1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ mới 1932 1945

79 1,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Nghệ Thuật Về Tình Yêu Cá Nhân Trong Thơ Mới 1932 - 1945
Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn Cô Giáo Lê Thị Hồ Quang
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam Hiện Đại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 226 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm đó đợc xuất hiện từ ý thức vềcá nhân cá thể trong đời sống xã hội và từ đó tác động đến đời sống vănhọc.Vì vậy, chọn đề tài này chúng tôi có dịp nhìn lại quan niệm về tình yêuc

Trang 1

trờng đại học vinh

khoa ngữ văn

 Nguyễn thị hải yến

khóa luận tốt nghiệp

quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân

Trang 2

ơn sâu sắc đối với sự động viên giúp đỡ của gia đình, ngời thân

1.1 Tình yêu là tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng, thờng đem lại những

vui buồn và nhiều kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời mỗi con ngời Tình yêu đợcxem là đề tài muôn thuở, khơi nguồn và in đậm dấu vết trong văn học quanhiều thời đại của mọi dân tộc ở Việt Nam, mỗi thời kỳ văn học đề tài tìnhyêu đợc quan niệm và thể hiện rất khác nhau Trong nền văn học trung đại, cóthể nói rất nghèo về thơ tình, nếu có thì ngôn ngữ dè dặt, kín đáo, hình ảnh sơsài và thờng đi chệch ra những đề tài khác Tình yêu đợc đề cập một cáchchung chung, trừu tợng về tình cảm lứa đôi Tình yêu trong văn học thời kỳnày thờng gắn liền với cái chí, cái nghĩa của ngời quân tử Đồng thời, nó cũng

gắn với hôn nhân mà không có tình yêu, phải tuân theo khuôn vàng thớc ngọc

cổ truyền, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, môn đăng hộ đối Đề tài tình yêu

Trang 3

trong giai đoạn 1932 - 1945 đã tạo nên những đổi mới trong sáng tác củanhiều tác giả Đối với một số thi sỹ Thơ mới, đề tài tình yêu đã tạo nên mộtdiện mạo riêng Quan niệm về tình yêu cá nhân thời kỳ này gắn liền với mộtcách nhìn, cách cảm mới về con ngời và thế giới Đó là kết quả của một t duynghệ thuật mới mang, tính hiện đại Quan niệm đó đợc xuất hiện từ ý thức vềcá nhân cá thể trong đời sống xã hội và từ đó tác động đến đời sống vănhọc.Vì vậy, chọn đề tài này chúng tôi có dịp nhìn lại quan niệm về tình yêucủa các nhà Thơ mới, để khẳng định vai trò và vị trí của đề tài này trong Thơmới nói riêng và trong phong trào thơ ca lãng mạn 1932 - 1945 nói chung.

1.2 Khi khảo sát công trình Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm

(1999), chúng tôi thấy trong số 82 nhà thơ có mặt trong tuyển tập, dù ít hay

nhiều, mỗi nhà thơ đều có thơ tình Chính vì vậy, thơ tình trong Thơ mớichiếm số lợng khá lớn, có hơn 400/ 1081 bài thơ trong Thơ mới Đây là một

bộ phận thơ lớn trong phong trào Thơ mới, có những đặc điểm và quy luật nộitại riêng Do đó, việc đi sâu nghiên cứu, khảo sát vấn đề quan niệm nghệ thuật

về tình yêu cá nhân trong Thơ mới và sự chi phối của quan niệm ấy tới ph ơngthức thể hiện trong sáng tác của các nhà Thơ mới là rất cần thiết

1.3 Phong trào Thơ mới ra đời 1932 và kết thúc 1945, trong một

khoảng thời gian không phải là dài, nhng đã tạo ra đợc nhiều thành tựu xuấtsắc Thơ mới đợc các nhà nghiên cứu có tầm cở và bạn đọc chú ý, bàn luận rấtnhiều Tuy nhiên, tình yêu lại đơc nhắc tới với một khía cạnh nhỏ trong mộtbài viết về một tác giả hay một vấn đề của Thơ mới Vì vậy, chọn đề tài này,chúng tôi muốn nghiên cứu vấn đề quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhântrong Thơ mới ở một phạm vi rộng lớn hơn, trong tính hệ thống của nó, với tcách là một hiện tợng nghệ thuật, xem nó là một đối tợng khoa học

1.4 Hiện nay, những bài thơ của Thơ mới đợc giảng dạy ở chơng trình

phổ thông chủ yếu là những bài thơ tình của những tác giả nh: Xuân Diệu,Hàn Mặc Tử … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những

đóng góp, phục vụ cho việc giảng dạy ở nhà trờng phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối với phong trào Thơ mới cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiêncứu, các bài viết về phong trào Thơ mới Điều đó cho thấy lịch sử vấn đề vềphong trào Thơ mới rất phong phú và phức tạp Nhng ở đây do yêu cầu vàphạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ xin điểm lại lịch sử nghiên cứu và phê bình

Trang 4

về vấn đề tình yêu trong Thơ mới Về thời gian, tạm chia quá trình nghiên cứuvấn đề làm ba thời kỳ: Trớc Cách mạng tháng tám năm 1945, sau Cách mạngtháng 8 năm 1945 và thời kì sau 1986 đến nay.

2.1 Thời kỳ trớc Cách mạng tháng 8 năm 1945

Sau những thăng trầm của sự đấu tranh giữa Thơ mới và thơ cũ, năm

1932, đợc xem là mốc đánh dấu sự thắng thế của Thơ mới, bắt đầu với bài thơ

Tình già của Phan Khôi Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết

xoay quanh phong trào Thơ mới

Đầu tiên phải kể tới Lu Trọng L trong bài viết Phong trào thơ mới in

trên tiểu thuyết thứ 7 số 27 ra ngày 01/12/1934 Lu Trọng L đã nhận xét kháchi tiết cách cảm, cách nghĩ về cái đẹp, về tình yêu, đặt nó trong sự đối lậpgiữa quan niệm cũ và quan niệm mới Ông viết: "Các cụ ta u những màu đỏchoét, ta lại a những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêmkhuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngâythơ các cụ coi nh đã làm một điều tội lỗi, ta thì ta cho là mát mẽ nh đứng trớcmột cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhng đối với tathì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gầngủi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình ảo mộng, cái tình giây phút, cáitình nghìn thu "[19,17] Đây cũng chính là tâm lý chung của lớp thanh niênnhững năm đầu của thế kỷ XX Đặt nó trong sự đối lập với quan niệm cũ, L uTrọng L muốn nhấn mạnh cái tính chất mới mẻ trong ý thức cá nhân con ngờithời kì đầu thế kỉ XX

Năm 1942, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân đợc xuất

bản Đây là công trình đánh giá bao quát về Thơ mới trên sự phân tích khá kĩlỡng về cơ sở xã hội, cơ sở thẩm mỹ của nó Hoài Thanh, Hoài Chân đã nhậnxét: "Phơng Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta Ta không còn cóthể vui cái vui ngày trớc, buồn cái buồn ngày trớc, yêu, ghét, giận hờn nhấtnhất nh ngày trớc Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình nh con ngời muôn nơi

và muôn thủa Nhng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ XX, những mối tìnhcủa ta không khỏi có cái màu sắc riêng, dáng dấp riêng của thời đại [19,17]

Tác giả của Thi nhân Việt Nam đã nhận ra sự thay đổi trong tình cảm của con

ngời đầu thế kỷ XX và cho đó nh một hiển nhiên của thời đại mới Họ cũng đi

Trang 5

vào sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu trong Thơ mới, để khám phá giá trị

đích thực về thơ tình yêu - nét làm nên diện mạo cho cái tôi trong Thơ mới.

Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan xuất bản năm 1943 Sử dụng

những phơng pháp nghiên cứu khách quan, khoa học, tác giả đã đi sâu vào tìmhiểu những nét mới, những giá trị thẩm mỹ trong sáng tác của nhiều thi sĩ, văn

sĩ của thời kì đầu thế kỉ XX -1945 Đối với Thơ mới, tác giả đã nghiên cứu,tìm hiểu ở một số nhà thơ tiêu biểu Vũ Ngọc Phan không đề cập đến vấn đềtình yêu trong Thơ mới, mà ông chỉ nhận xét nét nổi trội đối với từng nhà thơ

nh Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử v.v Vấn đề tình yêu cũng đợc nhắc tới,nhng chỉ trong phạm vi những tác giả, tác phẩm cụ thể

Trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, còn có những ý kiến đây đó bàn

về vấn đề tình yêu trong Thơ mới, chẳng hạn ý kiến của Dơng Quảng Hàm

trong Việt Nam văn học sử yếu, ý kiến của Hoa Bằng trên tạp chí Tri Tân

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhìn chung, đến vấn đề cha đợc nghiên cứu

cụ thể mà chỉ ở mức độ chung chung, cha có hệ thống ở những năm tiếptheo, chủ đề tình yêu trong Thơ mới càng đợc nghiên cứu, bàn luận nhiều hơn,

đợc nâng lên một tầm khái quát cao hơn

2.2 Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975

ở thời kỳ này, lịch sử nghiên cứu vấn đề tình yêu trong Thơ mới đợcchú ý, quan tâm và có hệ thống hơn Các nhà nghiên cứu đã soi xét vấn đề từnhiều góc độ khác nhau, đặt nó trong nhiều quan điểm để đánh giá vấn đề mộtcách sâu sắc, toàn diện

Sau Cách mạng tháng tám 1945 thì Thơ mới nói chung và vấn đề tìnhyêu nói riêng bị đối xử khá nặng nề Khi cách mạng tháng Tám thành công,phần lớn các văn nghệ sĩ tiền chiến đã hăng hái đi theo cách mạng và sẵn sàngdùng ngòi bút của mình để phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến Trongkhông khí đó, các nhà lý luận, các nhà thơ, nhà văn đã quay lại phủ nhận, phêphán những sáng tác trớc Cách mạng, trong đó có Thơ mới và những bài thơmang nội dung tình cảm lứa đôi Hoài Thanh trớc Cách mạng, xem Thơ mới là

lẽ sống của mình và nhiệt thành ngợi ca các sáng tác Nhng sau Cách mạng,

ông lên tiếng phủ nhận Thi nhân Việt Nam, phủ nhận những trạng thái tình cảm trong Thơ mới Năm 1951, ông viết trong Nói chuyện thơ kháng chiến:

Trang 6

"Thấy buồn, thấy cô đơn con ngời trong thơ cũ tìm đờng chạy trốn, nhng trốn

đi đâu cũng không hết buồn tủi, bơ vơ" Quan niệm của Hoài Thanh vẫnkhông thay đổi trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, đến tháng

11/1964 trong cuốn Phê bình và tiểu luận, ông lại lên tiếng phê phán: "Nhìn

chung, thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc, đó là cha nói đếnphần hiển nhiên sa đoạ, nguy hiểm nhất là nó đã tạo ra một thứ say sa, trong

đó hình nh không buồn rầu, không điên loạn, không bế tắc, thì không hay,không sâu, bế tắc đã biến thành một thứ lý tởng"

Trong giới lý luận và phê bình, giọng điệu chung là đều phê phán, đặcbiệt đối với vấn đề tình yêu trong Thơ mới Năm 1971, Vũ Đức Phúc trong

Bàn về những cuộc đấu tranh t tởng đã viết: "Tình yêu ấy và sự hởng lạc là

hai lẽ sống của anh … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Anh muốn sống nh thế chứ chẳng phải là anh muốn

“từ chối xã hội”, quay lng lại cuộc sống đen tối! Những nhận định mơ hồ nhthế thực ra đã làm cho ngời ta hiểu rằng: Thơ mới có giá trị phê phán nh vănchơng hiện thực Thực ra, chủ nghĩa lãng mạn t sản Việt Nam tán thành lốisống xa hoa của t sản, thừa nhận chế độ phong kiến Nhng tại sao Thơ mới th-ờng “Buồn”? vì nhiều lẽ Là vì anh nghèo khó nên anh không thể thực hiện đ -

ợc cái lý tởng của mình, cái lý tởng đầy những vàng son, châu báu, lụa là, hoabớm, rợu - nh hình ảnh của thơ các anh Thơ tình của những nhà Thơ mới dàydạn với cuộc đời, phần nhiều là việc thi vị hoá những mối tình thoảng qua,ngắn ngủi, nói thẳng là cái tình vụng trộm kiểu tay ba, tình yêu giang hồ, việclàm sa ngã một thời gian mấy cô gái lơng thiện, nghèo nàn, ngây thơ Nhngthờng thờng anh không có điều kiện để yêu và hởng lạc nên hay mơ mộng … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những [14,76] Có thể nói rằng, Vũ Đức Phúc đã phê phán rất nặng nề đối với vấn đềtình yêu trong Thơ mới Những ý kiến đó, đúng nh nhận xét của Phan Cự Đệ:

"mang tinh thần độc lập suy nghĩ, nhng thỉnh thoảng vẫn để lộ ra những nhận

định phê phán mang màu sắc xã hội học dung tục, chứ cha phải là phê bình mác xít, cha thật chính xác và nói chung có lý nhng cha thật có tình" [dẫn

theo ]

1966, trong công trình Văn học lãng mạn, Phan Cự Đệ đã nhận xét về

đề tài tình yêu trong Thơ mới: Tình yêu là một trong "những con đờng thoát lyphổ biến nhất của các nhà thơ, và tình yêu là nguồn cảm hứng duy nhất, nhngtình yêu còn là lẽ sống duy nhất ở đời" [5,84, 85] Phan Cự Đệ cũng đi vào

Trang 7

sáng tác của một số nhà thơ, do vậy vấn đề đợc đánh giá xuất phát từ quan

điểm chủ quan của cá nhân nhà thơ Tác giả cũng khẳng định vai trò, vị trí của

đề tài tình yêu trong Thơ mới

2.3 Thời kì sau 1986 đến nay

Từ năm 1980 đến nay, đặc biệt sau 1986, trong không khí đổi mới, Thơmới là một trong những sự kiện văn học đợc nhìn nhận, đánh giá lại Giớinghiên cứu đã xem Thơ mới là nằm trong mạch văn học dân tộc, họ đi vào tìmhiểu, nghiên cứu về nội dung cũng nh nghệ thuật của Thơ mới Họ đã đi sâunghiên cứu, khẳng định đề tài tình yêu, khẳng định tinh thần nhân văn, pháthuy cái tôi của mình ở lĩnh vực tình yêu

Lê Đình Kỵ trong công trình Thơ mới - những bớc thăng trầm đã viết:

"Chủ nghĩa lãng mạn là sự bùng nổ của tình cảm cá nhân đợc “giải phóng”thì “giải phóng” trớc hết là trên “mặt trận” yêu đơng, cá nhân đợc sống theo

khát vọng muôn thủa của con ngời" [9,140] Tác giả Lê Đình Kỵ đã khẳng

định và ghi nhận quan niệm về tình yêu của các nhà Thơ mới gắn liền với sựtrỗi dậy, thức tỉnh của ý thức cá nhân Tác giả cũng đã tìm hiểu vấn đề tìnhyêu thông qua việc khảo sát, phân tích thơ của một số tác giả tiêu biểu nhXuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Lu Trọng L, Nguyễn Bính, Hồ DZếnh … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Nhànghiên cứu này cho rằng, tình yêu lứa đôi là một đề tài trung tâm của Thơmới

Một thời đại trong thi ca của Hà Minh Đức, xuất bản năm 2002 là một

công trình nghiên cứu mang ý nghĩa tổng hợp về Thơ mới Đối với vấn đề tình

yêu trong Thơ mới, đã đợc tác giả dành riêng một chuyên mục để khảo luận:

Thơ lãng mạn trong phong trào Thơ mới ở chuyên mục này, tác giả cũng đã

khẳng định ngôi vị của đề tài tình yêu trong Thơ mới: "Thơ viết về tình yêulứa đôi có thể đợc xem là đề tài quan trọng bậc nhất và góp phần tạo cho Thơmới một diện mạo riêng, độc đáo Tác giả cũng cho rằng: Thơ tình trong giai

đoạn này mang dấu ấn rõ rệt của thời đại mới, thơ tình trong quỹ dạo của thời

kỳ hiện đại" [7,102] và nhắc tới thơ tình của văn học giai đoạn trớc với nhữngthi pháp tợng trng, ớc lệ, khuôn sáo, tác giả viết: "Thơ tình trong thơ mới cónhiều niềm vui trần thế hơn Các nhà thơ nghĩ đến một tình yêu mà mỗi phútgiây là khoảnh khắc căng tràn sức sống, là sự bộc lộ trọn vẹn tình cảm và khát

vọng" [7,103]

Trang 8

Hà Minh Đức đã khái quát vấn đề tình yêu và rút ra những kết luận xác

đáng cho vấn đề, đa đến một quan niệm xác đáng cho vấn đề, đa đến mộtquan niệm hoàn toàn khác cho vấn đề tình yêu trong Thơ mới: "Thơ tình lãngmạn của phong trào thơ mới gần gủi với cuộc đời và tình ngời Nó xuất phát từ

khát vọng sống và yêu đơng của một thế hệ" [7,109] Nh vậy, những nhận

định của Hà Minh Đức trong công trình nghiên cứu của mình, đối với vấn đềtình yêu đã làm thay đổi thế giới quan cho một đề tài trung tâm của Thơ mới

Ghi nhận những đóng góp lớn của mảng thơ tình yêu trong Thơ mới còn

có luận án Tiến sỹ của Lu Khánh Thơ với đề tài Thơ tình Xuân Diệu (1994).

Trong đó, tác giả có nhận xét chung về thơ tình trong Thơ mới: "Riêng thơtình trong Thơ mới có thể xem là sự nở rộ, một sự khoe sắc, khoe tài của gần

đủ mặt các nhà thơ Mỗi ngời một vẻ, mỗi ngời một cung bậc, các nhà Thơmới đã đa thơ về tình yêu lên đến đỉnh điểm của thơ ca lãng mạn Việt Nam

1930 - 1945 Đối với các nhà văn, nhà thơ của thời kỳ này, khai thác vào đề tàitình yêu, ngoài nhu cầu bộc lộ cái tôi sâu kín, bộc lộ những khát khao đời th-ờng của cá nhân con ngời … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những còn là nhu cầu giải toả, nhu cầu vợt lên trênnhững ràng buộc, những bế tắc của cuộc sống thực ở rất nhiều nhà thơ, tìnhyêu trở thành cứu cánh, thành lối thoát trớc một thực tại không đợc thoả mãn[32,20] Cũng đánh giá thơ tình trong Thơ mới nh các nhà nghiên cứu khác,nhng phần sau, Lu Khánh Thơ đã có kết luận khá sâu sắc khi nói về việc cácthi sỹ khai thác đề tài tình yêu, mỗi ngời có một quan niệm khác nhau khi đếnvới địa hạt tình yêu, nhng tất cả đều tìm thấy nơi tình yêu một nhu cầu, mộtchổ dựa cho cuộc sống của họ

Tác giả Phan Huy Dũng trên Tạp chí Sông Lam, số 11 năm 1995, có bài viết: Thơ mới và việc mô tả vẽ đẹp thể chất con ngời, tác giả đã đa ra một

khía cạnh khác cho quan niệm về tình yêu trong Thơ mới, tạo nên một cáinhìn đầy đủ hơn cho quan niệm đó Tác giả cho rằng việc mô tả vẽ đẹp thể chấtcon ngời "sẽ thay vào đó một cách nhìn mới, một cách biểu hiện mới, sẽ xác lậpmột tầng nền vững chắc cho việc thể hiện chủ đề tình yêu - một chủ đề lớn,

quán xuyến của nó" [4, 49] Phan Huy Dũng cũng cho rằng: "chủ đề tình yêu

chiếm một vị trí nổi bật trong Thơ mới Việc mô tả vẻ đẹp thể chất của conngời gắn liền với những cảm xúc yêu đờng Nó là một trong những dấu hiệucơ bản giúp ta nhận thấy sự khác biệt trong cách “mô tả” tình yêu giữa những

Trang 9

“thời đại thi ca” [4,53] Tác giả đã cảm niệm khá toàn diện đối với vấn đề tìnhyêu trong Thơ mới, thêm vào đó một cách nhìn khác nữa để tạo nên sự đầy đủcho quan niệm về tình yêu trong Thơ mới.

Nhìn chung, từ sau Cách mạng tháng tám 1945, đặc biệt những năm

đầu, đối với vấn đề tình yêu thì hầu hết các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình

đều lên tiếng phủ nhận phê phán Nhng từ những năm 80 trở đi, trong khôngkhí đổi mới, vấn đề tình yêu đã đợc nhìn nhận lại, đợc tiếp cận từ nhiều góc độkhác nhau Chúng ta có thể nhận thấy những thành quả đáng trân trọng ấy

Đối với vấn đề quan niệm nghệ thuật về tình yêu trong Thơ mới, nhìn thìkhông phải là vấn đề mới, nhng để có một công trình nghiên cứu có quy mô,

có hệ thống thì không phải là dễ Cũng có những ý kiến đề cao đề tài này,

nh-ng nh-ngợc lại cũnh-ng có nh-ngời hạ thấp nó Chúnh-ng ta sẽ tiếp thu nhữnh-ng gì mà các nhànghiên cứu đã làm, để tiếp tục nghiên cứu và có hớng đi hợp lý cho vấn đề Sự

kế thừa những thành quả của những ngời đi trớc sẽ tạo đà để chúng tôi giảiquyết những nhiệm vụ mà luận văn sẽ đề ra ở phần tiếp theo

3 Nhiệm vụ, phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn hớng tới những nhiệm vụ sau:

3.1.1 Tìm hiểu khái niệm quan niệm nghệ thuật và những tiền đề xã hội,

thẩm mĩ, tạo cảm hứng sáng tạo cho đề tài tình yêu trong Thơ mới

3.1.2 Thông qua việc khảo sát thơ tình của một số tác giả tiêu biểu trong

phong trào Thơ mới, để khái quát nên quan niệm nghệ thuật của họ đối vớivấn đề tình yêu, một vấn đề nổi bật và xuyên suốt Từ đó, khẳng định vai trò,

vị trí của đề tài tình yêu trong Thơ mới nói riêng và trong văn học lãng mạnnói chung

3.1.3 Vấn đề tình yêu trong Thơ mới đợc các nhà thơ vận dụng với

những phơng thức thể hiện đặc sắc, gắn liền với những kiểu t duy nghệ thuậtmới của thời đại Vì vậy, luận văn cũng nêu ra nhiệm vụ tìm hiểu một số ph-

ơng thức thể hiện đề tài tình yêu cá nhân tiêu biểu ở một số nhà Thơ mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Giới hạn việc nghiên cứu vấn đề này trong mảng thơ tình của phongtrào Thơ mới Đặc biệt, đối với một số nhà thơ đỉnh cao nh: Xuân Diệu, HànMặc Tử, Nguyễn Bính, Lu Trọng L, Vũ Hoàng Chơng, Huy Cận … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có nhữngQua tìm

hiểu, khảo sát, chúng tôi thấy công trình Thơ mới 1932 -1945, tác giả và tác

phẩm (1999) là một tập hợp đầy đủ và hoàn chỉnh hơn cả Vì vậy, chúng tôi

chọn tuyển tập này làm cơ sở chính cho sự khảo sát, thống kê, nghiên cứu về

đề tài Quan niệm nghệ thuật về tình yêu trong Thơ mới của mình

3.3 Phơng pháp nghiên cứu

Đi vào đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều phơng pháp nh: Phơngpháp thi pháp học, phân tích, thống kê, so sánh, miêu tả… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những

4 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Phụ lục, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần

Nội dung gồm 3 chơng nh sau:

Chơng 1: Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân - một số vấn đềgiới thuyết chung

Chơng 2: Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân

Chơng 3: Sự chi phối của quan niệm tình yêu cá nhân tới phơng thức thểhiện

Trang 11

1.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật

Trong lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học, có thể thấy ở mỗi thời kỳ cómột khái niệm nổi lên nh một trung tâm, chi phối cách hiểu các khái niệmkhác nhau trong hệ thống các khái niệm lý luận văn học

ở Liên Xô, vào những năm 70, 80 cho đến nay vấn đề thi pháp, quan điểmcon ngời cùng các khái niệm về quá trình văn học, hình tợng tác giả lại ở vào

vị trí trung tâm Trong đó: "Quan niệm nghệ thuật đợc xem là khái niệm lýluận quan trọng bậc nhất trong mấy thập niên qua, có ý nghĩa trả về cho văn

học bản chất nhân học" [17,119] Vậy thế nào là quan niệm nghệ thuật? Hãy bắt đầu từ khái niệm quan niệm Từ góc độ chiết tự quan niệm đợc hiểu nh là

cách xem xét, nhìn nhận, cách nhận thức, đánh giá Từ gốc rễ đó, khái niệm

quan niệm đợc xác định là việc hiểu, nhận thức nh thế nào đó về một vấn đề

[17,771] Nh vậy quan niệm chính là cách cắt nghĩa lý giải của con ngời vềcác hiện tợng, sự việc theo những cách thức nhất định nào đó

Còn quan niệm nghệ thuật? Quan niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa, lý

giải của ngời nghệ sỹ về một vấn đề nào đó của hiện thực bằng nghệ thuật,

thông qua nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con ngời thể hiện ở

điểm nhìn nghệ thuật, cách cảm nhận hiện thực nh những hằng số tâm lý củachủ thể, ở hệ thống hình tợng đợc mô tả, ở cách xử lý các biến cố và quan hệnhân vật trong tác phẩm Quan niệm bị quy định bởi cách nhìn, tầm nhìn của

Trang 12

chủ thể và chủ thể cũng bộc lộ rõ bản thân mình (vốn sống, vốn văn hoá, khảnăng t duy, cảm thụ … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những.), qua cách đánh giá, lý giải của anh ta về các vấn đềcủa con ngời và đời sống xã hội Từ chổ đứng của mình, trên cơ sở hấp thụnhững yếu tố t tởng, văn hoá … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những của thời đại và dân tộc, ngời nghệ sỹ tạo nênquan niệm riêng của mình Trần Đình Sử nhận xét: "Trong nghệ thuật, thếgiới đợc quan niệm hoá trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một thế giới, thoảmãn nhu cầu tồn tại của nó Nghệ thuật nâng sự cảm thụ thế giới lên tầm quanniệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật.Với ý nghĩa này, quan niệm nghệ thuật là một phạm trù về một chỉnh thể nghệthuật, là công cụ t duy về các hiện tợng nghệ thuật nh những chỉnh thể" [17,99] Nh vậy, quan niệm nghệ thuật là cách nhìn riêng của ngời nghệ sỹ về conngời và thế giới ẩn chứa, chi phối trong các sáng tác nghệ thuật Do vậy, khámphá quan niệm nghệ thuật của nhà văn thực chất cũng là khám phá chiều sâusáng tạo t tởng của nhà văn, khám phá nét độc đáo trong t duy nghệ thuật củanhà văn.

1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân

Từ cách hiểu về khái niệm Quan niệm nghệ thuật trên, chúng ta có thể đa

ra cách lý giải về khái niệm Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân nh sau:

Quan niệm nghệ thuật về tình yêu chính là cách nhìn nhận, cách lý giải riêngcủa ngời nghệ sỹ về vấn đề tình yêu cá nhân, một thứ tình cảm đặc biệt nẩysinh giữa những ngời khác giới Đó là một cái nhìn mang chiều sâu triết lý,chiêm nghiệm của tác giả Cách nhìn nhận, lý giải này đợc thể hiện qua vàbằng những sáng tác nghệ thuật cụ thể Chính quan niệm nghệ thuật về tìnhyêu sẽ chi phối cách ngời nghệ sỹ xây dựng tạo tác nên thế giới tình yêu quaviệc lựa chọn, sử dụng một hệ thống hình tợng, hình ảnh cụ thể, sống động, và

hệ thống phơng tiện, biện pháp nghệ thuật tơng ứng Nhng tình yêu cá nhân làmột thứ tình cảm mang tính nhân loại, là một hiện tợng tâm lý - xã hội phổbiến trong đời sống con ngời, do vậy, quan niệm tình yêu xét đến cùng, chính

là quan niệm của ngời nghệ sỹ về con ngời và thế giới, từ một góc nhìn đặc

tr-ng Mỗi nhà thơ tình đều có một quan niệm riêng về tình yêu, cho dù nhữngquan niệm đó khi thì đợc phát biểu một cách trực tiếp dới dạng những triết lý,hay những câu cách ngôn cô đọng, bóng bẩy, hoặc chỉ gián tiếp thể hiện thôngqua thế giới nghệ thuật của từng thi sỹ, chúng vẫn đóng vai trò là yếu tố hạt

Trang 13

nhân, tạo nên vẻ đẹp độc đáo trong thơ tình của mỗi tác giả Quan niệm nghệthuật về tình yêu sẽ cho thấy một cách nhìn, cách cảm mới về con ngời, về thếgiới, và quan trọng hơn là một cách xử lý nghệ thuật mới đối với đề tài tởng

nh đã "muôn năm cũ " này.

1.2 Quan niệm về tình yêu cá nhân trong thơ ca Việt Nam thời kỳ trớc Thơ mới

Tình yêu là đề tài muôn thủa của văn học nghệ thuật nói chung và thơ

ca nói riêng, điều này không chỉ đối với một dân tộc, một quốc gia nào, mà nó

có tính phổ biến với toàn nhân loại Chính vì vậy, đề tài tình yêu trong văn họccũng đợc xem là đề tài vĩnh cửu và có ý nghĩa nhân loại Con ng ời ở mỗi thời

đại, mỗi giai đoạn đều yêu và cảm nhận, thể hiện tình yêu ở những cách khácnhau Đối với các thi sỹ trong phong trào Thơ mới ở nớc ta những năm 30, thìthơ tình không phải là một đề tài mới, mà cái mới chính là ở phong cách,phẩm chất, ở sự nhận chân giá trị đích thực của đối tợng và kéo theo một ph-

ơng thức thể hiện mới, tạo nên chất lợng mới

1.2.1 Quan niệm về tình yêu cá nhân trong ca dao, dân ca

Tình yêu lứa đôi xuất hiện trong văn học và bắt đầu là từ ca dao, dân ca

Vũ Ngọc Phan nhận xét : "Có thể nói là ca dao, dân ca đã ghi lại tất cả cácchặng đờng của tình yêu, các khía cạnh của tình yêu, các trạng thái tình cảmcủa nam, nữ thanh niên, với những trắc trở khó khăn do cuộc sống và chế độphong kiến gây nên Ca dao trữ tình là một thiên tình ca muôn điệu" [13, 16].Tình yêu trong ca dao, dân ca là tình yêu nảy sinh trong lao động sản xuất,trong sinh hoạt cộng đông, nó gắn liền với ruộng đồng, cây đa, bến nớc, vớicảnh trí thiên nhiên nơi thôn dã quê mùa Tác giả là những ngời lao động sángtác ra những câu ca dao, dân ca để ghi lại những tâm sự, nổi lòng của mình đểnhắn gửi, bộc bạch, chia sẽ với bạn tình

Tình yêu trong ca dao, dân ca có khi mang sắc thái phản kháng quyết liệt

để giành dật hạnh phúc lứa đôi, để bảo vệ tình yêu lứa đôi trớc sức mạnh củathế lực phong kiến Nhng đại bộ phận các bài ca dao, dân ca nói về tình yêu

đều thể hiện lòng chung thủy, thể hiện những tình cảm mộc mạc, chân thànhcủa ngời lao động Tình yêu của họ thờng đợc diễn tả trong những khung cảnhthiên nhiên mỹ lệ, đồng ruộng núi cao, biển cả … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những lối so sánh, ví von luôn là

Trang 14

lối t duy thông dụng, hữu hiệu nhất trong việc biểu đạt tâm trạng con ngời.Tình yêu trong ca dao, dân ca không gắn với cảnh ngộ riêng của một cá thể

mà thờng mang tính điển hình cao, tiêu biểu cho tâm t tình cảm của nhiều lớpngời Tình yêu trong ca dao thờng đợc thể hiện qua nhiều dạng thức tình cảm

cụ thể Khi là sự mong ớc chân tình tha thiết:

Ước gì anh lấy đợc nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Khi là nổi nhớ nhung, da diết đối với bạn tình:

Gió đâu gió mát sau lng Dạ đâu dạ nhớ ngời dng thế này

Thơ ca dân gian dù có chổ còn đơn giản, quê mùa, nhng những câu ca,

điệu hát của họ về tình yêu vẫn luôn luôn trong sáng, gợi nhớ thơng hơn lànhững ham muốn nhục cảm

1.2.2 Quan niệm tình yêu cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam thời

kỳ từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX

Tình yêu là một đề tài lớn, xuyên suốt mọi nền văn học Trong nền vănhọc trung đại, thơ tình yêu lứa đôi ít phổ biến; Tình thờng gắn liền với nghĩa,

nó nằm trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến Tình yêu giữa Lục Vân Tiên

và Kiều Nguyệt Nga cũng đợc bắt đầu từ động cơ là ân nghĩa phải trả Trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du, tác giả đã thể hiện đợc ớc mơ đẹp đẽ về tình yêu

trai gái tự do, hồn nhiên và trong sáng giữa xã hội khắc nghiệt, tù túng và bấtcông Tình yêu trong xã hội phong kiến là tình yêu gắn liền với hôn nhân, vớicuộc sống gia đình, vợ chồng, không có tính chủ động, sự lựa chọn mà chịu sựhạn chế bởi lẽ giáo phong kiến Mối tình Thuý Kiều - Kim Trọng là bài catuyệt vời nhất về tình yêu đôi lứa trong văn học trung đại, đem đến cho conngời một cảm giác an bình và một lòng tin vững chắc, cho dù xã hội và cuộcsống có nh thế nào đi chăng nữa thì con ngời vẫn sống và hớng về chân trờicủa tình yêu, của hạnh phúc

Tuy nhiên, đề tài tình yêu trong thơ ca trung đại còn chịu sự hạn chế từnhững hình thức thể hiện với các công thức mang tính quy phạm chặt chẽ,nhiều điển tính điển cổ, ớc lệ … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Chính những điều này đã kìm hãm sự pháttriển nội dung trong đề tài tình yêu Tuy vậy, trong văn học thời kỳ này vẫn

Trang 15

xuất hiện những tác giả, tác phẩm độc đáo, tiêu biểu, nh các sáng tác của HồXuân Hơng; Vấn đề tình yêu cá nhân trong các sáng tác của Hồ Xuân Hơngluôn có xu hớng vợt thoát ra ngoài những khuôn phép của xã hội, để giảiphóng cá nhân khỏi những ràng buộc của lễ giáo ý thức cá nhân và những đòihỏi hạnh phúc, tình yêu đã đợc đẩy lên ở mức cao hơn Tình yêu trong thơ HồXuân Hơng thờng thiên về bộc lộ những cảm xúc cá nhân, những ham muốn

đời thờng của con ngời hơn là ngợi ca tình yêu ở khía cạnh đạo lý

Phạm Thái cũng là ngời nổi tiếng với những mối tình lãng mạn của ông

và Trơng Quỳnh Nh, và mối tình này đã đi vào thơ Xuân Diệu nh một huyềnthoại:

Trời xanh thế! hàng cây thơ biết mấy Vờn non sao! đờng cỏ mộng bao nhiêu Khi Phạm Thái gặp Quỳnh Nh thuở ấy

Trong nền văn học trung đại, Phạm Thái đã có những sáng tác hay từ

những mối tình của mình Tiêu biểu nh: Truyện thơ Sơ kính tân trang, Văn tế

Trơng Quỳnh Nh, Cầm tháo, Triệu luật, Thuật hoài … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Phạm Thái đã diễn tảtâm hồn khát khao yêu đơng lãng mạn của ông, tình yêu đã vợt qua mọi khuônphép, để phù hợp với mọi quyền sống, quyền hởng thụ hạnh phúc của con ng-

ời

Đề tài tình yêu trong thơ cổ điển là những tâm sự, những khát khao, trạngthái của mỗi cá nhân, mỗi con ngời cụ thể Đồng thời nó là tiếng lòng của mộtlớp ngời, và của toàn xã hội Trong thơ cổ điển, quan niệm về tình yêu và cáchthức biểu hiện nó, mang tính điển hình cao

1.2.3 Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1932

Bớc sang những năm đầu của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có nhữngbiến động sâu sắc, đặc biệt là từ sau cuộc xâm lợc của thực dân Pháp, đất nớc

đã chuyển mình dữ dội về kinh tế, chính trị, xã hội Cuộc sống vật chất cónhiều thay đổi đã kéo theo những thay đổi trong cuộc sống tinh thần, nhất là

sự thay đổi trong t tởng, quan niệm … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Với văn học, đã có những quan niệmmới mẽ, phù hợp với cuộc sống hiện tại ở mọi đề tài đã thể hiện đợc những nétcách tân, khác với những tác phẩm văn học cũ Thế kỷ XX ở Việt Nam, đợc

Trang 16

xem là giai đoạn phát triển, trổi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân, mà đỉnh caocủa nó là sự biểu hiện ở đề tài tình yêu lứa đôi ở đó những t tởng mới, nhữngtính chất mới đợc thể hiện rõ qua thơ viết về tình yêu.

Tản Đà, Đông Hồ, Tơng Phố là ba nhà thơ có sứ mạng chuyển tiếp giữatruyền thống và hiện đại Các sáng tác của họ trớc 1930 đã xuất hiện những

yếu tố của Thơ mới sau đó Tản Đà với Thề non nớc, Giấc mộng con ta có thể

nhận biết đợc những xúc cảm, những quan niệm, cách thể hiện tình yêu trongthơ ông Cái mới của Tàn Đà trong quan niệm về tình yêu là ông đã bắt đầu có

sự phân biệt giữa tình yêu và hôn nhân Ông đề cao tình yêu ở khía cạnh hởngthụ những xúc cảm yêu đơng, điều mà lễ giáo phong kiến không cho phép.Khát khao tình yêu cô đơn, sầu muộn luôn là những điều ta bắt gặp trong thơtình của Tản Đà Cái nhìn của ông đã phát hiện ra cái tinh tế, xốn xang củaxúc cảm yêu đơng - vốn là sản phẩm mới của hiện đại Tàn Đà luôn có cáinhìn thèm khát ái ân, điều này đã công kích vào quan điểm thẩm mỹ của nhogia Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Thơ tình Tản Đà là thơ của ngời khao khát tìnhyêu và thất vọng về tình yêu, thơ rợu, thơ chơi của ông là thơ của ngời chán

đời, của ngời phải tìm những thú vui để khuây khoả, mà chán đời cũng chỉ vì

đời chán mình, đời không chiều mình" [12, 372] Các sáng tác của ông lànhững dấu hiệu cơ bản của Thơ mới sau này, thơ tình của ông có cái buồn , cáithất vọng … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những đó là mạch thơ cuối thế kỷ XIX cho đến phong trào Thơ mới(1932 - 1945)

Cùng với Tản Đà, giọng thơ Đông Hồ tuy không có nhiều đặc biệt,

nh-ng nhữnh-ng vần thơ tình của ônh-ng khiến chúnh-ng ta nhận ra âm hởnh-ng của thơ tình

trong Thơ mới sau này Ngời ta thờng nhắc tới ông với bài thơ Khóc vợ, hình

ảnh một con ngời cô đơn, sầu muộn vì những lở dỡ của duyên phận, ngời ta sẽchia với ông những nổi buồn không đâu, những buồn chán xuất hiện trong

tầng lớp tiểu t sản thành thị Hay nh trong bài Bốn cái hôn diễn tả nổi khát

khao tình yêu ở một cô thiếu nữ mới lớn, bút pháp thơ tình của Đông Hồ đạt

đến sự hồn nhiên, trong sáng Bài thơ này có hơi thơ Xuân Diệu, nhất là ở khíacạnh thi vị, nhấm nháp và hởng thụ cảm xúc tình yêu

Khi nói về Tơng Phố, Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Cái ngày mà Tơng Phố

ra đời trong tạp chí Nam Phong, tức là ngày “ngọn gió thu” bắt đầu thổi, rồithu ấy qua, thu khác lại, ngọn gió thu vấn không làm khô đợc nớc mắt của ng-

Trang 17

ời sầu thu, vì không còn bài thơ nào của bà là không nhắc nhở đến cái mùa

cây khô, lá vàng" [12,156] Tơng Phố nổi tiếng với Giọt lệ thu, nổi buồn trong thơ bà thực ra không phải là nỗi buồn có cớ Màu sắc ảm đạm trong thơ Bà đã

trở thành một thứ cảm quan vũ trụ, nhìn đâu cũng thấy dấu hiệu của sự tànphai:

Chàng đi buổi thu sơ năm ấy Thu về năm nào thấy chàng về

Những cảm nhận về mùa thu của bà nh phụ hoạ theo lòng ngời, theo tâmtrạng:

Trời thu ảm đạm một màu Gió thu hiu hắt thêm sầu lòng em Trăng thu bóng ngã bên thềm Tình thu ai để duyên em bẽ bàng

Trong thơ Tơng Phố, dấu hiệu của Thơ mới bộc lộ ở nổi buồn vô cớ, ở lốicảm thụ thiên nhiên

Thơ tình của Tản Đà, Đông Hồ, Tơng Phố là sự ý thức cá nhân đợc manhnha, thể hiện một quan niệm mới về tình yêu, những ứng xử mới về tình yêu;

và đó chính là những dấu hiệu của Thơ mới sau đó Tuy nhiên, về hình thứcthì thơ ca truyền thống vẫn còn có nhiều ảnh hởng trong các sáng tác của họ,những nội dung của nó đã phản ánh tâm lý chung của con ngời và thời đại lúcbấy giờ

Việc tìm hiểu thơ tình yêu trong ca dao, dân ca, trong thơ ca cổ điển và thơcủa các tác giả trong giai đoạn giao thời đầu thế kỷ XX, để chúng ta có thểtìm ra những đặc điểm chung cũng nh những đặc điểm riêng của thơ tình giữacác thời kỳ đó cũng là cơ sở để lý giải cho các bài thơ tình trong Thơ mới saunày - một bộ phận thơ độc đáo, xuyên suốt trong Thơ mới (1932 - 1945)

1.3 Nhìn chung về những tiền đề xã hội, văn hoá, thẩm mỹ làm nảy sinh quan niệm tình yêu cá nhân trong Thơ mới

1.3.1 Bối cảnh lịch sử kinh tế - xã hội

Xã hội Việt Nam, trớc khi Pháp sang xâm lợc là một xã hội phong kiếnphơng Đông; Trong xã hội đó con ngời sống gắn bó với nhau, và tất cả đều đ-

Trang 18

ợc họ nhìn nhận trong tính cộng đồng, theo một lối t duy truyền thống phơng

Đông Cả hệ thống từ mặt nhà nớc, mặt xã hội … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những đều đợc sắp xếp theo trật tựnhất định Những yếu tố này tởng nh bền vững mãi trong xã hội phong kiến

ấy, nhng đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp

đặt chân đến nớc ta với công cuộc khai thác thuộc địa, thì luồng gió phơngTây đã tạo nên một cơn địa chấn dữ dội, đất nớc Việt Nam đã chuyển mìnhtheo hớng t sản hoá Đời sống ngời dân Việt Nam không còn giữ vẽ tĩnh lặng

nh trớc nữa, mà đã có một sự thay đổi từ đời sống tinh thần cho đến đời sốngvật chất

Với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên nhữngbiến đổi từ công nghiệp, thơng mại phát triển, các đô thị lớn ra đời, và cùngvới đó, là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu t sản mới, đây chính là một sự thay

đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội Từ 1932 đến 1933 có 352.269 ngàn ngời[5,24] Kéo theo một lối sống mới, tâm lý mới, khác hẳn với đời sống ngng

đọng, ít biến đổi của ngời dân trớc đó Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh

đã nhận xét : "Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây mặc áo tây, chúng ta dùng đèn

điện, đồng hồ, xe đạp … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết những điều thay

đổi về vật chất phơng Tây đã đa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hangcùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trớc Nàodầu tây, diêm tây, nào vải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những" [19, 16] Đó lànhững thay đôỉ trong đời sống vật chất, tất cả đều mang màu sắc phơng Tây

Từ những thay đổi trong tập quán sinh hoạt hằng ngày, nó đã thay đổi cách tavận động t tởng, nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa Tất cả nhữnghình thức mới của cuộc đời, t tởng mới trong suy nghĩ và nhất là những ảnh h-ởng từ văn hoá, văn học Pháp, ngày càng thấm sâu vào cuộc sống tinh thần vàvật chất của nhân dân ta Trong xã hội xuất hiện những vấn đề mới và cáchnhìn, cách giải quyết các vấn đề đó cũng theo một cách khác Có thể nói trongxã hội mới này, tầng lớp nhạy cảm nhất là trí thức tiểu t sản, họ có nhu cầukhẳng định mình, nhu cầu bày tỏ, bộc lộ, lý giải chính bản thân mình, cái thế

giới nội tâm đầy âm u và bí mật Biểu hiện cao nhất của nhu cầu ấy chính là

tình cảm lứa đôi Ngời ta phải tự ý thức, phải sống, suy nghĩ, ớc mơ cho riêngmình trong những điều kiện của một xã hội phức tạp, rộng lớn

Trang 19

Chính sự đổi thay, sự đấu tranh ấy tạo ra những con ngời khác trớc, đặt

ra những vấn đề thành những đề tài khác trớc, những nhân vật, những suynghĩ, cảm xúc hoàn toàn mới trong văn học thời kỳ 1932 - 1945 nói chung vàtrong Thơ mới nói riêng

1.3.2 Sự xuất hiện của ý thức cá nhân

Sự gặp gỡ với văn hoá phơng Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, giai đoạncuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo nên sự thay đổi mạnh mẽ trong lòng xãhội phong kiến Việt Nam tồn tại hàng ngàn năm Sự thay đổi ấy diễn rakhông chỉ trong đời sống tinh thần, đời sống vật chất, mà đặc biệt ở giai đoạnnày, con ngời có những nhu cầu mới và mong muốn đợc đáp ứng, đợc thoảmãn, cá nhân tự khẳng định và biểu hiện ra bằng niềm vui, bằng mơ ớc, khát

vọng Những cá nhân của thời kỳ này nhận thấy sự đối lập gia cái tôi cá nhân

và thế giới xung quanh nó Với lối sống mới, dĩ nhiên những cá nhân đó sẽ cótrong mình những khát khao, những đam mê hởng thụ Vì thế, ý thức cá nhâncủa giai đoạn này đã trỗi dậy và phát triển một cách mạnh mẽ

Sự ý thức về cá nhân sẽ đem đến một quan niệm mới về sự đa dạng vớinhững tiêu chuẩn đánh giá mới, với sự chấp nhận những thị hiếu khác nhau,những quan niệm hạnh phúc khác nhau, cũng nh những con đờng khác nhau

để đạt tới Ngời ta tự coi mình Là một, là riêng, là thứ nhất (Xuân Diệu) mà

không sợ mang tiếng tự cao Ngời ta chấp nhận quyền tởng tợng tự do vàquyền đa ra nhận xét cá nhân Và đó là ý thức mới về chủ thể sáng tạo: Tôi làtôi, tôi khác ngời khác, tôi phải có cái gì của riêng tôi đem đến cho ngời khác;

Cái tôi này đòi hỏi một biên độ mới của tự do Sự xuất hiện ý thức cá nhân đã

mở rộng thế giới cảm xúc, cảm giác, đồng thời mỏ rộng chủ đề, đề tài vănhọc (Tự lực văn đoàn, Thơ mới)

Phong trào Thơ mới ra đời, mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hoá trong cảm thụ thẩm mỹ Cái tôi trong Thơ mới, ở một chừng mực

nào đó, đã nói lên đợc một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huybản ngã, tự do cá nhân Nó làm cho thế giới tâm hồn của con ngời ngày càng

đợc mở rộng và phong phú Và cái mới của Thơ mới, chính là đã coi cái tôi cá

nhân nh một quan điểm, một t cách để nhìn đời và nói với mọi ngời Sự ý thức

cá nhân ấy đã lấy cái tôi cá nhân làm đề tài, thậm chí là đề tài trung tâm Cái

Trang 20

Nh vậy, thế kỷ XX ở Việt Nam đợc xem là sự trổi dậy của ý thức cánhân, điều này đã tạo nên một động lực mạnh mẽ cho các đề tài khác nhau,trong đó có đề tài tình yêu lứa đôi, phát triển và đạt hiệu quả nghệ thuật cao.

1.3.3 Quan niệm xã hội - thẩm mỹ mới về tình yêu cá nhân

Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển mới cả

về cơ cấu kinh tế, xã hội cũng nh tâm lý và t tởng con ngời ở Việt Nam, lúcnày với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, xã hội Việt Nam có nhữngbiến đổi sâu sắc, từ một xã hội phong kiến trở thành xã hội thực dân nửaphong kiến Bên cạnh các giai tầng cũ đã xuất hiện thêm các giai cấp mới nhcông nhân, t sản dân tộc, tiểu t sản Mặt khác, với sự phát triển của chữ quốcngữ, sự phát triển của báo chí và các phơng tiện in ấn, xuất bản, sự cải cách,

mở rộng hiện đại hóa giáo dục theo mô hình giáo dục của phơng Tây; đờisống thành thị cũng thay đổi theo chiều hớng t sản đã làm thay đổi quan niệmthẩm mỹ, ý thức cá nhân của một lớp ngời trong xã hội Những t tởng mới dần

đem đến cho những ngời trí thức tiểu t sản những rung động mới Trớc hết,trong tình yêu cá nhân ở những năm đầu thế kỷ XX của xã hội Việt Nam đ ợccác tác giả quan niệm nhìn nhận mới mẽ hơn Họ đặt ra vấn đề tự do yêu đ-

ơng, tình yêu chính là một phần tất yếu của cuộc sống, đó cũng chính là bảnnăng tự nhiên, phổ biến của con ngời Còn về mặt xã hội, tình yêu đợc xem làmột thứ tình cảm đợc xã hội hoá, mang tính nhân loại sâu sắc Và tình yêu là

Trang 21

biểu hiện gắn liền với sự phát triển của ý thức cá thể trong xã hội Việt Nam

đầu thế kỷ XX; tình yêu giúp giải phóng những năng lợng cá nhân, giúp conngời sống đúng với mình hơn, sống thật với mình hơn Họ yêu đơng mơ mộngkhác với các cụ ngày xa nhiều lắm Trong bài diễn thuyết của mình, Lu Trọng

L đã nói: "Các cụ ta a những màu đỏ choét, ta lại thích màu xanh nhạt Các cụbâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìnmột cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi nh đã làm một việc gì tội lỗi… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những cáitình của các cụ chỉ là sự hôn nhân nhng đối với ta thì trăm hình muôn trạng,cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tìnhchân thật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình tronggiây phút, cái tình nghìn thu [19, 17] Trên báo chí, văn học đơng thời cácnghệ sĩ đã có những phát ngôn về vấn đề tình yêu, họ tin vào sức mạnh và giátrị to lớn của tình yêu Phạm Văn Hạnh đã nói: "Trong mọi cái vô vị ở đời, áitình còn là cái ít vô vị nhất và trong mọi cái h không, có chăng chỉ mùi hơngmột áng tóc mây là sự thật Tôi nghĩ đến ngày tôi không còn ở tình yêu… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có nhữngTrời! Xin đừng bao giờ cho tôi trông thấy ngày đó" Quan niệm tình yêu cánhân mới mẻ đã đợc biểu hiện cụ thể thành các hình tợng văn học nh Thơ mới,

Tự lực văn đoàn Cũng ở đầu thế kỷ XX, với đề tài tình yêu, ngời ta còn nhận

ra vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi Vẻ đẹp ấy trớc hết là của bản năng tính dục, nó

khơi dậy thế giới cảm giác của con ngời, khát khao đợc hởng thụ ái ân, đó lànhững phút thăng hoa trong cảm giác Tình yêu lứa đôi còn là vẻ đẹp của sựhài hoà vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội của hai cá thể ngời.Trong tình yêu nếu không có sự hoà hợp thì tất cả có thể "tạo nên hiện hữu lycách, biến mình thành một ngục tù không chịu đựng nổi, con ngời có thể phátcuồng nếu nó không thể giải phóng mình khỏi ngục tù này" [11,196] Vì thếcon ngời cần sự hợp nhất, hoà hợp bằng tình yêu giữa hai cá thể ngời để giảithoát sự ly cách, tránh những tội lỗi, u t … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Nh vậy, tình yêu lứa đôi có ýnghĩa rất lớn trong việc giải thoát con ngời khỏi nổi cô đơn, tình yêu thiêngliêng hoá con ngời, giúp con ngời sống tốt đẹp hơn

Trang 22

Cũng nh Thơ mới, văn xuôi lãng mạn 1932 - 1945 góp phần đấu tranh

đòi giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho hạnh phúc lứa đôi,phê phán kịch liệt đại gia đình phong kiến Tình yêu và lý tởng cá nhân đều bị

đại gia đình kìm hãm, cho nên muốn hoàn toàn đợc tự do thì phải đoạn tuyệt

hẳn với nó Có rất nhiều cuốn tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mang một ý nghĩa

nhân văn nhất định Những cuốn tiểu thuyết trớc văn học lãng mạn 1930

-1945 nh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, đã đặt ra vấn đề đấu tranh đòi giải

phóng cá nhân tuy cha mạnh mẽ và quyết liệt nh sau này trong Tự lực văn

đoàn Nửa chừng xuân, Đôi bạn, Đoạn tuyệt là những cuốn tiểu thuyết của Tự

lực văn đoàn kiên quyết đoạn tuyệt với cái cũ, cái lạc hậu, đứng hẳn về phíacái mới, nhiệt tình ủng hộ cái mới Do vậy, đợc cả một thế hệ trẻ thanh niênlúc bấy giờ đồng tình và ca ngợi Tuy nhiên cũng có những khía cạnh đángphê phán ở những tác phẩm thời kỳ cuối của Tự lực văn đoàn

Thơ mới ra đời, xét về mặt nội dung là do nhu cầu cần phải thể hiệnnhững t tởng, tình cảm, thị hiếu mới của một tầng lớp công chúng mới trongxã hội Giai đoạn này là sự phát triển mạnh mẽ của cảm xúc, tâm trạng conngời mới, tác giả mở rộng tâm hồn mình để giải bày những thiết tha, rạo rực,băn khoăn của một tâm hồn đang yêu nh trong thơ Thế Lữ, Lu Trọng L, HuyCận, Nguyễn Bính, Xuân Diệu… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những

Nhìn chung, vấn đề tình yêu trong văn học lãng mạn đã đợc quan niệm,nhìn nhận với nhiều nét mới, khác so với cách nhìn nhận ở nền văn học trớc

đó Phong trào Thơ mới ở nớc ta xuất hiện, mang theo những quan niệm mới

về giá trị đích thực của tình yêu lứa đôi Đó là những vần thơ mang nhiều

niềm vui trần thế hơn, là phút giây căng tràn nhựa sống.Thơ mới và cái tôi

xuất hiện đã tìm ngay đợc sự đồng cảm và trân trọng u ái của thế hệ bạn đọcmới

1.3.4 Sự xuất hiện của một thế hệ nghệ sĩ mới

ở Việt Nam, vào đầu những năm 1920, những đợt khai thác thuộc địa

của ngời Pháp đã kéo theo tầng lớp trí thức Tây học bản địa đã ra đời, họ đợc

đào tạo vội vàng để ra làm việc, tầng lớp trí thức tây học này vừa đông về số ợng, vừa cao về chất lợng Cùng với sự tiếp xúc, gặp gỡ với văn hoá phơngTây, đặc biệt là văn hoá Pháp ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,

Trang 23

l-tầng lớp trí thức tây học có đủ điều kiện để tiếp xúc tinh hoa văn hoá Pháp.Chính họ là chủ nhân của nền văn hoá mới, văn hoá đô thị

Với sự ra đời của Thơ mới, cái tôi cá nhân với t cách vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới xuất hiện Cái tôi ấy bắt nguồn từ những

chủ thể sáng tạo mới và những cơ sở xã hội đã sinh ra nó Chủ thể sáng tạocủa Thơ mới chủ yếu là những tác giả trẻ tuổi, trẻ lòng họ chỉ trên dới 20 tuổivới sức sáng tạo dồi dào, có khát vọng đợc đóng góp, muốn thay đổi cho nềnvăn hoá nớc nhà, đồng thời họ cũng là những ngời có tài năng thực sự Thế hệnghệ sỹ mới xuất hiện cùng với cả một hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới vớinhững phạm trù nghệ thuật mới Sự xuất hiện của những quan niệm thẩm mĩmới đó chính là sự thay đổi trong quan niệm tình yêu cá nhân Đối với các chủthể sáng tạo mới, họ cảm thấy đợc tự do phát biểu, tự do yêu đơng Những chủthể mới này, chịu ảnh hởng rất lớn từ t tởng văn hóa phơng Tây, do vậy họmang trong mình những quan niệm hoàn toàn mới mẻ về cuộc đời về tình yêu

cá nhân Thơ mới đề cao cái tôi nh một đối tợng khám phá của nghệ thuật, nh

là điểm hội tụ sáng láng nhất của cuộc sống con ngời Các nhà thơ nhận ra giátrị to lớn của tình yêu - một nhu cầu bình thờng và thiết yếu của con ngời, mộtthứ tình cảm mang tính xã hội cao, tình yêu sẽ giúp họ giải phóng nhu cầu vàgiúp họ sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn Tình yêu với họ là một nguồn cảm hứngsáng tạo dồi dào, tình yêu còn là tiền đề cho sự xuất hiện những phong cách,những cá tính độc đáo Do vậy, những chủ thể sáng tạo trong Thơ mới, khiviết về tình yêu họ đều tạo cho mình đợc một giọng điệu riêng, một phongcách riêng, độc đáo và ấn tợng, khó trộn lẫn với bất kỳ nhà thơ nào

Thơ mới xuất hiện mang theo những quan niệm mới mẽ, từ sự thay đổitrong đời sống vật chất, sự xuất hiện một thế hệ nghệ sĩ mới, tất cả đều in dấu

ấn vào trong từng cảm xúc, tâm trạng của Thơ mới và của ngời đọc

Trang 24

Ch ơng 2

Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân

trong Thơ Mới

2.1 Tình yêu cá nhân - Phơng tiện thể hiện của những cái Tôi độc đáo

2.1.1 Khái niệm cái tôi

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có viết: "Ngày thứ nhất - ai biết

đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bở ngỡ Nó

nh lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ

này: “Quan niệm cá nhân” [19,45] Theo Hoài Thanh tất cả đều nằm trong

vòng chữ tôi Thơ mới ra đời, đã khẳng định ý thức của chủ thể về cá nhân

mình, nó nh một giá trị riêng, độc đáo và rất mới mẽ

Từ một trạng thái tinh thần xã hội, ý thức cá nhân đã bớc vào văn họcnghệ thuật và đóng vai trò hạt nhân đợc việc tạo nên những phong cách,

diện mạo thơ ca độc đáo trong phong trào Thơ mới Từ đây, cái tôi với ý nghĩa là cái tôi tác giả tự biểu hiện, vừa nh là một đối tợng đợc nhận thức

và thể hiện một cách khách quan trong văn học nghệ thuật – trở thànhnguyên tắc thế giới quan, thành xuất phát điểm để ngời nghệ sỹ cảm nhận

và lý giải về thế giới

2.1.2 Tình yêu cá nhân - Phơng tiện thể hiện của những cái tôi độc

đáo

Chủ nghĩa lãng mạn lấy thanh sắc trần gian làm tài liệu, lấy cái tôi làm

trung tâm biểu hiện, và hơn bất cứ lĩnh vực nào, cảm xúc yêu đơng dĩ nhiênphải chiếm vị trí hàng đầu trong cảm hứng thi ca Dờng nh nhà thơ nào cũng

có thể viết về tình yêu và mạch cảm xúc cũng xao xuyến trong tình cảm đắmsay, đằm thắm này Hơn nữa, đề tài tình yêu lứa đôi giúp thi nhân bộc lộ rõhơn về chủ thể trữ tình Vì ở đó, thi nhân có thể thể hiện cá tính độc đáo củamình, đặc biệt là có thể bộc lộ cả những đờng nét ngoại hình, dáng vẻ, hành

động, những trạng thái tình cảm … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những đồng thời ở đề tài tình yêu nhà thơ có thể

lựa chọn vật liệu, chất liệu thích hợp để nhìn nhận, lý giải về bản thân mình,

Trang 25

con ngời và thế giới Không phải ngẫu nhiên mà những đỉnh cao Thơ mới đều

là những nhà thơ tình, và ở đây do giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ xemxét khảo sát những cái tôi tiêu biểu sau: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,

Vũ Hoàng Chơng, Nguyễn Bính Thơ tình trong Thơ mới có nhiều niềm vuitrần thế hơn, các nhà thơ nghĩ đến tình yêu mà mỗi phút giây là một khát vọngvô biên, tuyệt đích của sự hởng thụ, ham muốn … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những bộc lộ trọn vẹn tình cảm vànhững khát vọng riêng t của cá nhân mình

Cái tôi Xuân Diệu Cũng không phải tình cờ mà nhà thơ tiêu biểu nhất

cho phong trào Thơ mới lại là nhà thơ tình kiệt xuất, là ông hoàng của thơ tình

yêu - Xuân Diệu Khi xuất bản hai tập Thơ thơ và Gửi hơng cho gió, Xuân

Diệu không gọi đó là các tập thơ tình, nhng thực ra đó là những tập thơ tình

thật sự Với tổng số của tập Thơ thơ là 46 bài, trong đó có 36 bài thơ tình, trong Gửi hơng cho gió, thơ tình chiếm 38 bài trên tổng số 51 bài Xuân Diệu

đã bộc lộ trong thơ một cái tôi trữ tình phong phú và độc đáo Và hơn đâu hết,

ở mảng thơ tình đó, Xuân Diệu đã thể hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn cái

tôi của mình Cái tôi trữ tình của nhà thơ đợc sáng tạo và biểu hiện qua những

cách khác nhau, tạo nên sự đa dạng của cái tôi trong thơ Chân dung cái tôi

Xuân Diệu trớc hết đợc biểu hiện qua những đại từ nhân xng, xuất hiện khádày trong thơ ông là những từ: Tôi, ta, anh … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những

- Tôi là con chim đến từ núi lạ Ngửa cổ hót chơi

- Ta là một, là riêng, là thứ nhất Cái tôi Xuân Diệu hiện ra với hai bản tớng: vừa là tình nhân, vừa là triết nhân

Là tình nhân thì cái tôi trong Thơ thơ và Gửi hơng cho gió gồm đủ cả hai con ngời: một gã tình si và một kẻ thất tình Với cái tôi tình nhân: gã tình

si mang trong mình ngọn lửa tình từ lúc cha sinh, từ khi cha có tuổi:

Thuở xa kia là con của mặt trời Tôi có lửa ở trong mình nắng dội Tôi đã yêu từ khi cha có tuổi Lúc cha sinh vơ vẫn giữa vòng đời.

Trang 26

Gã tình si tự hoạ mình với diện mạo một tình lang đầy quyến rũ: mặt

tơi, môi đậm; đầu mây gợn, mắt mây qua Không phải của thánh thần, cũng

không phải của ma quỷ, tình yêu mà kẻ tình si kia đang thể hiện là tình yêu

của con ngời trần thế Nhng cái tôi ấy cũng luôn là kẻ thất tình Cái tôi ấy đã

luôn sống nổi cô đơn cố hữu của kiếp ngời, lại còn thờng xuyên rơi vào cô đơnvì tình phụ Càng say đắm, càng cô đơn nhiều, càng hy vọng thì càng nhiềuthất vọng, cuồng nhiệt đam mê chỉ gặp lạnh lẽo, hững hờ

Lòng anh là một cơn ma lũ

Đã gặp lòng em là lá khoai Cái tôi ấy rơi vào đau khổ vì lòng Xuân Diệu tràn ngập khát khao luyến

ái vô t mà gặp phải xã hội đồng tiền dửng dng, ghẻ lạnh Đây cũng là bi kịchmuôn thuở của con ngời và tình yêu Mà chính Xuân Diệu đã có lúc ý thức về

nó một cách cay đắng:

Ngời ta khổ vì thơng không phải cách Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm ngời

Nếu con ngời tình nhân là nhất thể hợp nên bởi sự chuyển hoá giữa hai

đối cực là gã tình si và kẻ thất tình, thì đến lợt nó, con ngời tình nhân lại là một đối cực hợp với một đối cực khác là con ngời triết nhân để làm nên hình tợng một cái tôi Xuân Diệu toàn vẹn Là triết nhân, Xuân Diệu hay băn khoăn

tìm bản chất, nguồn cội của tình yêu, sức mạnh, giới hạn và ý nghĩa của áitình … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những

Làm sao cắt nghĩa đợc tình yêu

Nào có gì đâu một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu Cái tôi ở đây không nói bằng những triết ngôn bình tĩnh nữa, mà lời đúc

kết của triết nhân Xuân Diệu lại nói trong giọng than thở cay đắng của mộttình nhân:

Ngời si muôn kiếp là hoa núi Uổng nhụy lòng tơi tặng khách hờ

Phần lớn những triết lý của Xuân Diệu đề cập đến khía cạnh bi kịch của

tình yêu Con ngời triết nhân sống dậy mãnh liệt khi cái tôi ấy đang trải qua

Trang 27

những khổ đau mất mát của kẻ thất tình Cái tôi Xuân Diệu luôn sôi nổi, yêu

đời dù không ít lần thất vọng, hoài nghi trớc cuộc đời bạc bẽo Đó cũng là một

cái tôi luôn khao khát yêu và khao khát hởng thụ cuộc sống trần thế Xuân

Diệu đợc xem là một hiện tợng nổi bật, trớc hết bởi bản thân cái tôi nhà thơ, vừa đặc sắc, đa dạng, vừa tiêu biểu cho cái tôi trong Thơ mới Đó là một cái

tôi vừa sung sớng vì yêu hoặc đau khổ vì yêu, nhng lúc nào và bao giờ cũng

khao khát đợc yêu, đợc giao cảm, hoà hợp, chia sẽ với ngời tình, với cuộc đời

Cái tôi Hàn Mặc Tử Với Hàn Mặc Tử, thơ ông luôn bộc lộ một nhãn

quan tình yêu khác thờng, thông qua một hệ thống hình tợng nghệ thuật sống

động, độc đáo Đối với phong trào Thơ mới, Hàn Mặc Tử có Gái quê, Thơ

điên, Xuân nh ý Nổi bật trong thơ tình Hàn Mặc Tử là chân dung một con

ng-ời cô độc và đau thơng Những đau đớn vò xé của bệnh tật thờng xuyên đa ôngvào những cảm giác mộng mị Đó là điểm quan trọng tạo nên sự khác biệt

giữa hiện tợng cái tôi cô độc trong thơ Hàn Mặc Tử so với những cái tôi cùng

thời trong Thơ mới Những thi sĩ trong Thơ mới họ thờng hay viết về nổi cô

đơn, ly cách, nhng nó lại thuộc về phần họ ý thức đợc từ chính bản thân họ.Còn đối với Hàn Mặc Tử, ông không có đợc sự phân tách tỉnh táo đó Sự cô

độc, đau thơng, lại chính là thực tế cuộc sống hiện hữu của ông đang từngngày dày vò, ám ảnh ông trong từng giờ khắc của sự tồn tại ngắn ngủi Thực tếcuộc sống đã đa ông vào những khát khao tột đỉnh, và những cuộc đuổi bắt vôtận với số phận, với cảm giác đau đớn:

Ta đang khao khát tình yêu thơng Cất tiếng kêu vang trong im lặng Tiếng va vào núi dội quanh vùng.

Xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể, đã buộc Hàn Mặc Tử thích ứng với cuộc

sống riêng của mình bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa

hết thảy mọi ngời thân thích [19,202] Ông không thể đòi hỏi, van nài ngời

tình của mình, và ông cũng không thể hớng tâm hồn mình ra thế giới bênngoài, ông quay vào nội tâm mình, mô tả những yêu thơng và tuyệt vọng củachính mình Hàn Mặc Tử thờng tự vẽ chân dung mình, một con ngời điêncuồng vì bệnh hoạn và sự cô độc

Trang 28

Hàn Mặc Tử đi vào cõi tình, xem đó là phơng tiện hữu hiệu nhất để vợt

thoát bản thân, ông thờng trực tiếp diễn tả những trạng thái cận kề: Ngây, si,

cuồng, rồ dại, mê man…Trong Đau thơng tác giả đã có một khuôn mặt khác

hẳn, một cái tôi khao khát ái tình trong tởng tợng đã chuyển thành cái tôi đau

thơng, mang trong nó là những giằng xe, dằn vặt về nổi đau bệnh tật, thân

phận Cái tôi ấy dờng nh bị phá ra làm nhiều mảnh Thể hiện rõ trong thơ Hàn

Mặc Tử là tần số xuất hiện của những ảo giác kỳ dị:

- Cả miệng ta trăng là trăng Cả lòng ta vô số gái hồng nhan

- Tôi toan đớp cả ráng trời Tôi toan đớp cả miếng cời trong khe

Hàn Mặc Tử đã sắp xếp thế giới nghệ thuật của ông theo một cách

riêng, theo lô gích của Thơ điên , những hình ảnh, hình tợng nổi lên nh những

ám ảnh trong tâm hồn ông Cái tôi nhiều mảnh với những thực thể phản trái nhau: xác, hồn, máu, thơ, trăng … đó cũng nh là những phiên bản của cái tôi

nhà thơ, những hình tợng mang trạng thái nhập hồn vào thế giới của ảo giác,

chúng không còn là những khái niệm trừu tợng nữa, mà là những hình ảnh gợinhục cảm, những linh hồn đầy đau thơng, nó không chỉ giải bày những khátkhao của thi sỹ, mà nó còn nh một sự giải thoát Nhân vật trữ tình trong thơHàn Mặc Tử thờng hiện lên giữa thế giới của trăng, hồn, máu

- Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng

- Há miệng cho hồn văng lên muông trợng

Trang 29

xác, ông đã đẩy cách nói của mình đến điểm cao nhất của giới hạn tình yêulứa đôi.

Hàn Mặc Từ thờng sử dụng những hình tợng miệng và tay Xuất phát từhình dáng và chức năng của nó Hai hình tợng này sẽ cho chúng ta những ýnghĩa đầy đủ về tình yêu trai gái Đó là biểu tợng của nổi khát thèm tình yêu

và sự sống trong cái tôi của Hàn Mặc Tử:

- Làn môi mong mỏng tơi nh máu

Đã khiến môi tôi mấp máy thèm

- Nhớ lắm lúc nh si nh dại Nhớ làm sao bãi hoải chân tay.

Nhớ hàm răng, nhớ hàm răng.

Mà ngày nào đó vẫn khăng khít nhiều

Đôi tay nh nối dài sự tìm kiếm, giao cảm của cái tôi Hàn Mặc Tử:

- Tay ngoắt đám mây dừng lại ngay

- Ta thờng dơ tay níu ngàn mây

- Với đôi tay nàng rút hết đê mê.

- Chắp tay tôi lạy cả miền không gian

Theo cách diễn tả của Hàn Mặc Tử, nh vậy miệng và tay trở thànhnhững phơng tiện để giao kết thi nhân với ngời tình, với thế giới cụ thể trầntục nhng đồng thời, cũng cho thấy những khao khát tột độ và những nổ lực

tuyệt vọng của cái tôi nhà thơ trên hành trình tìm kiếm sự sống và tình yêu.

Tình yêu ấy nh cái đích cuối cùng để cùng chạy đua với tử thần Bởi vậy, tìnhyêu ở đây chính là hiện thân của sự sống Hàn Mặc Tử đã đem lại một giọng

điệu lạ trong thơ tình Thơ mới, một cái tôi vợt lên những đau đớn, bệnh tật,

những buồi tủi, cô đơn Thơ tình Hàn Mặc Tử là một nguồn sống thiêng liêngnhất, những mong ớc, những buồn vui, những đau đớn, thác loạn đều từ chính

tâm hồn ông Do đó, thơ tình của ông chính là cách để ông bộc lộ cái tôi của

mình

Cái tôi Huy Cận Cái tôi lãng mạn t sản tự bộc lộ mình trong phong

trào Thơ mới với lắm hình nhiều dạng khác nhau Mỗi một nhà thơ tiêu biểu làmột cá tính sáng tạo, mang sự độc đáo từ tâm tính tâm hồn đến t duy nghệ

Trang 30

phong trào Thơ mới nh Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chơng, … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những thì thơtình Huy Cận có số lợng không nhiều, nhng chúng ta có thể khái quát một đặctính nổi bật của tình yêu trong thơ Huy Cận trớc Cách mạng tháng tám là mộtthứ tình yêu đơn sơ, trắng trong, gắn liền với những xôn xao thầm kín, những

rung động nhẹ nhàng của một thời trẻ dại Những tình cảm ấy đợc Huy Cận diễn tả hết sức tinh thế trong áo trắng, Học sinh, Đi giữa đờng thơm, Tựu tr-

ờng, Tự tình, Gánh xiếc Tơng ứng với tình yêu đầu đời ấy, nhân vật trữ tình

trong thơ Huy Cận thờng hiện lên là một chàng trai trẻ ngơ ngác và vụng dại:

- Có chàng ngơ ngác và vụng dại

Em đến trăm năm còn trẻ dại Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc Yêu nàng cỡi ngựa uốn chân tơ

Thơ Huy Cận thờng gắn liền với những rung cảm mới mẻ, ngỡ ngàngkhiến cho họ e dè, ngại ngùng, ngơ ngác và luôn ở trong tâm trạng nhớ nhung,chờ đợi:

Trang 31

Cái tôi Vũ Hoàng Chơng Thơ tình Vũ Hoàng Chơng đợc khơi nguồn từ

những tình cảm nhớ thơng, những kỷ niệm của thuở ban đầu lu luyến và kết

thúc ở những mối tình đắm say nhiều tuyệt vọng Hình ảnh một cái tôi cô đơn, chán chờng, nhng cái tôi này không kém phần sâu đậm và mãnh liệt Cái tôi của Vũ Hoàng Chơng là cái tôi ở vào giai đoạn cuối - giai đoạn khủng hoảng của Thơ mới Chân dung cái tôi trong thơ Vũ Hoàng Chơng mang dáng vẽ cô

độc, chán chờng đặc biệt Đó là một cái tôi ý thức sâu sắc về một thế giới thực

tại bị chia cắt, và con ngời sống trong những giới hạn, ngăn cách, vĩnh viễn

đánh mất khả năng chia sẽ hoà hợp trọn vẹn Tâm hồn thi nhân đầy nhạy cảm

khao khát tìm về một cỏi khác, một phơng xa, trong đó con ngời có thể đạt

đến trạng thái hợp nhất tuyệt đối với thế giới và từ đó mà có đợc sự bình yêncủa tâm hồn Tuy nhiên, bằng sự nhạy cảm và sự từng trải, thi nhân nhận ra đó

là điều không thể Đây chính là nguồn gốc sâu xa của nổi buồn sầu ở thi nhân.Thế giới nghệ thuật bị phân cực chính là phóng chiếu từ thế giới nội tâm đầy

bất ổn, là sự giằng xé của cái tôi thi sỹ giữa một bên là khát vọng truy tìm

cái đẹp lý tởng và một bên là thực tại đời sống dung tục, tầm th ờng VũHoàng Chơng đã tạo ra điệu say vừa lảo đảo, vừa nhịp nhàng để quên đi

thực tại ấy Hoài Thanh cho rằng: Vũ Hoàng Chơng có cái dụng ý muốn say

để làm thơ [19,352] Không phải ngẩu nhiên mà trong thơ Vũ Hoàng

Ch-ơng, trạng từ say xuất hiện với tần số cao nh vậy Trong 57 bài thơ mà chúng tôi khảo sát, có đến 61 từ say Với nhà thơ họ Vũ, say chính là một

phơng tiện để ông hoá giải nổi cô đơn thực tại, hòng đạt đến trạng thái hoàhợp tuyệt đối, lý tởng Trạng thái ấy luôn mang cảm giác nhục thể:

- Say đi em! say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn Cho cung bậc ngã nghiêng, điên rồ xác thịt Rợu, rợu nữa và quên, quên hết!

- Đôi má huyền thơm mộng ý say

Mảng thơ tình yêu trong thơ Vũ Hoàng Chơng đã vẽ nên chân dung củamột “chàng si”, “chàng say” rất đặc biệt Đó là con ngời luôn đắm mình trongnhững đam mê cùng với một lý trí tỉnh táo đến tàn nhẫn Nếu tình yêu là mộtcơn say thì bi kịch của Vũ Hoàng Chơng là ông đã không thể say hết mình

Trang 32

Luôn luôn, trong những giấc mơ nhân tạo, ông phải đối mặt với những đờngbiên giới hạn, ông ráo riết truy tìm vẽ đẹp lý tởng trong tình yêu nhng càng

gặp sự thất vọng sâu sắc hơn bao giờ hết trong địa hạt này Khao khát toàn

h-ơng và tận mỹ, luôn tìm kiếm con đờng đạt đến nguồn tuyệt đối , rốt cục thi

nhân chỉ thấy mình hoài công bày giải ý cao siêu Cái còn lại cuối cùng là nổi

đau buồn, mỏi mệt, chán chờng: Có ai say để quên sầu/ Lòng ta lảo đảo càng

sâu vết buồn Chân dung cái tôi trong thơ tình Vũ Hoàng Chơng là chân dung

của một con ngời hết sức đặc biệt Đầy đam mê, lại cũng đầy chán chờng

khinh bạc Cái tôi Vũ Hoàng Chơng luôn tìm đến cõi tình để say, để yêu và để

đắm chìm trong trời quên, chỉ lu lại đó, là những vần thơ tình yêu mạnh mẽ,quyết liệt, mang phong cách của Vũ Hoàng Chơng Thơ ông đã góp vào dòngthơ tình của Thơ mới một giọng điệu mới mẻ và sâu sắc

Cái tôi Nguyễn Bính Bức chân dung tinh thần của Nguyễn Bính, đích

thực là thuộc về chính cái tôi bề sâu của nghệ sỹ Cái tôi ấy đã tự hoạ trong

văn chơng, trút vào đó tất cả những khát vọng sâu kín và cao quý của mình

Cái tôi thi sỹ trong thơ hoàn toàn khác với con ngời thi sỹ ngoài đời Cái tôi

ấy là sự chung đúc từ khát vọng của thi sỹ Với thơ tình Nguyễn Bính, việc

nhận diện cái tôi trong thơ ông khá dễ dàng, ông luôn đi về song hành giữa

hai thái cực: Tình yêu quê mùa và tình yêu thành thị

Với mảng tình yêu quê mùa, Nguyễn Bính hiện lên hết sức đôn hậu,

đầy tình yêu thơng Cái tôi đợc vẽ là chàng trai quê mùa, sống giữa không gian quê, luôn muốn giữ đợc vẽ đẹp chân quê, tình yêu đó không phải đợc nói

ra một cách bạo dạn mà rất ý dị, kín đáo:

Tình tôi mở giữa mùa thu Tình em lặng lặng kính nh buông tằm

Nguyễn Bính thờng viết về những câu chuyện tình yêu gắn liền vớikhung cảnh thiên nhiên quê hơng giản dị, những mối tình trong trắng, ban sơ,mang âm hởng của ca dao:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn

Trang 33

Thơ Nguyễn Bính thờng mang những khát vọng, những ớc mơ, do vậy

ông cũng thờng nói về những giấc mơ, ông tởng tợng, chiêm bao sự thành đạtcủa công danh và sự vinh quy, cùng với nó là sự trọn vẹn của một tình yêu:

Đêm nay mới thật là đêm

Ai đem giăng giải lên trên vờn chè

Thơ tình Nguyễn Bính thờng là những mối tình dân dã và tình yêu đónếu đổ vỡ, chia ly thờng là do nghĩa vụ cha làm tròn Khác với Xuân Diệu đổ

vỡ, chia ly lại xuất phát từ lý do riêng t:

Em ơi, em ở lại nhà Vờn dâu em đến, mẹ già em thơng

Mẹ già một nắng hai sơng Chi đi một bớc trăm đờng xót xa

ở một thái cực khác, trong thơ Nguyễn Bính là một tình yêu thị thành,

để lại một Nguyễn Bính khác hẳn, nhiều đau đớn, cô đơn, chán ghét lối sốngthị thành … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những ông tìm về quê để cân bằng trạng thái tâm hồn, tránh sự chôngchênh trong tình cảmcủa mình Ông luôn giữ cho mình một tình cảm dịudàng, dân dã, cha hề vớng chút bụi kinh thành, ông nh hỏi ngời con gái trong

Chân quê về chiếc khăn, chiếc quần lĩnh, áo cài khuy bấm, cái yếm … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những ở đâurồi Ông muốn giữ mãi hình ảnh một ngời con gái mang chút hơng đồng giónội quê hơng

Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Khác xa với những cái tôi thuần đô thị nh Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chơng thì cái tôi Nguyễn Bính là cái tôi phản đô thị Lẫn trong làn ma

xuân kia có chút bụi kinh thành Chút bụi kia đã xúi dục Nguyễn Bính dấnthân vào cát bụi Nguyễn Bính bớc sang đò, để lại đằng sau những vờn cam,mái gianh, bớm trắng, tơ vàng, giàn giầu, hàng cau … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những để vào thế giới củaquê ngời Nhng rốt cuộc, ông lại đi tìm những thứ ấy giữa phố xá đô thành

mà không biết Hiển nhiên, những thứ ấy giữa chốn này làm sao có Cứ

loanh quanh cuối cùng cái tôi ấy lại trở về nơi mình từ giã Nguyễn Bính

th-ờng kể những câu chuyện tình yêu Một cô gái đi lấy chồng mang nhiều

tâm sự trong Lỡ bớc sang ngang, hay là câu chuyện tình ngày xa của tuổi

Trang 34

thơ đã đi đến kết cục đẹp đẽ, nhng đó chỉ là mộng mà thôi trong Hoa với

r-ợu:

Nhng mộng mà thôi, mộng mất thôi Hoa thừa, rợu ế, ấy tình tôi

Chiều nay, tôi chắp tay tôi lại

Đờng gặp ngời xa nữa lạy giời.

Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính thờng ít hành động mà chủ

yếu là mang những giấc mơ đẹp đẽ, thi vị Cái tôi chân quê đó mang một tình yêu đầy đau xót vì sự đổ vỡ, có thể có nhiều lý do Cái tôi Nguyễn Bính từ bỏ

quê để luôn khắc khoải nhớ quê, tìm kiếm công danh chỉ gặp sự dỡ dang, theo

đuổi tình duyên chỉ gặp lỡ làng … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những chân dung Nguyễn Bính hiện lên với một

tình yêu nhân duyên vừa trong sáng, ban sơ, vừa đậm đà, ý vị Gã trai quê ấy

là một thi sỹ đa tình, đa cảm, một kẻ thị dân, một tên giang hồ lãng tử Nói

cách khác, cái tôi nhà quê trong thơ Nguyễn Bính đã trở nên phức tạp, mâu thuẩn trong những đa đoan của thời đại Điều làm cho cái tôi Nguyễn Bính

khác với nhiều nhà Thơ mới, chính là cái hơi thở của hồn quê xa cũ trong thơ

ông Cái tôi Nguyễn Bính đích thực là cái tôi chân quê, cho dù có lúc nó đã ít nhiều bị thành thị hoá, chính vẽ chân quê trong thơ Nguyễn Bính đã thu hút đ-

ợc đông đảo độc giả, nhất là giới bình dân Việt Nam

Nhìn chung, đề tài tình yêu đã giúp các thi nhân thể hiện cái tôi của

mình một cách khá thành công Mỗi một thi nhân là một cá tính sáng tạo khác

nhau, do vậy, ở Xuân Diệu là một cái tôi luôn sôi nổi yêu đời dù không ít lần thất vọng, hoài nghi trớc cuộc đời bạc bẽo Hay Hàn Mặc Tử - một cái tôi bên

bờ vực thẳm của đời thờng và cái chết vẫn hết tuyệt vọng lại điên cuồng hy

vọng Nguyễn Bính lại là một cái tôi chân quê cho dù có những lúc nó đã ít

nhiều bị thị thành hoá trong cách nghĩ, cách nói Nhng đấy vẫn là một cái tôi

có vẽ nguyên sơ, hồn nhiên và thuần phác của tâm hồn và tình yêu con ngời

Nh vậy, với mức độ đậm nhạt khác nhau, các thi sỹ Thơ mới đã tạo nên sự

phong phú, thống nhất trong đa dạng của nhiều cái tôi ở đề tài tình yêu trong

Thơ mới

2.2 Những cách lý giải mới về hình tợng em - ngời tình, nàng thơ

Trang 35

Thế giới nghệ thuật của một thi sỹ lãng mạn, xét đến cùng là sự đan dệtcủa ba yếu tố: Tôi - Em - Thế giới Trong đó, em là hình tợng ngời tình, mà có

khi lại là một đối ảnh của chính cái tôi thi sỹ.

Nghiên cứu thơ trữ tình, ngời ta thấy có hiện tợng phổ biến là trong mỗichàng thi sỹ đều sống một ngời đàn bà Ngời đàn bà ấy là hiện thân cho vẽ

đẹp mà thi sỹ tìm kiếm, tôn thờ, là cái đẹp bằng xơng bằng thịt Ngời ta gọi đó

là nàng thơ, là ngời tình lý tởng của thi sỹ Thế giới hình tợng thi ca đợc xem

là sản phẩm sinh ra từ cuộc hôn phối âm thầm của hồn thi sỹ và ngời đàn bàhuyền diệu đó Đồng thời, những hình bóng giai nhân trong sáng tạo của thi

sỹ có thể đa dạng, nhiều hình vẽ, nhng xét đến cùng, đều chỉ là những bóngdáng khác nhau của cùng một ngời đàn bà ấy Chân dung ngời tình sẽ là cảmhứng cho thi nhân sáng tạo, khát khao một vẽ đẹp So với giai đoạn văn họctrớc Thơ mới thì hình tợng em - nàng thơ dờng nh ít xuất hiện Trong nềnvăn học trung đại thì hiện tợng này hầu nh không xuất hiện trong văn thơ, có

lẽ phần nào đó do hạn chế của lễ giáo phong kiến Còn đối với các tác giảxuất hiện đầu thế kỷ XX, thì trong thơ văn họ hình tợng em đã đi vào thơ ca,nhng đó chỉ mới là một cách để xng hô, mức độ còn rất nhạt, đồng thời rấthiếm khi thấy xuất hiện những cái tên cụ thể nh Thơ mới sau này

Đối với thi sỹ Xuân Diệu, ông không phải là ngời ham khắc hoạ đối

t-ợng của mình (tự hoạ vẫn đợc xem là cảm hứng mãnh liệt nhất) Dù không

nhiều, nhng đủ cho chúng ta hình dung về nàng Gọi là nàng vì xuất phát từ

tình nào thì trong thế giới thi ca Xuân Diệu vẫn vào vai là một tình lang, đối ợng ấy đợc gọi bằng em và hiện ra với diện mạo là một thiếu nữ Ngời tình đ-

t-ơng nhiên là một giai nhân Song giai nhân của mỗi thi sỹ lại là một khác Cả

Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử đều tìm đến gái quê mà trong đó chất quê mỗi

ngời vẫn một khác Gái quê của Nguyễn Bính là những cô gái còn giữ đợc nềnếp chân quê, mang trong mình những mối tình quê, duyên quê Còn gái quêcủa thi sỹ Hàn lại là những cô gái xuân tình mà trinh khiết Ngời tình củaXuân Diệu không thuộc gái quê, mà trái lại đầy chất dô thị đài các Nàng phải

là một giai nhân kiều diễm, kiêu sa ấy phải là những nàng hây hẩy tròn đôi

tám nàng hiện ra với thân hình cẩm thạch hoàn mĩ:

Chỉ là tình, nhng tôi rất mê man

Trang 36

Gồm vũ trụ gửi nơi hình cẩm thạch

Với da thịt du dơng, đôi má ngọc, ngón tay thơ mà mỗi cử chỉ đều ban ra một làn sóng: ánh sáng ban từ một nét tay, y phục của nàng hoặc là những

xiêm nghê nổi gió lùa, tà áo mới cũng say mùi gió mới Nàng bớc qua rồi mà

vẫn lu lại cái nhìn xao xuyến: Rặng mi dài xao động ánh dơng vui, lu lại mãi nét cời em vui đi răng nở ánh trăng rằm Với Thơ thơ và Gửi hơng cho gió,

nàng hiện ra nh một tình nhân đầy quyến rũ, mời mọc Có thể thấy ở thi sỹ

mới nhất trong các nhà Thơ mới (Hoài Thanh) này tạo ra ở hình tợng giai

nhân một điệu sống theo lối mới, với thủ pháp khắc hoạ mới

Nàng còn hiện ra với một đối cực khác: Giai nhân hờ hững, phủ phàng.Xuân Diệu đã ví sự xa vời và bí ẩn của nàng với vực thẳm, trời xa từng đem

đến cho cái tôi thi sỹ biết bao thất vọng:

Đôi mắt ngời yêu, ôi vực thẳm

Ôi trời xa vừng trán của ngời yêu

Ta thấy gì đâu sâu sắc yêu kiều

Mà ta riết trong đôi tay thất vọng

Hình tợng em trong thơ Xuân Diệu đợc ông miêu tả ở mọi góc độ, vì đó

là cảm hứng sáng tạo vô cùng lớn của ông, một đối tợng không thể thiếu trongthế giới tình yêu của ông Tóc là một biểu tợng của sức sống, của nhứng khátkhao lãng mạn, ông viết:

- Xem đầu mây gợn, mắt mây qua

- Hãy trộn nhau mái tóc ngắn dài

Hay là một cặp mắt tình nhân say đắm:

- Nhịp nhàng mắt đẹp nhìn trong mắt

- Trong mắt em anh tởng thấy thiên đờng.

Xa hơn nữa, em trong thơ Xuân Diệu có giá trị riêng của nó:

Em đẹp, khi em phồng nét ngực Hít không gian và ngó thẳng trời xa Khi cánh tay đang ôm cả sơn hà Chân vút thẳng sắp lên đờng vợt trải

Trang 37

Đấy không chỉ là một vẽ đẹp thuần tuý nữa, mà là một vẽ đẹp đầy ắp

nội dung, một nội dung mới mang sức sống mới của thời đại Cái tôi của gã

tình si luôn thức dậy với cõi lòng tràn ngập khao khát luyến ái, thì sự lạnh

nhạt, hờ hững lại muốn dập tắt ngọn lửa ái ân trong cái tôi kia, gieo vào lòng

nổi cô đơn, biến nó thành một kẻ thất tình Giai nhân đã thành nguồn sống của

cái tôi ấy Niềm khát khao luyến ái dâng lên, giai nhân hiện ra thật toàn vẹn là

một ngời tình đắm say, quyến rũ, lý giải cho một cái tôi khao khát yêu và

khao khát tận hởng

Tình yêu nào cũng có những hiện thân cụ thể của nó Tình yêu trần thếtrong thơ Hàn Mặc Tử hiển hiện qua bóng hình và gơng mặt của những cô gái

đẹp, có tên hoặc không tên: Gái quê, Mộng Cầm, Hoàng Cúc, Mai Đình,

Th-ơng ThTh-ơng, Ngọc STh-ơng … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Đó là những cô gái có thực hoặc không có thựctrong cuộc đời Hàn Mặc Tử Hình tợng Em trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ

có ý nghĩa nh một đối tợng trữ tình thờng gặp trong sáng tác của các nhà thơ

Để vào thơ ông, những bóng hình ấy đã đợc chắt lọc rất đặc biệt Họ là sự dồnnén của những ám ảnh ẩn ức khó giải bày trong lòng thi nhân Không phảingẫu nhiên mà Hàn Mặc Tử hay gọi tên ngời yêu trong mình Bằng cách gọi

đích danh, ông muốn cụ thể hoá đối tợng trữ tình đang đợc nói tới Ông muốn

thụ hởng ngời tình trong từng chi tiết nhỏ, trong sự sống động, gợi cảm, chứ

không chỉ là một bóng dáng mơ hồ Vì thế, để mô tả con ngời, đặc biệt lànhững cô gái, Hàn Mặc Tử đã huy động vào thơ một hệ thống các từ ngữ chỉcác bộ phận cơ thể: Môi, mắt, má, ngực, răng, tóc, đầu gối, xác thịt … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những kết hợpcác danh từ đó với các tính từ, động từ làm cho nhân vật chính hiện lên cụ thể

nhất nh: Cặp má đỏ au, má đỏ hây hây, đôi má nõn, môi hờng, ngực phập

phồng … Ông cũng rất hay so sánh cực điểm để diễn tả cảm xúc, cảm giác

của mình: Trắng rợn mình, làn môi mong mỏng tơi nh máu, ngon nh tình mới

cắn, xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc … Bởi thế mà dù những cô gái quê, hay

những cô gái ngây thơ qua ngòi bút của Hàn Mặc Tử, họ hiện lên với một vẽ

đẹp mang tính nhục thể Con ngời biến đổi một cách lạ lùng cả thể xác và tâm

hồn: đấy là khi Tóc em bó trái đào / tới chừng cặp má đỏ au au; là khi Em đã

biết làm duyên / Mỗi lúc gặp tôi che nón nghiêng Bộc lộ những cảm xúc, cảm

giác thầm kín, rạo rực: hổn hển, ngợng nghịu, rộn rã, đê mê, bứt rứt, thở dốc,

hồ nghi, … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những vẽ đẹp của ngời con gái ấy hiện lên thật quyến rũ với hình thể đầy

Trang 38

gợi cảm (da thịt, trời ơi, trắng rợn mình), mang trang phục đầy màu sắc (tà áo

biếc, yếm đào, vạt áo màu nâu ,… vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những.) Ngời con gái trong thơ Hàn Mặc Tử ờng gắn với mùi hơng

th Ai nở dang tay mà vớt lấy Mùi hơng trong nếp áo xiêm rơi

- Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc Cả một mùa xuân đã hiện hình.

Vẻ đẹp của ngời con gái trong thơ tình Hàn Mặc Tử đợc tạo ra từ mộttâm hồn ngất ngây, say mê … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Những ngời con gái trong thơ ông vừa mangmột vẻ đẹp trần thế, lại vừa gợi cảm giác xa vời, cách biệt Giữa em và nhà thơ

nh có một khoảng cách nào đó:

Bên khóm thùy dơng em thớt tha Bên này bờ liễu anh trông qua

Có khi là sự cách biệt của hai thế giới:

Anh nằm ngoài sự thực

Em ở trong chiêm bao.

Những khoảng cách nh vậy, khiến cho hình tợng em trong thơ Hàn Mặc

Tử, bên cạnh sự nồng ấm, còn mang vẻ đẹp h ảo, xa xôi Vẻ đẹp ấy càng ấn

t-ợng trong những không gian đặc biệt, ở Mơ hoa, Em xuất hiện cùng khói

trầm, sơng, hoa khói, bụi mờ, tiếng sao rơi … vì thế đề tài nếu thực hiện thành công, ít nhiều sẽ có những Trong Đây thôn Vĩ Dạ, hình ảnh

em xuất hiện chỉ là một màu áo trắng trên nền sơng khói mơ hồ, mông lung:

Mơ khách đờng xa, khách đờng xa

áo em trắng quá nhìn không ra

Hình ảnh Em có khi còn là hiện thân cho cõi khác, nơi đi về của cái

đẹp, của hơng thơm và ánh sáng Nh vậy, Em là hiện thân cho sự khát khao

-ớc mơ, đối lập lại với cuộc sống đầy đau đớn của thi sỹ Hàn Mặc Tử hớng

đến Em để hỏi han, trách móc, hờn giận:

Sao không dám nhìn nhau rõ Gặp gỡ bên đờng cũng thản nhiên

Có lúc ông không ngại ngùng gọi thẳng tên ngời yêu:

Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm

Trang 39

Nhớ thơng thành một nắm xơng thôi

Tiếp cận với em, kẻ si tình ấy lại bối rối, dè dặt: nép mình, hé nhìn,

chẳng nói ra, đứng lặng, đứng rũ … Thái độ dè dặt này của Hàn Mặc Tử đối

với ngời yêu chính là bắt nguồn từ nổi mặc cảm sâu xa về bệnh tật, về sốphận, về khoảng cách chua xót không thể vợt qua đợc giữa thi nhân và cuộc

đời Hình ảnh em chính là hình ảnh của cuộc sống, của hy vọng Nhng ám ảnhcủa bệnh tật, của cái chết luôn cận kề Do đó tình yêu dù đẹp thì kết cục cũngchỉ là đau đớn

Với Vũ Hoàng Chơng, ông luôn tạo ra trạng thái say, và nếu rợu, thuốc

phiện là chất kích thích của cơn say sinh lý thì chất kích thích tâm lý chính là

Em – ngời tình, nàng thơ Mọi cảm giác, cảm xúc của chủ thể trữ tình đều

xuất phát từ Em Dù là một cô gái xuất phát từ đời thực hay là bóng ma trong

sơng khói, thì em luôn có khả năng gây ra một trạng thái say đặc biệt Đó là

những cảm giác nhục thể: Say (Đôi má huyền, thơm mọng ý say; Đời vắng em

rồi say với ai?), đê mê (Ta đê mê cảm đợc chút gì đâu), run (những luồng run chạy khắp thịt da ngà) mê man (anh đã nào lòng em mê man, … ), cháy (Da thịt cháy nhng còn hơi bở ngỡ, … )

Cũng nh những trạng thái say khác, say tình nhiều khi đẩy con ngời vàonhững cảm xúc, hành động dờng nh bản thân không kiểm soát đợc Đó là mộtcơn say dài, đầy những mộng mị, rã rời:

Men khói đêm nay sầu dựng mợ Bia đề tháng sau ghi mời hai Tình ta, ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng nay Tố của ai?

Trong mối tình vô biên giành chứa một giai nhân ấy, hẳn không chỉ là

để nói về một cô gái cụ thể nào, cho dù đời thơ của ông, ngời ta vẫn thờngnhắc đến những cô gái với những đặc điểm khá cụ thể chi tiết Thơ tình VũHoàng Chơng đã góp phần khẳng định sự bền vững của những mối tình đẹp đ-

ợc tôn thờ trong suốt một đời thơ Có những ý thơ xúc động, ngậm ngùi:

Em Kiều Thu ạ! mời năm xa cách Lòng gã Hoàng lang vẫn ngậm ngùi

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huy Cận (2003), Tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả và tác phẩm
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
2. Huy Cận, Hà Minh Đức(1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
3. Xuân Diệu(2003), Tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả và tác phẩm
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
4. Phan Huy Dũng (1995), Thơ mới và việc mô tả vẻ đẹp thể chất của con ngời, Tạp chí sông Lam, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới và việc mô tả vẻ đẹp thể chất của con ngời
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1995
5. Phan Cự Đệ (1997), Văn học lãng mạn (1930- 1945), Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Hà Minh Đức (2002), Một thời đại trong thi ca, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
9. Lê Đình Kỵ (1993), Thơ mới những bớc thăng trầm, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới những bớc thăng trầm
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 1993
10. Nhiều tác giả biên soạn (1998), Thơ mới (1932-1945), Tác giả và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới (1932-1945
Tác giả: Nhiều tác giả biên soạn
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1998
11. S.Freud, E.Fromm, A. Schopenhauer, V.Soloviev, Đỗ Lai Thuý (2003), Phân tâm học và tình yêu, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và tình yêu
Tác giả: S.Freud, E.Fromm, A. Schopenhauer, V.Soloviev, Đỗ Lai Thuý
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại (tâp 2), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
13. Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
14. Vũ Đức Phúc(1971), Bànvề những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bànvề những cuộc đấu tranh t tởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Vũ Đức Phúc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
15. Chu Xuân Sơn(2003), Ba đỉnh cao thơ mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao thơ mới
Tác giả: Chu Xuân Sơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
16. Trần Đình Sử (1995),Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1995
17. Trần Đình Sử (2002), Lý luận và phê bình văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
18. Hoài Thanh(1951), Nói chuyện thơ kháng chiến, Vụ VHNT xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện thơ kháng chiến
Tác giả: Hoài Thanh
Năm: 1951
19. Hoài Thanh, Hoài Chân (2000), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
20. Lu Khánh Thơ (1994), Thơ tình Xuân Diệu, Luận án Phó Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tình Xuân Diệu
Tác giả: Lu Khánh Thơ
Năm: 1994
21. Đỗ Lai Thuý (2000), Mắt thơ, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thuý
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trong thơ tình của Thơ mới, nghệ thuật xây dựng hình ảnh, biểu tợng đóng vai trò hết sức quan trọng - Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ mới 1932   1945
rong thơ tình của Thơ mới, nghệ thuật xây dựng hình ảnh, biểu tợng đóng vai trò hết sức quan trọng (Trang 57)
chỉ đối tợng của tình yêu nh hình ảnh ngời yêu, tình yêu, ái tình, thiếu nữ… - Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ mới 1932   1945
ch ỉ đối tợng của tình yêu nh hình ảnh ngời yêu, tình yêu, ái tình, thiếu nữ… (Trang 62)
Bảng 2: - Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ mới 1932   1945
Bảng 2 (Trang 65)
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy có 2 mùa đợc các thi nhân chú ý thể hiện, đó là mùa thu và mùa xuân - Quan niệm nghệ thuật về tình yêu cá nhân trong thơ mới 1932   1945
h ìn vào bảng thống kê ta thấy có 2 mùa đợc các thi nhân chú ý thể hiện, đó là mùa thu và mùa xuân (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w