1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm nghệ thuật về con người của nam cao qua các tác phẩm trước cách mạng tháng tám

56 3,1K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm nghệ thuật về con người của nam cao qua các tác phẩm trước cách mạng tháng tám
Tác giả Hồ Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam II
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 189,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi chọn tác giả Nam Cao để làm luận văn với đề tài: "Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao qua các tác phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" trớc tiên xuất phát từ lòng say mê, yê

Trang 1

Lêi nãi ®Çu

Nam Cao lµ mét nhµ v¨n hiÖn thùc xuÊt s¾c, ®iÒu nµy ® îc chøng minh bëi nh÷ng t¸c phÈm cã gi¸ trÞ vÜnh h»ng cña «ng.

Trong c¸c t¸c phÈm cña m×nh, Nam Cao thêng béc lé quan niÖm cña m×nh vÒ cuéc sèng, vÒ con ngêi, vÒ x· héi vµ c¶ vÒ nghÖ thuËt Trong khu«n

khæ cña mét kho¸ luËn, chóng t«i chØ xin tr×nh bµy "Quan niÖm nghÖ

thuËt vÒ con ngêi cña Nam Cao qua c¸c t¸c phÈm tríc C¸ch m¹ng th¸ng

===  ===

Khãa luËn tèt nghiÖp

quan niÖm nghÖ thuËt vÒ con ng êi cña Nam Cao qua c¸c t¸c phÈm

tr íc c¸ch m¹ng th¸ng t¸m

Bé m«n: V¨n häc ViÖt Nam II HÖ: Cö nh©n khoa häc chÝnh quy

Trang 2

Tám" Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến với các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam hiện đại - khoa Ngữ văn - trờng Đại học

Vinh, thầy giáo phản biện và đặc biệt là thầy giáo h ớng dẫn Đinh Trí

Dũng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận.

Vì cha có kinh nghiệm viết văn và năng lực còn hạn chế nên không tránh khỏi những điều thiếu sót, tôi kính mong các thầy cô giáo bỏ lỗi và góp ý cho tôi.

Tôi xin cảm ơn !

Trang 3

Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài.

Nam Cao (1917 - 1951) là một tài năng lớn, một cây bút hiện thựcxuất sắc đã góp phần đáng quý vào quá trình cách tân và hiện đại hoá nềnvăn xuôi quốc ngữ Ông là một trong số những nhà văn có vị trí vững vàng,

ổn định và có tầm quan trọng trong nền văn học sử dân tộc Chỉ với m ờilăm năm cầm bút (1936 - 1951), nhà văn liệt sĩ Nam Cao đã để lại một sựnghiệp văn chơng không thật đồ sộ về số lợng nhng lại luôn ẩn chứa mộtsức sống khỏe khoắn, bền lâu của một giá trị văn chơng đích thực, có sức v-

ợt lên trên "các bờ cõi và giới hạn", tìm đến đợc sự tri kỷ tri âm và tạo đợc

sự ám ảnh kỳ lạ đối với nhiều thế hệ công chúng Suốt đời văn của ông,Nam Cao đã gắn ngòi bút mình, sự nghiệp văn chơng của mình với cuộc

đời Khơi những tầng vỉa sâu xa của đời sống "những nguồn cha ai khơi",bằng tài năng, tâm huyết và sự say mê đầy trách nhiệm của một trái tim lớn,một ngời nghệ sĩ lớn luôn thức đập với những buồn vui, đau khổ của conngời, Nam Cao đã tạo dựng đợc một nền văn nghiệp lớn Chúng tôi chọn tác

giả Nam Cao để làm luận văn với đề tài: "Quan niệm nghệ thuật về con

ngời của Nam Cao qua các tác phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" trớc

tiên xuất phát từ lòng say mê, yêu mến một nhà văn có tài, có đức trong vănhọc Việt Nam hiện đại

Nam Cao là một tác gia có nhiều sáng tác đợc tuyển chọn vào chơngtrình phổ thông từ trớc đến nay Những tác phẩm tiêu biểu đợc đa vào ch-

ơng trình phổ thông nh "Lão Hạc", "Chí Phèo", "Đời thừa", "Một đám cới",

"Đôi mắt" Đó là những tác phẩm xuất sắc khẳng định vị trí nhà văn trong

văn chơng nhà trờng Tìm hiểu đề tài "Quan niệm nghệ thuật về con ngời

của Nam Cao qua các tác phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" là một

trong những cơ sở để hớng cho học sinh hiểu đợc thêm về tấm lòng và tàinăng của một nhà văn lớn trong nền văn học Việt Nam, giúp cho học sinhthấy đợc những cái nhìn mới mẻ của nhà văn trong việc xây dựng các hìnhtợng nghệ thuật Mặc dù viết về những vấn đề khác nhau, ng ời nông dântrong xã hội cũ, ngời trí thức nghèo, rồi dân nghèo thành thị nhng thựcchất là Nam Cao viết về con ngời Cuộc đời chân thực gần gũi hiện ra hàngngày và ấn tợng sâu sắc nhất chính là thân phận con ngời đang từng ngàykiếm sống, bị lăng nhục và chịu đựng vô vàn những đắng cay

Trang 4

Một lý do nữa là tuy đời văn Nam Cao không dài nh ng Nam Cao đã

dể lại nhiều tác phẩm có giá trị Thời gian trôi qua, tác phẩm của Nam Caongày càng bộc lộ thêm những phẩm chất mới, những giá trị mới Tuy nhiên,

do thời gian và khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chỉ đi vào

vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao qua các tác

phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" Chúng tôi hy vọng rằng, khoá luận

này sẽ góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu con ngời và sáng tác của NamCao, khẳng định những đóng góp của Nam Cao trong tiến trình phát triểncủa văn học Việt Nam hiện đại

II lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Nam Cao là một trong những nhà văn sớm đợc nghiên cứu và cũng làmột trong những nhà văn có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến

Theo nh thống kê trong "Th mục về Nam Cao" (Sách "Nam Cao - về

tác gia và tác phẩm" của Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu - NXB Giáo

dục năm 2001) thì tác giả đã thống kê đợc khoảng 200 công trình lớn nhỏviết về ông và tác phẩm của ông Đặc biệt trong thập niên cuối thế kỷ, đãdiễn ra hai cuộc hội thảo khoa học về nhà văn Tháng 11/1991, Viện Vănhọc phối hợp với Hội nhà văn, Hội văn nghệ Hà Nam Ninh và trờng ĐHSP

Hà Nội I tổ chức Hội thảo khoa học nhân 40 năm ngày mất của Nam Cao(1951 - 1991) Kết quả của hội thảo là một cuốn sách giới thiệu những suy

nghĩ và nhận thức mới về nhà văn với tựa đề "Nghĩ tiếp về Nam Cao" do

Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 1992 Đến tháng 10/1997, Hội thảokhoa học nhân 80 năm ngày sinh Nam Cao (1917 - 1997) do Viện Văn học

tổ chức đã khẳng định rõ vị trí và vai trò của nhà văn trong lịch sử văn họcViệt Nam hiện đại

Nhà nghiên cứu Phong Lê trong cuốn "Nam Cao trong những hồi ức

và suy nghĩ hôm nay" (Tạp chí văn học số 11/1997) đã tâm sự: "Tôi nghiện

đọc Nam Cao, với nhu cầu chiêm nghiệm các ý tởng của Nam Cao, cùngvới cách thể hiện và dẫn dắt chúng, thể hiện câu văn và cách viết Nam Cao,trong lúc nội dung tất cả những gì Nam Cao viết gần nh đều đã thuộc cả rồi.Nói cách khác, đọc ông không phải chỉ để biết "nội dung" - và đó mới là

"bí quyết" cho một sự hấp dẫn thực sự dài lâu"

Lê Đình Kỵ trong báo Văn nghệ số 54/1964 đã nhận xét: "Có nhữngchủ đề Nam Cao và có những nhân vật Nam Cao Nam Cao bị ám ảnh bởicái cảnh tợng cuộc sống vô lý, những con ngời bị tha hoá, bị biến chất, bịhoá thành cái ngợc lại với nó Ngòi bút Nam Cao đặc biệt sắc sảo là khi vẽ

Trang 5

lại những con ngời quặt quẹo, méo mó, đần độn, cục súc, táng tận lơngtâm ", "Nam Cao đã diễn tả với một sức mạnh lạ thờng quá trình lu manhhoá của một số quần chúng cơ bản trong hoàn cảnh bị đè nén, áp bức, bóclột của xã hội cũ".

Nguyễn Đăng Mạnh với bài viết "Nhớ Nam Cao và những bài học

của ông" (in trong "Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn"

-NXB Giáo dục, in lần 2, H, 1998) thì đã nói về sức hấp dẫn của ngòi bútNam Cao trong việc phân tích tâm lý và thái độ của nhà văn: "Nam Cao làngời hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối vớicon ngời Ông thờng dễ bất bình trớc tình trạng con ngời bị lăng nhục chỉ vì

bị đày đọa vào cảnh nghèo đói cùng đờng Nhiều tác phẩm xuất sắc của ông

đã trực diện đặt ra vấn đề này và ông quyết đứng ra minh oan, chiêu tuyếtcho những con ngời bị miệt thị một cách bất công"

Nguyễn Văn Hạnh với bài viết "Nam Cao và khát vọng về một cuộc

sống lơng thiện, xứng đáng" (in trong "Nghĩ tiếp về Nam Cao" - Hội nhà

văn, H, 1992) đã nhận xét: "Trong tác phẩm của Nam Cao, con ngời sốngtrong một xã hội dữ dằn, cay nghiệt, hoàn cảnh nh muốn nghiền nát con ng-

ời đi, nhng con ngời vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống,

để bộc lộ tính cách, để làm ngời"

Rất nhiều bài nghiên cứu Nam Cao về phơng diện con ngời nh Hà

Minh Đức "Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao";

Đinh Trí Dũng "Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo

của Nam Cao"; Phong Lê "Tình cảnh ngời nông dân và tình cảnh cái làng quê Việt Nam tiền cách mạng"

Các bài nghiên cứu đã đề cập đến nhiều mặt thành công trong việc thểhiện con ngời của Nam Cao, nhng nhìn chung những bài nghiên cứu này th-ờng là những bài viết ngắn, cha đi sâu phân tích một cách hệ thống quanniệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao Bởi vậy trong khoá luận này,chúng tôi sẽ cố gắng đa ra một cách tiếp cận mới, hình thành nên một cái

nhìn tổng quan về "Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao qua

các tác phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" Từ đó, chúng tôi chỉ ra những

đóng góp độc đáo cũng nh hạn chế lịch sử trong quan điểm của Nam Cao,hình dung vị trí của ông trong tiến trình văn học hiện đại của dân tộc

III nhiệm vụ nghiên cứu.

Nhiệm vụ của khoá luận là chỉ ra các phơng diện trong quan niệmnghệ thuật về con ngời của Nam Cao, chỉ ra đợc những biện pháp nghệ

Trang 6

thuật thể hiện con ngời của nhà văn Đi sâu tìm hiểu quan niệm nghệ thuật

về con ngời và sự thể hiện nhân vật cũng là để khẳng định chiều sâu nhân

đạo trong tác phẩm của Nam Cao

IV Phạm vi nghiên cứu.

"Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao qua các tác phẩm trớc Cách mạng tháng Tám" không chỉ thể hiện trong các truyện

ngắn mà còn thể hiện một cách rõ nét trong tiểu thuyết " Truyện ngời hàng

xóm", mà đặc biệt là tiểu thuyết "Sống mòn".

Tác phẩm của Nam Cao trớc cách mạng gồm 2 tập với 41 truyện,trong khoá luận này chúng tôi không đi sâu vào phân tích tất cả các truyện

đó mà chọn các truyện đặc sắc để rút ra nét phổ quát mang tính t tởng trongsáng tác của Nam Cao

V Phơng pháp nghiên cứu.

ở khoá luận này, chúng tôi sử dụng phơng pháp phân tích - tổng hợp

để làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao Chúng tôicòn sử dụng phơng pháp thống kê trong một số trờng hợp

Trong một chừng mực nào đó, chúng tôi cũng dùng ph ơng pháp sosánh, đặt Nam Cao bên cạnh các nhà văn hiện thực phê phán nh Ngô Tất

Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng để thấy đợc những nét chung vàriêng đồng thời thấy đợc những đóng góp to lớn của Nam Cao cho nền vănhọc nớc nhà

VI Cấu trúc luận văn.

Trang 8

Phần nội dung

Ch ơng 1:

Con ngời xã hội - giai cấp

1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời.

Mọi ngời đều biết "văn học là nhân học" (M.Gorki), là nghệ thuậtmiêu tả, biểu hiện con ngời Con ngời là đối tợng chủ yếu của văn học, là

"điểm nhìn" chính yếu của chủ thể sáng tạo nghệ thuật C.Mác cũng từngkhẳng định: "Con ngời là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Có thể nói,con ngời là trung tâm của mọi vấn đề trong cuộc sống Trong thế giới nghệthuật, quan niệm nghệ thuật về con ngời "là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảmthấy con ngời đã đợc hoá thân thành các nguyên tắc, phơng tiện, biện phápthể hiện con ngời trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ chocác hình tợng nhân vật trong đó" [11 - 41]

Quan niệm nghệ thuật về con ngời chi phối sáng tác của nhà văn, vìthế khi nghiên cứu về con ngời không phải nhìn nhận ở góc độ khách thể

mà phải xem xét con ngời dới lăng kính chủ quan của nhà văn và việc tìmhiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời tức là đi vào khám phá cách cảm thụ

và biểu hiện thế giới chủ quan của ngời sáng tạo trong tác phẩm văn học

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phạm trù của thi pháp học,

nó hớng chúng ta nhìn về một đối tợng chính yếu của văn học, về quanniệm thẩm mỹ của ngời nghệ sĩ

Hình tợng nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm văn học bao giờ cũngmang tính quan niệm, tức là phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật - con ng ờiluôn mang trong nó quan niệm của tác giả

Quan niệm về con ngời là một sản phẩm của lịch sử, của văn học và

t tởng Mỗi một thời đại thờng có một quan niệm riêng về con ngời.Khrapchencô đã từng nói: "Quan niệm con ngời là hình thức đặc thù nhấtcho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động qua lại của nghệthuật với hình thái ý thức xã hội khác", và mỗi thời đại văn học ra đời baogiờ cũng làm nảy sinh "con ngời mới" (J.Bêsơ)

Dẫu mỗi thời đại văn học quan niệm về con ngời có đa dạng, phongphú, song vẫn có những điểm chung nhất định: đó là những con ngời in dấu

ấn xã hội, mang đậm dấu ấn của ngời nghệ sĩ gắn với cái tôi của chủ thể

Trang 9

sáng tạo, con ngời còn đợc gắn vmi từng thể loại riêng và ở mỗi thể loại cómột chức năng, phơng tiện biểu hiện riêng biệt.

Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học là tiêu chuẩn đánhgiá giá trị nhân đạo vốn có của văn học Ngời sáng tạo nghệ thuật càng đisâu khám phá, phân tích, lý giải cặn kẽ mọi ngõ ngách của đời sống con ng -

ời thì càng thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc trong tác phẩm nghệ thuật

Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngời thì phải xuất phát

từ nhân vật, bởi vì nhân vật là phơng tiện chính để nhà văn thể hiện quanniệm về con ngời

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học trung đại, trong

Tự lực văn đoàn, trong Thơ mới.

Trong văn học Việt Nam, từ khi nền văn học viết mới ra đời cho đếnnhững năm 20 của thế kỷ XX, cái nhìn nghệ thuật chung nhất về con ng ời

là sự khám phá con ngời trong mối tơng quan "thiên nhân tơng cảm" cổ a

x-ở phơng Đông với văn học Trung Quốc, Việt Nam do ảnh h x-ởng hoặcmô hình vũ trụ thiên, địa, nhân và cũng do cuộc sống dựa vào nền tảngnông nghiệp, ngời ta quan niệm con ngời là một cá thể vũ trụ Do đó conngời trong văn học trung đại là con ngời vũ trụ, họ không phải là một hiệntợng xã hội mà là một bộ phận của tự nhiên Thiên nhiên trở thành nhữngchuẩn mực của cái đẹp, chuẩn mực của mọi tài năng sức mạnh, phẩm chấtcủa con ngời Nói về những ngời con gái đẹp, các nhà văn, nhà thơ thờng sửdụng hình ảnh dáng liễu, dáng mai Nói chí thì "đội trời đạp đất" với hình

ảnh cây tùng, cây trúc Rồi khi mô tả cái tài của con ng ời thì nhà văn trung

đại giải thích do mạch đất của trời, do khí thiên sông núi tạo nên Tài đánh

đàn của Kiều, rồi tài làm thơ cũng đợc nhìn từ kích thớc tự nhiên Con ngờitrung đại coi thiên nhiên là sức mạnh to lớn vĩnh hằng, có sức thống trị conngời cho nên con ngời khao khát mình cũng có sức mạnh đó Con ngờitrung đại cũng coi thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp và cái vĩnh hằng do

đó con ngời luôn thể hiện khát vọng vơn tới giá trị vĩnh hằng

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, trong văn học đã có sự thay đổiquan niệm nghệ thuật về con ngời Điều này bắt nguồn từ một loạt cách tânmới về mặt hình thức văn học và sự thay đổi trong hệ t tởng của tác giả.Con ngời từ đây đã đợc khám phá đầy đủ hơn, toàn diện hơn Cái nhìn conngời ở góc độ xã hội của Phạm Duy Tốn rồi Hồ Biểu Chánh là những dựbáo cho sự khám phá mới mẻ này

Trang 10

Đến giai đoạn văn học 1930 - 1945, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đãthể hiện một quan niệm con ngời, đó là con ngời cá nhân, mạnh mẽ khẳng

định vai trò con ngời cá nhân trong sự xung đột với gia đình truyền thống,với khát vọng tìm lối thoát trong tình yêu, thế giới nội tâm, thậm chí muốnthoát ly mọi quan hệ xã hội để thỏa mãn tự do bản năng Nhân vật th ờng lànhững cô gái mới ra đời trong những gia đình bảo thủ Họ đã không đầuhàng mà kiên quyết đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc của mình tuy cuộc đời

họ không đợc hạnh phúc trọn vẹn Mai trong "Nửa chừng xuân" là một nạn

nhân đau khổ và tự trọng, chỉ biết đem cái nhân hậu, thanh cao ra chống đỡ.Mai đã chống đến cùng chế độ đa thê, đã nói thẳng vào mặt bà án "nhà tôikhông có mã lấy lẽ" và bảo vệ tình yêu lý tởng

Nhất Linh ca ngợi tình yêu tự do của lứa đôi, chủ trơng giải phóng

hoàn toàn ngời phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến (Đoạn tuyệt), giải phóng họ khỏi những quan niệm tiết trinh hẹp hòi của lễ giáo ( Lạnh lùng)

Tự lực văn đoàn đã bắt đầu đi vào miêu tả thế giới nội tâm con ng ời, trìnhbày thế giới cảm giác của con ngời đối với môi trờng xung quanh, đối vớingời khác và đối với chính mình

Xã hội phong kiến không chấp nhận đề cao cái "tôi", đề cao bản ngãcá nhân nh trong thơ văn Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát Văn xuôi Tự lựcvăn đoàn ra đời đã góp phần đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, giải phóngngời phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến.Thơ mới ra đời đã nói lên tiếng nói riêng của mình trong việc thể hiện quanniệm nghệ thuật về con ngời Các tác giả Thơ mới đã đề cao cái tôi cá nhân

Có thể nói, cha bao giờ con ngời cá nhân lại đợc nói đến một cách mạnh mẽ

nh trong Thơ mới ở một chừng mực nào đó, cái tôi trong Thơ mới đã nóilên đợc một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự

do cá nhân Nó làm cho thế giới tâm hồn của con ngời đợc mở rộng, ngàycàng phong phú hơn "Nhớ rừng của Thế Lữ là "một khối căm hờn" đối vớicảnh đời nô lệ nhục nhằn, tù hãm, là lòng khao khát đợc "tung hoành", "vẫyvùng" tự do giữa "cảnh nớc non hùng vĩ" Thơ Huy Thông, Xuân Diệu đềuthể hiện niềm khao khát đợc sống một cách mạnh mẽ của cái "tôi" cá nhân"[2 - 561] Hầu nh toàn bộ cảm hứng của Thơ mới là đi tìm cái "tôi":

- "Tôi chỉ là một khách tình si"

- "Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng"

- "Tôi chỉ là một kiếp đi hoang"

- "Tôi là con chim đến từ núi lạ"

- "Tôi là con nai bị chiều đánh lới"

Trang 11

Thơ mới đã đề cao cái tôi nh là một đối tợng khám phá của nghệthuật, nh là điểm hội tụ sáng láng nhất của cuộc sống con ngời Con ngời cánhân, con ngời cá tính, bản năng, "siêu thực" (chứ không phải chỉ có conngời ý thức, nghĩa vụ đã làm mờ đi cái phần bản thể của nó) Quan niệm vềcon ngời của Thơ mới đã thay đổi: "Cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân

tự ý thức, tự khẳng định đa đến một bớc ngoặt quyết định trong lịch sử thơ

ca Việt Nam phát triển theo hớng hiện đại Thơ mới là thơ của cái tôi"

Nh vậy, từ quan niệm nghệ thuật của văn học trung đại nhìn con ngời

là "tiểu vũ trụ" gắn liền với đất trời thiên nhiên thì đến Tự lực văn đoàn vàphong trào Thơ mới đã dần dần có những cách nhìn, cách nghĩ mới về conngời, con ngời bắt đầu ý thức đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc của mình, đấutranh chống lại những lễ giáo phong kiến (Tự lực văn đoàn) và có ý thứctrong việc thể hiện chính mình (Thơ mới)

1.3 Sự quan tâm thể hiện con ngời xã hội - giai cấp trong các tiểu

Khác với con ngời cá nhân đậm tính chủ quan, mang tính chất lý t ởnghoá của các nhân vật lãng mạn, thì "con ngời xã hội" luôn đợc nhìn nhậnmột cách khách quan, nh nó vốn có trong thực tế Chính điều này đã lý giảicho tính chân thực, gần gũi, mang hơi thở của đời sống cũng nh sự thể hiệnmột cách phong phú, đa dạng về con ngời của văn học hiện thực phê phán

Trong bối cảnh lúc bấy giờ, xu hớng về bình dân là xu hớng của thời

đại Vấn đề nông dân cũng trở thành vấn đề thờng trực, gay cấn của văn họclúc ấy Các nhà văn hiện thực nhìn thấy sự đối lập giai cấp hết sức gay gắt.Nguyễn Công Hoan đã làm nổi bật lên sự bất công có tính chất giai cấp của

xã hội, sự xung đột giữa kẻ giàu ngời nghèo Trong "Răng con chó của nhà t

bản", sự đụng độ giàu nghèo thể hiện thật rõ rệt Ông chủ hãng ô tô đã

phóng xe đuổi theo ngời ăn mày vì ngời này đã dám đáng gãy răng con chóTây của ông khi nó chồm vào cắn anh ta "A, mày tát gãy răng chó ông, ông

Trang 12

chỉ kẹp cho mày chết tơi, rồi ông đền mạng Bất quá ba chục là cùng" - Câunói của nhà t bản bộc lộ đầy đủ bản chất lang sói của ông ta và cho thấy giátrị thảm hại của ngời nghèo trong xã hội đồng tiền lạnh lùng đó Rồi Nghị

Lại trong "Bớc đờng cùng" điển hình cho giai cấp địa chủ chiếm đoạt ruộng

đất của nông dân bằng đủ mọi cách, đó là niềm say mê, dục vọng cuồng điêncủa hắn Còn anh Pha, một ngời nông dân hiền lành thì bị áp bức bóc lột mấthết ruộng đất, bị dồn đến "bớc đờng cùng" với bao nhiêu ngời nông dân khác

trong "Tắt đèn" quan niệm các phẩm chất tốt đẹp của nhân vật chính diện

nh chị Dậu là những con ngời không bị tha hoá, không thay đổi trớc sức épcủa hoàn cảnh Đó là một ngời phụ nữ yêu chồng thơng con hết mực, đảm

đang, thủy chung nhng lúc cần cũng có thể vùng lên để chống lại mọi thếlực của xã hội phong kiến nửa thuộc địa Nhà văn còn lên án cả một bộ máythống trị ở nông thôn: quan lại, nghị viên, địa chủ, cờng hào gian ác, dâmdục

Vũ Trọng Phụng thì nhìn con ngời trên tinh thần giai cấp Cái nhìn đó

khiến cho ông rất nhạy cảm trớc bất công giai cấp nh trong "Giông tố", đó

là bức tranh đối lập giữa Nghị Hách và những ngời nông dân - Các nhân vậtcủa Vũ Trọng Phụng bao giờ cũng đợc đặt trong tơng quan giai cấp và ngời

ta nói chính điển hình của Vũ Trọng Phụng là điển hình giai cấp Chẳng

hạn nhân vật Nghị Hách (Giông tố) điển hình cho giai cấp t sản, loại t sản

mại bản Ông rất nhạy cảm với tình trạng tha hoá của con ng ời, tha hoá ởchỗ con ngời suy sụp về tinh thần dẫn đến băng hoại về mặt đạo đức mànguyên nhân chủ yếu là do tiền và tình Với Vũ Trọng Phụng thì chỉ có một

số loại ngời đặc biệt còn tất cả những đám ngời trần tục thì dờng nh cũngtha hoá rất rõ ràng Ông thờng hay nhấn mạnh con ngời bản năng và quanniệm con ngời vô nghĩa lý Bất cứ một cái gì cũng có thể gắn đ ợc với cái vônghĩa lý: một khuôn mặt, một kiểu ngời, một hành động Vũ Trọng Phụng

đã đa vào trong tiểu thuyết một quan niệm khá đa dạng, phong phú và cũngrất phức tạp về con ngời Chính điều này làm cho việc thể hiện nhân vật của

ông có đợc sự chân thật, sinh động, con ngời đợc nhìn nh một tổng hoàquan hệ xã hội Nhng đồng thời trong quan niệm này cũng có phiến diện ở

Trang 13

chỗ nhấn mạnh quá cao vai trò bản năng, dờng nh ông cha có niềm tin vữngchắc vào con ngời.

Tiểu thuyết hiện thực phê phán thể hiện những khám phá cụ thể vềcon ngời đối với từng tác giả Nhng rõ ràng điểm gặp nhau ở các nhà vănnày khi phát hiện con ngời đều ở góc độ xã hội

1.4 Quan niệm con ngời xã hội - giai cấp của Nam Cao.

Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc của văn xuôi hiện đại tr

-ớc cách mạng 1945 Ông tiếp thu quan niệm con ngời cá nhân, ông đi sâuthể hiện con ngời bị tha hoá, nhng ông cũng thấy đợc con ngời còn giữ đợctính ngời Vì vậy tác phẩm của ông vừa đau đớn, vừa mạnh mẽ, nhức nhối.Nam Cao là nhà văn đạt đợc những vấn đề bức xúc nhất, sâu sắc nhất, nhânvăn nhất về con ngời

Cũng nh các cây bút khác cùng trào lu nh Nguyễn Công Hoan, NgôTất Tố, Vũ Trọng Phụng con ngời trong tác phẩm của Nam Cao trớc cáchmạng là "con ngời xã hội" với đầy đủ các mối quan hệ phức tạp ở đời Đó làcon ngời mang bản chất xã hội, nó luôn đại diện cho một tầng lớp, một giaicấp hay một địa vị xã hội nào đó mà mang những nét tính cách của tầng lớp

ấy, giai cấp ấy

Đó là những ngời nông dân hiền lành chất phác nhng đời sống quávất vả, cơ cực Họ là "những ngời già không nơi nơng tựa, những em bé mồcôi không ai chăm sóc, những ngời đàn bà không biết đến hạnh phúc lứa

đôi, gia đình, vì nghèo, vì tàn tật, xấu xí, vì tệ nạn xã hội ( Nghèo, Dì Hảo,

Lão Hạc, Một bữa no, Từ ngày mẹ chết, ở hiền)" [8 - 22].

Bà cái Tý (Một bữa no) là một ngời đàn bà suốt đời nghèo khổ Vì

già yếu không nơi nơng tựa, bà đói ăn đã lâu ngày Miếng ăn miếng uốngbao giờ cũng là một điều dè dặt, nếu nh suốt đời chỉ vì một mục đích nào

đó, nếu nh chỉ vì miếng ăn mà con ngời phải hạ thấp nhân cách của mình làmột điều hèn hạ ở đây bà đói ăn đã lâu ngày, do bản năng sinh tồn đã thôithúc bà không thể cỡng lại những ham muốn của mình Bà tìm đến đứacháu đi ở cho nhà giàu và "ăn nhờ" một bữa cơm Trong bữa cơm đầy nhụcnhã ấy, bà đã chết, bà không chết vì đói màc hết vì no

Anh Đĩ Chuột (Nghèo) phải thắt cổ tự tử vì đói rét ốm đau để cho vợ con đỡ khổ Lão Hạc (Lão Hạc) là một ngời nông dân đã già lại nghèo Con

trai lão bỏ đi vì phẫn chí, lão sống cô độc với một con chó vàng Cậu vàng lànguồn an ủi duy nhất của lão Nhng rồi cuộc sống đói kém buộc lão phải lừa

Trang 14

con chóvà bán nó đi Cuối cùng lão cũng tìm cho mình một cái chết - cáichết khốc liệt - chỉ vì không muốn phạm vào số tiền dành dụm cho con.

Hay nh dì Hảo (Dì Hảo) và Nhu (ở hiền), hai ngời đàn bà nông dân

hiền lành này phải cam chịu cuộc sống của mình Dì Hảo "biết phận dì" vàNhu thì "đã vâng theo bản tính hiền lành" của mình

Nhà văn Nam Cao nhận thấy cuộc sống tối tăm, tù túng của nhữngcon ngời chân lấm tay bùn nơi đồng quê chiêm trũng Sống trong một xãhội ngột ngạt, Nam Cao còn nhận thấy những con ngời nông dân lơng thiệntrở thành những tên trộm cớp, lu manh, du thủ du thực Dới con mắt củaNam Cao, những con ngời phá phách này cùng với những ngời điên, nhữngngời câm, những ngời kỳ quặc đủ loại càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn,

mất nhân tính của xã hội: Chí Phèo (Chí Phèo), Trơng Rự (Nửa đêm), Lang Rận (Lang Rận), Trạch Văn Đoành (Đôi móng giò) Cùng với những cái

tên đó, còn có không ít nhân vật nh một sự đối xứng, kết đôi với họ, gồmnhững Thị Nở, Nhi, mụ Lợi Những con ngời dị dạng do bẩm sinh hoặc dohoàn cảnh đã bổ sung, tô đậm thêm cảnh sống mù xám, trì độn và kinh rợn

Nam Cao ít đề cập đến vấn đề thuế má, tô tức, bóc lột nh ng khôngphải vì thế mà nhà văn không nói đến bọn thống trị Tác giả nhận thấynhững âm mu và thủ đoạn của chúng để tranh ăn lẫn nhau, để đè nén con

em Đó là đám chức dịch cờng hào Bá Kiến, Lý Cờng Mấy nhân vật nàyxuất hiện nh một thế lực xã hội, chi phối số phận ngời nông dân, đa đẩybiết bao cuộc đời lơng thiện trở thành lu manh, quỷ dữ Mấy cái tên đó còn

xuất hiện ở nhiều truyện khác, và đến "Sống mòn" vẫn tiếp tục là một bóng

đen hắn ám, qua hồi ức của Thứ: "Một lần y đợc thấy ông Bá Kiến sai trói

một lúc mời bảy ngời và đánh một ngời lòi mắt" [6 - 80] Hay trong "Nửa

đêm": "Sợ thằng chánh hội cũng nh sợ thằng thiên lôi; Hai sức phá hoại ấy

chập vào nhau thì phải đổ đình, đổ chùa, đừng nói gì đổ nhà đổ cửa" [5 70]

-Một loại nhân vật khác với những loại ngời trên ở chỗ họ có trình độhọc vấn, có ý thức hơn về thân phận, có nhiều băn khoăn về ý nghĩa của

cuộc sống, về giá trị làm ngời nh Thứ (Sống mòn), nh Điền (Trăng sáng),

nh Hộ (Đời thừa) Đó là những ngời thuộc tầng lớp trí thức tiểu t sản trong

xã hội lúc bấy giờ Họ bị giằng xé giữa cái sống, việc kiếm sống với làmnghệ thuật và phụng sự nghệ thuật Cuộc đấu tranh để giữ nhân cách conngời ở họ là chỗ không thể thoát ly hiện thực vì miếng cơm manh áo nhngkhông thể để hiện thực cay nghiệt bóp chết bản chất nhân văn của mình,biến mình thành kẻ nhỏ nhen, rẻ mạt Những Điền, Hộ, Hài, Thứ đã cố

Trang 15

gắng vùng vẫy trong cái vòng vây ngày càng thắt chặt của hoàn cảnh, họvừa phải chấp nhận và quy thuận, lại vừa chống đối và tìm cách thoát ra Nỗi day dứt đau buồn nhất của họ là cuộc đời sẽ "mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn,

sẽ mục ra" và rồi họ sẽ "chết mà cha làm gì cả, chết mà cha sống" [4 293] Cái nghèo đối với ngời dân quê có thể đa đến sự mất nhân tính Đốivới nhà giáo, nhà văn, cái nghèo có nguy cơ phá hủy nhân cách Ngời dânquê phản ứng lại bằng hành động lu manh Nhà văn, nhà giáo chống đỡbằng cách dày vò, đay nghiến mình và nhân cách nhiều khi đã méo mó, đãnhỏ lại đến thảm hại Đó là nỗi buồn cắn xé, nỗi đau nhức từ mỗi trangtruyện của Nam Cao

-Khi thể hiện con ngời xã hội - giai cấp, Nam Cao đã xây dựng đ ợcnhững điển hình giai cấp Chí Phèo điển hình cho ngời nông dân lơng thiện

bị chế độ nhà tù thực dân phong kiến làm biến đổi nhân hình lẫn nhân tính.Bá Kiến điển hình cho giai cấp thống trị bóc lột Thứ điển hình cho ngời tríthức tiểu t sản mang trong mình nhiều khát vọng, ớc mơ cao đẹp nhng hoàncảnh không cho phép để rồi bị rơi vào bi kịch

"Con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" (C.Mác) cho nên quantâm đến con ngời xã hội - giai cấp cũng là quan tâm đến mối quan hệ conngời - hoàn cảnh

Khái niệm "hoàn cảnh" bao gồm môi trờng hoạt động cụ thể của conngời, những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của gia đình, xã hội, thời

đại, những mối quan hệ cụ thể của cá nhân với mọi ngời, với cuộc sốngxung quanh Tuy nhiên, hoàn cảnh trong tác phẩm văn học không phải là sựphản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó cũng chịu sựtác động của quy luật sáng tạo văn học, nghĩa là nó cũng đ ợc nhà văn tiếnhành khái quát hoá, cá biệt hoá khi đa vào tác phẩm

Ngô Tất Tố trong tác phẩm "Tắt đèn" đã chọn đợc một hoàn cảnh rất

đặc biệt Nó đã nêu đợc một nét bản chất ở nông thôn thời đó là mâu thuẫngiữa nông dân với bọn cờng hào, địa chủ Mâu thuẫn ấy đẩy lên đến mứccao độ vào các thời điểm căng thẳng nhất ở nông thôn là mùa su thuế.Trong hoàn cảnh ấy, bản chất tham lam, tàn bạo của bọn thống trị và sứcmạnh phản kháng của ngời nông dân đợc bộc lộ rõ hơn bao giờ hết

Khác với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan lại chú ý đến môi trờngquan lại và chốn cửa quan để khắc hoạ chân dung bọn quan lại Vũ Trọng

Phụng trong "Giông tố" mở rộng hoàn cảnh từ thành thị đến nông thôn để

miêu tả thế giới nhân vật khá đông đảo và hoạt động phức tạp

Trang 16

Tuy nhiên, ấn tợng hơn cả vẫn là hoàn cảnh trong tác phẩm của NamCao Nhà văn sống trong một thời kỳ nghiệt ngã, làng quê xơ xác, kiệt quệ.Mọi hoài bão ớc mơ của ngời trí thức đều không thực hiện đợc, họ là nhữngcon ngời vỡ mộng và hơn thế nữa còn bị đẩy tới chân t ờng Hoàn cảnh trongtác phẩm Nam Cao chủ yếu là hoàn cảnh hẹp: ngôi tr ờng, một làng quê,những gia đình nhỏ Chính hoàn cảnh sống khắc nghiệt tạo thành một áplực thờng xuyên đối với nhân vật Nam Cao chỉ ra rất rõ sự quy định củahoàn cảnh đối với tính cách: "Tính cách có tính chất hoàn cảnh và hoàncảnh có tính chất tính cách".

Con ngời trong tác phẩm Nam Cao "phần lớn đều nhận thức đợc cảnhngộ riêng và sự phụ thuộc của con ngời vào hoàn cảnh nh một quy luật" [4 -86]: "Cuộc đời thì bất cứ hoàn cảnh nào cũng chảy trôi theo những định luậtcha bao giờ lay chuyển đợc" [5 - 86] Họ tỏ ra bi quan vì cuộc đời chung làmột hoàn cảnh bi đát mà cái ác, cái dữ, thói đời giả dối, sự không may mắn

đang nhuộm dần những tâm hồn lơng thiện và càng lơng thiện trong trắng lạicàng dễ bị nhuộm đen hơn: "Rồi đây cũng chẳng còn ai tốt hơn nữa haysao ? Vải càng trắng bao nhiêu thì càng dễ bẩn bấy nhiêu Những ng ời trongtrẻo quá đụng chạm với đời dễ chua chát và phẫn uất và nhiều khi sẽ trởthành những ngời ác quá Mỗi lần có một ngời quá ngây thơ sáng mắt ra ấy

là một linh hồn đẹp chết, ấy là đời ô uế thêm một lần"

Trong hoàn cảnh bị đè nén, bị áp bức, bóc lột của xã hội cũ, NamCao nhận thấy một bộ phận ngời nông dân biến đổi nhân hình lẫn nhân

tính, trở thành những tên lu manh Trong "T cách mõ" cu Lộ "mới chỉ cách

ba năm" vẫn còn là anh cu Lộ hiền nh đất, không rợu chè, không cờ bạc,chỉ chăm chút làm để nuôi vợ nuôi con Sau một thời gian làm mõ, cu Lộ đãthay đổi, đã làm một tên mõ chính tôi đê tiện, tham lam Cái làm nên cu Lộ

ấy là do "không đợc ai trọng" Tác giả kết luận: "Hỡi ôi ! Thì ra lòng khinh,trọng của chúng ta có ảnh hởng đến cái nhân cách của ngời khác nhiều lắm;nhiều ngời không biết gì là tự trọng, chỉ vì không đợc ai trọng cả; làm nhụcngời là một cách làm rất diệu để khiến ngời sinh đê tiện " [5 - 203] Nhậnxét ấy, triết lý ấy không chỉ rút ra từ một cuộc đời, một con ngời mà có ýnghĩa sâu sắc cho một quan niệm nhân sinh rộng rãi Con ng ời phải đợc tôntrọng trong môi trờng xã hội, phải đợc đánh giá đúng đắn bản chất củamình với tinh thần thực sự cầu thị và khích lệ "Chính hoàn cảnh sẽ trực tiếpchi phối tính cách và có khả năng lý giải sự đổi thay và phát triển của tínhcách nhân vật" [4 - 314]

Trang 17

Nam Cao không trực tiếp phát biểu quan điểm nghệ thuật về con ngờicủa mình mà thông qua những triết lý của các nhân vật Qua những triết lý

ấy, con ngời hiện lên với đầy đủ những "khuôn mặt" khác nhau

Những điều Nam Cao triết lý không phải là những gì siêu hình theocách t duy của các nhà t tởng Thực chất triết lý chỉ bàng bạc trong truyện,

ẩn sâu bên dới những sự việc, những tâm lý, những vui buồn hỗn độn củacuộc đời Có khi nhân vật đang suy nghĩ, bỗng chen vào một ý nghĩ nh mộttriết lý sống, từ cái triết lý ấy tâm lý nhân vật vận động Đây là cách nghĩ,cách nói nông dân, trong khi nói thờng chen vào những câu nhận định,những kinh nghiệm sống đã đợc đúc rút thành những chân lý, thành lẽ phải,

ai cũng công nhận trong một hoàn cảnh xã hội nhất định Nam Cao đã triết

lý về hạnh phúc trong hoàn cảnh thiếu thốn phải giành giật nhau: "Hạnhphúc lúc này nh một chiếc chăn quá hẹp, ngời này co thì ngời kia bị hở" [5

- 326]

Nhà văn cứ cảm nhận xót xa và cuộc đời dờng nh vẫn lạnh lùng trôichảy Hiện tợng biến chất của Chí Phèo và hàng loạt những nhân vật BinhChức, Năm Thọ, Trơng Rự, Binh T đều do hoàn cảnh xô đẩy nh một quyluật không cỡng lại nổi, một tai hoạ ngẫu nhiên ập đến

Chí Phèo ban đầu là một kẻ mồ côi, bị bỏ rơi, không họ hàng thânthích Lớn lên 20 tuổi làm canh điền cho nhà Bá Kiến Chí đã từng ao ớc cómột gia đình bình dị và chính đáng nh bao ngời dân khác Thế nhng Chí bịbắt, giải lên huyện và bị tù chỉ vì cơn ghen vô cớ của Bá Kiến 7, 8 nămtrong tù, môi trờng nhà tù đã có một sức mạnh ghê gớm nhào nặn Chí thànhcon ngời khác hẳn: dị dạng về nhân hình lẫn nhân tính Hắn nát rợu, hunghãn, rạch mặt ăn vạ, hoàn toàn mất ý thức về nhân phẩm Chí Phèo vô tìnhtrở thành một công cụ nguy hiểm nhằm uy hiếp, thanh toán những cánhkhông cùng phe phái trong làng, phá phách và làm hại những ngời dân vôtội

Bát cháo hành nóng hổi và thái độ cởi mở của Thị Nở đã làm cho ChíPhèo ngạc nhiên, cảm động và đã thức tỉnh linh hồn Chí - Chí khao khát trở

về với cuộc sống lơng thiện Xã hội qua thái độ của bà cô đã làm cho Chírơi vào bi kịch, dẫn đến việc đâm chết Bá Kiến và tự sát xuất phát từ lòngcam thù cao độ, sự bế tắc hoàn toàn Rõ ràng, tính chất lu manh của Chí là

do "hoàn cảnh khách quan" tạo nên

Cũng do sức ép của hoàn cảnh mà những ngời nông dân lơng thiệnsau khi đã vật lộn để giữ gìn nhân phẩm đã chết một cách thảm th ơng Anh

Đĩ Chuột phải thắt cổ tự tử vì nợ nần và nghèo đói (Nghèo), Lão Hạc ăn bả

Trang 18

chó (Lão Hạc), anh Phúc (Điếu văn) chết một cách cô đơn, lặng lẽ, thảm hại nh một loài vật Rồi những gia đình ly tán tội tình ( Một đám cới), những con ngời âm thầm chịu đựng đau khổ, dày vò đơn lẻ (Dì Hảo)

Gia đình không còn là nơi êm ấm, hạnh phúc, nơi an ủi và xoá đi mọi

sự vất vả hằng ngày trong cuộc sống Hộ trong "Đời thừa" đã ngấm vị chua chát của đời sống gia đình trở nên "cau có và gắt gỏng" Điền trong "Nớc

mắt", Thứ trong "Sống mòn" những con ngời trí thức ấy đã bị hoàn cảnh

của cuộc sống làm thay đổi tính cách, thờng bực tức ghen giận vô cớ

Tuy nhiên, những con ngời ấy vẫn mong muốn làm một việc gì có íchcho đời, mong muốn đợc đổi thay số kiếp của mình Ngòi bút nhân đạo củaNam Cao đã phát hiện ra những phẩm chất tốt đẹp còn lại trong những conngời ấy Đây chính là một quan niệm mới mẻ về con ngời của nhà văn NamCao

Với cái nhìn hiện thực một cách sắc sảo, Nam Cao đã nhìn nhận conngời xã hội - giai cấp một cách toàn diện ở đó, chúng ta luôn thấy con ng-

ời luôn mang bản chất giai cấp, con ngời bị hoàn cảnh chi phối nh một quyluật nghiệt ngã Ông thấy rõ sự tha hoá biến chất của một số ng ời, nhng

đồng thời cũng phát hiện và khẳng định những vẻ đẹp nhân phẩm trong mỗicon ngời

Trang 19

Ch ơng 2:

con ngời cá nhân

2.1 Con ngời cá nhân trong văn học lãng mạn.

Văn học lãng mạn Việt Nam là tiếng nói của tầng lớp t sản dân tộc vàtiểu t sản trí thức thành thị, họ không chấp nhận cuộc sống thực tại, khôngchấp nhận những thành kiến lễ giáo phong kiến Là những trí thức đợc tiếpthu văn hoá phơng Tây, họ có những cách nhìn mới về vấn đề con ngời, đặcbiệt là con ngời cá nhân

Nếu nh văn học trung đại không chấp nhận những con ngời có cá tínhmạnh mẽ, tự khẳng định mình nh Hồ Xuân Hơng thì văn học lãng mạn lạichú ý đến con ngời cá nhân Phong trào Thơ mới đã nói lên đợc "một nhucầu lớn về tự do và phát huy bản ngã" (Tố Hữu), cái tôi cá nhân bắt đầu đ ợcgiải phóng "Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trênthi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó nh lạc loài nơi đất khách Bởi nómang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân"(Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam)

Cũng nh Thơ mới, văn xuôi lãng mạn góp phần đấu tranh đòi giảiphóng cá nhân, đấu`tranh cho tự do hôn nhân, cho hạnh phúc lứa đôi, phêphán kịch liệt đại gia đình phong kiến Tự lực văn đoàn rất nhạy cảm vớiquyền lợi cá nhân, đề cao nhu cầu hởng thụ, quyền dân chủ

Tự lực văn đoàn đã đa ra quan niệm về con ngời, đó là con ngời cánhân Đây là một bớc tiến vì đặt vào bối cảnh ra đời của nó thì có thể nóitiểu thuyết Tự lực văn đoàn là một tiếng nói hết sức mới mẻ chống lại ýthức hệ phong kiến lỗi thời Trong xã hội phong kiến, cá nhân không cóquyền sống riêng, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, nó phải tuân theonhững nguyên tắc, những quy phạm nghiệt ngã Về kỷ cơng xã hội thì quân,

s, phụ; về đạo lý làm ngời thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; về tiêu chuẩn mỹ họcthì "văn dĩ tải đạo"; về ứng xử trong gia đình thì "tại gia tòng phụ, xuất giátòng phu, phu tử tòng tử" Vì thế, văn học trung đại phong kiến về cơ bản làvăn học phi ngã

Đến những năm 30, trong bối cảnh có sự thâm nhập văn hoá ph ơngTây thì t tởng phong kiến không còn mạnh nữa nhng nó vẫn tồn tại dai dẳng

mà bảo thủ nhất là trong hôn nhân: xem ngời phụ nữ nh một nô lệ trong gia

đình Lúc bấy giờ không chỉ có Tự lực văn đoàn là ngời duy nhất nhìn thấyvai trò cá nhân mà có thể nói đề cao cá nhân là xu h ớng, là giá trị cơ bản

Trang 20

của văn học 30 - 45, nhng đóng góp của Tự lực văn đoàn ở chỗ họ là nhữngngời nhạy cảm nhất trong vấn đề đề cao vai trò cá nhân.

Các nhân vật của Tự lực văn đoàn thể hiện nh những chiến sĩ đấu

tranh cho hạnh phúc cá nhân Mai trong "Nửa chừng xuân" (Khái Hng) là

một cô gái có lòng tự trọng, nhân hậu, thanh cao, cô đã chống đến cùng chế

độ đa thê, không chấp nhận cuộc sống "chồng chung vợ chạ" Lộc tuy tựhào với Mai là "anh đã theo một nền giáo dục Âu Tây, anh hiểu, anh yêu,anh trọng cái giá trị, cái quyền tự do của cá nhân" nh ng Lộc vẫn chịu khuấtphục trớc uy quyền của lễ giáo Còn Mai, cô đã đứng vững trên lập tr ờngcủa mình để bảo vệ tình yêu lý tởng

Tiểu thuyết "Đoạn tuyệt" (Nhất Linh) tiếp tục khẳng định quyền lợi của con ngời cá nhân Có thể nói "Đoạn tuyệt" là một thứ "tuyên ngôn nhân

quyền" bằng nghệ thuật, nó đấu tranh cho quyền tự do và bình đẳng giữa conngời và con ngời trong xã hội [3 - 534] Trớc sự đối xử tàn nhẫn của gia đình

bà Phán, Loan không thể cam chịu, nhẫn nhục đợc nữa, phải nói thẳng trớc

bà mẹ chồng phong kiến: "Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền

đánh tôi Bà cũng là ngời, tôi cũng là ngời, không ai hơn kém ai" Loan đãmạnh mẽ lớn tiếng khẳng định quyền lợi của mình, cô không thể chấp nhậnsống trong một gia đình mang nặng t tởng phong kiến, mẹ chồng độc ác, emchồng hay xỉa xói Cả hai mẹ con bà Phán đã xúm vào lăng nhục, đánh đậptàn nhẫn một ngời đàn bà yếu đuối, đơn độc và Loan "cảm thấy phẩm giámình lúc ấy không bằng phẩm giá một con vật"

Để giải quyết mâu thuẫn không thể điều hoà giữa cá nhân và đại gia

đình phong kiến, Nhất Linh đã dùng chi tiết ngẫu nhiên: Thân chết oan vìngã vào con dao rọc giấy Loan cầm ở tay

Có thể nói ở "Đoạn tuyệt", cuộc đấu tranh chống lại đại gia đình

phong kiến một mất một còn không còn khoan nhợng và mâu thuẫn đợc đẩy

đến mức cao nhất Mặc dù giải quyết mâu thuẫn có vẻ ngẫu nhiên nh ng t ởng Nhất Linh ủng hộ cái mới là hết sức tiến bộ

t-Tuy nhiên, trong khi đề cao nh cầu hởng thụ, Tự lực văn đoàn đã đểcho nhân vật sống một cuộc sống phóng đãng với những cảm giác cháybỏng luôn luôn thay đổi, một cuộc sống chỉ cần biết hôm nay không cần

biết ngày mai (Lạch trong "Hai chị em", Tuyết trong "Đời ma gió").

Quan điểm sống của Tuyết không gắn bó với một cái gì lâu bền, phảiphá bỏ cuộc sống gia đình bởi vì gia đình đồng nghĩa với nô lệ Tác giả đãthi vị cuộc sống giang hồ của Tuyết và tác giả không cắt nghĩa số phận củaTuyết bằng nguyên nhân xã hội mà tác giả lại cắt nghĩa bằng chính bản

Trang 21

tính, bằng lối sống của Tuyết Do đó Tuyết xuất thân là một cô gái l ơngthiện và trong cuộc đời cô có rất nhiều điều kiện để có đ ợc hạnh phúc riêngnhng chính cô đã phá bỏ tất cả Tác giả đã để cho Tuyết thể hiện tình yêucủa mình theo kiểu thể nghiệm cảm xúc, do đó cô yêu nhiều và chóngchán Có thể nói, nhân vật Tuyết mở ra một hình tợng, một lối sống nguyhiểm đối với thanh niên, đó là lối sống buông thả, tự do vô trách nhiệm,sống không tình cảm, chỉ theo lạc thú cá nhân.

Nhìn chung, Tự lực văn đoàn đã thể hiện đợc quyền lợi cá nhân củacon ngời, cái quyền dân chủ mà trong hoàn cảnh xã hội phong kiến khôngcho phép ở đó chúng ta thấy đợc những ngời phụ nữ đã mạnh dạn dám

đứng lên đấu tranh để bảo vệ cho quyền lợi của mình, cho lý tởng tình yêu,hạnh phúc của mình

2.2 Con ngời cá nhân trong tác phẩm của Nam Cao trớc cách mạng.

Nhà nghiên cứu văn học Xô Viết Pospelov trong khi định nghĩa vềtiểu thuyết đã rất chú ý đến nhân vật: "Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự mà -nhân vật chính của nó, một con ngời cá nhân riêng biệt trong một giai đoạnnào đó đã bộc lộ sự phát triển tính cách do mâu thuẫn giữa lợi ích với địa vị(tình trạng xã hội hoặc lợi ích với chuẩn mực của đời sống xã hội) NamCao và các nhà văn hiện thực phê phán không chỉ nhìn nhận con ngời ở góc

độ xã hội - giai cấp mà còn đi vào linh hồn của mỗi con ngời trong mỗihoàn cảnh cụ thể Nhìn thấy cuộc sống cơ cực, đói nghèo của ng ời dân,bằng ngòi bút nhân đạo các nhà văn hiện thực đã đề cao quyền sống cánhân, quyền dân sinh, thông cảm với nỗi đau khổ cá nhân

"Sáng, chị phu mỏ" (Nguyễn Công Hoan) là truyện đặc sắc viết về

ngời phụ nữ công nhân Không những nhà văn nói đợc phần nào tình cảnhlầm than khổ cực của ngời thợ mỏ bị bóc lột tàn tệ mà còn phát hiện vàkhẳng định nhân phẩm đẹp đẽ và sức phản kháng tiềm tàng mà mãnh liệtcủa họ Sáng là một chân dung đẹp đẽ, khỏe khoắn về ng ời phụ nữ lao

động, với lòng hiếu thảo cảm động, có ý thức nhân phẩm mạnh mẽ Cô đãchống cự quyết liệt tên chủ Tây, con quỷ dâm dục, khiến nó hết sức ngạc

nhiên Hay trong "Bớc đờng cùng", Nguyễn Công Hoan không những đã đi

sâu miêu tả nỗi khổ cực nhiều mặt dẫn tới "bớc đờng cùng" không gì cỡng

đợc của ngời nông dân bị áp bức bóc lột thậm tệ mà còn cố gắng thể hiện sựphản kháng tích cực của họ để giành quyền sống Pha đã thể hiện một tinhthần chiến đấu thật dũng cảm triệt để Anh nói: "Tôi thề rằng sẽ chiến đấu

đến cùng" Anh đã giữ lời thề Chiếc đòn gánh phang vào đầu Nghị Lại vớitiếng quát "đồ ăn cớp" của Pha không còn là sự phản kháng mù quáng liều

Trang 22

lĩnh của kẻ cùng đờng bế tắc Đó chính là sự đấu tranh đòi quyền dân sinhcủa mỗi con ngời.

Hay Ngô Tất Tố đã thể hiện sức chiến đấu mạnh mẽ, lạc quan và tinhthần phản kháng gan dạ trớc kẻ thù Nhiều ngời đàn bà khác rơi vào tình cảnhquẫn bách nh chị Dậu, có khi đành chịu buông tay khuất phục, nhắm mắt chocuộc đời trôi theo số mệnh Nhng ngời đàn bà nông dân này đã đứng lên đấutranh cho quyền dân sinh của mình: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho màyxem", "Cháu cũng biết rằng đàn bà mà hành hung nh thế là h thân lắm Nh-ng cụ tính nhà cháu đau ốm nh thế, mà cả hai đứa cứ xông vào đánh thìphỏng còn gì là ngời ! Vì thế cháu phải liều với chúng nó"

Trong "Bỉ vỏ", nhà văn Nguyên Hồng nhận thấy sự tha hoá của Tám

Bính nhng điều đáng nói là tác giả nhận ra bản chất tốt đẹp của ng ời đàn bànông dân vẫn còn trong nhân vật Trở thành vợ của Năm Sài Gòn - một têncớp khét tiếng - Tám Bính cũng tham gia vào những vụ trộm c ớp nhng saumỗi lần đó cô cảm thấy day dứt Nhà văn đã đi sâu vào bên trong tâm hồncủa cô, thấy đợc những khát khao bình dị về hạnh phúc gia đình của cô Vôtình chính Nam Sài Gòn đã giết chết đứa con mà cô đã bỏ rơi, Tám Bính

đau khổ vô cùng và lúc này cái khát vọng làm ngời lại càng bùng lên mãnhliệt trong lòng ngời đàn bà ấy

Đứng ở nhu cầu đời t, Nam Cao xoáy sâu vào nỗi khổ bên trong, nhìnthấy những nhu cầu bên trong cá nhân Muốn đổi thay mà không có con đ -ờng để đổi thay, nhân vật của Nam Cao đau đớn hơn nhiều Có lẽ con ng ờihơn con vật là ngoài nỗi đau thể xác bị giày xéo, bị hành hạ, nó còn một nỗi

đau tinh thần xiết bao khủng khiếp

Nam Cao nhạy cảm với vấn đề con ngời bị xúc phạm nhân phẩm Nhàvăn là con ngời luôn băn khoăn về vấn đề khinh trọng đối với con ngời, tức

là cách đối xử, thái độ đối với con ngời Trong tác phẩm của Nam Cao trớccách mạng, ta thờng gặp những con ngời bị nhục mạ, xúc phạm về nhânphẩm Cái nhân phẩm ấy thờng đợc gắn với hoàn cảnh xã hội, gắn với sự

nghèo đói của mỗi số phận con ngời Lộ (T cách mõ) từ một ngời "lành nh

đất, cờ bạc không, rợu chè không ăn ở phân minh kẻ trên, ngời dới,hàng xóm láng giềng, ai cũng mến " bị biến thành một thằng mõ ti tiện,cũng lây là, cũng ăn tham nh bất kỳ một thằng mõ thực thụ nào Nhà văn đãchỉ ra rằng "kính trọng của chúng ta có ảnh h ởng đến nhân cách của ngờikhác nhiều lắm"

Lần đầu tiên nhận thấy những dấu hiệu khác th ờng trong cách ứng xửcủa những ngời xung quanh với mình - một thằng mõ, Lộ "bắt đầu hồihận" Những nỗi ân hận ấy lại kèm theo một cái "tặc lỡi" đầy thách thức (bề

Trang 23

ngoài) nhng thực chất là thú nhận sự đầu hàng trớc hoàn cảnh Thua cuộcrồi nhng Lộ vẫn thấy "tấm tức" với ngời đời, xấu hổ với vợ, không dámnhìn thị "làm nh thị đã nhìn thấy cả cái việc nhục nhã vừa rồi" "thở ngắn,thở dài", định trả lại vờn "cho bõ tức" Nhng rồi hắn thấy "tiếc" cái vờn (có

đợc nhờ cái danh mõ làng) và "tặc lỡi" lần thứ hai "mặc chúng nó", "Muốnnói, ông cho chúng mày nói chán ! Ông cần gì ?" Và Lộ "ung dung ngồi"làm cái việc thô bỉ, ti tiện mà xa nay y khinh ghét Lộ hiểu ra rằng ngời takhông thể vừa làm ngời lơng thiện vừa sống no đủ Hơn nữa, nhu cầu tồn tạicòn lớn hơn nhu cầu giữ gìn danh dự Nhà văn đã đi sâu vào tâm linh conngời và qua đó phản ánh đợc những vấn đề chung của con ngời

Trong "Một bữa no", bà lão già yếu không còn đủ sức để làm việc

nữa, bà phải ra chợ xin ngời này một miếng, ngời kia một miếng, nhng rồilòng thơng cũng có hạn, bà lại phải nhịn đói Trong hoàn cảnh đó bà nghĩ

đến đứa cháu đang đi ở cho nhà bà phó Thụ và bà đã đến đó để xin ăn Nh

-ng nhữ-ng -ngời giàu thờ-ng có thái độ khinh ghét đối với -ngời -nghèo Khithấy bà lão thì bà phó Thụ dã nói ráo riết để chặn họng, không cho bà lão

mở mồm vòi vĩnh khiến cho bà "không còn nói sao đ ợc nữa Bà cúi đầu, nhmột con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sơng tóm đợc" Với cái vẻ khinh khỉnh, cáugắt, bà phó Thụ đã nói: "Nó không đợc rỗi mà chơi với bà Chẳng chơi bờigì cả ! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm" Và trong bữa cơm

ấy, bà lão đã ăn thật no để rồi bị chết - chết vì no

Còn trong "Lang Rận", con ngời bị đa ra làm trò tiêu khiển cho bọn

ngời giàu có Chuyện tình giữa Lang Rận và mụ Lợi bị cô Đính và bà Cựuxem là trò hề, họ dò la, rình chực đem một chút thú vị đến cuộc đời họ Họ

có ngờ đâu cái sự đó đã khiến cho những con ng ời hiền lành cảm thấy mình

bị xúc phạm một cách ê chề và tìm đến cái chết: "Y thẹn Y buồn Y giận

đời Y giận trời Y giận thân Y tím ruột, y tím gan Y nghĩ đến cái nhụcsáng hôm sau"

Những con ngời ấy khổ sở vì miếng cơm manh áo, bị đay nghiến bởithái độ vô tâm của bọn ngời giàu, nhng còn khổ vì chính những ngời lánggiềng cùng cảnh ngộ với mình Các bà mẹ đã dùng con làm ph ơng tiện để

bới móc lẫn nhau (Truyện những ngời hàng xóm) Bà Hai Mợn thấy mẹ

Hiền và bà Ngã thân nhau thì có vẻ không bằng lòng và bà ghen "cái thóighen vu vơ" Bà sang nhà mẹ Hiền nói xấu bà Ngã để rồi bà Ngã giận, giận

kẻ nói xấu mình, giận ngay cả mẹ Hiền Rốt cục bà Hai Mợn và bà Ngã xảy

ra cuộc đấu khẩu kịch liệt, xô xát nhau, họ đa những vấn đề về đời t ra để

mà bới móc lẫn nhau

Trang 24

Trong "Sống mòn", Thứ cũng đã c xử với Liên bằng những quan

niệm, bằng những thành kiến của bà, của mẹ Thứ đối với Liên Nhiều lúcThứ đã xúc phạm đến Liên, đã nghĩ xấu về Liên và đánh vợ

Nam Cao đã có cái nhìn sâu sắc về vấn đề nhân phẩm của con ng ời

Ông thấy trong cái xã hội ngột ngạt đó con ngời đối xử với nhau một cáchtàn nhẫn, họ tìm cách xúc phạm lẫn nhau chỉ vì miếng cơm manh áo Do đónhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: "Cái đói trong tác phẩm Tắt

đèn của Ngô Tất Tố chỉ đơn giản là cái đói, còn cái đói trong tác phẩmNam Cao là cái đói đi liền nhân cách con ngời" Chính cái nhìn con ngời cótính nhân văn này khiến Nam Cao quan tâm đến cuộc đấu tranh để hoànthiện nhân cách con ngời mà trong cách nhìn của Nam Cao thì việc hoànthiện nhân cách là do bản thân mỗi con ngời Tức là mỗi ngời phải biết đấutranh với mình để vơn mình lên, để hoàn thiện chính mình Điều này quy

định thế giới nhân vật của Nam Cao luôn có sự đấu tranh, có sự day dứt đểhoàn thiện nhân cách

Theo cách nhìn của Nam Cao thì những con ng ời cá nhân còn có khátvọng cống hiến, phát triển tài năng của mình Những ngời trí thức tiểu t sảnluôn mang trong mình những khát vọng đợc đem tài năng sức lực của mìnhgiúp ích cho đời

Vonghim khi định nghĩa về chủ nghĩa nhân đạo đã phân biệt hai ph

-ơng diện đó là nhu cầu (ăn, ở) và năng lực cá nhân: "Chủ nghĩa nhân đạo làmột hệ thống đạo đức chính trị coi việc giải phóng năng lực và thỏa mãnnhững nhu cầu lành mạnh của con ngời trên trần thế chứ không phải ở mộtthế giới hoang đờng nào đó làm mục đích cuối cùng của mình" Soi vàoNam Cao ta thấy nhà văn đã chú ý đến phơng diện thứ hai tức là năng lựccủa cá nhân Trong năng lực cá nhân, Nam Cao đặc biệt quan tâm đến việcphát triển tài năng "phải phát huy tận độ khả năng mà loài ng ời chứa đựngtrong mình" Những nhân vật trí thức nghèo của Nam Cao đều ôm ấp những

ớc mơ đẹp đẽ, những dự định lớn lao: họ ao ớc thành nhà văn có tên tuổi, họkhát khao trở thành nhà giáo tận tụy với nghề

Điền trong "Trăng sáng" chăm chỉ đọc sách, viết văn, "Điền nao nức

muốn trở nên một văn sĩ", anh "sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm nổi mỗitháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm đợc năm đồng bạc về nghề văn".Cũng nh một số văn sĩ khác trong xã hội lúc bấy giờ họ th ờng viết về nhữngcái lãng mạn, viết về những đêm trăng đẹp, những mơ mộng huyền ảo, nh -

ng điều đáng quý ở con ngời Điền đó là anh kịp nhận ra "trong những cănlều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông vẫn đẹp, biết bao ng ời quằnquại, nức nở, nhăn nhó với những đau thơng của kiếp mình" và anh đã tìmcho mình con đờng viết văn gắn với đời sống thực tại: "Nghệ thuật không

Trang 25

cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia,thoát ra từ những kiếp lầm than" [5 - 308] Điều đó có nghĩa là Điền muốnviết về những sự thực ở đời, giúp mọi ngời thấy đợc cuộc sống vất vả khókhăn, lên án xã hội bất công

Mang theo nhiều mơ ớc của tuổi trẻ, họ bất chấp tất cả những khó

khăn của thực tại Hộ trong "Đời thừa" từng mơ ớc viết một tác phẩm "chứa

đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó catụng lòng thơng, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho ngời gần hơn" Conngời trí thức tiểu t sản ấy mong muốn đợc lấy tài năng nghệ thuật của mình

để phụng sự cuộc đời, viết những trang sách có giá trị chung cho cả nhânloại, đem lại lòng yêu thơng lẫn nhau giữa con ngời Hộ từng thốt lên mộtcách cuồng nhiệt: "Đói rét không nghĩa lý gì đối với một gã tuổi trẻ say mê

lý tởng Lòng hắn đẹp - đầu hắn mang một hoài bão lớn" Đó chính là hoàibão về sự nghiệp, lấy sự nghiệp văn chơng với những trang viết giàu lòngnhân đạo để cho con ngời đợc sống với nhau thân thiết hơn Văn sĩ Hộ bănkhoăn nghĩ đến việc phát triển tài năng của mình, "nghĩ đến một tác phẩm

nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra đời một thời", một tác phẩm đ

-ợc đoạt giải Nôben do chính sức lao động của mình làm ra

Những con ngời trẻ tuổi đầy tham vọng ấy đã đem một trái tim trongsáng và một hoài bão lớn lao để mong muốn đổi thay xã hội Rời bỏ cáilàng quê chật hẹp, tù túng với những tục lệ khắt khe, con ngời trí thức tiểu

t sản Nam Cao khát khao đi tìm những bến bờ mới để thay đổi hoàn cảnh

sống Thứ trong "Sống mòn" là một ngời có ý thức về ý nghĩa của cuộc

sống Thứ khao khát một cuộc sống hữu ích Anh quan niệm mỗi ngời phảisống làm thế nào cho phát triển tận độ những khả năng của con ng ời chứa

đựng ở trong mình, phải gom góp sức lực của mình vào công việc tiến bộchung "mỗi ngời chết đi phải để lại chút gì cho nhân loại"

Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, cuộc đời của Thứ ngay từ

bé đã gần gũi với những ngời lao động Hàng ngày Thứ đã tận mắt trôngthấy những cảnh bất công, ngời giàu ức hiếp kẻ nghèo, ngời có quyền lực

đè nén hà hiếp ngời lơng thiện Anh bất bình, đau đớn nh chính bản thânmình là kẻ chịu đựng Anh muốn cuộc đời tốt đẹp hơn, mọi ngời sống vớinhau bình đẳng, hoà thuận hơn Để làm đợc việc đó, Thứ tin vào sự học,phải học, phải luyện tài, vì có học có tài "mới đủ năng lực để mà phụng sựcái lý tởng" của mình - Đó là lý tởng đẹp của một cá nhân bắt nguồn từ mộtbản tính thẳng thắn, nhiều tự trọng Muốn phát huy đ ợc tài năng phải có

điều kiện hoàn cảnh thuận lợi cùng với sự phấn đấu của cá nhân Do đó,

không phải ngẫu nhiên mà ở "Đời thừa", "Trăng sáng", "Sống mòn" tất cả

Trang 26

các nhân vật đều có hoài bão lớn sự nghiệp cá nhân và rất đau đớn vì phảisống cuộc đời thừa: "Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cáigì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm đợc cái gì ".

Nh vậy, ở Nam Cao có sự kế thừa các nhà văn lớp tr ớc trong quanniệm nghệ thuật về con ngời Đó là sự kế thừa "con ngời xã hội" của cáctiền bối thuộc trào lu và kế thừa quan niệm về "con ngời cá nhân" của vănhọc lãng mạn

Với cái nhìn hiện thực sắc sảo, Nam Cao đã quan tâm đến con ngờicá nhân, nhạy cảm với những vấn đề về nhân cách mà họ bị xúc phạm, lêntiếng đề cao quyền sống cá nhân đồng thời nhà văn còn nhận ra những khátvọng tốt đẹp trong mỗi con ngời, đó là khát vọng cống hiến bằng sức lao

động của mình Có thể nói, đây là một phơng diện hết sức mới mẻ trongchủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao

Trang 27

Ch ơng 3:

Con ngời tự ý thức

Tự ý thức xét cho cùng là một phơng diện của con ngời cá nhân, nhng

ở Nam Cao nó đem lại những giá trị thẩm mĩ độc đáo

3.1 Tự ý thức là gì ?

Một trong những đặc điểm độc đáo của bút pháp hiện thực đồng thờicũng là cơ sở cho cảm hứng nhân đạo của Nam Cao là việc đi sâu tìm hiểuthế giới bên trong đầy phong phú, phức tạp của tâm hồn con ngời

Dới ngòi bút của Nam Cao, con ngời nhiều lúc hiện lên đầy nhỏ nhen,ích kỷ nhng đồng thời thật là cao thợng trong những khát vọng, ớc mơ và ngaytrong cả nhiều hành vi ứng xử đời thờng của mình Thậm chí con ngời còn cóthể trở nên méo mó, biến dạng, đầy thú tính, nhng đồng thời cũng hết sức nângniu quý trọng khi nó không bao giờ muốn trao hết cho quỷ dữ bản chất lơngthiện trong sáng vốn có của mình Con ngời dới quan niệm của Nam Cao, trongnhiều trờng hợp bị hoàn cảnh chi phối, thậm chí tàn phá một cách nghiệt ngãnhng đồng thời lại không bao giờ là nạn nhân đơn giản, một chiều của hoàncảnh Trong vũng lầy của xã hội cũ, các nhân vật của Nam Cao không có gìkhác hơn là vũ khí tinh thần - sự tự ý thức để chống lại sự tha hoá, để bảo vệ lấybản chất nhân đạo của con ngời

"ý thức là sản phẩm đặc trng của con ngời, để cho con ngời tự táchmình ra khỏi thế giới loài vật Còn tự ý thức là giai đoạn cao của ý thức, là sự

đào sâu, mổ xẻ bản thân nội tâm để tự cải thiện và hoàn thiện" [1 - 152]

Không kể hoàn cảnh xã hội, xuất thân giai cấp, thành phần nào, d ờng

nh tất cả các nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao đều giống nhau ở bảntính tốt đẹp

Văn học hiện đại khác với văn học cổ điển phong kiến là nó khôngthể da ra những lời giáo huấn trực tiếp với độc giả Chức năng giáo dục chỉthành công khi thông qua hệ thống hình tợng, tạo ra tâm thế con ngời tiếpthu đạo đức và tự hoàn thiện mình Cơ sở của tự ý thức, tự hoàn thiện lànăng lực cảm nhận sự thật, trớc hết là sự thực cõi lòng mình

Nhân vật của Nam Cao dù ít hay nhiều đều có suy nghĩ, có ý thức.Những ngời nông dân thì mức độ ý thức có phần nào khác với các nhân vật

Trang 28

tiểu t sản Nét chung vẫn là sự khẳng định tâm hồn, phẩm chất bên trongcủa ngời nông dân Ngay cả Chí Phèo cũng là một điểm sáng trong sự nhìnnhận ý thức con ngời ở con ngời tởng nh đã biến thành quỷ ấy khi bắt gặptình yêu chân thành của Thị Nở bỗng bừng lên ánh sáng của ý thức, của nỗi

băn khoăn Hay cu Lộ (T cách mõ) khi thấy dấu hiệu khác thờng trong cách

ứng xử của những ngời xung quanh với mình thì "bắt đầu hối hận" Lộ thấyxấu hổ với vợ, không dám nhìn thị "thở ngắn, than dài" Cái kết thúc cuối

cùng của Lang Rận (Lang Rận) nh một tia sáng trong một vơng quốc tối

tăm, loé lên dù chỉ một lần để chứng minh nhân cách con ng ời trong nhân

vật ấy là có thật Rồi hình ảnh các ngời vợ, ngời mẹ (Trẻ con không đợc ăn

thịt chó, Cời, Con mèo, Nớc mắt ) là những ngời phụ nữ thơng chồng

th-ơng con Đến cả thằng Câm (Truyện ngời hàng xóm) cũng có một tình yêu

tha thiết nhng đơn phơng, vô vọng và đầy đau khổ Khi biết đợc mối quan

hệ của mẹ Hiền với cai Minh, Câm hết sức đau khổ, nét mặt và tâm tính củahắn biến đổi thất thờng Hắn ít vồ vập với Hiền hơn Nhng Câm vẫn quý,vẫn thơng Hiền Điều này chứng tỏ nhân cách của Câm, chứng tỏ niềm tinvững chắc của Nam Cao vào con ngời: cho dù bị đẩy vào hoàn cảnh đaukhổ, trớ trêu đến đâu, con ngời vẫn không bao giờ thiếu sự tỉnh táo

Các nhân vật tiểu t sản thì có ý thức ở một cấp độ khác Họ thờng dằnvặt, suy nghĩ, mong muốn cho một cuộc đời tốt đẹp hơn Hộ, Điền, Thứ là

những con ngời nh thế Ông giáo (Lão Hạc) ý thức đợc và thông cảm với

những nỗi khổ của lão Hạc Nhân vật tôi trong "Mua nhà" cảm thấy day dứt,

ân hận khi nhìn cảnh cha con bán nhà không còn nơi để ở

Hầu hết các nhân vật của Nam Cao đều rơi vào bi kịch

Lộc (Truyện ngời hàng xóm) viết văn và biết tôn trọng sự thật cuộc

sống, hiểu rõ những cảnh ngộ đẩy con ngời vào cảnh cùng quẫn Lộc đãtừng nói với Hiền và Tiền: "Ba chúng mình cùng khổ nh nhau Những kẻkhổ sở trên đời nếu không biết thơng nhau còn đợi ai thơng nữa" Khi Hiềnchết đi, Lộc đã yêu thơng Tiền nh tình yêu trong trắng ban đầu mặc dùnhững tủi nhục mà Tiền đã phải chịu đựng

Đấy chính là nét nhân đạo mới của nhà văn Nam Cao

3.2 Con ngời tự ý thức về sự tha hoá để chống lại sự tha hoá.

Nam Cao nhìn thấy quy luật tha hoá và sức mạnh tinh thần của conngời trong việc chống lại sự tha hoá Có thể nói, quy luật con ng ời tha hoá

là một hiện thực có tính phổ biến, một đóng góp của các nhà văn hiện thực

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Trí Dũng - "Bi kịch tự ý thức, nét độc đáo trong cảm hứng nhânđạo của Nam Cao". Nam Cao - về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch tự ý thức, nét độc đáo trong cảm hứng nhânđạo của Nam Cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Phan Cự Đệ - "Phong trào thơ mới lãng mạn" - Giáo trình văn học Việt Nam 1900 - 1945, NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới lãng mạn
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Phan Cự Đệ - "Ngô Tất Tố". Giáo trình VHVN, NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Tất Tố
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Hà Minh Đức - "Tầm quan trọng của hoàn cảnh". Nam Cao - về tác giảvà tác phẩm. NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của hoàn cảnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Hà Minh Đức - "Tuyển tập Nam Cao", tập 1. NXB Văn học, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
6. Hà Minh Đức - "Tuyển tập Nam Cao", tập 2. NXB Văn học, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
7. Hà Văn Đức - "Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc". NXB VHTT, Hà Néi, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc
Nhà XB: NXB VHTT
8. Nguyễn Văn Hạnh - "Nghĩ tiếp về Nam Cao". NXB Hội nhà văn, H, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ tiếp về Nam Cao
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
9. Nguyễn Văn Hạnh - "Nam Cao - một đời ngời, một đời văn". NXB Giáo dôc, H, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao - một đời ngời, một đời văn
Nhà XB: NXB Giáodôc
10. Hà Bình Trị - "Tâm lý nhân vật trong một số sáng tác của Nam Cao".TËp san GDPT, sè 3/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý nhân vật trong một số sáng tác của Nam Cao
11. Trần Đình Sử - "Dẫn luận thi pháp học&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w