1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của người việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận

107 824 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận
Tác giả Nguyễn Thị Hiến
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 519 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu Trong khuôn khổ của mình, luận văn đi vào tìm hiểu quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trên các bình diện: quan niệm về bổn phận làm vợ, làm chồng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kho tàng ca dao người Việt thực sự là một tài sản vô giá, nơi lưu giữ

những “hòn ngọc quý” không dễ gì nhạt phai giá trị dù phải trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và thị hiếu của người thưởng thức Đến với ca dao là đến với đời sống tư tưởng của người bình dân qua chất liệu ngôn từ Đến với ca dao, ta hiểu thêm về “điệu hồn”, về nếp nghĩ của người bình dân lao động trải qua bao thời kì, bao hoàn cảnh sống được thể hiện, gửi gắm nhờ tài năng sử dụng ngôn ngữ kì diệu của các tác giả dân gian Không biết đã bao nhiêu tháng năm trôi qua, không biết có bao nhiêu câu ca dao vẫn vẹn nguyên giá trị, không biết có bao câu ca dao vẫn đợi chờ ở người đọc một sự khám phá, thưởng thức thực sự sâu sắc, thú vị về giá trị của nó?! Chỉ biết rằng bao nhiêu năm ca dao tồn tại, lưu truyền là bấy nhiêu năm nó được người đọc đón nhận, thưởng thức và khát khao khám phá vẻ đẹp tuyệt vời của nó Khó có thể

kể hết những công trình nghiên cứu, những bài viết khoa học khám phá cái hay, cái đẹp của ca dao dân tộc Thế nhưng càng khó để khẳng định rằng tất

cả vẻ đẹp của ca dao đều đã được các nhà nghiên cứu nói riêng, công chúng nói chung cảm nhận và thể hiện

Ngữ nghĩa học cấu trúc, ngữ nghĩa học hình thức đã góp phần không nhỏ trong việc giúp người đọc hiểu rõ các lớp nghĩa trong ca dao nói chung Cũng nhờ vậy, người tiếp nhận không chỉ hiểu những nội dung ý nghĩa mà người bình dân muốn gửi gắm qua ca dao mà còn yêu thích, quý trọng hơn vốn di sản quý báu của dân tộc mình, càng tha thiết yêu hơn vẻ đẹp tâm hồn của người dân đất Việt Tuy nhiên là một sản phẩm được làm nên bởi những đặc trưng, những bản sắc văn hóa của dân tộc, ca dao người Việt ẩn chứa tiềm năng vô tận về ý nghĩa, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc

Trang 3

Ngôn ngữ học tri nhận tiếp tục công việc nghiên cứu, tìm hiểu ngôn ngữ ở một góc nhìn mới Đây là một khuynh hướng trong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỉ XX có đối tượng đặc thù là mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và quá trình tư duy của con người trên cơ sở kinh nghiệm và suy luận lôgic

Là một khuynh hướng mới đang rất thịnh hành của ngôn ngữ học hiện đại trên phạm vi toàn thế giới nên việc thể nghiệm nó để nghiên cứu thiết nghĩ là việc nên làm Ý niệm là một trong những phạm trù cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, mang tính dân tộc sâu sắc Nó là khâu trung gian kết nối ngôn ngữ và văn hóa

Chính vì những lí do đó mà chúng tôi mạnh dạn tiếp cận vấn đề : “Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận” Tìm hiểu quan niệm của người Việt về gia đình qua ca dao là dịp để chúng ta tiếp tục khám phá giá trị, hiệu quả thẩm mĩ của ca dao về quan hệ gia đình nói riêng và ca dao nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ca dao với những quy

mô và hướng tiếp cận khác nhau Tìm đọc các công trình nghiên cứu về ca dao, chúng tôi thấy có ba xu hướng chính:

- Nghiên cứu ca dao dưới góc độ văn học

- Nghiên cứu ca dao dưới góc độ thi pháp học

- Nghiên cứu ca dao dưới góc độ Ngôn ngữ học

Việc nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học không còn là một vấn

đề mới Đã có rất nhiều thành tựu có giá trị liên quan đến hướng tiếp cận này Đó là các công trình nghiên cứu của các tác giả Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hoành, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Nhã Bản, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp…và nhiều chuyên luận, luận án, song các công trình nghiên cứu

Trang 4

chuyên sâu về một vấn đề cụ thể trong ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận chưa nhiều

Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận được nghiên cứu trong các công trình:

Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý

Toán Thắng, 2005, Nxb KHXH, HN), Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn

hóa (Phan Thế Hưng, Ngữ học trẻ, 2005), Ngôn ngữ học tri nhận là gì? (Trần

Văn Cơ, tạp chí ngôn ngữ số 7, 2006), Hệ hình nhận thức trong ngôn ngữ

(Nguyễn Hòa, Ngôn ngữ, 2007, số 1)…

Về những vấn đề cụ thể được nghiên cứu từ bình diện ngôn ngữ học tri

nhận có các bài báo: Ba giới từ tiếng Anh at, on, in (thử nhìn từ góc độ cơ chế

tri nhận không gian (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt) (Lê Văn Thanh

và Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ, 2002, số 9), Bước đầu khảo sát ẩn dụ tình yêu

trong tiếng Anh và tiếng Việt (Nguyễn Thị Ý Nhi, Ngữ học trẻ, 2006), Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận (Lê

Đình Tường, Ngôn ngữ, 2008, số 9), Ý niệm về đôi-cặp trong ca dao người

Việt về hôn nhân và gia đình (Lê Thị Thắm, Ngôn ngữ & Đời sống, 2009, số 1

+ 2) Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác tuy không nhắc đến ngôn ngữ học tri nhận nhưng tinh thần và thực chất nằm trong phạm vi trung

tâm chú ý của ngôn ngữ học tri nhận: Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc

của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)

(Nguyễn Đức Tồn, Nxb ĐHQG,HN, 2002), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam

(Trần Ngọc Thêm, Nxb Tổng hợp Tp HCM, 2004) (x Chương hai: Văn hóa

nhận thức) Bài viết Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ góc độ

ngôn ngữ học tri nhận, đăng trên Ngữ học trẻ - 2006 của tác giả Nguyễn Ngọc

Vũ góp phần đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao trên cả hai

bình diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành Bài viết Ý niệm về đôi-cặp trong

ca dao người Việt về hôn nhân và gia đình, đăng trên Ngôn ngữ & Đời sống,

Trang 5

2009 của tác giả Lê Thị Thắm đã góp thêm một cách nhìn, một cách tiếp cận

ca dao về hôn nhân và gia đình từ bình diện tri nhận Đó là những tiền đề, những cơ sở quan trọng cho nghiên cứu quan niệm về gia đình trong ca dao

Từ thực tế những nghiên cứu nêu trên chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên

cứu “Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện

tri nhận”.

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

Trong khuôn khổ của mình, luận văn đi vào tìm hiểu quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trên các bình diện: quan niệm về bổn phận làm vợ, làm chồng, quan niệm về con cái và mối quan hệ giữa bố mẹ với con cái, con cái với bố mẹ trong ca dao biểu đạt qua phương tiện từ vựng và qua nghĩa biểu hiện với các cấu trúc so sánh Để xác định các vấn đề đó, đề tài dựa trên

số liệu từ “Kho tàng ca dao người Việt” (Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng

Nhật - Phan Đăng Tài - Nguyễn Thúy Loan - Đặng Diệu Trang biên soạn, Nxb Văn hóa thông tin, 2001)

Qua việc tìm hiểu quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận, luận văn bước đầu hiện thực hóa những nội dung cơ bản nhất của lý thuyết tri nhận và góp phần kiến giải về vẻ đẹp của ca dao Việt Nam, đồng thời góp phần vào việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao ở trường phổ thông từ một góc nhìn mới

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ đề ra, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Thu thập số liệu: Khảo sát những những bài ca dao nói về bổn phận xây dựng gia đình của người Việt Nam, trong đó chú trọng đến vai trò của mỗi

Trang 6

con người trưởng thành đối với gia đình (xét trong trong quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái)

- Phân tích, xử lí số liệu: Xử lý số liệu thu được theo cấu trúc phổ biến và trường nghĩa đặc trưng nhất

- Tổng hợp, khái quát hóa kết quả miêu tả thành quan niệm

5 Đóng góp mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên tập trung tìm hiểu ý thức của những con người trưởng thành về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, về bổn phận xây dựng gia đình Việt (được biểu đạt qua những câu ca dao viết về quan hệ gia đình, tiêu biểu là quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con cái)

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Tài liệu tham khảo

Phần Nội dung gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài

- Chương 2: Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình biểu đạt qua cấu trúc nghĩa biểu hiện

- Chương 3: Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình biểu đạt qua trường từ vựng - ngữ nghĩa

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ca dao và ca dao về quan hệ gia đình

1.1.1 Ca dao Việt Nam

Ca dao, theo “Từ điển tiếng Việt”, là loại: “1 Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định 2 Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền” [40, 96]

Cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, ca dao là những sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt cộng đồng Là sản phẩm của tập thể, ca dao là tiếng nói của

cả cộng đồng, là “cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng” Đến với ca dao, người đọc hiểu được tình cảm của nhân dân lao động được thể hiện và lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của ca dao Việt Nam

Ca dao nói chung, ca dao Việt Nam nói riêng có những đặc trưng của nó

về hệ đề tài cũng như chức năng phản ánh

1.1.2.1 Hệ đề tài của ca dao

Là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của sáng tác tập thể, ca dao được ra đời ngay trong những sinh hoạt cộng đồng và đến lượt nó,

nó trở lại phục vụ trực tiếp cho sinh hoạt cộng đồng Với tư cách là những lời thơ trữ tình dân gian, ca dao chú trọng diễn tả đời sống tâm hồn, chú trọng thể hiện những tâm tư, tình cảm phong phú của người bình dân trong những hoàn cảnh sống khác nhau

Đề tài của ca dao rất phong phú nhưng có thể quy về hai chủ đề lớn: than thân và yêu thương tình nghĩa Ca dao trước hết là tiếng nói bộc lộ thái độ của

Trang 8

con người về cuộc sống Đó có thể là tiếng than của những người bình dân lam lũ, đói nghèo, tiếng than của những người con phải chịu cảnh hẩm hiu: cảnh mồ côi, cảnh cha ghẻ, mẹ ruột…và ngậm ngùi, chua xót hơn cả là tiếng than của người phụ nữ bị lệ thuộc trong xã hội phong kiến xưa Nhưng dù có than thở đi chăng nữa thì cảm xúc chủ đạo trong ca dao vẫn là tình yêu thương Ca dao đề cập đến muôn vàn cung bậc, sắc thái khác nhau trong tình cảm con người: tình yêu gia đình, tình bạn bè, tình làng xóm, quê hương, đất nước…Có thể nói có một nội dung lớn, bao quát toàn bộ đề tài của ca dao là quan hệ giữa con người với con người, là niềm khao khát sống đậm tình, nặng nghĩa Nội dung đó trước hết được thể hiện trong quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ về quan hệ giữa những thành viên trong gia đình.

1.1.2.2 Chức năng của ca dao

Là những lời thơ trữ tình, chức năng thẩm mĩ của ca dao là chức năng diễn

tả đời sống tâm hồn của nhân dân lao động Các tác phẩm ca dao ra đời xuất phát từ nhu cầu tỏ bày, gửi gắm tâm tư, tình cảm của tác giả dân gian Trong

ca dao bao giờ cũng xuất hiện một nhân vật trữ tình (cũng chính là chủ thể trữ tình - tác giả) đang giãi bày, thổ lộ tâm tình Trong ca dao, có những “kiểu nhân vật trữ tình” nhất định: các chàng trai, cô gái trong quan hệ tình yêu lứa đôi; những người vợ, người mẹ, người chồng, người cha… trong quan hệ gia đình….Dù đề cập đến ai, trong cảnh ngộ nào thì điều mà ca dao diễn tả vẫn chính là tâm tư, tình cảm của chủ thể - nhân vật trữ tình trong cảnh ngộ ấy Vậy nên, muốn hiểu được tâm hồn người bình dân lao động xưa, chúng ta không thể không tìm đến với ca dao như phương tiện phản ánh, lưu giữ nó.Cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, ca dao ra đời gắn liền với những sinh hoạt nhất định của cộng đồng Ca dao được chấp nhận như phương tiện biểu đạt quan niệm chung của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ về những vấn đề cụ thể và đã đồng hành cùng người bình dân trong hành trình

Trang 9

cuộc sống để không chỉ ghi lại những buồn vui của họ mà còn góp phần phục

vụ trực tiếp cho các sinh hoạt, lao động của họ

1.1.2.3 Vài nét về thi pháp ca dao

Nói đến thi pháp ca dao là nói đến cách thể hiện nghĩa, tức các phương

thức biểu ngôn ngữ, trong đó có cả các phương thức ẩn dụ được sử đụng để biểu đạt quan niệm, ý niệm, mong muốn của tác giả dân gian, trong đó có thể thơ, kết cấu ý, phương thức nêu vấn đề

a) Thể thơ

Thể thơ của ca dao là những thể thơ thuần dân tộc.Và về thực chất, từ trong ca dao, các thể thơ dân tộc đã được hình thành: lục bát, song thất lục bát….Thể thơ lục bát, thể thơ song thất lục bát và các biến thể của nó được sử dụng nhiều trong ca dao Bên cạnh đó, ca dao còn sử dụng một số thể thơ khác như: vãn ba (câu thơ ba tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng), thể hỗn hợp

Tuỳ vào nội dung, mục đích biểu đạt mà tác giả đã tìm đến, khai thác thế mạnh của mỗi thể thơ để có cách sử dụng phù hợp Nhờ vậy, với bấy nhiêu thể thơ và các biến thể của nó, ca dao đã hoàn thành xuất sắc chức năng thẩm

mĩ của mình: phô bày, diễn tả tình cảm

b) Lối trữ tình – trò chuyện và các kiểu cấu tứ gắn liền với ca dao

Một đặc điểm nổi trội của ca dao là nhân vật trữ tình trong ca dao luôn tự đặt mình vào vị thế của một người đang trò chuyện trực tiếp, đang giãi bày tình cảm, cảm xúc với một đối tượng cụ thể nào đó Vậy nên, đọc ca dao bao giờ ta cũng thấy dường như có một cuộc “đối thoại” đang diễn ra Đó có thể

là cuộc “đối thoại”, trò chuyện tâm tình giữa trai – gái, vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông bà – cháu…

Cùng với lối trữ tình – trò chuyện ấy là các kiểu cấu tứ (tìm ý, lập ý, sắp

xếp ý) gắn liền với nó Đó là kiểu cấu tứ “khuyên nhủ” (Con ơi muốn nên

Trang 10

thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha), hay kiểu cấu tứ theo hình

thức đối – đáp:

Bốn con ngồi bốn chân giường

Mẹ ơi mẹ hỡi mẹ thương con nào?

- Mẹ thương con út mẹ thay Thương thì thương vậy chẳng tày trưởng nam.

c) Cách phô diễn ý tình

Để thể hiện tâm tư, tình cảm của mình, ca dao thường sử dụng những cách phô diễn ý tình quen thuộc: phú (nói trực tiếp), tỉ (nói bằng so sánh), hứng (mượn cảnh để gợi tình) Hình thức nổi bật trong biểu đạt ý tình của ca dao là phương thức so sánh, ẩn dụ

So sánh, ẩn dụ vốn là cách nói quen thuộc, phổ biến trong nhân dân Các tác giả dân gian đã vận dụng cách nói quen thuộc ấy vào sáng tác thơ ca Chất liệu để tạo so sánh, ẩn dụ hết sức phong phú Tuy nhiên, là sản phẩm tinh thần của những người bình dân chân lấm tay bùn, hầu hết những hình ảnh được sử dụng là những hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi Tất cả những hình ảnh giản

dị, bình thường ấy đã đi vào ca dao một cách tự nhiên và tạo nên những hiệu quả bất ngờ Nhờ so sánh, ẩn dụ ý tình được diễn đạt trở nên ý nhị, sâu sắc Qua so sánh, ẩn dụ, quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ về các vấn

đề cụ thể được bộc lộ

Có thể nói, nhờ so sánh, ẩn dụ, ca dao đã tạo nên được những hình ảnh đẹp, không chỉ có giá trị nhận thức mà còn giàu giá trị thẩm mĩ Các cách phô diễn ý tình quen thuộc: phú, tỉ, hứng đã thực sự góp phần quan trọng trong việc tạo nên sức sống lâu bền của ca dao Việt Nam

d) Ngôn ngữ của ca dao

Cũng như các thể loại khác của văn học dân gian, ca dao là những sáng tác tập thể, truyền miệng của người bình dân lao động Là sản phẩm của người

Trang 11

bình dân, lại được sáng tác và lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, ngôn ngữ của ca dao là thứ ngôn ngữ đời thường, bình dị, kết tinh lời ăn, tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân Đó là thứ ngôn từ được sử dụng để

phản ánh thế giới xung quanh họ như quả cau, bờ ao, xáo măng… Chẳng hạn

như bài ca dao:

Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Lấy anh từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con

Ra đường người ngỡ còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

Lời ca dao ấy phản ánh cái tâm tình của vợ với chồng Ngôn ngữ được sử dụng trong ca dao cũng chất phác, mộc mạc như chính cuộc đời của những người đã sáng tạo ra nó vậy Chân chất, mộc mạc nhưng ngôn ngữ ca dao lại

có khả năng biểu đạt phong phú:

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Mỗi một từ trong bài ca dao đều hết sức giản dị, không có gì xa lạ đối với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân Thế nhưng, bài ca dao vẫn rất giàu sức gợi Hình ảnh con cò quen thuộc đã trở thành một biểu tượng đẹp: biểu tượng cho hình ảnh người nông dân lao động dù hoàn cảnh khó khăn, thử thách vẫn luôn ngời sáng vẻ đẹp của phẩm chất trong sáng, của lẽ sống: chết vinh còn hơn sống nhục

Trang 12

Ca dao là một thể thơ trữ tình dân gian nên ngôn ngữ trong ca dao cũng mang những đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình: giàu hình ảnh, giàu giá trị biểu cảm Điều quan trọng mà ca dao cần biểu đạt không phải là cảnh, sự được đề cập tới mà là cái tình được biểu đạt trong đó Ngôn ngữ của ca dao không chỉ có khả năng gợi tả bức tranh thiên nhiên, đời sống mà còn có khả năng diễn tả sinh động, sâu sắc tình cảm, tâm trạng của chủ thể trữ tình

1.1.3 Ca dao về quan hệ gia đình

Ca dao về gia đình chiếm một tỷ lệ rất lớn trong ca dao Việt Nam Trong

đó phần lớn thể hiện quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ về bổn phận xây dựng gia đình của con người trưởng thành trong xã hội: Đó là bổn phận lấy vợ, lấy chồng, bổn phận của con cái đối với cha mẹ và ngược lại

1.1.3.1 Gia đình và quan hệ gia đình

“Gia đình là tập hợp những người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ, có chồng, cha mẹ và con cái” [40, 381]

Theo truyền thống, gia đình Việt Nam có mấy đặc điểm:

+ Gia đình Việt Nam là một tổ chức bao gồm những người sống với nhau dựa trên cơ sở huyết thống và tình nghĩa

+ Tổ chức gia đình có mục đích thiêng liêng là xây dựng tổ ấm cả về tinh thần lẫn vật chất Gia đình là đơn vị cơ sở, là tế bào của xã hội Gia đình có yên ấm, hạnh phúc thì xã hội mới ổn định, phát triển

+ Tổ chức gia đình có nhiều chức năng: duy trì nòi giống, chức năng giáo dục, góp phần vào sự phát triển của xã hội Tổ chức gia đình Việt Nam còn có nhiệm vụ sản sinh và giữ gìn văn hoá dân tộc Gia đình Việt Nam luôn gắn với làng với nước Đối với sinh hoạt văn hoá của làng và đối với vận mệnh của nước, gia đình Việt Nam có một vai trò hết sức quan trọng

Trang 13

Quan hệ gia đình gồm có quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái, ông bà đối với cháu chắt và ngược lại, quan hệ anh em, quan hệ giữa con dâu với gia đình chồng, giữa rể với gia đình vợ… Trong phạm vi của một

luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha

mẹ đối với con cái và ngược lại

1.1.3.2 Ca dao về quan hệ gia đình

Gia đình là một trong những mảng đề tài quan trọng, thường xuyên, là nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác dân gian đặc biệt là trong thể loại ca dao Tìm hiểu 12.487 bài ca dao trong “Kho tàng ca dao người Việt”, chúng tôi thấy có 1.130 bài ca dao về quan hệ gia đình Trong số những bài ca dao nói về quan hệ gia đình chúng tôi chỉ chọn những bài có nội dung phản ánh

mối quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái và ngược lại

Mối quan hệ đó thể hiện qua vai trò, trách nhiệm, bổn phận của thành viên này đối với thành viên kia

Với tính chất là những lời thơ trữ tình dân gian, ca dao hướng vào việc thể hiện các quan hệ tình cảm trong gia đình Đó là tình cảm vợ chồng, tình cảm cha con, mẹ con, tình cảm anh chị em…Trong đó, tình cảm vợ chồng và tình cảm của con cái đối với cha mẹ (đặc biệt là tình mẫu tử) được tập trung chú ý

và được biểu đạt đa dạng nhất trong ca dao về gia đình

Trong thể loại ca dao, ca dao về gia đình chiếm một khối lượng khá lớn và cũng là những câu ca hay nhất, xúc động nhất, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bao thế hệ độc giả yêu quý những giá trị tinh thần của dân tộc

1.2 Từ và trường từ vựng

1.2.1 Khái niệm từ trong tiếng Việt

Trang 14

Từ là đơn vị ngôn ngữ được sử dụng để định danh sự vật và hiện tượng

Hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm từ và ngữ Trong đó, từ là đơn

vị cơ bản còn các ngữ được cấu tạo nên bởi từ

Từ tiếng Việt là một hiện tượng phức tạp Vì vậy, đã có nhiều cách đánh giá, nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau về từ Tuy nhiên có thể nói định nghĩa về từ của GS Đỗ Thị Kim Liên là định nghĩa từ được nhiều người chấp nhận: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [32, 18] Từ là một trong những phương tiện thể hiện nghĩa, nói cách khác, biểu đạt ý niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ

1.2.2 Nghĩa của từ, ý niệm từ vựng

Nghĩa của từ là kết quả phản ánhh hiện thực nhưng là sự phản ánh đặc biệt qua ý thức của con người với tư cách là đại diện của một cộng đồng văn hoá – ngôn ngữ nhất định Giáo sư Lê Quang Thiêm cho rằng:

Nghĩa là một thực thể tinh thần tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy cũng như mọi chức năng cụ thể, đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn Nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình thức tồn tại của tính iệu phải được xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu, đặc biệt là ở dạng trừu tượng của các hình thức thể hiện tín hiệu Nghĩa của một thực thể tinh thần, tức là một hình thức do con người và

bở con người cấu tạo, sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa

[48, 19]

Trang 15

Nghĩa của từ trong ngôn ngữ học nhận thức được coi là ý niệm từ vựng hay sự thể hiện nhận thức (cognitive representation) và là một thực thể tinh thần (mental entity) Ray Jackendoff (1989) quan niệm rằng ý niệm là sự thể hiện tinh thần và sự thể hiện tinh thần này có thể là nghĩa của một biểu thức ngôn ngữ Như vậy, các đơn vị từ vựng bao giờ cũng biểu đạt các ý niệm Việc sử dụng kí hiệu ngôn ngữ để biểu đạt ý niệm bao giờ cũng liên quan đến nhận thức của con người về thế giới khách quan

1.2.3 Trường từ vựng ngữ nghĩa

Trường từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp những từ đồng nhất với nhau ở một điểm nào đó về nghĩa Trong tiếng Việt, có thể theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu Ông đã phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng ngữ nghĩa để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa Theo quan điểm của ông, trường từ vựng ngữ nghĩa là “một tiểu hệ thống ngữ nghĩa”, là “tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [5, 171] Theo đó, ông chia ra bốn loại trường nghĩa: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng

1.3 Câu - đơn vị nghiên cứu nghĩa trong ca dao

Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ cái đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp Câu đơn vốn được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề, câu ghép thì được làm thành

từ hơn một mệnh đề Nhưng “mệnh đề” là thuật ngữ của lôgic Hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng tách “mệnh đề của ngôn ngữ” ra khỏi “mệnh đề của lôgic” bằng cách dùng tên gọi “cú” như là một tên gọi của mệnh đề ngôn ngữ [dẫn theo 1, tr 15]

Trang 16

Hiện nay, theo cách hiểu chung nhất, câu (sentence) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ Còn cú (clause) được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc) “Câu hay cú đều có thể định nghĩa gồm ba yếu tố như sau: câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong

tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập rung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) Định nghĩa này không tính đến đặc thù của ngôn ngữ cụ thể, không gắn với dạng nói hay dạng viết của ngôn ngữ và cũng chưa tính đến các chức năng khác, ngoài chức năng nghĩa biểu hiện” [1, 17]

Trong Luận văn này, nghĩa phản ánh, nghĩa biểu hiện của “câu” được chúng tôi sử dụng đồng nhất với nghĩa biểu hiện của “cú”

1.3.1 Câu và nghĩa biểu hiện của câu

Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Benveniste, 1961) [dẫn theo 15, tr 27] Nó vừa là đơn vị nghiên cứu cách tổ chức câu, vừa là đơn vị nghiên cứu cách tổ chức ý Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất

Về phương diện cấu trúc, câu là cái phạm vi lớn nhất của những mối quan

hệ ngữ pháp chính danh “Tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ

có trong phạm vi câu Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có nhiều mối quan hệ về đề tài, về ý tứ nhưng không thể có mối quan hệ ngữ pháp, nhưng nó không thể làm thành tố ngữ pháp trong một đơn vị nào lớn hơn’’(Bloomfield 1933 : 170 ; Lyons 1968 : 172s, 176), [dẫn theo 15, tr 27] Từ ý kiến đó, chúng ta nhận thấy : trong hệ thống tôn ty của các đơn vị ngôn từ làm thành một ngôn bản (văn bản), câu là đơn vị trung tâm, đơn vị bản lề

Trang 17

Về phương diện chức năng, câu là ‘‘sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề (proposition) Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định gồm có một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó” (Sapir 1921 : 35) [dẫn theo 15, tr 28].

Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu (trên 300 định nghĩa) Theo quan niệm của giáo sư Đỗ Thị Kim Liên : “Câu là đơn vị dùng

từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ nhằm thực hiện chức năng thông báo hay bộc lộ thái độ, cảm xúc Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết

thúc và được gắn với ngữ cảnh nhất định” (Bài giảng chuyên đề Ngữ pháp đại

cương cho Cao học khoá 16, Trường Đại học Vinh).

Phần lớn các tác giả phương Tây đều cho rằng nội dung của bình diện nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những cái mảng của thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) Đây thật ra chỉ là một mặt của nghĩa - mặt cảm thụ và mặt tư duy – nhưng bao giờ cũng được phản ánh trong ngôn ngữ xuyên qua hai mặt này.Nghĩa biểu hiện phản ánh cái sự tình của thế giới được nói đến trong câu Tất nhiên câu nói (câu văn) không sao phỏng y nguyên cái sự tình đó Khi đã được sắp xếp lại theo các tri giác của người nói, được tổ chức lại thành một cấu trúc lôgíc ngôn từ, được tuyến tính hoá lại theo những quy tắc ngữ pháp của câu, được tình thái hoá ở nhiều cấp theo thái độ của người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình cho người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói

1.3.2 Các bình diện nghĩa trong câu

Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ bao hàm ba bình diện: bình diện nghĩa học, bình diện cú pháp và bình diện dụng pháp

Trang 18

Bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống giao tiếp cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể.

Bình diện cú pháp là bình diện tổ chức câu theo các quy tắc thuần tuý, là

“bình diện của những khái niệm được xác định bằng các tiêu chuẩn hình thức thuần tuý” [15, 21]

Bình diện nghĩa học là bình diện phản ánh thế giới khả hữu thông qua nhận thức của con người “Bình diện nghĩa học theo quan niệm này là bình diện của “sự tình” được biểu thị và những “vai trò” tham gia cái sự tình ấy Ở đây, ta sẽ có những tham tố (participants) của sự tình, gồm có những diễn tố (actants) và những chu tố (circumtants - “những kẻ đứng xung quanh”) Các diễn tố là những vai trò tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị

từ ( ) Các chu tố làm thành cái cảnh trí ở xung quanh các tham tố, nó không được giả định một các tất nhiên trong khung vị ngữ” [15, 21] Bản chất của phần nghĩa này là miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức của người nói, viết Nội dung này được gọi chung là kinh nghiệm

Kinh nghiệm của con người bao gồm kinh nghiệm “bên ngoài” (outer experience) và kinh nghiệm “bên trong” (inter experience) “Hình thức nguyên sơ của kinh nghiệm “bên ngoài” là kinh nghiệm về các hành động và

sự kiện: đó là những điều xảy ra, là con người hoặc những hành thể khác thực hiện hành động, hay tác động làm cho chúng xảy ra Kinh nghiệm “bên trong” khó phân loại hơn; nhưng một phần nó là một kiểu thể hiện lại kinh nghiệm bên ngoài, ghi lại nó, phản ứng lại nó và một phần, nó là ý thức riêng biệt về trạng thái tồn tại của con người” (Halliday, 1994) [dẫn theo 55, tr 15] Loại kinh nghiệm thứ ba được phản ánh trong ngữ pháp chức năng là mối liên hệ giữa mảng này và mảng kia của thế giới kinh nghiệm vừa nêu Đó là quá trình

Trang 19

phân loại (classifying) và đồng nhất (indentifying) hay quá trình quan hệ (relational)

1.3.3 Các loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa

Theo các tiêu chí khác nhau, nghĩa biểu hiện của câu được phân thành các loại khác nhau Với các tiêu chí động và tiêu chí chủ ý, tác giả cuốn “Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng” xác định bốn loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa: câu chỉ hành động, câu chỉ quá trình, câu chỉ trạng thái và câu chỉ quan

hệ

Nghĩa biểu hiện của câu chỉ quan hệ gồm nhiều loại khác nhau: Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể, quan hệ giữa một thực thể với một chu cảnh, quan hệ giữa hai sự tình, quan hệ giữa sự tình với chu cảnh

Trong câu chỉ quan hệ giữa một thực thể với một thực thể, có kiểu câu

chứa vị tố là từ chỉ quan hệ không dùng độc lập Theo tác giả cuốn Ngữ pháp

tiếng Việt: “các vị tố do những từ chỉ quan hệ không dùng độc lập đảm nhiệm

có thể gọi chung là vị tố - hư từ, phân biệt với trợ động từ là và hư từ không

làm vị tố Trong câu với chức năng vị tố, các hư từ này vẫn là động từ chính (main verb) của câu; xét về từ loại, chúng có tư cách của những động từ thứ

(minor verb) Các kiểu quan hệ do các vị tố hư từ diễn đạt khá phong phú và gắn với những hư từ cụ thể ” [1, 97 - 98] Trong số các kiểu quan hệ do các

vị tố hư từ diễn đạt đó, trong ca dao viết về quan hệ gia đình, vị tố hư từ

“như” có tần số xuất hiện khá lớn Vì vậy, ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một

số vấn đề liên quan đến câu chứa vị tố “như”

“Câu chứa vị tố hư từ như trong tiếng Việt dùng để nêu quan hệ so sánh

tương đương theo lối biểu trưng hoá (symbolizing), thường là so sánh có hình

ảnh Trong kiểu câu này, chủ ngữ chỉ cái được so sánh, tiếng như làm vị tố chỉ quan hệ, và bổ ngữ chỉ cái dùng để so sánh ( ) Câu chứa vị tố như được

dùng diễn đạt quan hệ cảnh huống, cụ thể là sự so sánh (comparison), và

Trang 20

thuộc kiểu nhỏ nêu thuộc tính, thường có tính chất biểu trưng hoá Yếu tố dùng so sánh hoạt động với tư cách tham thể về nghĩa biểu hiện, và với tư cách bổ ngữ về cấu trúc cú pháp” [1, 120]

1.4 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận

Ý niệm là đơn vị của tư duy, nhận thức của con người Ý niệm gắn với trải nghiệm của con người trong cuộc sống, gắn với trí nhớ và tưởng tượng

1.4.1 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

Để có được sự hình dung đầy đủ về ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi xin trình bày một số nguyên lí và quan điểm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận

dựa trên các công trình nghiên cứu: Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại

cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và ngôn ngữ ở người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc

khác) (Nguyễn Đức Tồn), Về khuynh hướng ngữ nghĩa học tri nhận (Lê Quang Thiêm), Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ (Nguyễn Hoà),

Ngôn ngữ học tri nhận là gì? (Trần Văn Cơ)….

a, Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị

Tri thức ngôn ngữ (tri thức về ý nghĩa và hình thức) về cơ bản là cấu trúc ý niệm và biểu hiện ý niệm Hơn nữa, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và âm

vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm, bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói viết và nghe đọc - vốn là hai quá trình của giao tiếp ngôn ngữ đều liên quan đến trí não

Các quá trình tri nhận, vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ, về nguyên lí là giống như các khả năng tri nhận khác Điều này có nghĩa là sự tổ chức và trừu xuất tri thức ngôn ngữ không khác gì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não và những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và viết cũng không khác gì những khả năng tri nhận mà chúg ta ứng dụng

Trang 21

cho những nhiệm vụ tri nhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động Do đó ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người và theo quan điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực và sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập được cấu trúc hoá.

b, Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá

Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào sự tương ứng đơn giản về điều kiện chân nguỵ đối với thế giới, rằng một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hoá kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hoá các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta có được Cho nên cần nghiên cứu tất vả các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức và đặc biệt là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hoá ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác

c, Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ việc sử dụng ngôn ngữ

Ngôn ngữ học tri nhận là một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng

và người sử dụng (ngôn ngữ) bao quát các bình diện chức năng,dụng học, tương tác và xã hội – văn hoá của ngôn ngữ trong sử dụng Các nhà ngôn ngữ học cho rằng phạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và

âm vị học đều được xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệt trong khi sử dụng chúng

Để hiểu thêm về khuynh hướng ngôn ngữ học này, có thể nêu thêm một số quan điểm sau:

+ Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát

và toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Theo cách tiếp cận này ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người

Trang 22

+ Nếu trước đây, ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ mở

ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì bây giờ ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt đến những bí mật của các quá trình tư duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, các phạm trù…) cần phải được nghiên cứu trong các mối tương liên của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận Đồng thời cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ý thức trong cách hiểu ý thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích luỹ được trong suốt đời mình và nó phản ánh những ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng và những hình ảnh dưới dạng các ý niệm hay các ý của một hệ thống ý niệm thống nhất Ý thức ngôn ngữ như là tổng thể của các

ý (được gắn kết với hình thức ngôn ngữ) chỉ là một bộ phận của ý thức nói chung, giống như tư duy chỉ là một bộ phận bao hàm các quá trình tinh thần được thực hiện trong ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức, người ta phải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này; nói cách khác, người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan – là những lĩnh vực được nghiên cứu kĩ lưỡng nhất và thành công nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ nghĩa học tri nhận nói riêng.+ Ngữ nghĩa không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiện khách quan có giá trị chân nguỵ, nó không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại trong ý thức và đồng thời có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước định trong đó Sự hình thành các cấu trúc ý niệm này có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người

Trang 23

+ Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ

mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong qúa trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thông niềm tin của con người Vì thế trong nghiên cứu ngữ nghĩa không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữ nghĩa “đời thường” với tri thức bách khoa bởi ngữ nghĩa là một bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể chứ không phải là một “module” tự trị độc lập

+ Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý nghĩa nên những sự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ nghĩa Cú pháp không tự trị hay độc lập như ngữ pháp tao sinh quan niệm mà chịu sự tác động của các nhân tố ngữ nghĩa, ngữ dụng, tri nhận…; cấu trúc cú pháp

bề mặt có quan hệ đối ứng trực tiếp với cấu trúc ngữ nghĩa bề sâu Kết cấu ngữ pháp là sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức, có vị trí tri nhận đích thực chứ không phải là hiện tượng phụ được tạo ra trong quá trình thực hiện các quy tắc tạo sinh hay quy tắc phổ quát Ngữ pháp do đó nên không được coi là một hệ thống quy tắc mà là một bảng danh mục các biểu hiện có cấu trúc nội tại được tạo thành bởi sự kết hợp ý nghĩa và hình thức

1.4.2 Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận

Theo Ju.X.Xtepanov: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức của con người, dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người bình thường, không phải là người “sáng tạo ra những giá trị văn hoá”; và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá” [dẫn theo 10, tr 61]

Ý niệm là sự kiện của lời nói, được hiện thực hoá qua lời nói Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành nên ý niệm

Trang 24

Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc.

Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Khác với khái niệm, ý niệm không chỉ mang đặc trưng miêu tả mà còn có cả đặc trưng tình cảm - ý chí và đặc trưng hình ảnh (hình tượng) Ý niệm không chỉ suy nghĩ mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo

ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới Ý niệm chứa đựng

ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc

Nói rộng ra, ý niệm là dơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Các

ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới

Ý niệm được sử dụng trong Luận văn chúng tôi đồng nhất với nghĩa quan niệm

1.4.3 Ẩn dụ ý niệm

Ẩn dụ là quá trình tri nhận phổ biến nhất, nổi trội nhất nhằm liên kết khái niệm với ngôn ngữ, nó không tồn tại trong bản thân ngôn ngữ mà trong chính tâm trí chúng ta Theo quan niệm của Ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ không chỉ

Trang 25

là một phương thức phát triển nghĩa của từ mà nó còn là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng

Theo tác giả của công trình Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ):

“Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm - cognitive/conceptual metaphor) - đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau Ẩn dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hoá được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới ( ), ẩn dụ đựơc xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [9, 293-294]

Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “Ẩn dụ toả khắp đời sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư tưởng, hành động Xét về cách chúng ta suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường của chúng

ta về bản chất mang tính ẩn dụ” [dẫn theo 22, tr 12]

Như vậy, từ góc độ tri nhận luận, ẩn dụ ý niệm là một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “đồ hoạ” (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn (source) sang một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích (target) (Lakoff và Johnson, 1980) [dẫn theo 38, tr.223].Lakoff, Johnson chia ẩn dụ ý niệm thành nhiều loại khác nhau: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc “Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ hay một biểu thức này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu

Trang 26

thức khác) Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hoá (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng” [9, 294 - 295]

Ẩn dụ cấu trúc xuất hiện khá nhiều trong ca dao người Việt viết về quan

hệ gia đình (đặc biệt là qua loại câu phản ánh quan hệ A như B, A bằng B) Kiểu ẩn dụ này góp phần phản ánh một cách sâu sắc quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình Chương 2 của Luận văn sẽ khảo sát quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình biểu đạt qua một số cấu trúc nghĩa biểu hiện tiêu biểu

Tiểu kết

Ca dao người Việt là kho tàng tinh thần vô giá, là sản phẩm nghệ thuật ngôn từ cổ xưa của dân tộc Việt Nó góp phần lưu giữ kinh nghiệm về các các lĩnh vực khác nhau của cộng đồng dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác Chính vì vậy, ca dao phản ánh rõ quan niệm của con người về thế giới khách quan, trong đó có quan niệm về gia đình

Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp, là công cụ của tư duy và nhận thức Nó vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người Sản phẩm này phản ánh quan niệm của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ về từng vấn đề trong từng lĩnh vực cụ thể

Quan niệm của cộng đồng sử dung ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ - văn hoá – tư duy Quan niệm chính là kết quả của quá trình trải nghiệm và nhận thức và cũng là cách nhìn thế giới của con người Quan niệm được hiện thực hoá qua ngôn ngữ thông qua các phương tiện khác nhau: từ, ngữ, câu, văn bản, thể hiện qua các phương thức so sánh, ẩn dụ Vì vậy, muốn hiểu quan niệm của con người ở một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá nào đó, không thể không xuất phát từ việc tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ

Trang 27

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI VIỆT VỀ QUAN HỆ GIA ĐÌNH

BIỂU ĐẠT QUA CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN

Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện nghĩa biểu hiện (hay phản ánh) của câu được biểu đạt bằng cả câu tồn tại

(Quân thần hai chữ trên đầu/ Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son), câu hành

động (Đói lòng ăn trái ổi non/ Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa) và cả câu tình hình (Công cha trượng lắm ai ơi/Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu

mang) Tuy nhiên câu tình hình (hay câu chỉ sự tình tĩnh), trong đó loại câu

chỉ quan hệ giữa một thực thể với với một thực thể là loại câu phổ biến nhất

2.1 Các loại nghĩa cơ bản về quan hệ gia đình trong ca dao người Việt thể hiện qua câu chỉ quan hệ

Ở mảng ca dao viết về quan hệ gia đình, đặc biệt là những câu ca dao viết

về quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con cái, kiểu câu chỉ quan hệ chiếm một số lượng lớn và chứa đựng những vấn đề hết sức thú vị cả về phương diện lô-gích và về phương diện ngôn ngữ học

Khảo sát các câu ca dao về quan hệ gia đình (quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái), chúng tôi nhận thấy mảng ca dao này sử dụng cả bốn kiểu quan hệ trong kiểu câu chỉ quan hệ (đã trình bày ở Chương 1) Trong bốn mối quan hệ đó, quan hệ giữa một thực thể với một thực thể là kiểu quan hệ xuất hiện với tần số lớn và nó cũng phản ánh được những đặc trưng cơ bản

Trang 28

nhất của ý niệm về quan hệ gia đình của người Việt Vì khuôn khổ của mình, Luận văn chỉ tập trung khảo sát, nghiên cứu mối quan hệ này.

Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể gồm có hai loại: quan hệ so sánh và quan hệ đồng nhất

2.1.1 Quan hệ so sánh

Quan hệ so sánh bao gồm nhiều loại khác nhau : (1) A như B, (2) A hơn B, (3) A kém B, (4) A bằng B, (5) A khác B, (6) A/B…Đây là quan hệ được đề cập khá nhiều trong ca dao về gia đình nói riêng, ca dao nói chung Đó cũng

là một trong những cách diễn đạt quen thuộc của ca dao

(1) Trong ca dao về gia đình, kiểu quan hệ so sánh A như B được sử dụng nhiều nhất, đa dạng và biến hoá nhất với 141 lần sử dụng chiểm tỉ lệ 50.36%:

- Anh em như thể tay chân

Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.

- Ơn cha như biển, nghĩa mẹ như trời Thương mừng ghét sợ, không dám trao lời thở than.

(2) Kiểu quan hệ A hơn B chỉ xuất hiện 8 lần chiếm tỉ lệ 2.86% nhưng cũng có khả năng khơi gợi ở người đọc những liên tưởng, rung cảm sâu xa:

- Xưa nay những bạn má hồng Thà hầu quân tử hơn chồng tiểu nhân.

- Thà ăn bắp hột chà vôi Còn hơn giàu có bồ côi một mình.

(3) Kiểu quan hệ A kém B xuất hiện 11 lần (chiếm tỉ lệ 3.93%) Kiểu quan hệ so sánh này được thể hiện khá phong phú qua các từ so sánh khác nhau: không bằng, sao bằng, không tày, chẳng tày…

Hai mươi hăm mốt chẳng chầy Của cao bằng núi không tày sớm con

Trang 29

Của cao bằng núi bằng non Không bằng sớm vợ, sớm con lúc này.

(4) Kiểu quan hệ A khác B xuất hiện 5 lần chiếm tỉ lệ 1.79 % Kiểu quan

hệ này được biểu thị qua các từ so sánh: khác gì, khác nào, khác chi:

Có chồng mà chẳng có con Khác gì hoa nở trên non một mình.

(5) Cấu trúc chỉ quan hệ A bằng B xuất hiện 36 lần chiếm tỉ lệ 12.86% Kiểu quan hệ này được biểu đạt chủ yếu qua các từ so sánh: bằng, cũng bằng, tày…:

Cầu mô cao bằng cầu danh vọng Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con

Ví dầu nước chảy đá mòn

Gươm vàng rớt xuống hồ Tây Công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu.

2.1.2 Quan hệ đồng nhất

Quan hệ đồng nhất giữa một thực thể với một thực thể (có những đặc trưng nào đó giống như nhau giữa thực thể so sánh và thực thể được so sánh) bao gồm các loại: (1) A là B, (2) A đồng nhất với B, (3) A không phải là B.(1) Quan hệ A là B là kiểu quan hệ giữa một thực thể với một thực thể dựa trên sự liên tưởng giống nhau giữa cái so sánh và cái được so sánh Trong

ca dao về quan hệ gia đình (quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con

Trang 30

cái), kiểu quan hệ này xuất hiện 27 lần chiếm tỉ lệ 9.64% Kiểu quan hệ so

sánh này sử dụng từ là để biểu đạt quan hệ là chủ yếu :

- Chữ rằng quân tử tạo đoan

Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm.

- Mẹ cha là biển là trời Nói sao hay vậy đâu dám cãi lời mẹ cha.

(2) Quan hệ A không phải B được sử dụng 3 lần chiếm tỉ lệ 1.07% Kiểu

quan hệ này sử dụng các từ so sánh chẳng như, chả như :

Thế gian một vợ một chồng Chẳng như vua bếp hai ông một bà.

(3) Quan hệ A đồng nhất với B chỉ xuất hiện 2 lần chiếm tỉ lệ 0.71% trong

ca dao về quan hệ vợ chồng và quan hệ cha mẹ - con cái Kiểu quan hệ này

được thể hiện qua cặp từ so sánh bao nhiêu - bấy nhiêu :

Qua đồng ghé nón thăm đồng Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu.

Qua việc khảo sát và phân loại các kiểu quan hệ giữa hai thực thể, chúng tôi nhận thấy tác giả dân gian đã sử dụng hai mối quan hệ cơ bản : quan hệ so sánh và quan hệ đồng nhất Khi sử dụng các kiểu quan hệ ấy, các tác giả dân gian đã khéo léo lựa chọn nhiều từ so sánh khác nhau để thể hiện mối quan hệ giữa hai thực thể Nhờ vậy các tác giả dân gian đã tạo nên những câu ca dao bình dị mà giàu sức gợi, mộc mạc mà vẫn giàu giá trị biểu cảm, dễ hiểu mà vẫn ý nhị, sâu lắng

Trong 612 bài ca dao về quan hệ vợ chồng và 374 bài ca dao về quan hệ giữa cha mẹ và con cái, có 230 bài ca dao sử dụng phương thức so sánh và

280 lần tác giả dân gian sử dụng so sánh ý niệm Kết quả thống kê, phân loại

số liệu được trình bày ở Bảng I

TT Kiểu so sánh Tần số Tỉ lệ (%)

Trang 31

Bảng I: Các kiểu quan hệ so sánh trong ca dao về quan hệ gia đình

Qua bảng thống kê trên ta thấy ca dao về quan hệ gia đình (quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái) sử dụng so sánh với tần số cao, kiểu loại phong phú Trong đó có ba mối quan hệ so sánh thường gặp: A như B, A hơn B, A kém B Mỗi một dạng quan hệ ấy lại có những biến thể riêng với cách sử dụng các từ so sánh khác nhau Tuy nhiên, dạng so sánh A như B và

A bằng B là hai dạng so sánh có tần số xuất hiện lớn, được sử dụng biến hoá linh hoạt và đạt được nhiều giá trị biểu đạt nhất trong các dạng so sánh Vì lí

do đó, trong đề tài này, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu các biểu hiện và

ý nghĩa biểu đạt của dạng so sánh A như B và A bằng B.

2.2 Quan hệ so sánh A như B

Quan hệ A như B là loại cấu trúc được sử dụng với tần số cao trong ca dao

về quan hệ gia đình

2.2.1 Kiểu cấu trúc A như B trong ca dao về quan hệ gia đình

Kiểu so sánh này được xác lập trên cơ sở có sự tương đồng nào đó về các nét nghĩa hiện hữu chung trong A và B, qua đó làm nổi bật A, giúp người đọc, người nghe có được sự tri nhận cụ thể, sinh động hơn về các đặc trưng của thực thể A Kiểu quan hệ này được miêu tả theo Bảng II

Cái so sánh A Cơ sở so sánh Từ so Cái được so sánh

Trang 32

(Ý niệm đích) sánh (Ý niệm nguồn)

- có/ không có vợ/

lấy được vợ hiền; có chồng/ lấy được chồng khôn/ lấy chồng chung/ mất chồng

3 Thực thể có ý thức,

có linh hồn (25 lần, 17.73%)

4 Thực thể có sức sản sinh (1 lần, 0.71%)

Bảng II: Các kiểu so sánh ý niệm đích và ý niệm nguồn ở dạng so sánh

A như B

Mô hình so sánh điển hình của các dạng so sánh bao gồm 4 yếu tố, trong

đó yếu tố 1 là cái so sánh (cái cần làm nổi bật, cần thể hiện), yếu tố 2 là cơ sở

để so sánh (phương diện, khía cạnh cần làm rõ), yếu tố 3 là yếu tố cơ bản tạo nghĩa so sánh hơn, bằng, kém

Trang 33

nhà có nócnòng nọc đứt đuôi

Tuy nhiên, trong ca dao về quan hệ gia đình, các kiểu câu so sánh A như B không phải bao giờ cũng đảm bảo cả 4 yếu tố nêu trên Từ so sánh trong các câu ca dao này chủ yếu là quan hệ từ “như” Ở vị trí của từ này còn có các từ

khác được sử dụng như: tựa, tợ

Sử dụng kiểu quan hệ so sánh này, tác giả dân gian nhằm mục đích nhấn mạnh, biểu đạt A Trong các bài ca dao có sử dụng so sánh, giá trị của A không phải là giá trị mà tự bản thân nó có được mà nhờ đặt trong quan hệ với giá trị của B đã biết, đã được chấp nhận từ trước như một tiền giả định bắt buộc Chính nhờ những giá trị đã biết của yếu tố B mà người đọc có thể hiểu, cảm nhận được về A Khi cái được so sánh B xuất hiện đằng sau từ so sánh

như, tựa , nó có giá trị cụ thể hoá cái so sánh, giúp người đọc tri nhận cụ thể

hơn về A Đó chính là cách nói ví von, giàu hình ảnh, mang tính biểu cảm cao, là cách nói quen thuộc trong ca dao người Việt

So sánh ý niệm trong ca dao về gia đình được triển khai một cách đa dạng Thông thường, sự so sánh được xác lập trên cơ sở mối quan hệ giữa một vật, hình ảnh, đối tượng cần làm rõ (cái so sánh) với một vật, hình ảnh, đối tượng được đưa ra để làm nổi bật các đặc trưng của cái so sánh:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng.

Cơm nguội, trong tiềm thức của người Việt Nam, trong một thời điểm nào

đó so với cơm, là thức ăn dư thừa, nhưng nó lại có giá trị khi người ta cần, tức

đói lòng Và hiện thực, đói lòng là hiện tượng thường nhật đối với con người

Trang 34

Cũng có khi sự so sánh được mở rộng hơn: so sánh một hình ảnh, một đối

tượng với hai hình ảnh, hai đối tượng:

Con người có bố, có ông Như cây có cội, như sông có nguồn.

Có khi sự so sánh được tạo bởi quan hệ giữa một cái so sánh A với nhiều cái được so sánh B:

Có chồng như chạc vấn do Như khuy mắc nút, như đò thả neo.

Cấu trúc so sánh kép này tạo cho vế được so sánh có thêm những phẩm chất phong phú, làm cho hình ảnh về đối tượng trở nên đậm nét hơn Nhờ vậy, vế

so sánh trở nên sáng rõ, cụ thể hơn, góp phần giúp cho sự tri nhận của người đọc về cái cần so sánh trở nên dễ dàng

Cấu trúc so sánh A như B là một kiểu cấu trúc phổ biến, một hình thức biểu đạt quen thuộc trong ca dao Việt Nam

2.2.2 Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình biểu đạt qua cấu

trúc so sánh A như B

Trong tâm thức của người Việt, gia đình luôn có một vai trò quan trọng

Nó không chỉ có vai trò duy trì nòi giống, là điểm tựa cho tương lai của mỗi người mà còn là cơ sở của sự phát triển của xã hội Quan niệm đó của người Việt được thể hiện một cách sinh động trong ca dao qua nhiều phương thức biểu đạt khác nhau trong đó có phương thức so sánh A như B

2.2.2.1 Quan hệ gia đình xét từ bình diện cái so sánh

Xét từ bình diện cái so sánh, ta thấy sự xuất hiện của các đối tượng cần biểu đạt, cần làm rõ: cha, mẹ, con, vợ, chồng, tình chồng nghĩa vợ, công cha nghĩa mẹ như đã trình bày ở bảng II Có thể chia các yếu tố đóng vai trò là cái so sánh trong các câu ca dao về quan hệ gia đình theo hai nhóm: Nhóm

không có điều kiện bổ sung (tức không có phần định ngữ có/ không có; lấy

Trang 35

được vợ, lấy được chồng - nhóm này bao gồm các thực thể được nhắc đến ở

các mục 1,2,3 ở cột nêu cái so sánh trong bảng II); Nhóm có điều kiện bổ

sung (tức có phần định ngữ có/ không có; lấy được vợ, lấy được chồng đi kèm

cái so sánh - nhóm này bao gồm các yêu tố có ở mục 4, 5 ở cột nêu cái so sánh trong bảng II)

a, Cái so sánh không có điều kiện bổ sung

Cái so sánh không có điều kiện bổ sung xuất hiện trong kiểu câu biểu thị

sự so sánh ngang bằng A như B trong đó cái so sánh A được làm rõ nhờ cái được so sánh B mà không cần có điều kiện nào khác Nội dung của các câu ca

dao này hướng tới việc đánh giá về bản thân A

Yêú tố A trong các câu ca dao này có thể được biểu đạt qua các danh từ

dùng để gọi tên các thành viên trong gia đình như: con, cha, mẹ, vợ, chồng

hoặc các từ ngữ dùng để gọi tên đối tượng tương ứng với các thành viên đó

khi đặt trong văn cảnh như: thân em, thiếp, thân anh Yếu tố A được biểu đạt

qua các từ ngữ này xuất hiện 34 lần (trong tổng số 141 lần sử dụng kiểu cấu

trúc so sánh A như B) Trong số đó, mẹ, vợ và các từ ngữ mang nghĩa biểu đạt tương ứng có tần số xuất hiện lớn hơn: từ mẹ (mẹ già) được nhắc đến 13 lần

(trong đó có 10 lần xuất hiện độc lập, 3 lần được nhắc đến trong kết hợp từ

cha mẹ), từ vợ (và các từ ngữ khác có nghĩa biểu đạt tương ứng như: em, thân

em, thân thiếp) được nhắc đến 12 lần

Trong những câu ca dao có nhắc đến người vợ, từ vợ thường xuất hiện

trong những câu ca thể hiện sự đánh giá cao về họ:

Vợ anh như bát cơm xôi Anh còn chẳng chuộng nữa tôi cơm hàng

Vợ anh tay bạc tay vàng Anh còn chẳng chuộng nữa nàng tay không

Vợ anh như trúc như thông

Trang 36

Như hoa mới nở như hồng mới thêu Anh còn uốn éo trăm chiều Gan ai là sắt mà gieo mình vào.

Tuy nhiên, sự xuất hiện kiểu câu đó không nhiều Trong những câu ca dao viết về người vợ có sử dụng hình thức so sánh A như B, yếu tố A thường được biểu đạt qua các từ ngữ thể hiện thái độ nhún mình, hạ mình của người

vợ: em, thân em, thiếp, thân thiếp:

Trách chàng ăn ở chấp chênh

Em như thuyền thúng lênh đênh giữa dòng

May ra trời lặng nước trong Chẳng may bão táp cực lòng thiếp thay

Công thiếp vò võ đêm ngày

Mà chàng ăn ở thế này, chàng ôi!

Thiếp như hoa đã nở rồi Xin chàng che lấy mặt trời cho tươi.

Nhân vật trữ tình trong những câu ca dao này không ai khác mà chính là những người vợ Họ cất lên tiếng nói, giãi bày tâm sự mình trước những cảnh ngộ éo le

Người mẹ cũng được nhắc đến nhiều trong kiểu cấu trúc câu A như B Những câu ca dao có nhắc đến người mẹ hầu hết thể hiện sự đánh giá, quan niệm của con cái:

- Mẹ già như chuối chín cây Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi.

- Mẹ như ánh nắng mùa đông Soi không tận mặt tận lòng cho em.

Trong những câu ca dao trên, nhân vật trữ tình không phải là người mẹ mà

là những người con Họ nghĩ về mẹ, thể hiện sự đánh giá, bày tỏ tình cảm của

Trang 37

mình đối với mẹ Bởi lẽ, trong cuộc sống của con, người mẹ có một vai trò hết sức quan trọng.

Yêú tố A không có điều kiện bổ sung trong những câu ca dao có cấu trúc

A như B có khi được biểu đạt qua các từ ngữ thể hiện quan hệ, tình nghĩa

giữa các thành viên trong gia đình: đôi ta, tình chồng nghĩa vợ, công cha

nghĩa mẹ

Những từ ngữ được sử dụng để biểu đạt quan hệ hoà hợp giữa vợ và

chồng, tình nghĩa vợ chồng khá phong phú: đôi ta, anh với em, vợ chồng

với 19 lần xuất hiện Để diễn tả mối quan hệ hoà hợp và tình nghĩa giữa vợ và chồng trong cuộc sống gia đình, ca dao diễn tả:

- Chồng già vợ trẻ mới xinh

Vợ già chồng trẻ như hình chị em.

- Vợ chồng như đôi cu cu Chồng thì đi trước, vợ gật gù theo sau.

Trong ca dao về quan hệ gia đình, tác giả dân gian thường hay nhắc đến công cha nghĩa mẹ, ơn cha nghĩa mẹ (với 23 lần được sử dụng) Công cha, nghĩa mẹ có khi được nhắc đến một cách trực tiếp:

Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông

Cù lao chín chữ, ghi lòng con ơi!

Có khi công cha, nghĩa mẹ được diễn tả qua những cách biểu đạt khác: ơn

hoài thai, nghĩa dưỡng dục, cha mẹ nuôi con, cha sinh mẹ dưỡng ra con :

Ơn hoài thai như biển Nghĩa dưỡng dục, tợ sông

Em nguyền ở vậy phòng không

Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con.

Trang 38

Những câu ca trên thể hiện thái độ đánh giá của con cái đối với công ơn, nghĩa tình của cha mẹ Thế mới biết, người Việt luôn sống đậm tình nặng nghĩa Dẫu ở đâu, trong hoàn cảnh nào, những người làm con cũng không bao giờ nguôi quên nghĩ suy, trăn trở về công cha, nghĩa mẹ Đó cũng là đạo lí tốt đẹp ngàn đời của người dân đất Việt: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

Ngoài các cách biểu đạt trên, cái so sánh không có điều kiện bổ sung còn

được biểu đạt qua các từ ngữ khác: thương mẹ nhớ cha, những lời anh nói,

thuyền anh ra cửa, đắng cay,

b, Cái so sánh có điều kiện bổ sung

Cái so sánh có điều kiện bổ sung xuất hiện trong kiểu câu biểu thị quan hệ ngang bằng A như B nhưng trong những câu ca dao này, yếu tố A có giá trị tương đương với yếu tố B chỉ khi A có điều kiện đi kèm Cái so sánh trong những câu ca dao này được biểu đạt bằng các danh từ chỉ con người hoặc các

thành viên trong gia đình có hoặc không có thành viên đi kèm: con có/ không

có cha, mẹ; vợ chồng có/không có con; trai có/ không có vợ/ lấy được vợ; gái có/ không có chồng/ lấy được chồng Điều kiện bổ sung đi kèm các yếu tố đó

có vai trò quan trọng, quyết định giá trị của yếu tố mà nó bổ sung Nội dung

của các câu ca dao này hướng tới việc thể hiện sự đánh giá về vai trò, tầm

quan trọng của thành viên đi kèm (xuất hiện ở điều kiện bổ sung) đối với A.

Để thể hiện quan niệm của người Việt về vai trò của hôn nhân trong cuộc

sống của mỗi cá nhân, ca dao sử dụng cấu trúc: A có/ không có vợ (chồng), lấy

được vợ hiền(chồng khôn) như B Trong đó, A có thể được biểu đạt bằng trai, làm trai, gái ngoan, thân em :

- Trai không vợ như chợ không đình Mưa giông một trộ biết ghé mình vào đâu.

- Thân em làm tốt làm lành

Lấy chồng làm lẽ như giành thủng trôn.

Trang 39

Đặc biệt trong các câu ca dao sử dụng kiểu cấu trúc này, xuất hiện nhiều

câu ca dao khuyết thiếu yếu tố A (kiểu câu: có chồng, lấy chồng như B):

- Có chồng như chạc vấn do Như khuy mắc nút, như đò thả neo.

- Đêm nằm nghĩ lại mà coi Lấy chồng hay chữ như soi gương vàng.

Ở các câu ca trên, yếu tố A không xuất hiện nhưng có thể được hiểu là gái

Tần số xuất hiện của những câu ca này góp phần nói lên rằng trong xã hội Việt Nam xưa, người Việt rất quan tâm đến chuyện hôn nhân đặc biệt là thân phận, cuộc đời người con gái sau hôn nhân

Để nói về vai trò quan trọng của cha mẹ trong cuộc đời của con cái, ca dao

sử dụng cấu trúc A có/không có cha, mẹ như B, trong đó A có thể được biểu đạt bằng con, con người hoặc khuyết thiếu A (cũng được hiểu như con người) Chẳng hạn, yếu tố A được biểu đạt bằng con (Con có/không có cha, mẹ như

B):

Con có cha như nhà có nóc Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

Yếu tố A được biểu đạt bằng con người (Con người có/không có cha mẹ

như B) như trong câu ca dao:

Con người có bố, có ông Như cây có cội, như sông có nguồn.

Có những câu ca dao khuyết yếu tố A (Có/không có cha, mẹ như B):

Có cha, có mẹ thì hơn Không cha, không mẹ như đờn đứt dây.

Ta thấy trong những câu ca trên, A chỉ có giá trị như B khi và chỉ khi A

có điều kiện đi kèm (tức A có/không có thành viên đi kèm) Qua cấu trúc so sánh này, ta thấy, với người Việt, quan hệ gia đình thực sự trở thành một quan

Trang 40

hệ tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp trong đó giữa các thành viên trong gia đình luôn có quan hệ tình cảm khăng khít, bền chặt Mỗi một thành viên trong gia đình Việt chỉ có thể có được niềm vui, hạnh phúc, chỉ có thể thực hiện được vai trò, bổn phận của họ trong gia đình khi được đặt trong quan hệ với thành viên khác: con chỉ có thể hạnh phúc khi có cha, mẹ và ngược lại; vợ (chồng) chỉ có thể thực hiện được chức năng, bổn phận của mình trong gia đình khi có đôi, có cặp, khi giữa họ có được sự hoà hợp.

2.2.2.2 Quan hệ gia đình xét từ bình diện cái được so sánh

Khảo sát các câu ca dao có cấu trúc so sánh A như B, chúng tôi nhận thấy

để làm rõ cái trừu tượng (cái so sánh A), tác giả dân gian thường đặt chúng trong quan hệ so sánh với những cái cụ thể (cái được so sánh B) Thông thường, B là những cái đã biết, đã quen thuộc Vì vậy, để hiểu cái cần so sánh

A, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu những cái được so sánh B Do khuôn khổ của đề tài và tần số xuất hiện của các sự vật được dùng làm phương tiện biểu đạt sự tri nhận của tác giả dân gian về quan hệ gia đình, ở phần này, chúng tôi chỉ tìm hiểu cái được so sánh B được biểu đạt qua: vật thể vô tri, vô giác; vật thể có quan hệ khăng khít, có khả năng tương tác với nhau để tạo gia trị cho nhau; vật thể có ý thức, có linh hồn

a, Cái được so sánh là những thực thể vô tri vô giác

Trong số các sự vật, hình ảnh được lựa chọn làm cái được so sánh, thực thể vô tri vô giác được sử dụng nhiều nhất trong kiểu câu so sánh A như B (với 100 lần chiếm tỉ lệ 70.92%)

* Cái được so sánh là những thực thể kém giá trị hoặc vô dụng:

Để thể hiện tình cảnh của những người phụ nữ khi đã có chồng, tác giả dân gian so sánh:

Có chồng như cá ở ao

Kẻ nam người bắc biết bao thảm sầu.

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Phan Kế Bính (1994), Phong tục Việt Nam, Nxb Văn hoá - thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 1994
3. Nguyễn Thị Thanh Bình (1998), “Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nói chuyện giữa ba thế hệ ông bà- cha mẹ- con cháu tại một số gia đình ở TPHCM”, Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nói chuyện giữa ba thế hệ ông bà- cha mẹ- con cháu tại một số gia đình ở TPHCM”, " Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 1998
5. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
7. Đỗ Hữu Châu (2002), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
8. Trần Văn Cơ (2006), “Ngôn ngữ học tri nhận là gì?”, Ngôn ngữ, (7), tr. 19 – 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận là gì?”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2006
9. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
10. Trần Trương Mỹ Dung (2005), “Tìm hiểu ý niệm “buồn” trong tiếng Nga và tiếng Anh”, Ngôn ngữ, số 8, tr. 61 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ý niệm “buồn” trong tiếng Nga và tiếng Anh”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Trương Mỹ Dung
Năm: 2005
11. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
12. Hữu Đạt (2007), “Thử áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích nhóm từ đồng nghĩa chỉ vận động “rời chỗ” trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (11), tr. 20- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào phân tích nhóm từ đồng nghĩa chỉ vận động “rời chỗ” trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 2007
13. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
14. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2000), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Cao Xuân Hạo (2006), Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
16. Đỗ Thị Hoà (2007), “Giá trị biểu trưng của nhóm từ ngữ thuộc trường nghĩa “chim chóc” trong ca dao người Việt”, Ngôn ngữ, số 6, tr. 18 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị biểu trưng của nhóm từ ngữ thuộc trường nghĩa “chim chóc” trong ca dao người Việt
Tác giả: Đỗ Thị Hoà
Năm: 2007
17. Nguyễn Hoà (2007), “Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ”, Ngôn ngữ, (1), tr. 6- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ hình nhận thức trong nghiên cứu ngôn ngữ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hoà
Năm: 2007
18. Nguyễn Thái Hoà (1998), Dẫn luận phong cách học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tái bản lần 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
19. Phan Văn Hoà (2008), “Ẩn dụ so sánh, ẩn dụ dụng học và ẩn dụ ngữ pháp”, Ngôn ngữ, số 4, tr. 9 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ so sánh, ẩn dụ dụng học và ẩn dụ ngữ pháp”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Văn Hoà
Năm: 2008
20. Phan Thế Hưng (2005), “Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn hoá”, Ngữ học Trẻ, tr. 305- 310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ mô hình tri nhận đến mô hình văn hoá”, "Ngữ học Trẻ
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2005
21. Phan Thế Hưng (2007), “So sánh trong ẩn dụ”, Ngôn ngữ, số 4, tr. 1 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh trong ẩn dụ”, " Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng I: Các kiểu quan hệ so sánh trong ca dao về quan hệ gia đình - Quan niệm của người việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận
ng I: Các kiểu quan hệ so sánh trong ca dao về quan hệ gia đình (Trang 31)
Bảng II:  Các kiểu so sánh ý niệm đích và ý niệm nguồn ở dạng so sánh   A như B - Quan niệm của người việt về quan hệ gia đình trong ca dao từ bình diện tri nhận
ng II: Các kiểu so sánh ý niệm đích và ý niệm nguồn ở dạng so sánh A như B (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w