Nhìn chung, các tài liệu nói trên chủ yếu mang tính chất giới thiệu nhữngquan niệm tổng quát của Nho giáo, cha có tài liệu đi sâu nghiên cứu một cáchchuyên biệt về con ngời và đào tạo co
Trang 1A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài :
Vấn đề con ngời, theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ nội dung nghiên cứu cáckhoa học xã hội và nhân văn Chủ nghĩa Mác -Lênin thực chất là học thuyết về giảiphóng con ngời và xã hội loài ngời Vấn đề con ngời vì thế trở thành nội dungtrọng tâm của chủ nghĩa Mác -Lê nin nói riêng và toàn bộ lịch sử triết học nóichung Chỉ riêng lịch sử triết học phơng Đông cũng giúp chúng ta khẳng định đợcluận điểm ấy
Nho giáo là một học thuyết chính trị -xã hội , có nội dung phong phú và cótính hệ thống rõ rệt nhất của triết học Trung hoa cổ đại ,là hệ t tởng chính thống củagiai cấp thống trị suốt hàng ngàn năm của xã hội phong kiến Xuyên suốt chặng đ-ờng tồn tại và phát triển của mình, Nho giáo sớm đề cập và đề cập khá sâu sắc, toàndiện vấn đề con ngời Vấn đề đó đã trở thành một trong những nội dung cốt lõi củahọc thuyết Nho giáo
Trong lịch sử phát triển của mình, Nho giáo đã ảnh hởng sâu rộng đến các
n-ớc Đông á, trong đó có Việt Nam Nho giáo du nhập và tồn tại ở nn-ớc ta gần 2000năm đã có những ảnh hởng nhất định đối với xã hội và con ngời Việt Nam khôngchỉ trong quá khứ mà ngay cả trong giai đoạn hiện nay trên cả hai phơng diện: tíchcực và tiêu cực Vì vậy, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về con ngời và đào tạocon ngời có ý nghĩa cấp thiết trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong giai đoạnhiện nay Đặc biệt, trong bối cảnh lịch sử mới, khi toàn Đảng toàn dân cùng chungsức quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-
ớc thì chiến lợc phát triển nguồn lực con ngời càng đóng vai trò quyết định cho sựthành công ấy Hơn nữa, việc nghiên cứu, chắt lọc, kế thừa những phần tinh tuý củahọc thuyết Nho giáo trớc hết là làm giàu thêm vốn hiểu biết của mỗi cá nhân, đồngthời tạo điều kiện cho học thuyết ấy tiếp tục mang sức sống phù hợp với thời đạimới
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quan niệm của Nho giáo về conngời và đào tạo con ngời” ,với mong muốn góp thêm ý kiến trong việc đánh giá ýnghĩa tích cực của Nho giáo trong thời đại ngày nay Trên cơ sở đó , góp phần xâydựng mô hình con ngời mới, nhằm đáp ứng đợc yêu cầu phát triển khách quan củalịch sử
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nho giáo là học thuyết triết học và chính trị - xã hội , một hệ t tởng có chỗ
đứng quan trọng không chỉ riêng trong lịch sử t tởng Trung Hoa mà nó còn ảnh ởng sâu sắc đến thế giới quan, nhân sinh quan nhiều nớc trong khu vực
h-Học thuyết này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các học giả,của các nhà khoa học Nhiều ngời đã nói, đã viết về Nho giáo ở những khía cạnh cụthể nhất định, không giống nhau Riêng về mảng đề tài con ngời và đào tạo con ng-
ời trong Nho giáo đã đợc một số nhà nghiên cứu trình bày trong các cuốn sách nh:
“Nho giáo xa và nay” của tác giả Quang Đạm, “Khổng Tử” của Nguyễn Hiến Lê,
“Nho giáo” của Trần Trọng Kim ,và nhiều bài nghiên cứu về Nho giáo đã đợc
đăng tải trên các tạp chí: “Triết học”, “Giáo dục lí luận”, “Nghiên cứu lí luận”,
Trang 2Nhìn chung, các tài liệu nói trên chủ yếu mang tính chất giới thiệu nhữngquan niệm tổng quát của Nho giáo, cha có tài liệu đi sâu nghiên cứu một cáchchuyên biệt về con ngời và đào tạo con ngời, cũng nh có những đánh giá đầy đủ,khách quan mặt tích cực và mặt hạn chế của quan niệm đó ở Việt Nam Vì vậy, khichọn đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào mảng nghiên cứukhông kém phần quan trọng đó.
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
3.1 Mục đích.
Nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm của Nho giáo về vấn đềcon ngời và đào tạo con ngời Từ đó đối chiếu với thực tiễn Việt Nam để thấy đợcphạm vi, mức độ ảnh hởng của quan niệm đó đối với xã hội và con ngời Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu vấn đề con ngời và giáo dục đào tạo con ngờitrong quan niệm Nho giáo Các vấn đề khác đợc đề cập trong luận văn cũng đềunhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề trên
5 phơng pháp nghiên cứu.
Trang 3Luận văn dựa trên cơ sở phơng pháp luận của triết học Mác-Lê nin, trong đó chú
ý kết hợp phân tích với tổng hợp, lôgic,lịch sử, quy nạp và diễn dịch, phơng pháp hệthống hoá, lí luận gắn liền với thực tiễn,
6 ý nghĩa của đề tài.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến mảng đề tàinày Đồng thời đi sâu hơn về vấn đề con ngời và đào tạo con ngời của Nho giáo, tìmhiểu có định hớng những ảnh hởng của quan niệm đó đối với con ngời Việt Namhiện nay
7 Kết cấu của luận văn.
Luận văn kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận và hai chơng
Chơng I: Quan niệm của Nho giáo về bản chất con ngời và các mối
quan hệ của con ngời trong xã hội.
1 Nho giáo quan niệm về bản chất con ngời.
1.1 Quan niệm của Khổng Tử
1.2 Quan niệm của Mạnh Tử
1.3 Quan niệm của Tuân Tử
1.4 Quan niệm của các nhà Nho khác
2 Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ của con ngời trong xã hội.
2.1 Quan niệm về các mối quan hệ của con ngời trong xã hội
2 2 Tính chất và vai trò của các quan niệm trên
Chơng II: Vấn đề đào tạo con ngời của Nho giáo.
1 Đối tợng đào tạo con ngời của Nho giáo.
2 Mẫu hình con ngời mà Nho giáo quan tâm đào tạo.
2.1 Kẻ sỹ
2.2 Kẻ đại trợng phu
2.3 Ngời quân tử
3 Nội dung và phơng thức đào tạo con ngời của Nho giáo.
3.1 Nội dung đào tạo
Trang 43.2 Phơng thức đào tạo.
B - phần nội dung
Chơng I.
Quan niệm của Nho giáo về bản chất con ngời và các mối
quan hệ của con ngời trong xã hội.
1 Nho giáo quan niệm về bản chất con ngời
Xuyên suốt quá trình phát triển lịch sử t tởng của nhân loại, ta thấy lịch sử triếthọc phơng Đông có vị trí đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực chính trị- xã hội Đặcbiệt là nghiên cứu về bản chất con ngời
Nếu nh triết học phơng Tây lấy trọng tâm nghiên cứu của mình là bản thểluận, đi sâu tìm hiểu nguồn gốc bản chất của vũ trụ, của thế giới tự nhiên thì triếthọc phơng Đông mang đặc trng của t duy hớng nội , chủ yếu bàn về những vấn đềchính trị -xã hội Nếu có bàn đến vấn đề bản thể luận thì cuối cùng cũng để giảiquyết vấn đề chính trị - xã hội, vấn đề con ngời mà thôi
Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, có chứa đựng những t tởng triếthọc, do Khổng Tử sáng lập, cũng không nằm ngoài xu hớng đặc thù đó của triết họcphơng Đông nói chung và triết học Trung Hoa nói riêng Một trong những vấn đề
mà học thuyết này đặc biệt quan tâm đó là vấn đề con ngời Tại sao vậy? Có nhiều
lý do khiến Nho giáo chú trọng đến vấn đề ấy nhng căn bản nhất , chắc chắn là sựtác động của yếu tố thời đại, nhất là khi nhà Chu suy tàn, lịch sử Trung Quốc bớcvào thời Xuân Thu –Chiến Quốc
Trang 5Thời kì đó, xã hội vô cùng loạn lạc, chiến tranh xảy ra liên miên, kéo dài, gâybao cảnh lầm than, đói khổ, tan tác, chia li; “vơng đạo” suy đồi, “bá đạo” nổi lênkhắp nơi, kỷ cơng phép nớc không còn
Trớc thực tiễn đó,các nhà t tởng của Nho gia mong muốn lập lại pháp chế, kỷcơng nhà Chu, cứu vãn tình hình xã hội bằng những phơng thức cụ thể Và nhân tố
đợc xem là tối u nhất để thực hiện nguyện vọng lớn đó không gì khác, chính là conngời, cụ thể hơn là đào tạo những con ngời có đày đủ các phẩm chất: nhân, nghĩa, lễtrí, tín tiêu biểu cho toàn xã hội
Nghiên cứu về con ngời, về cụ thể hơn là bản chất con ngời, các nhà Nho đều
có ý kiến riêng của mình Đặt trong sự so sánh, các quan điểm ấy vừa có những néttơng đồng, vừa có những điểm khác biệt thậm chí có khi đối lập gay gắt
I.1 Quan niệm của Khổng Tử
Khổng Tử (551-479 TCN) vị thầy “chí thánh ” lập nên Nho giáo, là ngời đầutiên đầu tiên đề cập đến vấn đề con ngời nhng cha bàn nhiều đến bản tính con ngời ,cha thể hiện một cách rành mạch quan niệm con ngời là “thiện“ hay “ác” nh cácnhà triết học giai đoạn sau
Khổng Tử chú ý đến “tính” của con ngời và mối quan hệ giữa tính của con
ng-ời với hoàn cảnh xã hội cụ thể Ông cho rằng tính của con ngng-ời vốn gần nhau:”tínhtơng cận dã”.Nhng cuộc sống với những hoàn cảnh, những môi trờng khác nhau đãlàm cho ngời này và ngời kia xa nhau Do đó, sau khi nói “tính là gần nhau”,Khổng Tử lại nói ngay: “tập là xa nhau vậy” (tập tơng viễn dã) [1.268] Sự khácnhau, xa nhau ấy là do hoàn cảnh xã hội, do phong tục tập quán quy định Con ngờitốt hay xấu, thiện hay ác là do con ngời sống trong xã hội mà nên Vì vậy trong xãhội chúng ta trớc đây, các đệ tử Nho học từ đời này sang đời khác, ngay từ tuổi vỡlòng đã đọc đi đọc lại làu làu:“Ngời chng đầu, tính vốn lành, tính cùng gần, tậpcùng xa”
Tuy nhiên, trong quan niệm về bản tính con ngời, Khổng Tử đã sai lầm ở chỗkhi cho rằng: “Duy thợng trí dữ hạ ngu bất di” (chỉ có bậc trí thức ở trên với kẻ ngudốt ở dới là không thay đổi) [1.270] Sở dĩ có hạn chế này trong t tởng của Ông phảichăng có căn nguyên từ nguồn gốc xuất thân ? Đứng trên lập trờng của tầng lớp quýtộc, Ông đã đánh giá con ngời mang đầy tính duy cảm, duy ý chí
1.2.Quan niệm của Mạnh Tử.
Mạnh Tử (371- 289TCN) là ngời đầu tiên đề cập tới vấn đề cá nhân, vấn đềnhân tính một cách có hệ thống và cụ thể Ông chủ trơng thuyết “tính thiện”, chorằng: con ngời khi sinh ra đã có tính thiện , “thiện” là bản tính của con ngời Nó làcái tiên thiên, do Trời phú cho chứ không phải do con ngời luyện tập mà có Đứa trẻmới sinh ra đã có sẵn tính quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em củamình, các tình cảm đó nó phổ biến khắp thiên hạ Ông gọi thứ tình cảm đó là “lơngtri lơng năng” : không cần học mà làm đợc, không cần suy nghĩ mà biết đợc Mởrộng ra, Mạnh Tử cho rằng: mọi ngời đều có sẵn trong mình bốn đức tính: “ lòng
Trang 6trắc ẩn chính là đức Nhân; sự biết hổ thẹn, ghét bỏ điều trái đó là đức Nghĩa; lòngcung kính khiêm nhờng là đức Lễ; biết phân biệt điều phải trái đó là đức Trí CảNhân, Nghĩa, Lễ, Trí đều không phải do bên ngoài đa vào mà nó vốn có đầy đủtrong con ngời Nó là một thứ tiên nghiệm” [3.153].
Tuy nhiên, Cáo Tử lại không đồng tình với quan niệm đó Cáo Tử cho rằng:bản tính con ngời vốn không thiện cũng không ác Bản tính của con ngời cũnggiống nh dòng nớc vậy, nếu ta chặn ở phía đông, nó sẽ chảy về phía tây và ngợc lại Mạnh Tử đã tranh luận rằng:
“Nớc đúng là không cố định, chảy về hớng đông hoặc hớng tây, thế nhng nókhông có khuynh hớng chảy xuống hay chảy lên hay sao? Bản tính của con ngờicũng giống nh bản tính của nớc là chảy xuống vậy Con ngời không ai không cótính thiện ,cũng giống nh nớc bao giờ cũng chảy xuống Đơng nhiên, nếu ta ngăn lạithì có thể làm cho nó dâng lên đến tận đỉnh núi, tình thế buộc nó phải nh vậy Hoàncảnh có thể buộc ngời ta làm điều xấu.”[3.145]
Mạnh Tử nhiều lần khẳng định: “ nhân, lễ, nghĩa, trí chẳng ở bên ngoài đổkhuôn vào ta Tất cả có sẵn trong tính cách của mình” [3.153] Và nếu “mọi vật
đều có đủ trong ta”(vạn vật giai bị vu ngã) nh vậy thì tại sao lại có ngời quân tử, kẻtiểu nhân; có ngời trí, kẻ ngu; có ngời thiện, kẻ ác ?Mạnh Tử cho rằng con ngời tathờng bị vật dục mê hoặc, không biết khai thác cái “lơng tri, lơng năng” vốn có đó,hoặc là không biết bồi dỡng nó, làm cho nó bị lụi tàn Mạnh Tử cũng rất chú ý đến
điều kiện, hoàn cảnh và sự giáo dục có ảnh hởng đến phẩm chất đạo đức con ngời.Xuất phát từ quan niệm tính thiện là lơng tâm tiên thiên mà ngời ta cần phải tồn d-ỡng thì mới thành ngời đợc.Vì thế, Mạnh Tử rất chú trọng đến việc giáo dục con ng-
ời, nếu không con ngời sẽ gần với cầm thú Giáo dục đợc xem là bộ phận trọng yếucủa chính trị
Tóm lại, Mạnh Tử với học thuyết tính thiện của mình, cho rằng bản tính conngời là tốt, là thiện.Tính thiện là cái “tâm đại thể”, bao gồm đủ cả Nhân - Nghĩa -
Lễ -Trí - Tín Chỉ có ngời quân tử mới có thể giữ đợc năm thứ trên, nh vậy chỉ cóngời quân tử mới có tính thiện
1.3- Quan niệm của Tuân Tử.
Nếu Mạnh Tử chủ trơng thuyết “tính thiện” thì Tuân Tử (298-238Tr CN)-mộttrong những nhà Nho tiêu biểu cuối thời Chiến Quốc lại đa ra thuyết “tính ác”, phản
đối học thuyết trên của Mạnh Tử
Tuân Tử nói: “nhân chi tính ác, kỳ thiện giả nguỵ giã”, có nghiã là tính củangời là ác, những điều thiện là ngời đặt ra.[7.304]
Ông cho rằng, sinh lí tự nhiên của con ngời là ham thoả mãn dục vọng, đó lànguồn gốc của mọi tội ác, trộm cớp ,vô luân trong xã hội Do vậy, phải có lễ nghĩa,khuôn phép, hình phạt để ngăn ngừa “tính ác” bẩm sinh đó Tuân Tử nêu lên cáichủ đích sự giáo dục cần phải uốn nắn cái “tính ác”của con ngời ,để họ trở về với
Trang 7tính thiện Ông nói: “tính là cái ta không thể làm ra đợc, nhng có thể hoá đi đợc.Tính là không phải tự nhiên ta có đợc, nhng có thể làm cho có đợc Chú ý làm lụng,lập thành thói quen để hoá cái tính [7.307].Tuân Tử cho rằng cần thiết phải giáodục, phải uốn nắn con ngời hạn chế tính ác để đi đến tính thiện nh “cây gỗ congphải đợi cái khuôn uốn, rồi hơ nóng lên mà uốn mới thẳng đợc Một miếng sắt,miếng thép phải đợi có mài dũa mới sắc Cái tính ác của ngời ta cũng thế, ắt phải
đợi có thầy, có phép dạy bảo, rồi sau mới có lễ nghĩa và mới là trị Ngời ta không cóthầy, có phép thì thiên lệch nguy hiểm mà không chính, không có lễ nghĩa thì bộiloạn mà không trị”[7.305]
Cho rằng tính ngời là ác nhng vẫn có thể sửa đợc, Tuân Tử chủ trơng phải có
lễ nghĩa, khuôn phép, hình phạt để giáo dục, ngăn ngừa Ông đa ra thuyết “sửa tínhquấy” có nhiều nhân tố hợp lí: đạo đức của con ngời là do tập quán, do quá trìnhhọc tập mà ra ,cho nên đức tính của con ngời có thể sửa đợc Vậy nên, sự phânbiệt “quân tử” , “tiểu nhân” cũng nh sự phân biệt nghành nghề sĩ, nông, công, thơng
là do thói quen lâu ngày mà có chứ không phải trời phú cho
1.4 Quan niệm của các nhà Nho khác.
Cùng thời với Mạnh Tử, Cáo Tử cũng có những lập luận bàn về tính của conngời Nếu nh Mạnh Tử cho rằng bản tính con ngời là thiện thì Cáo Tử lại khẳng
định tính con ngời vốn không thiện cũng không ác, con ngời có thể làm điều thiện,cũng có thể làm điều ác Cáo Tử thừa nhận bản năng tự nhiên ở con ngời: “miếngngon ai cũng muốn, gái đẹp ai cũng thích, đó là cái tính của con ngời” Bên cạnh
đó, Cáo Tử cũng muốn nói đến bản chất xã hội của con ngời Ông coi nhân tính nhmột tờ giấy trắng, muốn viết đen thì đen, muốn viết đỏ thì đỏ Con ngời sống trongxã hội vì thế mà chịu sự tác động của hoàn cảnh xã hội Chính hoàn cảnh xã hội làmôi trờng để cho con ngời trở thành tốt hay xấu, thiện hay ác
Đến thời Tây Hán, Dơng Hùng cũng bàn đến tính ngời Ông cho rằng tínhngời ta là thiện ác hỗn hợp Sửa làm thiện là ngời thiện, sửa làm ác là ngời ác
Nh vậy, khi bàn đến bản chất của con ngời, mỗi nhà Nho lại có những quanniệm khác nhau Song, trong t tởng của mình các nhà Nho đều có điểm thống nhấtchung là phải giáo dục tính thiện cho con ngời Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhấnmạnh công tác giáo dục, tồn dỡng tính thiện trong con ngời, coi giáo dục tính thiện
là điểm cốt yếu.Tuân Tử cũng khẳng định là cần phải giáo dục, uốn nắn con ngời,hạn chế tính ác để đi đến tính thiện
Với Cáo Tử, Dơng Hùng cũng vậy, đều thấy đợc sự cần thiết phải giáo dụccon ngời, có giáo dục thì con ngời mới cải biến giáo hoá tính ác, bỏ ác thành thiện
Các nhà Nho đều đặt vấn đề phải giáo dục con ngời sao cho có tính thiện, cónhân Muốn vậy, điều trớc hết phải hiểu rõ con ngời với những mối quan hệ củachính họ trong xã hội
Trang 82 Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ của con ngời trong
xã hội 2.1 Quan niệm về các mối quan hệ của con ngời trong xã hội.
Con ngời sống trong xã hội có nhiều mối quan hệ khác nhau Các nhà Nhocũng sớm bàn về vấn đề này , trong đó quan hệ chính trị , đạo đức đợc chú ý hơncả Sở dĩ có điều đó là bởi xã hội thời Xuân Thu- Chiến Quốc vô cùng loạn lạc, rốiren, chiến tranh liên miên kéo dài, gây bao cảnh chia ly tan tác, bao cảnh lầm than
đói khổ ; trật tự, uy tín nhà Chu không còn nh trớc, đạo đức suy vi Khổng Tử đãphải than rằng : Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải
đạo cha, con không phải đạo con
Ông mong muốn xây dựng một xã hội có trên có dới, một xã hội sao cho
“vua ra vua , bề tôi ra bề tôi, cha ra cha , con ra con ” Vì thế mà khi xem xét cácmối quan hệ của con ngời trong xã hội với nhau , Nho giáo chỉ chú ý đến các mốiquan hệ chính trị , đạo đức mà không chú ý đến các quan hệ khác nh quan hệ sảnxuất , quan hệ nghề nghiệp Chẳng hạn có lần , môn đệ của Khổng Tử là Phàn Trìhỏi về cách làm vờn , không những không tâm đắc về sự ham học hỏi, hiểu biết củahọc trò mà thầy Khổng còn trách học trò rằng : gã Phàn Trì chí khí nhỏ hẹp lắmthay” Nếu ngời bề trên chuộng lễ , thì dân chẳng dám bỏ niềm cung kính Nếu ngời
bề trên háo nghĩa thì dân chẳng bội lẽ công chính Nếu ngời bề trên biết tín thật , thìdân chẳng dám sai ngoa trong tình giao ớc Nếu nhà cầm quyền ở đủ lễ , nghĩa, tín
nh vậy, thì dân chúng từ bốn phơng xa sẽ đem con đến để phục dịch mình Cần chiphải học nghề cày cấy ” [1.201]
Nh vậy , học thuyết của Khổng Mạnh là học thuyết chính trị -xã hội mà nộidung cơ bản là “đức trị” , “lấy nhân làm gốc”
Vấn đề đạo đức là vấn đề cơ bản , vấn đề trọng tâm xuyên suốt học thuyếtNho giáo Qua các tác phẩm lu lại nhất là “Luận ngữ “cho thấy Khổng Tử và nhiềuhọc trò của ông luôn lấy đạo đức làm gốc cho mọi quan hệ chính trị Khổng Tử nóirằng: nếu ông vua là ngời có đức, biết đem cái đức của mình toả sáng trong thiên hạthì đức độ ấy ngời dân lại hớng về ông vua “Nh ai thi hành việc chính trị , cầmquyền cai trị nớc nhà mà biết đem cái đức mình bổ hoá ra thì mọi ngời đều phụctùng theo Tỷ nh ngôi sao Bắc đẩu ở một chỗ , mà có mọi vì sao chầu theo ” [1.15]
Bàn về đờng lối trị nớc, Khổng Tử cũng thiên về đờng lối “đức trị” luôn nhấnmạnh dùng đạo đức mà trị nớc Theo ông: “Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng phápchế, cầm lệnh mà dắt dẫn dân chúng; chuyên dùng hình phạt mà trị dân thì dân sợ
mà chẳng phạm pháp đó thôi chứ họ chẳng biết hổ ngời Vậy muốn dắt dẫn dânchúng, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết thì chẳng những dân biết hổ ngời, họ lại còncảm hoá mà trở nên tốt lành ”[1.15]
Khổng Tử mong muốn xã hội sao cho “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Vua phải hết đạo vua, ông vua có t cách thì bề tôi mới giữ đạo bề tôi, cha phải hết
đạo cha, đúng t cách là cha thì con mới giữ đạo làm con
Mạnh Tử kế tục t tởng của Khổng Tử và nêu lên “ngũ luân” Ông cho rằng ,con ngời phải có nhân, ngời có nhân là biết ăn ở theo nhân luân (ngũ luân ) Đó là
Trang 9năm mối quan hệ xã hội cơ bản giữa ngời với ngời trong xã hội : mối quan hệ vuatôi , cha con , chồng vợ , anh em , bè bạn Mối quan hệ trong ngũ luân thời Khổng -Mạnh là mối quan hệ có tính chất hai chiều ,bề trên có trách nhiệm với bề dới , bềdới có nghĩa vụ với bề trên Mọi ngời đều có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau , đó
là những mối quan hệ đẹp mà các nhà Nho đã dày công xây dựng Trớc hết , mốiquan hệ vua tôi là mối quan hệ quan trọng nhất , đợc bàn tới nhiều nhất vì nó gắnvới vận mệnh đất nớc Thời kỳ Khổng - Mạnh quan hệ vua tôi là quan hệ có đi cólại vì sự nghiệp chung là trị nớc an dân
Vua là ngời trụ cột của đất nớc , phải xứng đáng đạo làm vua Vua phải lấynhân nghĩa mà đối xử với bề tôi Bề tôi đối với vua phải trung , “Vua nhân , tôitrung ”, “Vua lấy lễ mà sai khiến tôi , tôi đem lòng trung mà phụng sự vua ” Vua
là tấm gơng sáng về đức nhân để bề tôi và mọi ngời dân noi theo Khổng - Mạnh đãnhiều lần nhắc đến Nghiêu , Thuấn , Vũ những ông vua hiền đức mãi mãi đợc ng-
ời đời ngỡng mộ
Về phận làm tôi, các nhà Nho cho rằng bề tôi đối với vua phải hết đạo bề tôi ,lấy nhân nghĩa mà hết lòng thờ vua giúp nớc Bề tôi phải làm cho vua tin dùng Nếu không làm đợc vậy thì lui về ở ẩn để giữ khí tiết và lòng trung của mình Bềtôi có trách nhiệm khuyên can để nhà vua sửa tính nết , nghe theo những điều hay lẽphải Khổng Tử nói: “Làm quan trung với bậc quốc trởng muốn hết lòng giúp nớchá không đem ý kiến sáng suốt của mình mà tỏ bày với bậc quốc trởng , há khôngcan gián ngời sao” [1.217]
Mạnh Tử cũng nói rằng: “Vua có lỗi thì can, bất tất cứ là lỗi lớn , can đican lại mà không nghe thì từ quan mà đi”[3.141] Trong mối quan hệ vua tôi, ôngcòn cho rằng: “Vua coi bề tôi nh tay chân thì bề tôi coi vua nh tim ruột Vua coi bềtôi cha mẹ là gốc của mọi điều kính thờ vậy” [3.31]
Tơng tự vậy, Tăng Tử và một số nhà Nho khác cũng nêu lên nội dung củachữ hiếu là:
+ Tôn kính cha mẹ ,vâng lời cha mẹ, theo chí hớng của cha mẹ
+ Phụng dỡng cha mẹ suốt đời
+ Khi cha mẹ qua đời phải chôn cất chu đáo, thờ cúng cha mẹ cho có lễ.Nêu lên nội dung đạo hiếu làm con đối với cha mẹ nh vậy, các nhà Nho đồngthời cũng chỉ ra những điều bất hiếu của con cái Mạnh Tử đa ra một số dẫn chứngnói lên tội bất hiếu : “Một là, cha mẹ làm điều bất nghĩa mà mình còn a dua khôngbiết can ngăn, để cha mẹ mắc phải tiếng xấu Hai là, nhà nghèo mà mình chẳngchịu ra với đời kiểm chút lộc để nuôi cha mẹ Ba là, chẳng chịu lấy vợ để đến nỗikhông con làm tuyệt mất sự tế tự với tổ tiên” Và rằng : “ Tội bất hiếu có 3 điều ,
Trang 10giữa cha mẹ và con cái theo quan niệm của Nho giáo là mối quan hệ hai chiều, việcgiáo dục lòng hiếu thảo của con với cha mẹ, cũng nh toàn bộ nội dung mối quan hệ
đó đã có những đóng góp quan trọng, thiết thực trong đời sống đạo đức, t tởng củacon ngời trong xã hội phong kiến xa cũng nh việc giữ nguyên giá trị của nó đếnngày nay Mặc dù thế, những yêu cầu về giáo dục lòng hiếu thảo còn có điều tháiquá, rờm rà, khuôn mẫu Nhng xét đến cùng, nội dung về mối quan hệ này đợc cácnhà Nho bàn đến là phù hợp với tình ngời, với đạo lí làm ngời Nó có tác dụng tíchcực trong việc nâng cao trách nhiệm cũng nh nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha
mẹ với con
ở mối quan hệ vợ chồng, từ Khổng-Mạnh cho đến các nhà Nho sau này đềuquan niệm trong gia đình ngoài trách nhiệm, nghĩa vụ đối với con cái, thì trongquan hệ vợ chồng phải có sự khác nhau, vai trò khác nhau.Chính vì thế mới có kháiniệm“phu phụ hữu biệt” Ngời chồng là trụ cột, là chính trong gia đình ; còn ngời
vợ là thứ yếu, phụ thuộc vào chồng theo kiểu “phu xớng, phụ tuỳ”
Đến thời Đổng Trọng Th, cùng với sự thăng trầm của xã hội , trong mối quan
hệ vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng càng rõ rệt ở đó, ngời chồng là rờng cột củangời vợ, vợ hoàn toàn phụ thuộc vào chồng mình Ngời phụ nữ phải tuân thủ nhiềuquy tắc khắt khe của xã hội mà rõ nhất là sự ràng buộc bởi tam tòng : “tại gia tòngphụ , xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”; tứ đức (tứ đoan ): công, dung, ngôn, hạnh
Chính với quan niệm về mối quan hệ một chiều trong quan hệ vợ chồng củaNho giáo cho chúng ta thấy sự bất bình đẳng, bất công đối với ngời phụ nữ, cần phêphán loại bỏ
Trong gia đình, một mối quan hệ khác cũng không kém phần quan trọng, đó
là quan hệ anh em Anh em trong nhà phải c xử với nhau có trên, có dới : “trởng
ấu, hữu tự”, trớc sau thuận hoà Anh có quyền thay cha điều hành công việc tronggia đình khi cha mất Còn em phải vâng lời anh, nghe theo anh chỉ bảo, có nh vậygia đình mới hoà thuận, vui vẻ
Cuối cùng trong “ngũ luân”, các nhà Nho đề cập đến mối quan hệ bạn bè.Mối quan hệ này đợc xây dựng theo nguyên tắc : “bằng hữu hữu tín”, lấy chữ tínlàm trọng Chữ tín làm cho bạn bè vợt qua khó khăn , thơng yêu giúp đỡ lẫn nhau,làm cho tình bạn mãi mãi bền vững Theo quan niệm các nhà Nho , tình bạn đợcxây dựng không dựa trên tiền tài danh vọng, giàu sang phú quý mà là nghĩa, là tình,giúp nhau vợt qua khó khăn , hoạn nạn Đức Khổng từng dạy rằng : “phải xử vớingời cho thiết tha hết tình và giữ niềm hoà duyệt, nh vậy mới đáng là kẻ sĩ Tức là
đối với bầu bạn thì tha thiết hết tình, đối với anh em thì giữ niềm hoà duyệt ”[1.213]
Bên cạnh quan hệ “ngũ luân “, các nhà Nho còn đề cập đến quan hệ quân,dân Trong mối quan hệ ấy, vua là thống trị ,dân là bị trị ,là đối t ợng để sai khiến.Các nhà Nho yêu cầu vua phải ra vua , phải xứng đạo làm vua Mọi việc làm củavua phải lấy nhân đức mà đối xử với dân Khổng Tử có nói : “vi chính dĩ đức thí nhBắc thần c kỳ sở , nhi chúng tinh cũng chi”[1.15] Vua không chỉ là ngời đức nhân,
là tấm gơng cho dân noi theo mà còn phải lo toan đến cuộc sống của dân TheoKhổng Tử : “nhà cầm quyền phải có 3 điều : lơng thực cho đủ nuôi dân, binh lựccho đủ bảo vệ dân , lòng tin cậy của dân đối với mình”[1.185]
Trang 11Mạnh Tử thì cho rằng, muốn cho xã hội tốt đẹp mọi ngời phải “hằng sản ” thì mới
“hằng tâm”, tức là vua phải làm sao cho dân no đủ khi đó mới tính đến việc ổn định
t tởng, tâm tính
Những t tởng trên của Khổng-Mạnh là hết sức tiến bộ Các ông nêu bật lên
đ-ợc điều cốt lõi tất yếu : dân no đủ, dân có mạnh thì xã hội mới vững, mới ổn định
Bên cạnh đó những nhà Nho nh Mạnh Tử và Tuân Tử đã thấy đợc sứcmạnhvà vai trò của dân: ông vua nào đợc dân ủng hộ thì tồn tại, ông vua nào không
đợc dân ủng hộ sẽ bị đổ Mạnh Tử nói rằng: “vua Kiệt, vua Trụ sở dĩ mất thiên hạ làvì mất dân, sở dĩ mất dân là vì mất lòng dân Đợc thiên hạ há chẳng có đạo, đợclòng dân thì đợc dân vậy; đợc dân há chẳng có đạo, điều gì dân muốn thì thu họp
điều ấy lại cho dân, điều gì dân ghét thì chớ đem điều ấy ra làm hại dân, cái đạo đ
-ợc lòng dân nh thế mà thôi”[3.19]
Trong con mắt nhà Nho, quần chúng nhân dân có vai trò to lớn đối với sựphát triển của xã hội Chính vì thế mà Mạnh Tử đã nêu lên t tởng: “dân vi quý, xãtắc thứ chi, quân vi khinh”, nghĩa là: nớc lấy dân làm gốc, dân là quý hơn nhất, xãtắc thứ hai, vua là khinh[3.263] Cùng quan điểm ấy,Tuân Tử cũng nêu lên vai tròcủa dân: dân là nớc, vua là thuyền, nớc chở thuyền nhng nớc cũng có thể lật thuyền
T tởng của các nhà Nho là trọng dân, nhấn mạnh vai trò quyết định của dân.Dân là quan trọng nhất, sau đó mới đến sơn hà xã tắc, cuối cùng mới đến vua Nhthế dân theo ai thì ngời đó thắng Nếu vua sống không có nhân đức , tàn ác thì bềtôi có thể giết vua nh một tên ác tặc Dù rằng, những t tởng đó là khó thực hiện nh-
ng nó đã bộc lộ ra là những t tởng tiến bộ trong xã hội phong kiến Trung Hoa.Ngoài những mối quan hệ trên, trong cuộc sống thông thờng, mối quan hệ thầy tròcũng đợc nêu cao, thậm chí khi nêu ba vị bề trên cần tôn trọng nhất của mọi ngờinói chung, ngời ta còn đặt thầy lên ngay sau vua và ở trớc cha ( quân, s, phụ,)
Tóm lại, bao quát những mối quan hệ lớn nhất theo Nho giáo, kinh Lễ nêu ramời đức là: “cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trởng
có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung” (phụ từ tử hiếu, huynh lơng đệ đễ, phunghĩa phụ thính, trởng huệ ấu thuận, quân nhân thần trung) Nh vậy, khi bàn về conngời, các nhà Nho đã dẫn ra các mối quan hệ giữa con ngời với nhau nh trên Cácmối quan hệ ấy liên quan, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau ở thời Khổng-Mạnh các mối quan hệ này là quan hệ hai chiều, có đi có lại, mang tính nhân bảnsâu sắc Nó có tác dụng tích cực trong việc giáo dục, đào tạo nhân cách con ngờitrong xã hội
Đến Đổng Trọng Th - nhà t tởng của chế độ trung ơng tập quyền thời Hán đãcải tạo và khái quát hoá các quan niệm của tiên nho thành ra “tam cơng”, “ngũ th-ờng”
Nội dung của “tam cơng” là: vua là rờng cột của bề tôi, cha là rờng cột củacon, chồng là rờng cột của vợ Bề dới phải có trách nhiệm phục tùng bề trên, còn bềtrên lại không có trách nhiệm với bề dới Quan niệm đó thực sự đã gò ép, hạn chế
đến mức tối đa quyền bình đẳng của con ngời, trở thành những quy tắc đạo đức khắtkhe, cứng nhắc, mang tính chất duy tâm, kìm hãm sự phát triển
Ngoài “tam cơng”, Đổng Trọng Th cũng nêu lên nội dung “ngũ thờng” baogồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, nhằm mục đích thực hiện “tam cơng”,” ngũ luân”
Đến đời Tống, t tởng “tam cơng- ngũ thờng” lại đợc các nhà Nho nh Chu Hy,Trình
Trang 12Di phát triển thêm một bớc trở thành những quy tắc đạo đức phi nhân bản, hết sứcnghiệt ngã, phi lý trong quan hệ xã hội của con ngời
Những t tởng đó phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến trung ơng tập quyền,nhất là từ đời Hán trở đi ,Nho giáo trở thành t tởng thống trị xã hội Nó ảnh hởngsâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại trên dới 2000 năm và có
ảnh hởng sâu sắc tới nhiều nớc xung quanh ,trong đó có Việt Nam
2.2 Tính chất và vai trò của các quan niệm trên.
Trớc hết phải khẳng định những quan niệm trên phục vụ đắc lực cho chế độphong kiến” tôn pháp” Muốn cho chế độ “ tôn pháp” đợc vững , các triều đìnhphong kiến đề ra chữ hiếu và đề cao hiếu đễ Con phải hiếu với cha mẹ, kẻ nhỏ phảitôn trọng, vâng lời bề trên, bề tôi và thần dân phải giữ đạo với vua
Về các mối quan hệ xã hội của con ngời, đặc biệt là mối quan hệ “ngũ luân”,các nhà Nho quan tâm giáo dục lòng trung với vua, lòng hiếu thảo với cha mẹ, lòngthuỷ chung đối với chồng, lòng kính đối với anh Những quan niệm ấy chia ra thứbậc trên dới, ủng hộ cho việc tôn quân, truyền tử, chính là phục vụ cho chệ độphong kiến” tôn pháp” Với ý nghĩa nh thế, những quan niệm trên có tính chất tíchcực buổi đầu khi mà xã hội rối ren, nhiễu nhơng: “vua không ra vua, bề tôi không ra
bề tôi, cha không ra cha, con không ra con” Đạo đức, trật tự kỷ cơng xã hội bị đảolộn thì những quan niệm của Nho giáo về luân thờng đạo lý có vai trò tích cực đốivới xã hội Đặc biệt nó góp phần giáo dục, xây dựng bồi dỡng lớp ngời kẻ sĩ đông
đảo, ngời đại trợng phu và quân tử, những con ngời tích cực tuyên truyền đạo lýphong kiến, bảo vệ chế độ phong kiến
Tuy nhiên, đến khi chế độ phong kiến suy tàn, vào cuối đời Thanh phái tânhọc dấy lên, nhiều ngời muốn bỏ hết tinh thần cựu học để chóng bằng các nớc Âu,
Mỹ Vì thế mà các quan niệm trên trở thành vật cản kìm hãm sự phát triển xã hội
Chơng II : Vấn đề đào tạo con ngời của Nho giáo
1. Đối tợng đào tạo con ngời của Nho giáo:
Học thuyết Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội, trong đó quan niệm củacác nhà Nho về con ngời chiếm vị trí căn bản và lớn lao ở đề tài này, mỗi Nho gialại có một quan điểm riêng nhng tựu trung lại họ đều hớng đích vào việc giáo dụccon ngời về đức nhân Đối tợng đào tạo của Nho giáo là rất rộng, ai muốn học đều
đợc dạy
Trong lịch sử Trung Hoa, Khổng Tử là ngời đầu tiên mở trờng t dạyhọc.Trong đó đối tợng dạy dỗ của ông là tất cả mọi ngời theo phơng châm : “hữugiáo vô loại”, nghĩa là bất cứ ai cũng có thể giáo dục đợc.Với quan niệm nh vậy ,Khổng Tử thâu nạp tất cả những ngời đến học với mình, không phân biệt hạng ngời,gia thế, con quý tộc hay con bình dân, ngời giàu hay kẻ nghèo.Trong số hơn 3000
Trang 13học trò của Khổng Tử thì chỉ có vài ngời trong giới quý tộc còn lại đều xuất thân từtầng lớp trung lu, bình dân Khổng Tử nói rằng: “kẻ nào xin nhập môn, tự mình làm
lễ dâng lên một thúc nem, thì chẳng bao giờ ta chê lễ mọn mà chẳng dạy”[1.101]
Khi nhận vào học ông cũng không phân biệt ngời thiện, kẻ ác Sách “Luậnngữ”, chơng “Thuật nhi “ có kể : “ngời làng Hỗ Hơng có tiếng là ác nghịch, khó màgiảng điều lành lẽ phải cho họ nghe Có một chàng trai trẻ làng ấy đến yết kiến đứcKhổng để xin vào học ; ch môn nhơn lấy làm nghi hoặc về chàng Đức Khổng Tửbèn dạy rằng: “ngời ta có lòng tinh khiết mà đến với mình,thì mình vì lòng tinhkhiết ấy mà thâu nhận ngời, chớ mình không bảo lãnh những việc đã qua của ng-ời”[1.113]
Khổng Tử còn nói: “quân tử giáo hoá ngời, chẳng phân biệt ngời thiện kẻ
ác”[1.255]
Với quan niệm về đối tợng đào tạo nh trên cho thấy điểm tiến bộ trong t tởngcuả Khổng Tử nói riêng và của Nho giáo nói chung khi xác định đối tợng giáo dục
đó là quan điểm giáo dục toàn dân
Việc mở rộng đối tợng đào tạo trớc hết là để thực hiện lí tởng của các nhàNho : giáo dục “đức nhân”.Trong lịch sử xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử - vịthầy “chí thánh” lập nên Nho giáo, sỡ dĩ đợc hậu thế tôn vinh là “vạn thế s biểu” vì
Ông là ngời đặt nền móng đầu tiên cho việc bình dân hoá giáo dục , cho việc xoá bỏ
đẳng cấp trong đào tạo, giáo dục con ngời
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ, trong quan niệm về đối tợng đàotạo ,Khổng Tử vẫn không thoát khỏi t tởng bảo thủ khi ông cho rằng : “duy nữ tử,tiểu nhân vi nan dỡng dã”( chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó giáo dục) [1.282] Nhìn chung, đối tợng chủ yếu mà Khổng Tử cũng nh Nho giáo tập trung vàobao gồm :
Con em giai cấp thống trị để họ tiếp tục phục vụ sự nghiệp cha anh
Con em tầng lớp khác có điều kiện học tập và nguyện trở thành ngờiphục vụ cho giai cấp thống trị
Dạy cho dân nhằm mục đích dễ sai khiến
2 Mẫu hình con ngời mà Nho giáo quan tâm đào tạo.
Với đặc điểm, tình hình xã hội Trung Hoa thời phong kiến- đặc biệt là XuânThu-Chiến quốc , mục tiêu đào tạo con ngời của Nho giáo là xây dựng những mẫungời lý tởng nh: kẻ sĩ, kẻ đại trợng phu và ngời quân tử với đủ các phẩm chất: nhân
lễ, nghĩa, trí, tín, để ra giúp đời, cứu thế, làm cho xã hội “hữu đạo”, chuyển xã hội
từ loạn sang trị
2.1 Kẻ sĩ :
Trang 14Ngời đi học Nho là kẻ sĩ Đã ngời đi học là kẻ sĩ thì phải có t cách kẻ sĩ, vàphải biết cái đức hạnh của ngừơi quân tử là thế nào Khổng Tử đã nói rằng: muốnxứng đáng là ngời trị dân thì phải tu thân Mà muốn tu thân thì phải học Kẻ sĩ phải
lo sửa mình cho ngay chính, chứ không cần phải theo thói thờng Con đờng vào đờicủa kẽ sĩ là phải học.Học là học đạo, học luân thờng đạo lý, học cách làm ngời, học
để trở thành ngời đức nhân
Tuân Tử cũng đề cao việc học Ông cho sự học có đầu có cuối, học cho đếnbậc ngời hoàn thiện về nhân cách, cho đến hết đời mới thôi “Sự học khởi đầu ở đâu,cuối cùng ở đâu? Rằng: cái thuật thì khởi đầu học các kinh, cuối cùng thì đọc lễ; cáinghĩa thì khởi đầu làm ngời học trò, cuối cùng làm bậc thánh nhân Lòng thànhthực tích đợc nhiều, việc làm lâu thì mới thấu tới cái học Học đến chết thì sau mớithôi Cho nên cái thuật học thì có cùng, mà cái nghĩa sự học thì không có giây phútnào bỏ đợc Làm điều ấy là ngời, bỏ điều ấy là cầm thú vậy”[7.312] Tuân Tử cho
sự học của ngời ta là cốt làm cho mất cái ác của mình đi để thành ra thiện, có họcmới nên ngời ngay lành đợc Chính vì thế mà kẻ sĩ - ngời đi học Nho, luôn trau dồi
đức hạnh, bỏ điều lợi mà làm điều nghĩa, dám xông pha trớc nguy nan để cứu ngời
Ông Tử Trơng nói rằng: “ kẻ sĩ nh thấy sự nguy nan xảy đến cho ngời , thìliều thân mạng mà giải cứu ; nh thấy món lợi , thì nhớ việc nghĩa ; xét coi món lợi
ấy mình nên thâu nhận hay chăng ? Trong khi cúng tế tổ tiên , ngời giữ lòng thànhkính ; trong cơn tang chế , xét nghĩ đến sự đau thơng Nh vậy mới đáng gọi là kẻ sĩ
” [1.297]
Mạnh Tử cũng nói kẻ sĩ phải luôn luôn giữ lấy nghĩa , làm tròn bổn phận củamình Trong mọi cử chỉ và hành động của mình phải biết sĩ hổ , đặng tránh nhữngviệc trái lễ nghĩa
Nói đến chí khí , trách nhiệm của kẻ sĩ , Tăng Tử đã nhấn mạnh : “kẻ sĩ cầnphải có chí khí rộng lớn và cơng nghị Là vì , gánh thì nặng mà đờng thì xa Đứcnhân là cái trách nhiệm mà mình phải gánh lấy , há không nặng sao ? Đã làm điềunhân thì mình phải làm cho đến chết mới thôi, nh vậy con đờng chẳng phải là xasao ?” [1.125]
Kẻ sĩ vào đời bằng con đờng học tập, học giỏi thì đi thi, thi đậu thì làm quan.Nho giáo quan niệm , làm quan để “ trí quân trạch dân” tức là đa vua đến anh minhsáng suốt và đem lại ơn trạch cho dân Ngời làm quan phải biết đạo hành tàng, gặplúc hữu đạo thì ra mà phụng sự lập nên cơ nghiệp, gặp lúc vô đạo thì làm kẻ ngu sichịu nghèo hèn là hơn “Thiên hạ hữu đạo thì hiện, thiên hạ vô đạo thì ẩn” Rốtcuộc là trông mong ở trời Gặp thời vận tốt thuận lợi thì nhảy lên vũ đài Gặp thờivận xấu , ngang trái thì “trùm chăn” nằm im, chờ mệnh trời thay đổi cục diện , từ vô
đạo lại thành hữu đạo Đó là điểm hạn chế của Nho giáo
Trong lớp ngời đợc tôn là kẻ sĩ , Nho giáo cũng chia kẻ sĩ thành nhiều hạngkhác nhau
Khổng Tử thì cho kẻ sĩ làm quan có bốn hạng khác nhau:
Đầu tiên, kẻ sĩ mà trong mọi cử chỉ và hành động của mình phải biết hổ thẹn trớc những hành vi xấu, đi khắp nơi không làm nhục cái mạng lệnh của vua
Trang 15Thứ hai, là ngời mà khắp họ hàng , làng xóm khen là hiếu để
Thứ ba, lời nói đáng tin, quả quyết, dù hơi cố chấp, hẹp hòi
Cuối cùng là hạng kẻ sĩ độ lợng nhỏ nhen, không đáng nói tới
Còn Tuân Tử cho rằng : kẻ sĩ cũng có năm bảy kẻ sĩ : có kẻ thông sĩ , có kẻcông sĩ, có kẻ trực sĩ, có kẻ xác sĩ, có kẻ tiểu nhân Ông lý giải về từng hạng kẻ sĩ:
Trên thì có thể làm cho tôn trọng bậc quân vơng , dới thì có thể yêu dân, vật
đến thì tiếp ứng đợc, sự dấy lên thì biện luận đợc, nh thế là bậc thông sĩ
Không theo kẻ dới mà làm tối bậc trên, không đồng ý với bậc trên mà ghen ghét kẻ dới lấy cái trung mà phân tranh , không lấy cái t mà hại cái trung, nh thế gọi là bậc công sĩ
Cái hay của mình, dẫu bậc trên không biết, cũng không che, cứ lấy tình thật
mà làm hết cái lòng trung trực, nh thế gọi là kẻ trực sĩ
Lời nói ngày thờng là phải tin, việc làm ngày thờng là phải cẩn thận, sợ theo cái lu tục mà cũng không dám riêng một mình làm quá ra là ngời quân tử, nh thế là
kẻ xác sĩ
Nói không thờng tin, làm không thờng chính, chỉ biết có lợi mà thôi, hễ có lợi là khuynh hớng theo, nh thế là kẻ tiểu nhân
Tuân Tử còn nhấn mạnh rằng: Kẻ sĩ dẫu thế nào cũng không bỏ nghĩa mà theo lợi
Nh vậy các nhà Nho , dù rằng trong quan điểm không hoàn toàn giống nhau nhng họ đều chỉ ra những tiêu chí cụ thể:kẻ sĩ
2.2 Kẻ đại trợng phu.
Một trong những mục tiêu đào tạo con ngời của Nho giáo là kẻ đại trợng phu
- những con ngời có khí phách hiên ngang, bất khuất, có bản lĩnh cứng rắn, có khả năng phục vụ đắc lực cho giai cấp thống trị
Thời Khổng Tử, Ông cha bàn nhiều đến kẻ trợng phu, nói cho cùng là cha đề cập rõ nét, cụ thể, song Ông cũng đã nêu lên một số nét tính cách về con ngời này Khổng Tử nói rằng : ngời dũng thì có đủ sức lực đủ gan dạ mà đối phó với nghịch cảnh, cho nên chẳng sợ bậy Ngời trợng phu có ý chí bất khuất, kiên trung, trớc phong ba bão táp vẫn vững vàng không nghiêng ngả
Đến Mạnh Tử, Ông phác hoạ hình tợng ngời đại trợng phu với những nét tínhcách cao thợng, phải làm theo điều nhân, điều lễ, điều nghĩa Ngời đại trợng phu trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải tu thân, phải biết xông pha trớc điều thiện, không chịu lùi bớc trớc uy lực, tiền tài và sự nghèo khó Mạnh Tử nói: “ nhân là chỗ ở rộng nhất trong thiên hạ, lúc đắc chí thì giáo hoá cho muôn dân, khiến muôn dân cùng đi trên con đờng lớn : nhân lễ, nghĩa Khi không đắc chí thì kiên trì
nguyên tắc làm theo việc thiện, tự mình tu thân, phú quý bất năng dâm, bần tiện bất