânbản, t tởng hệ thống hóa đúc rút từ kinh sách thánh hiền và niềm tin mạnh mẽ
có tính chất tâm linh (ông vững tin nhân nghĩa là đạo ngời mà cũng là đạo trời, ngời lãnh đạo theo nhân nghĩa đợc ủng hộ bởi cả Trời - Thần - Ngời cho
nên tất yếu thành công)" [62, 182]
2.1.2 Mô hình xã hội lý tởng của Nho giáo là xã hội thời Tây Chu (thế
kỷ XXIII TCN) hay còn gọi là thời Nghiêu - Thuấn Tơng truyền thời ấy xãhội rất thái bình, đời sống muôn dân no ấm, các đời vua thay thế nhau theochế độ tập hiền (ngời hiền tài sẽ đợc làm vua, khác với chế độ thế tập cha-truyền con nối sau này) Các thế hệ môn đồ Khổng - Mạnh luôn mơ ớc gópsức mình để xây dựng một xã hội nh thế Thi nhân Nguyễn Trãi cũng vậy, cả
đời sống và hành động đều hớng về xã hội thời Tây Chu, và nhiều lúc trởthành niềm khát khao cháy bỏng:
Thánh tâm dục dữ dân hu tức, Văn trị chung tu trí thái bình.
(Quan duyệt thủy trận)
(Lòng thánh muốn cho dân nghỉ ngơi, Rốt cuộc phải xây dựng thái bình bằng văn trị)Bài thơ ghi lại cảm xúc của tác giả khi xem quân đội nhà Lê tập trậntrên sông trên biển Nhìn thấy quân đội khí thế hùng mạnh, nhà thơ rất đỗi tựhào Nhng ánh hào quang đó không làm thi sĩ của chúng ta lóa mắt mà ngời
Trang 25đang suy t về đờng lối xây dựng đất nớc trong cảnh thanh bình Đó là dùngvăn trị để xây dựng xã hội thái bình là cái đích cuối cùng phải đạt đến Đócũng là khát khao mãnh liệt của ức Trai thi sĩ, và niềm khát khao này cũng đ-
ợc tác giả gửi gắm ở thơ Nôm:
Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn, Dờng ấy ta đà phỉ thửa nguyền.
(Tự thán, bài 4)
Nói cách khác, xã hội lý tởng đối với thi nhân Nguyễn Trãi là một triều
đình có trách nhiệm với muôn dân, biết lắng nghe tiếng nói của nhân dân, làmcho nhân dân hạnh phúc no ấm
2.1.3 Nho gia khuyến khích con ngời nhập thế giúp đời, thực hiện lý
t-ởng tu, tề, trị, bình Kẻ sĩ của Nho giáo luôn ý thức trách nhiệm của mình trớccuộc đời, trớc thời thế Là một con ngời suốt đời phấn đấu vì lý tởng nhânnghĩa, Nguyễn Trãi luôn mang trong mình nỗi u thời mẫn thế:
Nhân sinh thức tự đa u hoạn, Pha lão tằng vân ngã diệc vân.
gặp khá nhiều trong Quốc âm thi tập:
Bui một tấc lòng u ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông.
(Trần tình, bài 5)
2.1.4 Khuyến khích con ngời nhập thế nhng Nho giáo cũng chuẩn bị
cho con ngời cả hai tâm thế: "Đạt kiêm tế thiên hạ, cùng độc thiện kỳ thân"(Gặp thời thì ra giúp thiên hạ, không gặp thời thì giữ mình trong sạch) Bởivậy, đối với các nhà Nho, vấn đề hành - tàng, xuất - xử là một lẽ th ờng tình, ít
có sự băn khoăn day dứt, nhiều nhà Nho khi gặp hoàn cảnh bất nh ý đã trở về
ở ẩn một cách nhẹ nhàng, thanh thản Nhng đối với Nguyễn Trãi, vấn đề xuấthay xử, hành hay tàng đã thực sự trở thành một cuộc đấu tranh nội tâm Cuộc
đấu tranh này đã in dấu ấn khá đậm nét vào thơ ức Trai Giáo s Trơng Chính
đã đa ra nhận định: "Có thể thấy tiếp theo những ngày tháng kháng chiến giankhổ, Nguyễn Trãi liền bớc vào thời kỳ sóng gió nhất trong cuộc đời ông Cũng
Trang 26là thời kỳ ông có nhiều tâm sự nhất Có một cuộc đấu tranh t tởng dai dẳngtrong ngời ông về hay ở, cuộc đấu tranh t tởng ấy là một đề tài chính của thơ
ông lúc này" [31, 283- 284] Đi vào tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi, ta nhận thấycuộc sống chốn triều quan thực sự làm Nguyễn Trãi phải ghê sợ:
Hoạn tình dị khiếp thơng cung điểu,
(Mạn hứng, bài 3)
(Tình hình làm quan dễ khiếp con chim đã bị cung bắn)
Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngu
(Mạn hứng, bài 1)
(Đối cảnh tục lòng sợ nh trâu sợ mặt trăng mà phì phò thở)
Đối chiếu với cảnh triều chính và cuộc đời Nguyễn Trãi lúc bấy giờ thìquả thật những câu thơ trên thật chân thực Đó là tâm t, là chiêm nghiệm củanhà thơ trớc cuộc đời đầy ngang trái Khi hoàn thành cuộc kháng chiến chốngquân Minh, đất nớc trở lại thái bình, nghe lời gièm pha của bọn gian thần, LêLợi đã giết chết Phạm Văn Xảo, bức tử Trần Nguyên Hãn, những bậc côngthần trong cuộc kháng chiến Nguyễn Trãi cũng bị bắt giam một thời gian vì
bị nghi ngờ có âm mu làm phản Từ đó về sau, bao cảnh chớng tai gai mắtngày càng diễn ra nhiều hơn Không chịu đợc cảnh triều chính mục nát,Nguyễn Trãi bất đắc dĩ trở về Côn Sơn, nơi gắn bó với tuổi thơ của ông đểsống cuộc đời ẩn dật Tuy vậy, dù ở chốn quan triều hay về Côn Sơn ở ẩnNguyễn Trãi cũng không từ bỏ cuộc đấu tranh xã hội để tìm cho mình cuộcsống an nhàn:
Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch, Quân thân tại niệm thốn tâm đan.
(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm)
(Năm tháng luống vô tình, hai mái tóc bạc, Quân thân vẫn để dạ, một tấc lòng son)
Nguyện bả lan thang phân tứ hải, Tòng kim tháo tuyết cựu ô dân.
(Đoan Ngọ nhật)
(Nguyện đem nớc thang lan chia khắp bốn biển, Để từ nay rửa sạch cái nhơ nhớp cũ cho dân)
Đó chính là tấm lòng son sắt nh lửa lò đơn luôn hớng về đạo quân thân,
về nớc, về dân trong mọi hoàn cảnh của ức Trai thi sĩ Nhng cũng có lúc nhà
Trang 27thơ của chúng ta khát khao đợc về với thiên nhiên, mây ngàn hạc nội, sốngcuộc đời của một ẩn sĩ:
Hà thời kết ốc vân phong hạ, Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên.
(Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác)
(Bao giờ đợc làm nhà dới ngọn núi mây, Múc nớc khe nấu chè và gối đá ngủ?)
Có lúc ức Trai nghĩ mình đã lạc bớc vào đờng công danh:
Tùng cúc do tồn vi vị vãn, Lợi danh bất tiển ẩn phơng châu.
Ta d cửu bị nho quan ngộ, Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân.
đấu tranh giữa các hệ t tởng này Hay nói cách khác, trong ức Trai thi sĩ có sựphân thân giữa con ngời nhà Nho ở ẩn bắt gặp t tởng Phật - Đạo Trong thơ
Nôm, ví dụ ở bài Bảo kính cảnh giới, số 43 ta bắt gặp tâm hồn thi nhân đang
hòa điệu cùng cảnh vật, màu sắc, âm thanh cũng nh nhịp điệu của cuộc sốngtrong một buổi chiều hè nhng đến hai câu kết mới vỡ lẽ rằng thì ra thi nhânvẫn còn vơng nặng cuộc sống xã hội Bởi đến đây ức Trai mong có đợc cây
đàn của Ngu Thuấn để gảy lên khúc Nam phong làm cho muôn dân có đợc
cuộc sống giàu đủ Một ớc muốn thật lớn lao! Rõ ràng đây là ớc mơ của mộtcon ngời có trách nhiệm, có lòng thơng yêu dân tha thiết Để thay cho lời kết,chúng tôi xin đợc dẫn lời của Giáo s Nguyễn Huệ Chi: "Rõ ràng cái nhàntrong thơ Nguyễn Trãi chỉ là một cách nói của nhà thơ, một cách che dấunhững nỗi đau lòng, cái buồn của ông là cái buồn có duyên cớ sâu sắc và việcquy sơn đâu phải là một điều sảng khoái đối với ông, nó chỉ là một tình thế bất
Trang 28đắc dĩ, là cái kết quả bi thảm của trăm nghìn sóng gió trong nội bộ của giaicấp phong kiến lúc bấy giờ mà thôi" [32, 154].
2.1.5 Căn cứ vào cách phân loại kiểu tác giả Nho gia của Trần Đình
H-ợu và Trần Ngọc Vơng, chúng ta nhận thấy ở trong thơ chữ Hán, con ngờiNguyễn Trãi hiện lên vừa mang dáng dấp của nhà Nho hành đạo, vừa mangdáng dấp của một nhà Nho ẩn dật, lại vừa thấp thoáng bóng hình một nhà Nhotài tử, tuy còn đang mờ nhạt Bởi có lúc Nguyễn Trãi đã thoát ra khỏi nhữngquy phạm, chuẩn mực khắt khe của giáo lý phong kiến Đồng thời, ức Trai thi
sĩ cũng đã ý thức đợc tài năng, bản lĩnh của mình giữa cuộc đời ô trọc Biểuhiện đầu tiên là sự ý thức sâu sắc về "t văn" của ức Trai thi sĩ Mặc dù phải
sống trong cảnh cô đơn cùng cực: "Chúng báng cô trung tuyệt khả liên" (Lắm
kẻ ghét một mình trung, rất đáng thơng hại) nhng Nguyễn Trãi vẫn ngangnhiên khẳng định tài năng, bản lĩnh của mình:
Số hữu nan đào tri thị mệnh, Văn nh vị tán dã quan thiên.
(Oan thán)
(Khó trốn đợc số mình, biết là vì mệnh,
T văn nhng cha bỏ, cũng bởi ở trời)Bài thơ đợc tác giả viết trong cảnh tù ngục, bởi ông đã bị bắt giam mộtthời gian vì bị nghi ngờ làm phản, nhà thơ viết ra là để giãi bày nỗi oan của
mình Nhng ở đây ta không thấy một tiếng thở than tuyệt vọng nh trong Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ sau này, mà trái lại ta bắt gặp sự suy nghiệm về
cuộc đời, về nhân thế, và cao hơn là bản lĩnh một kẻ sĩ đầy tài năng Khẩu khícủa Nguyễn Trãi làm ta liên tởng đến Đức thánh Khổng Tử trong một lần bịngời nớc Khuông vây bắt, ông đã nói với học trò rằng: "Văn vơng đã mất, vănkhông ở ta hay sao? Trời muốn đem văn ấy làm mất đi, ta đã không biết văn
ấy; Trời cha muốn làm mất văn ấy, ngời Khuông làm gì đợc ta" (Luận ngữ, thiên Tử Hãn).
Trong bài Thu nhật ngẫu thành (Ngày thu ngẫu nhiên làm) bắt nguồn từ
cảm xúc một ngày mùa thu, và cũng có thể nhà thơ liên tởng đến mùa thu củacuộc đời mình, mọi sự vật biến đổi theo thời gian nhng ý thức về t văn thì vẫnluôn thờng trực, thậm chí ngày càng cao hơn:
Thiên địa t văn tòng cổ trọng,
Hồ sơn thanh hứng nhập thu cao.
(T văn của trời đất từ xa vẫn trọng,
Trang 29Hứng thú với nớc non sang thu càng cao)
Và cả trong thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng từng bộc lộ ý thức về t văn củamình:
Mấy kẻ t văn sinh đất Việt,
Đạo này nối nắm để cho dài.
(Tự thán, bài 22)
Có thể nói rằng, trong thơ chữ Hán, Nguyễn Trãi đã vận dụng và pháttriển những luận điểm của Nho gia lên một tầm cao mới Vấn đề này đợc qui
định bởi bản lĩnh của ức Trai kết hợp với sự nhạy bén của trái tim ngời nghệ
sĩ Điều này biểu hiện tập trung ở thái độ thị tài kín đáo của thi nhân:
Cửu vạn đoàn thông ký tích tằng,
Đơng niên thác tỉ bắc minh bằng.
H danh tự thán thành cơ đẩu, Hậu học thùy tơng tác chuẩn thằng?
Nhất phiến đơn tâm chân hống hoả, Thập niên thanh chức, ngọc hồ băng…
Đống lơng tài có mấy bằng mày, Nhà cả đòi phen chống khỏe thay.
(Tùng)
Trang 30Nói tóm lại, những quan niệm Nho giáo đã đợc Nguyễn Trãi tiếp nhậnthông qua nội lực tinh thần của ức Trai tiên sinh đã tạo nên một xung lực litâm, xung lực này có lúc đã đa Nguyễn Trãi ra khỏi vòng quy phạm của Nhogiáo, tạo cho thi sĩ của chúng ta có một vị thế riêng giữa cuộc đời.
Bản lĩnh của ức Trai thi sĩ còn đợc thể hiện ở tinh thần phóng khoáng,vợt lên thói thờng Là một công thần của triều Lê trong cuộc kháng chiếnchống Minh, khi cuộc sống trở lại cảnh thanh bình, ai nấy đều lo toan cho bảnthân và gia đình, củng cố quyền vị, danh vọng nhng Nguyễn Trãi vẫn mộtlòng, một dạ vì nớc, vì dân Cho nên, ông bị rơi vào tình thế cô độc:
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên
(Oan thán)
(Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thơng hại)Câu thơ diễn tả nỗi cô đơn cùng cực của thi nhân giữa cuộc đời, đó lànỗi cô đơn của những con ngời giàu tài năng, phẩm cách bị ngời đời ghenghét Đến đây ta nhớ đến Lu Hiệp từng viết: "Tri âm thực khó thay! Cái âmthực là khó biết, Ngời biết thực là khó gặp Gặp đợc tri âm nghìn năm mới cómột lần" [17, 135] Quả thực, suy cho cùng cả triều chính lúc ấy có ai hiểu đ-
ợc tấm lòng và ý chí của ức Trai đâu, ngay cả đấng minh quân một thời là LêLợi Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Trãi vẫn luôn nhất quán trong quan niệmsống và hành xử, đó là không luồn cúi để cầu danh lợi, cố gắng vợt qua nhữngcám dỗ đời thờng:
Ưu du thả phục ngôn d hiếu, Phủ ngỡng tùy nhân tạ bất năng.
(Mạn hứng, bài 2)
(Lại bảo rằng ta thích u du, Đến nh cúi ngửa theo ngời thì xin không thể làm đợc)Cốt cách này ta bắt gặp ở ngời xa, đó là Đào Tiềm không vì dăm đấugạo mà phải luồn cúi tấm thân mình Từ đó, thi nhân khát khao có cuộc sốngphóng khoáng, tự do và tự tại:
Tiển sát hoa biên song bạch điểu, Nhân gian lụy bất đáo thơng châu.
(Vãn lập)
(Thèm chết đợc nh đôi chim trắng ở bên hoa kia, Lụy nhân gian không đến đợc bãi ẩn dật)
Trang 31Đó cũng là khát khao của một con ngời cô đơn đến cùng cực, muốn tìm
đến với thiên nhiên để có đợc sự giãi bày, cảm thông và chia sẻ Trở về giữathiên nhiên, Nguyễn Trãi tự hào phân biệt mình với những ngời phàm tục
khác: Trần ngoại phong lu tự nhất gia (Phong lu ngoài cõi tục, tự ta thành một
nhà) Và cũng ở đây, ức Trai cảm thấy tâm hồn mình giàu có biết bao:
Nhãn để nhất thì thi liệu phú, Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa.
Nh vậy, Nho giáo là một học thuyết với hệ thống luận t tởng phức tạp,nhng trong thơ, đặc biệt là trong thơ chữ Hán, Nguyễn Trãi chỉ thể hiện nhữnggì tinh túy nhất, gần gũi với đời sống nhất chứ ông không đề cập đến toàn bộvấn đề của Nho giáo Và những t tởng của Nho giáo đi vào thơ chữ HánNguyễn Trãi cũng đã đợc biến đổi ít nhiều trong quan niệm của nhà thơ đểphù hợp với hoàn cảnh của dân tộc và thời đại Điều này thể hiện ức Trai làmột con ngời đầy bản lĩnh, tiếp nhận có chọn lọc và vận dụng một cách sángtạo chứ không rập khuôn máy móc theo sách vở
2.2 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Phật giáo
Là một môn sinh xuất sắc của cửa Khổng, sân Trình, từng giữ nhiềutrọng trách trong triều đình nên có thể khẳng định Nho giáo là dòng mạch t t-ởng chủ đạo trong con ngời Nguyễn Trãi Nhng nói nh vậy không có nghĩa làcảm quan Phật giáo không tồn tại trong con ngời thi nhân, mà trái lại nó vẫn
đầy sức hấp dẫn và khả năng lay động tâm hồn Bởi d âm của thời đại Lý Trần còn vang hởng trong tâm hồn nhà thơ, hơn nữa ông cũng có những suy t
-và có sự thông kênh với quan niệm Phật giáo về cuộc đời Vì thế, NguyễnPhạm Hùng đã xếp Nguyễn Trãi là ngời mở đầu dòng "thơ thiền thế sự trongvăn học Việt Nam cổ" [19, 140]
2.2.1 Thời trẻ, Nguyễn Trãi đợc sống cùng ông ngoại ở Côn Sơn, nơi
đ-ợc coi là miền đất Phật với động Thanh H, là cửa ngõ của đình Tổ Thiền phái
Trang 32Trúc Lâm - Yên Tử Sau này, trong những tháng năm loạn lạc, phải sống trongcảnh tử biệt sinh li thì Côn Sơn luôn đợc thi nhân xem là cội nguồn thanhsạch, nơi gửi gắm những suy t về cuộc đời, về nhân thế:
Thập niên phiêu chuyển thán hồng bình, Quy tứ dao dao nhật tự tinh…
Uất uất thốn hoài vô nại xứ, Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh.
(Quy Côn Sơn chu trung tác)
(Mời năm xiêu dạt thân mình nh cỏ bồng cánh bèo, Lòng muốn về nhà ngày nào cũng nh cờ rung động luôn…
Uất ức tấc lòng không làm sao đợc, Cửa thuyền xô gối không ngủ đến trời bình minh)
Đó là tấm lòng đau đáu khôn nguôi hớng về quê hơng, cội nguồn, hớng
về miền đất Phật linh thiêng Trong một hoàn cảnh khác, khi đa tiễn bạn lànhà s Đạo Khiêm về núi, thi nhân tâm sự:
Ký tằng giảng học thập d niên, Kim hựu tơng phùng nhất dạ miên.
Thả hỉ mộng trung phao tục sự, Cánh tầm thạch thợng thoại tiền duyên.
Minh triêu Linh Phố hoàn phi tích,
Vả mừng trong mộng bỏ hết việc tục, Lại tìm lên núi để nói chuyện tiền duyên
Rạng mai sẽ bay gậy về núi Chí Linh, Ngày nào mới cùng nghe suối ở Côn Sơn?
Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta,
Từ biệt nhau rồi thì ta cũng sẽ tu đạo thiền thợng thừa)Qua đây, thi nhân bộc bạch cùng bạn ý tởng thoát li cuộc đời trần tục,trở về với sự thanh bạch chốn cố hơng, trở về với sự thanh cao và huyền diệucủa t tởng Thiền học Đồng thời, ức Trai cũng ngỏ ý sẽ tu theo phái thợng
Trang 33thừa (cỗ xe lớn) để giải thoát cho tất cả mọi chúng sinh ở đó, coi trọng sự
giác ngộ, đi thẳng đến chốn tâm linh theo tinh thần: "Bồ đề vô thụ kính phi
đài - Vạn sự giai tòng tâm lý lai" (Bồ đề không phải là cây thực, gơng thì
không có đài, Muôn việc đều do trong lòng mà đến)
2.2.2 Sinh thời không hiểu vì công việc hay cuộc sống thanh nhàn mà
Nguyễn Trãi thờng hay du lãm cảnh chùa và làm thơ đề vịnh và qua đó thểhiện cảm quan Phật giáo của mình Chẳng hạn, đây là cảnh chùa Hoa Yên trênnúi Yên Tử:
Yên Sơn sơn thợng tối cao phong, Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng.
Vũ trụ nhãn cùng thơng hải ngoại, Tiếu đàm nhân tại bích vân trung.
ủng môn ngọc sáo sâm thiên mẫu, Quải thạch chân lu lạc bán không.
Nhân miếu đơng niên di tích tại, Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.
(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)
(Trên núi Yên Tử ở chòm cao nhất, Mới đầu canh năm mà mặt trời đã rực hồng
Mắt nhìn vũ trụ ra tận ngoài biển xanh, Ngời ta nói cời ở trong làn mây biếc
Giáo ngọc (cây trúc) cắm ở cửa rậm rà nghìn mẫu, Tua châu (nhũ đá) treo ở đá rũ xuống lng chừng
Vua Nhân Tông bấy giờ còn để dấu, Trong ánh hào quang trông thấy rõ đôi mắt con ngơi)
Đến đây, tâm hồn nhà thơ nh hòa hợp cùng với đất trời, vũ trụ, nói theongôn ngữ nhà Phật thì cái tiểu ngã của tác giả trong phút giây này đã bắt gặpcái đại ngã của vũ trụ Và đến chùa Hoa Yên nhà thơ nhớ về vua Trần NhânTông, vị tổ s thứ nhất của dòng Thiền Trúc Lâm - Yên Tử, bởi những dấu tíchcủa ông vẫn còn để lại, chân hình của ông nh đang hiện hữu đâu đây
Còn đây là sự suy t của ức Trai thi sĩ trớc cảnh chùa Đông Sơn:
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài, Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
Tam thập d niên trần cảnh mộng,
Sở thanh đề điểu hoán sơ hồi.
Trang 34(Đề Đông Sơn tự)
(Một niềm đối với vua và cha lâu vấn vơng lòng, Thẹn với khe tủi với rừng, nguyền cũ sai trái
Hơn ba chục năm mộng ở cõi trần,
Và tiếng chim kêu tỉnh trở lại nh xa)
Có lẽ đến với chùa Đông Sơn, khát vọng đến với miền đất Phật một thờicủa thi nhân bỗng dng trỗi dậy, bởi hơn ba chục năm qua đã lỡ bớc chân vàocõi trần mà theo ông, cõi trần là một giấc mộng "sinh ký" Tiếng chim có tácdụng thức tỉnh, gợi mở cho thi nhân con đờng trở về với mọi lẽ nhân duyên,với cái huyền diệu của triết lý nhà Phật: "ở đây lý tởng thực hành Nho giáo đ-
ợc bộc lộ nh một dòng chảy bề nổi, còn sâu xa là nguyện ớc đợc trở về với bảnthể Tự nhiên, Thiên nhiên… " [49,76]
Còn đây là sự thanh thản trong cõi lòng thi sĩ khi đến với cảnh chùaTiên Du:
Đoản trạo hệ tà dơng, Thông thống yết thợng phơng.
Vân quy thiền sáp lãnh, Hoa lạc giản lu hơng.
Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn không trúc ảnh trờng.
Cá trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vơng.
Ta muốn nói bỗng lại quên)
Đây mới chính là cảnh thanh tịch chốn cửa thiền Nhà nghiên cứu TrầnThị Băng Thanh đã phát hiện ra: "Cái h ảo của ánh tà dơng đợc "buộc" vàomột mái chèo có thực; cái vội vã của ngời khách lên thăm chùa đợc điều chỉnhlại bằng cái tĩnh của ngôi chùa bình lặng; cái lạnh lẽo của giờng thiền khi mây
Trang 35kéo về đợc ấm bằng dòng suối ngát hơng khi hoa rơi; cái nhanh gấp của tiếngvợn kêu trong chiều tà đợc th thả lại bởi bóng trúc ngả dài trên núi quang" [41,430] Rõ ràng, cảnh và cảnh, cảnh và ngời ở đây, trong phút giây này có sựhòa hợp tận cùng: "là sự đối diện giữa tâm và cảnh, một sự giao hòa giữa cảnh
và tâm" [49,77] Đến hai câu cuối chúng ta nhận thấy tác giả đã đạt đến khả
năng "Vô ngôn đốn ngộ" của Thiền học Bởi cái sự Dục ngữ hốt hoàn vơng
(Muốn nói bỗng lại quên) không phải là một sự "quên" thông thờng mà là một
sự chứng nghiệm cái lẽ "đốn ngộ" vô cùng huyền diệu của giáo lý nhà Phật ởmột bậc minh triết đạt đạo
2.2.3 Thuyết Tứ diệu đế là t tởng triết học nhân sinh cơ bản của Phật
giáo, trong đó Khổ đế là yếu tố đầu tiên, bởi Thích Ca Mâu Ni quan niệm
cuộc đời là bể khổ Đó là nỗi khổ do vòng luân hồi sinh, lão, bệnh, tử; khổ vìkhông a mà hợp (oán tăng hội); khổ vì phải chia lìa (thụ biệt ly); khổ vì muốn
mà không đợc (sở cầu bất đắc); đợc cũng khổ mà mất cũng khổ (ngũ thủ uẩn)[42, 55] Soi chiếu vào cuộc đời Nguyễn Trãi, chúng ta thấy ức Trai đã vơngvào hầu hết mọi nỗi khổ mà Phật Thích Ca đã khái quát Cho nên, với trái timcủa một ngời nghệ sĩ, ức Trai thi sĩ rất nhạy cảm trớc những bi kịch của cuộc
đời, bởi suy cho cùng cuộc đời ức Trai là chuỗi dài những bi kịch Lúc trẻ,
ng-ời phải chịu cảnh ly tán gia đình, quê hơng do loạn lạc, đau khổ hơn, ông cònphải làm "khách tha hơng trên chính quê mình" [72,36], sau này trở thành mộtcông thần của nhà Hậu Lê thì bị ghen ghét, xúc xiểm nên ông rất đỗi cô đơn
Và đỉnh cao của bi kịch cuộc đời ức Trai là thảm án Lệ Chi Viên, một vụ ánthảm khốc trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Sinh thời, chắc ức Trai
đã tiếp xúc khá nhiều kinh kệ của nhà Phật và tìm đợc sự tơng đồng với cuộc
đời mình, cho nên trong thơ của ngời đầy những câu thơ mang màu sắc vàcảm quan Phật giáo:
Niên lai biến cố xâm nhân lão,
… Thu việt tha hơng cảm khách đa.
Táp tải h danh an dụng xứ, Hồi đầu vạn sự phó Nam Kha.
Trang 36Đây là những câu thơ mà ức Trai thi sĩ đã đúc kết, chiêm nghiệm từcuộc đời đầy sóng gió của mình Điều đáng nói là những câu thơ này có chứa
đựng ít nhiều triết lí nhà Phật, đó là sự biến ảo vô thờng của cuộc đời và cuộc
đời là h ảo, phú quý công danh chỉ nh sơng mai treo đầu ngọn cỏ
Là một ngời sống đầy bản lĩnh, sẵn sàng đơng đầu với mọi thử tháchnhng ức Trai vẫn có những dự cảm về bi kịch của cuộc đời:
Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ,
… Kim quỹ chung tàng vạn thế công.
Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu, Thế gian na cánh sổ anh hùng.
(Đề kiếm)
(… Thù nớc đã rửa sạch sỉ nhục hàng nghìn năm, Trong hộp vàng cuối cùng xếp công muôn thuở
Chỉnh đốn càn khôn từ đó là xong, Thế gian lại có đếm xỉa gì tới bậc anh hùng nữa)
Đó chính là bi kịch bị cuộc đời quên lãng Mặc dù có đợc dự cảm nhvậy nhng Nguyễn Trãi cũng không tránh khỏi bi kịch Cho nên, đối vớiNguyễn Trãi, cuộc đời là đầy sóng gió, khổ đau, đời là bể khổ và thấm đẫm n-
ớc mắt của chúng sinh:
Kiểu kiểu long nhơng vạn hộc chu,
An hành mỗi cụ phúc trung lu.
Sự kham thế lệ phi ngôn thuyết, Vận lạc phong ba khỉ trí mu.
Trang 37Tiếp nhận t tởng công bằng "từ", "bi", "hỉ", "xả" của giáo lý nhà Phật,Nguyễn Trãi có khát vọng giải thoát cho mọi chúng sinh, điều này đợc cụ thểhóa bằng khát vọng làm sao cho muôn dân đợc no ấm, hạnh phúc:
Nguyện bả lan thang phân tứ hải, Tòng kim tháo tuyết cựu ô dân.
và yên bình Rõ ràng, t thế của thi nhân ở đây rất gần gũi với t thế của các vị
Bồ Tát, Quan Âm đang làm phép cứu nhân độ thế
Trong thơ chữ Nôm, do thuận lợi hơn về mặt ngôn ngữ nên nhà thơ có
điều kiện mở rộng và đi sâu hơn trong việc thể hiện những điều cốt lõi củaquan niệm Phật giáo, cho nên ta thấy ở đây những hình ảnh thơ uyên áo vàsống động:
ánh nớc hoa in một đóa hồng, Vết nhơ chẳng bén, bụt làm lòng.
Chiều mai nở chiều hôm rụng,
Sự lạ cho hay tuyệt sắc không.
đời và sở học uyên thâm, Nguyễn Trãi đã có sự gặp gỡ những giá trị nhân bảncăn cốt trong t tởng Phật giáo, thể hiện một cách hình dung về cuộc đời tơng
đồng với quan niệm của Phật giáo, từ đó thăng hoa thành những vần thơ đằmthắm nghĩa Đạo tình Đời" [49,80]
2.3 Con ngời cá nhân Nguyễn Trãi và quan niệm Đạo giáo
2.3.1 Chúng ta biết rằng Đạo giáo vốn có nguồn gốc từ t tởng Lão
-Trang, một học thuyết mang màu sắc triết học, sau đó phát triển thành một tôngiáo với nhiều nhánh khác nhau, trong đó có đạo tiên và đạo phù thủy Trong