1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt nam tổ chức giáo dục khoa học, văn hoá của liên hợp quốc (UNESCO) từ 2000 đến 2010

155 534 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ Việt Nam - Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) từ 2000 đến 2010
Tác giả Đặng Thị Thu Trang
Người hướng dẫn PGS - TS Võ Kim Cương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong quá trình hợp tác Việt Nam - UNESCO, đã có nhiều các tổ chức, các cơ quan thường xuyên phối hợp định kỳ tổng kết, đánh giá hiệu quả của quá trìnhhợp tác n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG THỊ THU TRANG

QUAN HỆ VIỆT NAM - TỔ CHỨC GIÁO DỤC, KHOA HỌC, VĂN HÓA CỦA LIÊN HỢP QUỐC (UNESCO) TỪ

Trang 2

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối gia đình, bạn bè, người thân và các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2010

Tác giả

ĐẶNG THỊ THU TRANG

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 “Toàn cầu hoá” là một xu thế tất yếu, mang tính chất thời đại củathế giới hiện nay Xu thế này đã và đang chiếm ưu thế trong sự phát triển củatất cả các quốc gia trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hoá xã hội ViệtNam - một thành viên trong cộng đồng thế giới, muốn tồn tại và phát triển,không thể nằm ngoài xu thế đó Vì thế, một câu hỏi đặt ra: Việt Nam đã vàđang làm gì để thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình quốc tế hoá

và toàn cầu hoá?

Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt từ khi có chính sách đổi mới

-1986, Việt Nam đã và đang bắt tay vào sự nghiệp đổi mới tiến lên Chủ nghĩa

Xã hội, tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Một trong nhữngđòi hỏi cấp bách đặt ra là nhanh chóng hội nhập không chỉ trong khu vực màcòn trên toàn thế giới Đây là cơ hội để Việt Nam nhận được sự giúp đỡ củacác nước trong quá trình bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước, đồng thời cũng

là thời cơ để Việt Nam hội nhập khẳng định chính mình trên tất cả các lĩnh vực

Do đó, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh việc hội nhập vào đời sốngquốc tế thông qua việc tham gia các thiết chế mang tính toàn cầu hay khu vựcnhư: Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các

Trang 4

quốc gia Đông Nam Á (AESAN)… Một trong những con đường quan trọngnhất mà Việt Nam đã lựa chọn đầu tiên và bền bỉ đi trong suốt hơn 30 nămqua là tổ chức UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của LiênHợp Quốc (ra đời ngày 16/11/1945) Đây là một tổ chức hợp tác đa quốc gia,

liên chính phủ lớn nhất hành tinh, với nhiệm vụ, mục tiêu cao cả: “Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia trên tất cả các lĩnh vực văn hóa - khoa học - giáo dục” [38,6]

1.2 Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ViệtNam đã nhận thức được rằng: Văn hoá, khoa học, giáo dục là những tiền đề, nhân

tố quan trọng và là động lực vô cùng cần thiết cho sự nghiệp đổi mới đất nước.Đây là một trong ba trụ cột chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Trong

đó, UNESCO là tổ chức hợp tác trí tuệ “một phòng thí nghiệm các ý tưởng” quốc

tế liên chính phủ lớn nhất thuộc hệ thống Liên hợp quốc và nắm bắt nhu cầu phục

vụ tái thiết đất nước Quan hệ Việt Nam - UNESCO đã có bước phát triển vữngchắc và ngày càng được củng cố, góp phần không nhỏ trong công cuộc phát triểnđất nước Quan hệ này đã phát huy tốt vai trò của một kênh ngoại giao đa phươngquan trọng giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về Việt Nam, nhằm đập tan nhữngluận điệu tuyên truyền phá hoại của các thế lực thù địch

Mối quan hệ này ngày một ổn định, tốt đẹp hơn, tiếp tục đóng vai tròtiên phong trong lĩnh vực hội nhập quốc tế, làm tiền đề tạo điều kiện thuận lợicho các mối quan hệ quốc tế khác của đất nước suốt thập kỷ 80 (thế kỷ XX)đến nay - khi đất nước bắt đầu quá trình “đổi mới” toàn diện, đổi mới tư duyđối ngoại, với chủ trương “thêm bạn bớt thù”, “đa phương hoá, đa dạng hoátrong quan hệ quốc tế

Đặc biệt từ năm 2000 đến nay, mối quan hệ này đã đạt được những thànhtựu rất lớn: Một mặt Việt Nam đã tận dụng khá tốt và hiệu quả mối quan hệ hợptác với UNESCO đặc biệt trong việc khai thác “chất xám”, kinh nghiệm quốc tế

Trang 5

trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học và truyền thông để áp dụng vào ViệtNam Mặt khác, qua việc hợp tác với UNESCO, Việt Nam không chỉ có cơ hội tựbộc lộ để bạn bè năm châu hiểu đúng hơn về mình, mà còn trực tiếp góp phần bảo

vệ và phát triển chiều hướng tiến bộ của UNESCO, thể hiện được vai trò và củng

cố thêm vị thế của mình trên trường quốc tế góp phần vào việc chung tay xâydựng một thế giới hoà bình, tiến bộ và văn minh

1.3 Nhìn lại mối quan hệ Việt Nam - UNESCO trong suốt thời gianqua, Việt Nam có quyền tự hào trước những thành tựu mà mình đã đạt được,nhưng cũng không quên những khó khăn và thách thức trong bối cảnh đấtnước có vị thế mới và công cuộc hội nhập đang bước vào giai đoạn sôi độnghiện nay Chính vì thế, việc nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá quá trình hợp tácgiữa Việt Nam với UNESCO trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, làm rõ nhữngthành tựu đạt được cũng như những khó khăn còn tồn tại của mối quan hệnày, là góp phần vào việc tăng cường mở rộng mối quan hệ của Việt Nam vớiUNESCO nói riêng, với thế giới nói chung

Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Quan hệ

Việt Nam - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) từ 2000 đến 2010” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình hợp tác Việt Nam - UNESCO, đã có nhiều các tổ chức, các

cơ quan thường xuyên phối hợp định kỳ tổng kết, đánh giá hiệu quả của quá trìnhhợp tác này là: Uỷ ban Quốc gia UNESCO và các cơ quan liên quan là Bộ Ngoạigiao, Bộ Giáo dục - Đào tạo; Bộ Văn hoá - Thông tin (hiện nay là Bộ Văn hóaThông tin - Thể thao - Du lịch và Bộ Thông tin Truyền thông), Bộ Khoa học -Công nghệ; Viện Khoa học xã hội Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập

Uỷ ban UNESCO Việt Nam, đã có các bài viết của đồng chí Nguyễn Dy Niên Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và một số chuyên gia cấp cao đánh giá về vai

Trang 6

-trò của UNESCO và quan hệ Việt Nam - UNESCO Trong thập kỷ đầu của thế kỷXXI, quan hệ Việt Nam - UNESCO đã có bước tiến quan trọng đáng kể, đónggóp tích cực vào công cuộc hội nhập và phát triển đất nước

Liên quan đến lĩnh vực hoạt động UNESCO, đã có một số tác phẩm

sau: “Văn hoá vì phát triển” của GS.TS Phạm Xuân Nam (2005): Trong đó

nhiều sự kiện lịch sử kể cả những sự kiện từ trong quá khứ xa xưa được diễn

ra đều giới thiệu nhằm mục đích làm sáng tỏ những vấn đề của hiện tại, một

số kinh nghiệm thực tế của thế giới cũng được chú ý để mở rộng tầm nhìn và

từ đó mà hiểu sâu thêm những vấn đề trong nước

Trong cuốn “Vai trò của UNESCO trong thế kỷ XXI” (tại trường Đại

học Bilkent, Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ 2003), Tổng Giám đốc UNESCO Koiichiro Matsura đã nói về vai trò và sứ mệnh to lớn của tổ chức UNESCOđối với nhân loại

-Trong cuốn “Các tổ chức quốc tế và Việt Nam” do Bộ Ngoại giao soạn

thảo (2005), các tác giả đã tóm lược những nội dung cơ bản về tổ chứcUNESCO và nêu lên vai trò to lớn của tổ chức UNESCO đối với Việt Nam

Trong cuốn “UNESCO là gì?” do Uỷ ban Quốc gia UNESCO của Việt

Nam (soạn thảo 1986), các tác giả đã giới thiệu về UNESCO và quá trình ViệtNam gia nhập tổ chức này

Bài viết “Đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh vì hoà bình và phát triển bền vững” của Phạm Quang Nghị (2005) đã nêu ra vai trò to lớn của

văn hoá và tầm quan trọng của việc hợp tác giao lưu giữa các nền văn hoá vănminh trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay

Bài viết “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam 2010 thách thức và nhiệm vụ” của Nguyễn Thế Hùng (2010) đã đưa ra những cơ hội,

-thách thức và xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm 2010 trong công cuộc bảo

vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam

Trang 7

Bài viết “UNESCO và khía cạnh đạo đức trong khoa học” của Thái Văn

Tân (1999) đã làm nổi bật lên đặc trưng riêng của UNESCO đó là yêu cầu vềđạo đức - trung tâm sứ mệnh của UNESCO

Bài viết “UNESCO - con đường hội nhập vì phát triển bền vững” của Lê

Kinh Tài (Tổng thư ký UBQG UNESCO Việt Nam) đã tóm lược quá trình ViệtNam tham gia tổ chức UNESCO và những thành tựu mà Việt Nam đạt được kể

từ khi gia nhập

Ngoài ra còn có một số bài viết, nghiên cứu chuyên đề đăng trên tạp chí

Chân trời UNESCO (tạp chí ra hàng tháng của Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam); tạp chí Xưa và Nay; tạp chí Di sản Văn hoá.

Các tài liệu được sử dụng phục vụ cho đề tài gồm các văn kiện Đại hộiĐảng, các tài liệu liên quan của Bộ Ngoại giao, UNESCO và các báo cáo, tàiliệu thống kê của các cơ quan, địa phương có tham gia hoạt động UNESCO,đặc biệt là Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam

Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợpnhững tư liệu với các quy mô lớn, nhỏ khác nhau Tuy nhiên cho đến naychưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá tổng hợp, toàn vẹn về giai đoạnhợp tác từ 2000 - 2010 để rút ra các bài học kinh nghiệm, làm cơ sở địnhhướng thúc đẩy quan hệ Việt Nam - UNESCO ngày càng mạnh mẽ gắn bóhơn, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay Nhưng đó là nguồn tư liệugợi mở, hữu ích để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

3 Phạm vi nghiên cứu:

- Tập trung giới thiệu, phân tích mối quan hệ giữa UNESCO với Việt Nam

- Khai thác mối quan hệ giữa UNESCO và Việt Nam trong giai đoạn

2000 - 2010, tức thập kỷ “Văn hoá hoà bình và bạo lực phi trẻ em trên thế giới”, cụ thể là bắt đầu từ năm 2000 - là năm quốc tế Văn hoá hoà bình.

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 8

Đây là đề tài khoa học xã hội thuộc lĩnh vực lịch sử nên phương pháplịch sử và phương pháp lôgic được đặc biệt coi trọng Quá trình nghiên cứutác giả đã dựa trên cơ sở các tư liệu, các sự kiện lịch sử để phân tích, xử lý và

đi đến hệ thống hoá và khái quát hoá vấn đề

Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác trong quá trìnhnghiên cứu như: so sánh, phân tích, đối chiếu, tổng hợp, thống kê…để nâng cao hiệu quả vấn đề cần nghiên cứu

5 Mục tiêu nghiên cứu:

Nhằm làm rõ mối quan hệ hợp tác Việt Nam - UNESCO từ năm 2000đến năm 2010, qua đó thấy được vai trò quan trọng của UNESCO đối với quátrình hội nhập của Việt Nam, cũng như những đóng góp của mối quan hệ nàytrong tiến trình hội nhập toàn cầu hoá

Đánh giá hiệu quả và những mặt còn hạn chế trong mối quan hệ hợptác Việt Nam - UNESCO Trên cơ sở nội dung các lĩnh vực của UNESCO,kết hợp với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, nêu lên các khuyếnnghị, biện pháp với nhà nước, các cơ quan liên quan trong việc đẩy mạnh mốiquan hệ hợp tác trong thời gian tới

6 Nguồn tài liệu:

- Gồm các văn kiện, nghị quyết, báo cáo, tuyên bố của Đảng, Chínhphủ, một số văn bản hiệp định được ký kết giữa Việt Nam - UNESCO

- Các bài viết chuyên khảo có liên quan, một số luận văn, công trìnhnghiên cứu và các báo cáo khoa học về quan hệ giữa Việt Nam - UNESCO

- Các bài viết được in trên tạp chí Chân trời UNESCO, Tạp chí Di sản văn hoá, Tạp chí Xưa và Nay…

- Tài liệu trên mạng internet

7 Cấu trúc luận văn:

Trang 9

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài các phần mở đầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triểnkhai trong 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về tổ chức UNESCO.

Chương 2: Quá trình hợp tác giữa Việt Nam với UNESCO trong giai đoạn

2000 - 2010

Chương 3: Một số nhận xét về mối quan hệ Việt Nam - UNESCO

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC UNESCO

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO,viết tắt từ tiếng Anh United Nations Education, Scientific and Cultural Orga -nization) là một trong những tổ chức chuyên môn lớn nhất của Liên HợpQuốc, được chính thức thành lập ở Pa-ri ngày 16 tháng 11 năm 1945

1.1.1 Sự ra đời, mục đích và chức năng của UNESCO

Sau cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, vấn đề hợp tác tinh thầngiữa các nước đã bị hội nghị hoà bình coi nhẹ Hội Quốc Liên đã nhanh chóngthừa nhận tầm quan trọng của việc phát triển sự hợp tác đó Năm 1921, theosáng kiến của Lêông Buốcgioa (Pháp), Đại hội tổ chức một Uỷ ban hợp tác vềtinh thần Uỷ ban này gồm 20 nhân vật có uy tín quốc tế đã dần thành lập cácnhóm chi nhánh quốc gia trong 50 nước Như thế Uỷ ban này đóng vai tròliên khu đối với sự hợp tác tinh thần rộng rãi sẽ được thiết lập sau đó

Trang 10

Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, các Bộ trưởng giáo dục củachính phủ các nước thuộc phe Đồng minh đã gặp nhau đều đặn từ năm 1942

để bàn về việc giữ gìn hoà bình, thiết lập một trật tự quốc tế mới, tăng cường

sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc và sự hợp tác quốc tế về trí tuệ, cải cách

Với mục đích thiết yếu đó, một hội nghị đã được triệu tập trong khuônkhổ của Liên Hợp Quốc để bàn về việc thành lập một tổ chức về văn hoá vàgiáo dục diễn ra tại London (Anh) từ ngày 1 đến ngày 16/11/1945 Hội nghị

đã thu hút sự tham gia của đại diện 44 quốc gia Căn cứ theo đề nghị của Pháp

và Anh, là hai nước được coi là chịu thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranhvừa qua, các đại biểu đã đi đến nhất trí về việc thành lập một tổ chức quốc tếtiêu biểu, xứng đáng với việc thiết lập “một tinh thần về trí tuệ và lương tricủa toàn nhân loại” và hành động nhằm loại bỏ nguy cơ chiến tranh Kết thúchội nghị có 37 trong số 44 nước đã quyết định việc thành lập Tổ chức Giáodục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (gọi tắt là UNESCO) mangtính liên chính phủ (chỉ kết nạp thành viên là chính phủ các nước), đặt trụ sởtại Pari Ngày 4/11/1945 với việc chính phủ Hy Lạp là nước thứ 20 phêchuẩn, bản Công ước thành lập UNESCO chính thức có hiệu lực Ngày16/11/1945, Hội nghị đã ký thông qua nội dung Công ước UNESCO Công

Trang 11

ước này đã có hiệu lực sau đó một năm Số lượng thành viên của UNESCOkhông ngừng mở rộng tính đến Đại hội đồng gần đây nhất (tháng 10/2005), có

192 quốc gia thành viên

Công ước thành lập xác định mục đích ra đời của UNESCO là: “Góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các nước về công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo mà Hiến chương Liên hiệp quốc đã công nhận đối với tất cả các dân tộc” [38,6].

Để đạt được những mục đích cao cả nêu trên, Công ước thành lập xácđịnh nhiệm vụ của UNESCO như sau:

* “Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi: Khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn từ

và hình ảnh.

* Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hoá:

- Bằng cách hợp tác với các nước Hội viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của từng nước.

- Bằng sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, hoặc bất cứ một sự phân biệt nào khác về kinh tế hay xã hội.

- Bằng cách đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp nhất để luyện tập thiếu nhi toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do.

* Duy trì tăng cường và truyền bá kiến thức:

- Bằng cách bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các di tích lịch sử hay khoa học và bằng cách khuyến nghị với các nước hữu quan về các công ước quốc tế cần thiết.

Trang 12

- Bằng cách khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí óc, kể cả việc trao đổi quốc tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hoá, và việc trao đổi sách báo xuất bản, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm và tất cả tư liệu có ích.

- Bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các dân tộc thưởng thức xuất bản phẩm của mỗi nước thông qua những phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp” [38,7-8].

Để phù hợp với tình hình phát triển ngày càng cao của thế giới trongnhững năm gần đây, bên cạnh các lĩnh vực quy định trong Công ước thành lậpUNESCO là giáo dục, khoa học và văn hoá, UNESCO đã mở rộng thêm một

lĩnh vực hoạt động quan trọng là Thông tin - truyền thông “Ngày nay, UNESCO hoạt động như một trung tâm thí điểm các ý tưởng và định chuẩn nhằm thúc đẩy việc ký kết các thoả thuận quốc tế về các vấn đề đạo đức đang nổi lên UNESCO cũng hoạt động như một trung tâm sàng lọc thông tin phục

vụ cho việc truyền bá và chia sẻ thông tin, kiến thức giúp các nước thành viên trong quá trình xây dựng năng lực thể chế và cá nhân trên các lĩnh vực khác nhau Tóm lại, UNESCO thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các nước thành viên trên các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá và truyền thông”[41,3].

UNESCO có các chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, UNESCO là một cơ sở thí nghiệm các ý tưởng đã được dự

đoán và xác định về những vấn đề quan trọng nhất đang phát sinh trong cáclĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, từ đó định dạng những chiến lược vàchính sách thích hợp để giải quyết

Thứ hai, UNESCO là một tổ chức soạn thảo quy chuẩn UNESCO làm

việc hướng đến những hiệp định chung về các vấn đề đạo đức, tiêu chuẩn hoá

và tri thức mang tính sống còn trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền

Trang 13

Thứ ba, UNESCO là một trung tâm chỉ dẫn, giao dịch UNESCO đóng

một vai trò quan trọng trong việc tập hợp, chuyển giao, truyền bá và chia sẻcác thông tin, trí thức và những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất

Thứ tư, UNESCO là một tổ chức tạo dựng năng lực cho các quốc gia

thành viên Tạo dựng năng lực cho con người và cho các thiết chế trong cáclĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá, truyền thông và thông tin là một nhiệm

vụ thường xuyên mà UNESCO thực hiện vì lợi ích của các quốc gia thành viên

Thứ năm, UNESCO là một nhân tố xúc tác cho hợp tác quốc tế Chức

năng này được thực hiện thông qua tất cả bốn chức năng nêu trên và đâychính là vấn đề trọng tâm đối với sứ mệnh quốc tế của UNESCO

Năm chức năng cơ bản này là những phương thức chủ yếu để UNESCOthực hiện nhiệm vụ của mình Thông qua các chiến lược và hoạt động cụ thể.UNESCO đang góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu Phát triểnthiên niên kỷ (MDGs) đặc biệt là những mục tiêu nhằm: Giảm một nửa tỉ lệngười dân sống trong tình trạng đói nghèo cùng cực ở các nước đang pháttriển vào năm 2015; đạt phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nước vào năm2015; Xoá bỏ sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục tiểu học và trung họcvào năm 2005; giúp các nước triển khai thực hiện chiến lược quốc gia về pháttriển bền vững từ năm 2005 nhằm đảo ngược xu hướng hiện nay về tổn thấtcác nguồn tài nguyên môi trường vào năm 2015

1.1.2 Cơ cấu tổ chức của UNESCO

Tổ chức của UNESCO gồm ba cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng chấphành và Ban thư ký

1.1.2.1 Đại hội đồng

Đại hội đồng là cơ quan có quyền lực cao nhất gồm đại biểu của cácnước hội viên, Đại hội đồng quyết định đường lối, chính sách, kết nạp hộiviên mới, bầu Hội đồng chấp hành và Tổng Giám đốc, thông qua chương

Trang 14

trình và biểu quyết ngân sách của hai năm tới Ngôn ngữ làm việc tại Đại hộiđồng gồm Ả-rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha.

Đại hội đồng họp kỳ thứ nhất ở Pa-ri vào tháng 11 năm 1946 Cho đếnnăm 1952, Đại hội đồng họp mỗi năm một lần và từ sau đó, hai năm họp một lần

Trong 12 năm (từ 1946 đến 1958), vì chưa có trụ sở chính thức nên khithì Đại hội đồng họp ở Pa-ri, khi thì họp ở thủ đô một nước khác, theo lời mờicủa nước muốn đăng cai Từ 1958, sau khi xây dựng xong trụ sở ở Pa-ri, Đạihội thường họp ở Pa-ri Tuy vậy, nếu nước nào mời Đại hội đồng cũng sẵnsàng họp ở nước đó Ví dụ như kỳ họp lần thứ 19 (1976), theo lời mời củaChính phủ Kênia, Đại hội đồng đã họp ở Nairôbi

1.1.2.2 Hội đồng chấp hành

Hội đồng chấp hành gồm những nhân vật có kinh nghiệm về giáo dục,khoa học và văn hoá Lúc đầu, chỉ có 18 hội viên, nhưng qua nhiều lần bổsung của các kỳ họp Đại hội đồng vừa qua, đến nay Hội đồng chấp hành gồm

có 45 hội viên Người ứng cử vào Hội đồng chấp hành là do nước hội viêngiới thiệu, và khi Đại hội đồng bầu thì bầu đích danh ứng cử viên, chứ khôngchỉ bầu tên nước, hội viên hội đồng chấp hành vừa đại diện cho Chính phủnước mình, vừa đại diện cho Đại hội đồng Nhiệm kỳ của hội viên Hội đồngchấp hành là bốn năm, và cứ hai năm thì Đại hội đồng bầu lại một nửa số hộiviên Hội đồng chấp hành

Giữa hai kỳ họp Đại hội đồng, Hội đồng chấp hành có nhiệm vụ giámsát việc thực hiện chương trình và việc quản lý ngân sách, nghiên cứu dự thảochương trình và ngân sách cho hai năm tới do Tổng Giám đốc để trình và đưa

dự thảo này ra Đại hội đồng với những kiến nghị cần thiết, Hội đồng chấphành cũng có nhiệm vụ giới thiệu với Đại hội đồng nước hội viên mới vàngười ứng cử vào chức vụ Tổng Giám đốc Hội đồng chấp hành họp thường

kỳ hai lần một năm và mỗi lần từ ba đến bốn tuần lễ

Trang 15

sở, tại các khu vực địa lý khác nhau.

Phục vụ cho một sự nghiệp quốc tế, nên bản thân Ban thư ký mang tínhchất quốc tế về thành phần và về điều lệ Trên nguyên tắc, Ban thư ký đượctuyển chọn trên cơ sở địa lý rộng rãi và gồm những người có năng lực, hiệusuất và chất lượng công tác Điều lệ của Ban thư ký dành cho các viên chức,nhân viên quyền ưu đãi và miễn trừ những nhà ngoại giao, đòi hỏi họ phảikhách quan, vô tư, tế nhị trong công tác quốc tế, và đặc biệt là họ không đượcxin hoặc nhận chỉ thị của chính phủ hay một tổ chức nào ngoài UNESCO

Ban thư ký do Tổng Giám đốc lãnh đạo, tổ chức và tuyển dụng TổngGiám đốc là viên chức cao nhất của UNESCO do Đại hội đồng bầu ra vớinhiệm kỳ sáu năm Tổng Giám đốc có nhiệm vụ đảm bảo hoạt động thườngxuyên của UNESCO, dự thảo chương trình và ngân sách, thực hiện chươngtrình, quản lý ngân sách, chịu trách nhiệm về mọi sáng kiến và quyết địnhtrong phạm vi quyền hạn của mình

Giúp việc tổng Giám đốc có 1 phó tổng Giám đốc và 6 trợ lý tổngGiám đốc phụ trách 6 khu vực hoạt động của UNESCO Mỗi khu vực này có

từ 1 đến 3 phó trợ lý tổng Giám đốc và có các vụ, phòng

1.1.2.4 Văn phòng khu vực

Ngoài trụ sở chính của UNESCO đặt tại Pa-ri, thủ đô nước Cộng hoàPháp, UNESCO còn có 73 văn phòng khu vực và văn phòng quốc gia ở các

Trang 16

châu lục với khoảng trên 800 nhân viên Văn phòng khu vực có nhiệm vụtriển khai các nội dung, chương trình UNESCO theo đặc thù của khu vực vàcác quốc gia mà nó phụ trách Chỉ riêng ở châu Á, có các văn phòng khu vựctại Bangkok - Thái Lan (phụ trách giáo dục, văn hoá), tại Jakarta - Indonesia(khoa học) và tại New Dehli - Ấn Độ (truyền thông) và một số văn phòngquốc gia như văn phòng UNESCO tại Hà Nội (thành lập tháng 9/1999 tại HàNội), tại Phnôm Pênh…

Ngoài các cơ quan nêu trên, UNESCO còn có một số bộ phận khác phụtrách các vấn đề liên quan đến các chương trình chuyên môn dự án cụ thểnhư: Uỷ ban Di sản thế giới, các Uỷ ban về Công ước của UNESCO…

1.1.3 Các mối quan hệ của UNESCO

1.1.3.1 UNESCO với Liên Hợp Quốc và các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc

Theo thoả thuận với Liên Hiệp Quốc từ năm 1946, UNESCO là một tổchức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, nhưng có tính chất tự trị Một ví dụ vềtính chất tự trị này là những nước chưa phải là hội viên của Liên Hợp Quốc cóthể là hội viên của UNESCO với điều kiện là 2/3 Đại hội đồng UNESCO biểuquyết tán thành Mặt khác, theo Công ước thành lập được Đại hội đồng lầnthứ I thông qua ngày 6/12/1946 và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chấpthuận ngày 14/12/1946, UNESCO là cố vấn kỹ thuật của Liên Hợp Quốc vềnhững lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình và mặc nhiên UNESCO cũng là cơquan thực hiện những quyết định của Liên Hợp Quốc về các lĩnh vực đó Khácvới các cơ quan trực thuộc của Liên Hợp Quốc khác như Chương trình phát triểnLiên Hợp Quốc (UNDP), Diễn đàn của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và pháttriển (UNCTAD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc ( UNICEF)…có quyền quan

hệ trực tiếp với Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Hội đồng Kinh tế và Xã

Trang 17

hội (ECOSOC) UNESCO và Liên Hợp Quốc thường xuyên tham khảo ý kiến

và tham dự những hội nghị của nhau nhưng không có quyền biểu quyết

UNESCO có quan hệ ngang hàng với các tổ chức chuyên môn khácnhư: Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), Tổ chức lao động quốc tế (ILO),

Tổ chứ Y tế thế giới (WHO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)…cũng như với các cơquan trực thuộc của Liên Hợp Quốc, chủ yếu là để phối hợp về các vấn đềchính sách và những “Chương trình hành động phối hợp” “Chương trìnhngoài ngân sách” của UNESCO chủ yếu do các tổ chức khác của Liên HợpQuốc tài trợ (UNDP, UNICEF, FAO…) nhưng việc thiết kế và thực hiện docác đơn vị nghiệp vụ của UNESCO đảm nhiệm

1.1.3.2 UNESCO với các nước thành viên

Tất cả các nước thành viên của Liên Hợp Quốc đều có thể là thành viêncủa UNESCO Các nước ngoài Liên Hợp Quốc có thể gia nhập UNESCO nếuđược 2/3 Đại hội đồng chấp nhận Ngoài thành viên chính thức, UNESCOcòn có một số thành viên liên kết Nước thành viên nào bị khai trừ khỏi LiênHợp Quốc mặc nhiên sẽ không còn là thành viên của UNESCO Bất cứ nướcthành viên hoặc thành viên không liên kết nào cũng có thể xin ra khỏiUNESCO theo những thủ tục và điều kiện nhất định Trong lịch sử UNESCO

đã từng có các nước xin ra khỏi UNESCO như Mỹ (năm 1984), Anh vàSingapo (năm 1985) Sau một thời gian rút khỏi UNESCO, Mỹ và Anh đãquay lại tổ chức này (Anh năm 1997, Mỹ năm 2003, Singapo năm 2007) Vớiviệc gia nhập UNESCO của Cộng hoà Montenegro tháng 3/2007, hiện nayUNESCO gồm 192 nước thành viên và 6 thành viên liên kết

Công ước thành lập UNESCO quyết định rõ tại mỗi nước hội viên thànhlập một Uỷ ban quốc gia - là cầu nối giữa UNESCO với chính phủ các nướcthành viên bao gồm những đại diện của chính phủ, của các tổ chức quần chúng

có liên quan và những nhân vật có khả năng hoạt động về giáo dục, khoa học,

Trang 18

văn hoá và thông tin Nhiệm vụ của Uỷ ban quốc gia do chính phủ của mỗi nướcquy định Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO của các nước thường là Bộtrưởng Bộ văn hoá hoặc Thứ trưởng Ngoại giao Ngoài ra, các nước hội viên cóthể cử phái đoàn thường trực bên cạnh UNESCO ở Pa-ri để duy trì quan hệ trựctiếp với UNESCO Nhiều phái đoàn thường trực có văn phòng riêng tại trụ sởUNESCO do cấp Đại sứ làm trưởng đoàn, có nước do cấp Tham tán

1.1.3.3 Các mạng lưới chuyên môn của UNESCO

UNESCO hoạt động dựa trên sự hợp nhất giữa những hoạt động đadạng trong một cộng đồng quốc tế Các mạng lưới của UNESCO và các đốitác là hạt nhân của cộng đồng này Tất cả ăn ý với nhau sẽ hiện thực hoá đượccác ý tưởng của UNESCO và các giá trị chân chính của thế giới ở mức độ địaphương, quốc gia và quốc tế Các đối tác chính trong mạng lưới gồm:

UNESCO có khoảng 100 Uỷ ban cố vấn, các Uỷ ban quốc tế và các hộiđồng liên chính phủ được thành lập nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt cóliên quan đến nhiệm vụ và chức năng của tổ chức

Có gần 5000 Câu lạc bộ UNESCO, trung tâm UNESCO và các HộiUNESCO ở tại các quốc gia thành viên đang thúc đẩy các ý tưởng và ủng hộcác nỗ lực của UNESCO trong quần chúng nhân dân

Có khoảng 7900 trường liên kết có chức năng giúp Thanh thiếu niênphát huy thái độ khoan dung và hiểu biết quốc tế

Có hơn 335 tổ chức phi chính phủ (NGO) duy trì quan hệ thường xuyênvới UNESCO

Nhóm Đại sứ Thiện chí với hơn 40 nhân vật kiệt xuất trên thế giới - lànhững người vận dụng tài năng, địa vị và uy tín của mình để giúp đỡUNESCO bằng cách hướng sự chú ý của thế giới vào sứ mệnh và các hoạtđộng của UNESCO

Trang 19

Hơn 580 giáo sư Đại học và 65 các trường Đại học kết nghĩa thuộcmạng lưới UNITWIN/UNESCO nhằm khuyến khích việc nghiên cứu vậndụng ý tưởng của UNESCO trong trường Đại học.

Có 179 nước thành viên có Phái đoàn thường trực bên cạnh UNESCO.Mạng lưới các nghị sĩ có vai trò quan trọng đối với UNESCO trongquan hệ với các tổ chức khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy hoà bình thôngqua giáo dục và dân chủ

Như vậy, với tính chất và phạm vi hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnhvực chuyên môn nên UNESCO đã tạo được mạng lưới hợp tác rộng rãi vớihàng trăm đầu mối quốc gia và quốc tế bao gồm các tổ chức liên chính phủ,các tổ chức phi chính phủ

1.1.4 Nguồn tài chính của UNESCO

Nguồn ngân sách của UNESCO do 3 nguồn đóng góp:

Nguồn ngân sách thường xuyên: do một Đại hội đồng biểu quyết cho

tài khoá 2 năm gồm có tiền niên liễm của nước hội viên đóng là chủ yếu vàmột số khoản tạp thu khác, theo tỷ lệ thu nhập quốc dân khoảng 500 triệuUSD/năm trong đó có Nhật Bản đóng góp nhiều nhất chiếm 25% ngân sáchUNESCO Dùng để chi cho các hoạt động chung và hành chính của UNESCO

và “Chương trình thường xuyên” của mỗi khu vực hoạt động như giáo dục,khoa học, văn hoá, thông tin và chi cho các khoản chung của UNESCO.Ngoài ra, ngân sách thường xuyên còn dành một khoản nữa gọi là “Chươngtrình tham gia” cũng là để giúp đỡ các nước theo yêu cầu riêng của mỗi nước,nhưng khoản này không nhiều Ngân sách thường xuyên của UNESCO kháhạn hẹp, khoảng 610 triệu đôla (tài khoá 2006 - 2007)

Nguồn ngoài ngân sách của UNESCO: Do sự tài trợ hoặc phối hợp

hoạt động của các tổ chức quốc tế và các cơ quan chuyên môn của Liên HợpQuốc, chủ yếu là các tổ chức UNDP, UNICEF, ngân hàng thế giới…và tiền

Trang 20

đóng góp tự nguyện của các nước Nguồn ngoài ngân sách chỉ dùng để giúp

đỡ các nước hội viên, chủ yếu là các nước đang phát triển về kỹ thuật, đào tạobồi dưỡng cán bộ và thiết bị Nhưng UNESCO không hoàn toàn chủ độngquyết định việc sử dụng nguồn ngoài ngân sách mà chỉ làm trung gian và phảiphụ thuộc vào sự thoả thuận của các tổ chức hoặc các nước quyên tặng Trongnguồn ngoài ngân sách, còn có một nguồn nữa là Quỹ ký gửi do các nướchoặc các ngân hàng đóng góp cũng dùng để giúp đỡ các nước hội viên vớihình thức có thể cho vay không lấy lãi hoặc lấy lãi nhẹ, có thể cho một phần,nước hội viên gánh một phần Ngân sách không thường xuyên của UNESCOtrong khoá ngân sách 2002 - 2003 đạt được là 400 triệu đôla

Quỹ đặc biệt: Do sự vận động đóng góp tự nguyện của quốc tế Đây là

nguồn ngân sách được đặc biệt sử dụng trong việc viện trợ khẩn cấp do thiêntai, chiến tranh gây ra đối với các công trình văn hoá, trường học…như:Vơnidơ (Ý); Acrôpôlô (Hy Lạp); Bôrôbôdu (Indonexia)

1.2 Những đóng góp cơ bản của UNESCO

UNESCO đã có những đóng góp rất quan trọng, đa dạng, phong phú cả

về lý luận cũng như thực tiễn, cả về phương pháp và biện pháp đối với nhiềuvấn đề quan trọng về sự phát triển vì mục đích hoà bình của thế giới Trướchết là về mặt tư duy, dưới sự tác động của UNESCO đã làm cho các nước, cácchính phủ, các nhà làm chính sách, các nhà khoa học nhận thức rõ hơn về cácvấn đề, về xu thế phát triển của thế giới để từ đó mỗi nước sẽ tự đưa ra con

đường, chính sách phát triển phù hợp với quốc gia mình: “UNESCO không

áp đặt các mô hình hoặc các quan điểm đòi hỏi các quốc gia thành viên phải chấp nhận, mà chỉ cung cấp và tư vấn những thử nghiệm và kinh nghiệm thành công cũng như thất bại để các nước thành viên tự trao đổi, phân tích đúng sai nhằm áp dụng vào thực tế hoàn cảnh nước mình UNESCO cũng đảm nhiệm việc cung cấp, giới thiệu chuyên gia giỏi trong nhiều lĩnh vực

Trang 21

chuyên môn để giúp các nước thành viên thực hiện các chương trình, dự án hợp tác về kinh tế, khoa học và văn hoá” [41,5].

Đóng góp nổi bật đầu tiên của UNESCO là đặc biệt coi trọng và ưutiên cao trong việc thúc đẩy sự nghiệp giáo dục tại các quốc gia thành viêntrong nhiều thập kỷ qua kể từ khi thành lập Với mục tiêu thường xuyên làlàm dễ dàng việc truyền bá giáo dục và phát triển sự hiểu biết lẫn nhau giữacác nước Cuối thập niên 40 - đầu thập niên 50, UNESCO đã có những cốgắng phi thường trong việc góp phần phục hồi hệ thống giáo dục chung tạichâu Âu đổ nát như: Đề xướng ra những cuộc nghiên cứu chuyên đề bằngcách cử các phái đoàn chuyên gia; quan tâm giúp các nước hữu quan tăng sốlượng và nâng cao trình độ của giáo viên; đặt ra một số học bổng bổ túc chogiáo sư và sinh viên nhằm đào tạo chuyên gia về giáo dục ở nhà trường Bêncạnh đó, UNESCO tiếp tục giúp tất cả các trẻ em trên thế giới đã đến tuổi đihọc mà không có khả năng đi học…Với hàng loạt các biện pháp cụ thể như:UNESCO đã cộng tác thành lập các trung tâm quốc gia ở Ubon (Thái Lan), ởMinnêriia (Xrilanca)…và cũng đã lập các trung tâm đào tạo chuyên gia ởIenvan thuộc bang Mixorơ…Tiếp theo đó là hàng loạt những sáng kiến, cácchương trình chiến lược dài hạn nhằm thúc đẩy sự nghiệp xoá mù chữ, phổcập giáo dục tiểu học đối với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và

Mĩ La Tinh Đặc biệt là tuyên bố của hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Giáodục cho tất cả mọi người tổ chức tại Jomtien, Thái Lan năm 1990 đã đạt mộtmốc quan trọng trong những nỗ lực chung của thế giới nhằm dân chủ hoá giáodục, đối phó với nạn mù chữ và tái mù chữ đang có nguy cơ cản trở quá trìnhphát triển chung của thế giới Các chương trình canh tân giáo dục phục vụphát triển được sự hưởng ứng của tuyệt đại đa số các nước trong khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương Tham gia vào các chương trình này, các nước đã

Trang 22

cùng nhau đóng góp và đưa ra nhiều phương pháp, kinh nghiệm quý báutrong các hoạt động giáo dục.

Trong lĩnh vực Văn hoá: Từ khi mới thành lập, UNESCO đã thấy rõtầm quan trọng của việc bảo vệ và bảo tồn những di sản văn hoá có giá trị quýbáu (di sản vật thể và di sản phi vật thể) phục vụ sự tồn vong và phát triển lâudài của nhân loại UNESCO cho rằng, việc bảo tồn các di sản văn hóa vàthiên nhiên không chỉ là trách nhiệm riêng của từng quốc gia mà còn là nghĩa

vụ chung của toàn thể nhân loại UNESCO đã triển khai nhiều cuộc vận độngquốc tế lớn nhằm kêu gọi sự ủng hộ, tham gia của cộng đồng quốc tế vớinhững di sản văn hoá lớn của nhân loại đang bị đe dọa xuống cấp, đổ nát hoặc

bị quên lãng Năm 1972, UNESCO đã thông qua “Công ước về bảo vệ các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới”, đồng thời Uỷ ban di sản thế giới thuộc

UNESCO lập danh sách di sản thế giới trên cơ sở xem xét đánh giá các tài sảnvăn hoá và thiên nhiên có giá trị toàn cầu nổi bật của các quốc gia Tính đếntháng 8 năm 2009, UNESCO đã công nhận 890 di sản văn hoá, thiên nhiênhỗn hợp ở tại 186 quốc gia thành viên UNESCO đặc biệt chú trọng kêu gọi

sự quan tâm và trợ giúp của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ và khôi phụccác di sản thế giới đặc biệt những di sản đang nằm trong tình trạng nguy

hiểm, có nguy cơ tiêu vong cao Ngoài ra, UNESCO còn thông qua “Công ước về các biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa việc nhập, xuất khẩu và chuyển giao sở hữu tài sản văn hoá một cách trái phép” năm 1970 nhằm bảo

vệ, duy trì và phát huy giá trị các di sản văn hoá tồn tại dưới dạng động sảnnhư các loại cổ vật UNESCO xây dựng “Chiến lược toàn cầu” cho việc bảo

vệ các di sản văn hoá phi vật thể, đặc biệt để có thêm cơ sở khoa học và pháp

lý vững chắc thúc đẩy việc bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể tháng 1/2003

UNESCO đã thông qua “Công ước bảo vệ sự đa dạng các biểu đạt văn hoá”

tháng 10/2005 Rồi những kết quả của “Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá

Trang 23

1988 - 1997” do UNESCO phát động đã có những đóng góp rất to lớn, rất có

ý nghĩa trong việc nâng cao sự nhận thức chung của cộng đồng quốc tế đốivới vị trí và vai trò của văn hoá trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay

Suốt những thập kỷ qua, các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật, công nghệ sinh học, công nghệ tin học và thông tin truyền thông có

sự đóng góp không nhỏ của UNESCO Trong thời đại thông tin ngày nay,không có thông tin là bị loại khỏi các “cuộc chơi”, chính vì thế mà UNESCOrất quan tâm đến việc thúc đẩy phát triển thông tin truyền thông; tăng cường

cơ sở hạ tầng, chuyên gia ở các nước đang phát triển, đảm bảo quyền tiếp cậnthông tin vì phát triển cho mọi người trong đó chú trọng giúp các nước nghèotiếp cận các cơ hội phát triển thông qua thông tin truyền thông Thông quahàng loạt các chương trình chuyên môn liên chính phủ như: Chương trìnhCon người và Sinh quyển; Chương trình Hải dương học quốc tế; Chươngtrình Thuỷ văn quốc tế; Chương trình Khoa học địa chất quốc tế; Chươngtrình liên chính phủ về tin học; Chương trình phát triển truyền thông quốc tế;Chương trình nghiên cứu công nghệ vi sinh v.v…UNESCO đã tập hợp rộngrãi các chuyên gia đầu ngành trên thế giới cùng hợp tác nghiên cứu đem lạinhững thành quả đáng kể trong các lĩnh vực trên phục vụ cho sự phát triểnchung của nhân loại

1.3 Các nội dung hoạt động chính trong những năm đầu thế kỷ XXI

UNESCO là một tổ chức chuyên môn có nội dung hoạt động đa dạng,

có tính chất liên ngành nhiều nhất trong hệ thống Liên Hợp Quốc Các lĩnhvực thuộc thẩm quyền của UNESCO là văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật,khoa học xã hội và thông tin truyền thông Các hoạt động của UNESCO đềunhằm mục tiêu cơ bản là thông qua các hoạt động của mình để tăng cường sựhiểu biết và hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển và bảo vệ hoà bình

Trang 24

UNESCO đã thực hiện thành công Chiến lược Trung hạn 2002 - 2007,được thông qua tại Đại hội đồng 31 (năm 2001), với chủ đề thống nhất là

“UNESCO đóng góp cho hoà bình và phát triển con người trong kỷ nguyên toàn cầu hoá thông qua giáo dục, khoa học, văn hoá và thông tin truyền thông”[65] với khẩu hiệu “Toàn cầu hoá với bộ mặt nhân văn” Ngoài hai chủ

đề xuyên suốt được lồng ghép trong các chương trình hoạt động là xoá nghèo,đặc biệt là cực nghèo và đóng góp của thông tin và truyền thông cho sự pháttriển giáo dục, khoa học và văn hoá và xây dựng một xã hội tri thức,UNESCO tập trung ưu tiên vào một số chương trình sau:

Về Giáo dục: Phấn đấu hoàn thành Chương trình giáo dục cho mọi người (EFA) vào năm 2015 (đề ra tại Diễn đàn Giáo dục thế giới - Dakar,

Senegal, năm 2000) thông qua các hoạt động: Hỗ trợ các quốc gia thành viênthực hiện chương trình EFA quốc gia; đi đầu trong việc thực hiện Thập kỷxoá mù chữ (2003 - 2012) và Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững (2005

- 2014); Nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng giáo viên ở các cấp học,

áp dụng một số nội dung mới phục vụ phát triển như: Giáo dục phòng chốngHIV/AIDS, giáo dục bảo vệ di sản, giáo dục hiểu biết quốc tế, áp dụng côngnghệ thông tin trong dạy nghề; Đẩy mạnh các mô hình hỗ trợ: Trung tâm họctập cộng đồng (CLC), mạng lưới các trường liên kết của UNESCO(UNESCO/ASPnet)

Về Văn hoá: Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá (vật thể và

phi vật thể), thiên nhiên thế giới được UNESCO đặc biệt quan tâm UNESCO

đã công nhận 830 khu di sản thế giới (trong đó có 644 di sản văn hoá, 162 disản thiên nhiên và 24 di sản hỗn hợp văn hoá - thiên nhiên của 184 quốc gia

và 90 kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại) UNESCO hỗtrợ các quốc gia thực hiện tốt công tác này theo Công ước quốc tế về Bảo vệ

Di sản Văn hoá và thiên nhiên (năm 1972) và Công ước Bảo vệ Di sản Văn

Trang 25

hoá Phi vật thể (năm 2003) UNESCO thúc đẩy đa dạng văn hoá và đối thoạigiữa các nền văn hoá, văn minh như một nội dung ưu tiên góp phần duy trì

hoà bình, an ninh thế giới: Nỗ lực thực hiện các nội dung của “Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hoá” năm 2001 và “Công ước Bảo vệ và Phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hoá” được thông qua tại Đại hội đồng UNESCO

lần thứ 33 năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 18/3/2007)

Về Khoa học tự nhiên: UNESCO tập trung ưu tiên vào việc bảo vệ,

khôi phục và quản lý tốt hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất (nguồnnước và hệ sinh thái) đang có nguy cơ cạn kiệt nhằm phục vụ phát triển bềnvững Để thực hiện mục tiêu này, UNESCO đã và đang đẩy mạnh việc thực

hiện các chương trình Chương trình Thuỷ văn Quốc tế (IHP): Bảo vệ, khôi

phục nguồn nước, gắn liền với các chiến lược phát triển nhằm ngăn chặn xung

đột về nước giữa các quốc gia; Chương trình Hải dương học liên Chính phủ (IOC): Xây dựng hệ thống quan sát đại dương trên toàn cầu phục vụ dự báo

thời tiết, các hiện tượng E1 Nino và đưa ra những cảnh báo về các biến đổi

của khí hậu toàn cầu; Chương trình quốc tế Liên hệ địa chất (IGCP): Bảo vệ

và sử dụng hữu hiệu nguồn khoáng sản và năng lượng nhằm giảm thiểu rủi ro,

tai hoạ thiên nhiên tại các nước đang phát triển; Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB): Nhằm bảo vệ, duy trì các khu dự trữ sinh quyển giúp

quản lý nguồn tài nguyên, nguồn gen thiên nhiên

Về Khoa học Xã hội và Nhân văn: Với vấn đề Đạo đức trong khoa học

và công nghệ cũng được UNESCO chú ý quan tâm trong những năm gần đây

nhằm đảm bảo cho khoa học được sử dụng phục vụ cho hoà bình và cuộc sốngcon người (Tuyên bố toàn cầu về gen và quyền con người năm 1997 của Uỷ ban

đạo đức sinh học quốc tế UNESCO) Đồng thời thực hiện Chương trình liên chính phủ quản lý các chuyển giao xã hội (MOST) giúp chính phủ các nước xây

Trang 26

dựng và thực hiện các chính sách quản lý xã hội phù hợp trong bối cảnh đa dạngvăn hoá, nhằm nhấn mạnh yếu tố xã hội và việc xoá đói giảm nghèo.

Lĩnh vực Truyền thông: UNESCO triển khai các hoạt động nhằm đẩy mạnh Chương trình thông tin cho mọi người với mục tiêu mở rộng sự tham

gia của tất cả mọi người trong xã hội tri thức, thu hẹp “hố ngăn cách” giàu nghèo giữa các nước, các cộng đồng trên lĩnh vực thông tin Thực hiện

-Chương trình quốc tế về phát triển truyền thông (IPDC) nhằm phát huy

nguồn nhân lực và kỹ thuật đa nguồn về thông tin, báo chí, phục vụ phát triển;

Thúc đẩy việc thực hiện Chương trình Ký ức Thế giới (MOW) được

UNESCO thành lập từ năm 1992 nhằm bảo tồn kho di sản tư liệu có nguy cơmai một ở nhiều nước trên thế giới

1.4 Một số vấn đề đang đặt ra

UNESCO hoạt động dựa trên sự hợp nhất giữa những người hoạt động

đa dạng trong một cộng đồng phù hợp với cộng đồng quốc tế Các mạng lướicủa UNESCO và đối tác là hạt nhân của cộng đồng này Tất cả ăn ý với nhau

sẽ hiện thực hoá được các ý tưởng của UNESCO và các giá trị chân chính củathế giới Ngoài ra UNESCO còn đóng vai trò liên kết trong hệ thống LiênHợp Quốc và hoạt động gần gũi với hàng loạt các quốc gia, tổ chức trong khuvực Tuy nhiên, vì tổ chức này bao gồm các nước có mức độ phát triển, chế

độ chính trị, tôn giáo khác nhau nên chiều hướng chính sách hoạt động cũngphụ thuộc vào cán cân so sánh lực lượng và cuộc đấu tranh giữa các nhómkhác nhau trong từng thời điểm, từng vấn đề

UNESCO luôn luôn phải đối mặt với thách thức giải quyết mâu thuẫngiữa các mục tiêu, chương trình đồ sộ đề ra với nguồn tài chính hạn chế Việcdựa vào nguồn tài trợ của bên ngoài đã hạn chế không nhỏ khả năng chủ độnghoạt động của tổ chức Vì thế, việc tham gia vào UNESCO có mang lại hiệuquả thiết thực hay không là tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực tận

Trang 27

dụng mối quan hệ của mình với tổ chức này như thế nào để phát huy nhữngthế mạnh, hạn chế những bất lợi của tổ chức.

Vấn đề cải tổ là một thách thức chính Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngàythành lập (1995), UNESCO bắt đầu đánh giá lại những hoạt động của mình vàphác thảo định hướng cho thế kỷ XXI UNESCO tiếp tục quá trình cải tổ từnăm 1999, công cuộc cải tổ được thực hiện theo ba nội dung: Đánh giá vàđịnh hướng lại những lĩnh vực ưu tiên; Sắp xếp lại tổ chức trong Ban thư ký

và hệ thống quản lý; Thực hiện chính sách phi tập trung hoá và đã đạt đượcnhững thành tựu đáng khích lệ UNESCO ngày càng tỏ rõ tính thích ứng củamình trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như thúc đẩy hoà bình thôngqua đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh, ngăn ngừa thiên tai thôngqua giáo dục, chia sẻ kiến thức khoa học và là tổ chức điều phối hiệu quả cácchương trình lớn của hệ thống Liên Hợp Quốc ở cấp quốc gia và quốc tế Cácnước lớn như Mỹ, Pháp, EU, Nhật, Trung Quốc…đang cố gắng gây ảnhhưởng đối với các hoạt động của UNESCO và trong một số vấn đề cụ thể đãxuất hiện những mâu thuẫn giữa một số nước như giữa Mỹ và EU trong việc

thông qua dự thảo “Công ước về bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng các biểu đạt văn hoá” Nội dung thành công nhất trong quá trình cải tổ là sắp xếp lại trong

Ban thư ký và triển khai thực hiện phi tập trung hoá Kể từ khi tiến hành cải tổcho đến nay, UNESCO đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chính sáchcán bộ, UNESCO đã trở thành tổ chức đi đầu trong hệ thống Liên Hợp Quốc

về cải tổ bộ máy Hình ảnh và uy tín của UNESCO được nâng cao, các nướcthành viên ủng hộ mạnh mẽ Tuy nhiên, còn có một số vấn đề tồn tại, đó lànâng cao nhận thức, thông tin và đào tạo cùng với chính sách luân chuyển tíchcực cần phải thúc đẩy, tạo điều kiện cho một “Văn hoá cộng tác” trong làmviệc hiện vẫn còn thiếu Cần có một số điều chỉnh như tăng cường thêm nhân

Trang 28

lực, trao thêm thẩm quyền, đưa ra các phương tiện quản lý điều hành mới vàcần tham khảo thường xuyên với Trụ sở chính và với các Uỷ ban quốc gia.

Hiện nay UNESCO đang tham gia vào chương trình cải tổ của LiênHợp Quốc với mô hình “Một cơ quan Liên Hợp Quốc” mà Việt Nam đượcchọn là một trong 8 quốc gia thực hiện thí điểm này Thực chất của công cuộccải tổ này là thay đổi cách thức hoạt động của Liên Hợp Quốc ở trụ sở chính,mỗi khu vực và mỗi nước Chương trình cải tổ này chú trọng hơn vào việc thựchiện các hoạt động, tính hiệu quả, tính gắn kết và kết quả trong nội bộ hệ thốngLiên Hợp Quốc và tăng cường vai trò và tiếng nói của các nước đang phát triển

Tiểu kết chương

Tóm lại, Lời mở đầu của Công ước UNESCO nói rằng “Chiến tranh nảy sinh trong đầu óc con người, vậy ngay trong đầu óc con người cần phải xây dựng thành trì của hoà bình” và rằng “Một nền hoà bình chỉ xây dựng trên các hiệp định về kinh tế và chính trị giữa các chính phủ không thể nào lôi cuốn được sự tham gia nhất trí lâu dài và chân thành của các dân tộc, vì vậy nền hoà bình ấy phải được thiết lập trên cơ sở đoàn kết trí tuệ và tinh thần của nhân loại” [73] Với chức năng chính là cung cấp chất xám, tri thức,

UNESCO đã tập hợp được rộng rãi các nhà khoa học, các nhà trí thức giáodục, văn hoá nổi tiếng trên thế giới tập trung nghiên cứu những vấn đề chuyênmôn đem lại hiệu quả cao phục vụ sự phát triển tiến bộ của nhân loại Hoạtđộng chủ yếu là: Hợp tác trí tuệ, phổ biến kiến thức, truyền bá văn hoá, thông

tin khoa học và kỹ thuật UNESCO đặc biệt coi trọng nguyên tắc: “Quan tâm đảm bảo tính độc lập toàn vẹn và đa dạng phong phú của các nền văn hoá và

hệ thống giáo dục của các nước thành viên và không can thiệp vào những

Trang 29

công việc thuộc quyền giải quyết nội bộ của mỗi nước” [73] Mặc dù nguồn

tài chính hạn hẹp, nhưng UNESCO luôn nỗ lực giúp đỡ các nước thành viên

về thiết bị, kỹ thuật trong phạm vi nhất định, đồng thời huy động vốn từ các tổchức quốc tế, các nước thành viên phát triển khác Các dự án của UNESCOđều đang nhằm triển khai thực hiện các ý tưởng mới, tăng cường sự hợp tácgiao lưu quốc tế, khơi dậy tiềm năng phát triển của mỗi quốc gia Thông quaviệc thành lập hoặc gia nhập tổ chức UNESCO, các dân tộc và các quốc giamong muốn thực hiện ý tưởng về một sự “đoàn kết, trí tuệ và tinh thần” vớitầm nhìn của toàn nhân loại và lấy đó làm nền tảng để vun đắp cho một nềnhoà bình vững chắc Trải qua bao thăng trầm sóng gió, UNESCO đã khẳngđịnh vai trò không thể thay thế của một tổ chức hợp tác trí tuệ liên chính phủlớn nhất trong hệ thống Liên Hợp Quốc

CHƯƠNG 2

QUÁ TRÌNH HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VỚI UNESCO

TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 2.1 Tổng quan quá trình hợp tác Việt Nam - UNESCO trước năm 2000

2.1.1 Bối cảnh Việt Nam tham gia UNESCO

UNESCO được thành lập sau chiến tranh thế giới thứ hai trong khi đólịch sử Việt Nam phải chịu nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc,thực dân kéo dài hàng thế kỷ với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quankhác, cho nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sau khi thành lập chưa cóđiều kiện để thiết lập được mối quan hệ với UNESCO nói riêng và đối vớiLiên Hợp Quốc nói chung Mãi đến năm 1951, chính quyền Bảo Đại được sựủng hộ của thực dân Pháp và phương Tây đã tham gia tổ chức UNESCO với

tư cách là hội viên chính thức để hợp thức hoá chính quyền ngụy Sau đó từ

Trang 30

năm 1956, ngụy quyền Sài Gòn kế tục chính quyền Bảo Đại trong UNESCOdưới sự che chở của đế quốc Mỹ Do tính chất bù nhìn và tay sai nên tronghơn 20 năm (đến năm 1976) các chính phủ Sài Gòn nối tiếp nhau không có uytín vai vế gì trong UNESCO, không tranh thủ được cảm tình của số đông hộiviên UNESCO, không có đóng góp gì tích cực cho hoạt động của UNESCO

và cũng không đem lại lợi ích gì cho đất nước

Sau khi đất nước Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, thực hiện chủtrương mở rộng tham gia một số tổ chức quốc tế nhằm tỏ rõ thái độ Việt Namsẵn sàng tham gia vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế như mộtquốc gia bình đẳng có trách nhiệm, tháng 5/1975 Bộ trưởng Ngoại giao Cộnghoà miền Nam đã gửi Công hàm cho Tổng Giám đốc UNESCO thông báoviệc chính phủ Cách mạng lâm thời đương nhiên trở thành hội viên UNESCO

và sau đó đã cử đại diện thường trực bên cạnh UNESCO ở Pari Và ngay saukhi hai miền Nam - Bắc thống nhất về mặt Nhà nước, chính phủ nước Cộnghoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp quản việc tham gia này vào tháng7/1976 Ngay sau đó, CHXHCN Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng bộ máy

tổ chức nhằm mục đích khẳng định sự hiện diện của Việt Nam và nâng caohiệu quả cho các hoạt động của đất nước tại diễn đàn này như: Xây dựng các

dự án tranh thủ viện trợ trong ngân sách và ngoài ngân sách của UNESCO đểtăng cường thiết bị cho một số cơ sở giáo dục, khoa học, văn hoá và thông tincủa đất nước Tháng 10 năm 1976, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã

cử đoàn đại biểu đi dự kỳ họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 19 tại Kêniavới tư cách là thành viên chính thức

Ngày 15/6/1977, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Uỷban Quốc gia UNESCO của Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của BộNgoại giao để đảm nhiệm việc thực hiện những nghĩa vụ và quyền hạn củanước mình với tư cách là một thành viên của UNESCO và việc thực hiện

Trang 31

chính sách đối ngoại đúng đắn của nhà nước Việt Nam trong quan hệ với

UNESCO “Uỷ ban Quốc gia Việt Nam được thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là: nghiên cứu và trình lên Thủ tướng chính phủ các vấn đề về phương hướng, chính sách, chương trình, kế hoạch hoạt động của Việt Nam với UNESCO” [38,75] cũng như phối hợp và điều hoà hoạt động của các ngành

có liên quan tới UNESCO

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hình ảnh dântộc Việt Nam anh dũng quật cường được nhân dân tiến bộ khắp năm châungưỡng mộ Do vậy, bọn đế quốc cùng các thế lực phản động càng ra sứctuyên truyền chống phá xuyên tạc nhà nước Việt Nam trên nhiều diễn đàn thếgiới Lợi dụng “Vấn đề Campuchia” các thế lực này muốn đẩy Việt Nam vàothế bị bao vây cô lập hơn nữa Trong bối cảnh đó, UNESCO là một trongnhững cánh cửa quan trọng, một “kênh” quốc tế vô cùng quý giá mà nướcViệt Nam đã sử dụng một cách khéo léo để hạn chế những hậu quả của chínhsách thù địch đối với đất nước, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế và khẳng định

chính nghĩa của nhân dân Việt Nam: “Trên các diễn đàn UNESCO (Đại hội đồng, Hội đồng chấp hành, các hội nghị liên chính phủ về khoa học, giáo dục, văn hoá, thông tin), các đại biểu của ta luôn nêu cao chính nghĩa hoà bình và lòng mong muốn mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế của Chính phủ và nhân dân ta thông qua các lĩnh vực hoạt động thuộc thẩm quyền của UNESCO, đồng thời đập lại những luận điệu xuyên tạc vu cáo của chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế đối với nước ta” [51,45] Bên cạnh

đó, Việt Nam vừa tích cực tham gia đấu tranh giữ vững đường lối tiến bộ củaUNESCO, bảo vệ các thành quả đã đạt được, vừa kiên quyết đấu tranh, vừakhéo léo tận dụng các mối quan hệ nhằm giữ vững và nâng cao dần hình ảnh

vị thế của Việt Nam sau chiến tranh Chính nhờ đường lối, phương pháp đấutranh ngoại giao khôn khéo, mềm mỏng Việt Nam đã ngày càng khẳng định

Trang 32

được uy tín của mình trên diễn đàn như: Được bầu vào Hội đồng chấp hànhUNESCO (1978-1983; 1981-1985), ký kết thoả thuận hợp tác trong chuyếnđến thăm Việt Nam của Tổng Giám đốc UNESCO M’Brow (1981) Năm

1982 lập cơ quan đại diện thường trú tại Pari Các sự kiện trên đã chứng tỏViệt Nam rất coi trọng và đánh giá ngày càng cao vai trò của UNESCO Pháiđoàn của Việt Nam tại đây đảm nhiệm cả quan hệ giữa Việt Nam vớiUNESCO và với khối Cộng đồng Pháp ngữ Vào thời điểm đó, hai diễn đànnày là những kênh hoạt động ngoại giao đa phương có điều kiện khá thuận lợi

để Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ của các nước phát triển ở châu

Âu như Pháp, Bỉ…và nhiều nước đang phát triển khác

Nhận thức rõ UNESCO là tổ chức hợp tác trí tuệ “Một phòng thínghiệm các ý tưởng” quốc tế liên chính phủ lớn nhất thuộc hệ thống Liên HợpQuốc và nắm bắt nhu cầu phục vụ tái thiết đất nước, trong giai đoạn này ViệtNam đã tận dụng triệt để sự hỗ trợ của UNESCO và các thành viên cho việcphát triển nguồn nhân lực quốc gia UNESCO tích cực góp phần vào việcphục hồi xây dựng một số cơ sở giáo dục, khoa học và văn hoá Đáng chú ý làBáo cáo điều tra thực trạng giáo dục của Việt Nam để làm cơ sở hoạch địnhchính sách giáo dục trong những năm tiếp theo Hàng trăm cán bộ chuyênmôn đã tham gia các khoá học, lớp đào tạo, nghiên cứu, hội nghị do UNESCO

tổ chức về các lĩnh vực này với tinh thần vừa là học hỏi kinh nghiệm của cácnước trên thế giới, vừa đóng góp những kinh nghiệm cơ bản góp phần đem lạilợi ích chung cho các bạn bè quốc tế Với những nỗ lực không biết mệt mỏicủa Việt Nam vì sự phát triển của đất nước nói chung và của thế giới nói riêng,trong lĩnh vực này đã đạt được một số kết quả đáng tự hào Việt Nam liên tụcnhận được giải “Xoá mù chữ của UNESCO” ngay trong những năm đất nước bịbao vây cấm vận (1978, 1979, 1980, 1983, 1985…)

Trang 33

Trong lĩnh vực Văn hoá, Việt Nam đã phát huy tiềm năng văn hoá dântộc, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế đối với công cuộc bảo tồn di sản văn hoásau chiến tranh UNESCO hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam mởrộng và củng cố quan hệ hợp tác trao đổi văn hoá, nhất là trong khu vực châu

Á - Thái Bình Dương Đáng chú ý nhất là chiến dịch quốc tế nhằm bảo vệ disản văn hoá cố đô Huế đang bị xuống cấp nghiêm trọng do hậu quả chiếntranh kéo dài và sự khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới được khởi xướng vàotháng 11 năm 1981 Và cũng trong thập kỷ này, khi UNESCO quyết định tổchức kỷ niệm những nhân vật lỗi lạc và những sự kiện lịch sử quan trọng,Việt Nam đã quảng bá, tuyên truyền, vận động để tổ chức này công nhậnNguyễn Trãi là “Danh nhân Văn hoá” vào năm 1980 và tổ chức kỷ niệm 600năm ngày sinh Nguyễn Trãi, hỗ trợ in, dịch để giới thiệu các tác phẩm củaông cũng như các tác phẩm văn hoá khác của Việt Nam ra thế giới

Ngoài ra, về lĩnh vực khoa học kỹ thuật Việt Nam đã tranh thủ sự hợptác và giúp đỡ tối đa của UNESCO dưới nhiều hình thức: Kỹ thuật, cung ứngthiết bị, tài trợ tài chính, học bổng để thực hiện các dự án quốc gia Bên cạnh

đó Việt Nam cũng từng bước tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học

kỹ thuật lớn của UNESCO

Như vậy, từ sau khi thống nhất đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX,việc hợp tác với UNESCO đã góp phần giảm bớt các áp lực tác hại của cuộcbao vây cấm vận thù địch với Việt Nam Thông qua đó, tranh thủ được sựgiúp đỡ, viện trợ hợp tác quý báu của các tổ chức quốc tế cũng như các nướclớn trên thế giới để xây dựng một đất nước vừa thoát khỏi cuộc hai chiếntranh ác liệt kéo dài, tổn thất lớn về người và của, đồng thời góp phần cảithiện hình ảnh và uy tín của người Việt Nam

2.1.2 Mối quan hệ Việt Nam - UNESCO từ năm 1986 đến năm 2000

Trang 34

Từ giữa những năm 80, Việt Nam phải đối mặt với những khó khănkinh tế gay gắt: Lạm phát cao, viện trợ của các nước trong hệ thống Xã hộiChủ nghĩa trước đây bị cắt giảm mạnh, đất nước bị bao vây cấm vận về kinh

tế và chính trị Tình hình càng trở nên nghiêm trọng khi bối cảnh thế giới cónhững biến đổi nhanh chóng và mạnh mẽ bất lợi cho công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa rađường lối đổi mới toàn diện đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo rabước ngoặt lịch sử của dân tộc Trong quá trình hội nhập quốc tế, Nghị quyếtĐại hội VI (1986) của Đảng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện mở cửathị trường đưa đất nước từng bước vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tếkhó khăn Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đưa ra những quốcsách đổi mới về đường lối, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao, thựchiện sách lược “thêm bạn bớt thù”, phá thế bao vây cấm vận của Mỹ Chủtrương về đối ngoại là mở cửa và hội nhập quốc tế, quan hệ với tất cả các nước cóchế độ chính trị xã hội khác nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau Lợi ích cao nhất của dân tộc ViệtNam trong giai đoạn này là: “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để pháttriển kinh tế xã hội” Thế nhưng, vào thời gian này chiến tranh Lạnh vẫn đangtiếp diễn, vì thế chính sách đối ngoại của đất nước Việt Nam vẫn nằm trongphạm vi đấu tranh giữa “ hai phe” Xã hội Chủ nghĩa và Tư bản Chủ nghĩa

Trong thời gian này, UNESCO là trung tâm của một tranh cãi trong đóHoa Kỳ và Anh cho rằng đây là một diễn đàn để các nước theo Chủ nghĩaCộng sản và thế giới thứ ba chống lại phương Tây, Hoa Kỳ và Anh lần lượtrút khỏi tổ chức năm 1984 và 1985 đã dẫn đến sự khó khăn trong tài chínhcủa tổ chức này Thế nhưng Việt Nam cùng với các nước Xã hội Chủ nghĩa

và các nước tiến bộ trên thế giới đã phối hợp đấu tranh, đã đứng vững và từngbước vượt qua khó khăn và trải qua một thời gian dài UNESCO đã ngày càng

Trang 35

khẳng định được vai trò quan trọng của mình cũng như những đóng góp vôcùng thiết yếu đối với các quốc gia nhằm nâng cao vị thế của đất nước Vì thế

âm mưu làm sụp đổ tổ chức này của Hoa Kỳ và Anh đã bị thất bại Ngược lại,vào các năm 1997 và 2003, Anh và Hoa Kỳ lần lượt tham gia vào tổ chức.Vào thời kỳ này, Việt Nam đã tỏ rõ lập trường kiên định của mình bằngnhững hoạt động tham gia thiết thực hơn, nâng cao trách nhiệm của thànhviên đối với một tổ chức quốc tế Biểu hiện cụ thể của hoạt động này là:

Năm 1987, Việt Nam phê chuẩn công uớc 1972 về bảo vệ các di sảnvăn hoá và thiên nhiên thế giới, một trong những “công cụ pháp lý mang tínhchuẩn mực” quan trọng hàng đầu của UNESCO Việc tham gia Công ước này

là một cơ sở quan trọng mang tính chiến lược lâu dài không chỉ cho việc pháttriển bền vững kinh tế - xã hội của Việt Nam mà còn là công cụ quốc tế uy tínnhất để Việt Nam tuyên truyền giới thiệu ra thế giới đất nước, con người vàbản sắc văn hoá dân tộc

Việt Nam cũng rất tích cực trong việc vận động, quảng bá hình ảnh vănhoá nước nhà ra thế giới thông qua diễn đàn UNESCO Thành công lớn nhấttrong thời gian này đó là : Khi Đại hội đồng lần thứ 24 của UNESCO (1987)

ra Nghị quyết lịch sử công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị “Anh hùng giải

phóng dân tộc và nhà văn hoá lớn”: Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng kiệt xuất của sự khẳng định quyền dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc và vì hoà bình, dân tộc, độc lập, dân chủ và tiến

bộ xã hội… Những lý tưởng của Người là hiện thân nguyện vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hoá của mình và trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc [33,10] Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng

định sự đúng đắn của sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam doChủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, cũng như đóng góp quý báu sự nghiệp của

Trang 36

Người đối với thế giới Nghị quyết khuyến nghị các nước thành viên UNESCOcùng tham gia tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trênquy mô quốc tế nhằm làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc to lớncủa tư tưởng và hoạt động của Người Trên thực tế trong năm 1990, hàng loạt cáchoạt động phong phú, đa dạng kỷ niệm và tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđược tổ chức long trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn tại trụ sở UNESCO ở Pari

và tại nhiều thủ đô, trung tâm sinh hoạt chính trị lớn của thế giới

Nhận thức rõ văn hoá là một trong những trụ cột chính đảm bảo cho sựphát triển bền vững của đất nước và là một yếu tố quan trọng trong việc đềcập và xây dựng hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, Việt Nam đã tíchcực chủ động hưởng ứng Thập kỷ Quốc tế phát triển Văn hoá (1988-1997) doUNESCO phát động Uỷ ban Thập kỷ Quốc tế phát triển Văn hóa của ViệtNam được thành lập với sự ủng hộ mạnh mẽ và rộng rãi của nhiều nhà vănhoá, học giả lớn của Việt Nam Hoạt động của Uỷ ban trong thập kỷ nàykhông những đã góp phần thực hiện tốt công tác tuyên truyền văn hoá đốingoại, chấn hưng văn hoá nước nhà, mà còn cung cấp những tư liệu nghiêncứu và bài học quốc tế quý báu làm cơ sở tham khảo để Đảng Cộng sản ViệtNam đưa ra Nghị quyết trung ương 5 khoá VIII (1996) nhấn mạnh việc “Xâydựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Nhiềukhái niệm và loại hình văn hoá của thế giới đã được đưa vào làm cơ sở choviệc xây dựng Luật Di sản Văn hoá 2001

Cuối những năm 80 đầu những năm 90, tình hình thế giới có nhiều biếnđổi to lớn, chiến tranh Lạnh kết thúc và trật tự hai cực sụp đổ, hệ thống cácnước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, phần lớn các nền kinh

tế kế hoạch tập trung trên thế giới chuyển sang nền kinh tế thị trường Trật tựthế giới mới sau chiến tranh Lạnh chưa hình thành Trong bối cảnh quốc tếthay đổi, sự giúp đỡ của phe Xã hội Chủ nghĩa không còn nữa, Đảng Cộng

Trang 37

sản Việt Nam đã mạnh dạn đổi mới tư duy chính trị, phát huy cao độ nội lực,

đề ra và phát triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối ngoạirộng mở “đa dạng hoá, đa phương hoá” trong quan hệ quốc tế để phục vụ sựphát triển đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991)

đã đề ra đường lối đối ngoại với phương châm: “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” nhằm mục tiêu: “Phải giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [10,119-120] Đây là một bước tiến mới trong hoạt động đối

ngoại của Việt Nam

Mối quan hệ hợp tác này không chỉ một chiều mà ngược lại trong lĩnhvực văn hoá, UNESCO đóng vai trò chủ chốt trong việc giới thiệu các truyềnthống và văn hoá của Việt Nam cho thế giới Lễ kỷ niệm các danh nhân lịch

sử và văn hoá của Việt Nam đã được tổ chức, UNESCO cũng hỗ trợ tạo điềukiện thuận lợi để Việt Nam mở rộng và củng cố quan hệ hợp tác trao đổi vănhoá nhất là trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tổng Giám đốcUNESCO, Federico Mayor sang thăm chính thức Việt Nam năm 1992 và kýkết “Bản ghi nhớ” trong đó có nhiều cam kết tăng cường, giúp đỡ hợp tác vớiViệt Nam về văn hoá, giáo dục, khoa học, thông tin Đáng chú ý nhất có lẽ làChiến dịch Quốc tế nhằm bảo vệ di sản văn hoá cố đô Huế, được khởi xướngvào tháng 11/1981 Thông qua chiến dịch này, Chính phủ Việt Nam đã đượctiếp nhận hỗ trợ cả về mặt kỹ thuật lẫn về tài chính, từ các chuyên gia quốc tế

và các chính phủ tài trợ Hỗ trợ của UNESCO vẫn tiếp tục duy trì sau khichiến dịch ưu tiên di sản văn hoá Huế kết thúc, cụ thể là khi Huế được đưavào danh sách của UNESCO về di sản thế giới (1993) Sự hỗ trợ này bắt đầu

Trang 38

với một chiến dịch bảo vệ di sản Huế - di sản thế giới kéo dài trong hai năm

1994 và 1995 Thông qua các hoạt động đào tạo, các cuộc hội thảo, nhân viênlàm việc trong lĩnh vực văn hoá ở Huế và các nơi khác trong nước đã đượcđào tạo để quản lý và giám sát các địa danh lịch sử, các giáo viên, các nhàquản lý hành chính của các trường học được huy động để hỗ trợ cho ý tưởngbảo tồn di sản văn hoá và nhận thức về di sản văn hoá Sau Quần thể di tíchHuế một năm, năm 1994 vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thiên nhiênthế giới, có giá trị đặc biệt của nhân loại

Cũng trong hoạt động văn hoá của UNESCO ở Việt Nam, một dự án

mang tên Phát triển cộng đồng hoà nhập và bảo tồn di sản văn hoá thông qua

nỗ lực địa phương viết tắt là LEAP đã được thực hiện Hàng loạt các vấn đề

bảo tồn môi trường, bảo tồn di sản văn hoá, sự xuống cấp của nông thôn vàảnh hưởng của các ngành công nghiệp du lịch đã đựơc giải quyết và Hội Anđược chọn là một trong năm địa danh thực hiện dự án

Ngoài ra, Việt Nam đã vận động, tranh thủ được UNESCO đứng ra kêugọi, tập hợp các tổ chức tài chính thế giới tài trợ cho sự nghiệp giáo dục củaViệt Nam Ngân hàng thế giới, đối tác của UNESCO đã quyết định cấp vốn

70 triệu đô la cho Việt Nam để triển khai Chương trình phổ cập giáo dục tiểuhọc, sau khi Việt Nam hoàn thành dự án đánh giá tổng thể về giáo dục vànguồn nhân lực ở Việt Nam do UNESCO tài trợ UNESCO đã trao giảithưởng về công tác xoá mù chữ cho Việt Nam vào các năm 1988, 1997 và

2000 Gải thưởng về âm nhạc của Hội đồng âm nhạc thế giới của UNESCO

và nhiều giải thưởng tại các cuộc thi về tranh ảnh do trung tâm văn hoá Châu

Á - Thái Bình Dương của UNESCO (ACCU) tổ chức hàng năm

Như vậy trong suốt giai đoạn cuối những năm 80 đến cuối những năm

90 của thế kỷ trước, quan hệ Việt Nam - UNESCO đã góp phần không nhỏcải thiện nâng cao vị thế của người Việt Nam trên trường quốc tế Mối quan

Trang 39

hệ hợp tác giữa Việt Nam - UNESCO đã trực tiếp đóng góp cho công cuộcxây dựng đất nước vào thời điểm khó khăn của Việt Nam thông qua các tàitrợ, giúp đỡ kỹ thuật của tổ chức UNESCO đã góp phần phá thế bao vây cấmvận về kinh tế, chính trị của các thế lực thù địch sau chiến tranh, tuyên truyềnquảng bá về hình ảnh Việt Nam thông qua các hoạt động với UNESCO vàcộng đồng quốc tế, tích cực chủ động tham gia vào các thể chế quốc tế và

“luật chơi chung” nhưng hơn nữa là thông qua kênh UNESCO, Việt Nam đãtăng cường tiếp xúc hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế về vậtchất, kỹ thuật và nghiên cứu những ý tưởng tốt, kinh nghiệm hay của cácnước trong khu vực và trên thế giới để tham khảo góp phần hình thành đườnglối chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực văn hoá,khoa học, giáo dục và truyền thông, thu phục dần lòng tin của các đối tác Cóthể nói đây là giai đoạn đổi mới tư duy, tiên phong để thực hiện chính sách

“thêm bạn bớt thù”

2.2 Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với UNESCO trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI

2.2.1 Bối cảnh quốc tế thập kỷ đầu của thế kỷ XXI

Hoà bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thế giới, vì thế mốiquan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trong những năm tới là đảm bảohoà bình, ổn định, độc lập, hợp tác để phát triển, bảo vệ lợi ích dân tộc và khắcphục tình trạng bất bình đẳng về kinh tế, xã hội Trong quá trình toàn cầu hoákinh tế, các nước lớn đang tranh thủ thời cơ vươn lên mạnh mẽ, lợi ích giữacác quốc gia dân tộc đan xen lẫn nhau tạo cục diện vừa đấu tranh vừa hợp tác.Các nước đều tranh thủ hoà bình, hợp tác, lựa chọn con đường phát triển đểbảo vệ nền độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc, chống lại sự

áp đặt về chính trị Trên thế giới, tuy vẫn xảy ra những “điểm nóng”, xung độtnhưng nhìn chung hoà bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn

Trang 40

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triểnvừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợiquốc gia Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt,đòi hỏi các nước phải đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, đặt ra vịtrí mới của giáo dục Các nước đều xem phát triển giáo dục là nhiệm vụ trọngtâm của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội dành cho giáo dục những ưu tiênđầu tiên, đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm giành ưu thế cạnh tranh trên trườngquốc tế Quá trình toàn cầu hoá cũng chứa đựng nguy cơ chảy máu chất xám

ở các nước đang phát triển khi mà các nhân lực ưu tú có nhiều khả năng bị thuhút sang các nước giàu có Giáo dục trong thế kỷ XXI, phải thực hiện được sứmệnh nhân văn trong tiến trình toàn cầu hoá, biến toàn cầu hoá thành điều có ýnghĩa đối với từng con người, với tất cả các quốc gia Giáo dục đóng vai trò quantrọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo

cơ hội học tập cho mỗi người dân Giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kếtcủa mỗi quốc gia Hệ thống giáo dục, chương trình và phương pháp của các quốcgia tiếp tục được thay đổi nhằm xoá bỏ mọi ngăn cách trong nhà trường, cung cấpcác tri thức hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới phát sinh của nền kinh tế

Thời đại cũng đang chứng kiến vị thế nổi bật của giáo dục Đại học, hầuhết các trường Đại học trên thế giới đang tiến hành những cải cách toàn diện

để trở thành những trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyểngiao công nghệ và xuất khẩu tri thức

Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ làmnền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức Thế giới đang hướng tới cuộc cáchmạng công nghiệp, lấy tri thức làm động lực phát triển Trình độ mới và ứngdụng tri thức quyết định phát triển của mỗi quốc gia Khoa học công nghệ trởthành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội Sự phát triển của khoahọc, công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bài (2004), Tham luận tại Hội nghị khu vực cấp bộ trưởng về Đối thoại giữa các nền văn hoá, văn minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị khu vực cấp bộ trưởngvề Đối thoại giữa các nền văn hoá, văn minh
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2004
2. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tài liệu nghiên cứu các nghịquyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2003
3. Bộ ngoại giao (2002), Sổ tay kiến thức đối ngoại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kiến thức đối ngoại
Tác giả: Bộ ngoại giao
Năm: 2002
4. Bộ ngoại giao, (2005) Các tổ chức quốc tế và Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức quốc tế và Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
5. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2003), Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người (2003 - 2015), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động quốc gia giáo dụccho mọi người (2003 - 2015)
Tác giả: Bộ Giáo dục - Đào tạo
Năm: 2003
6. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàncầu hoá
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
7. Nguyễn Văn Dân dịch (2005) Tuyên ngôn thế giới của UNESCO về đa dạng văn hoá, Thông tin Khoa học và Xã hội, (274) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Khoa học và Xã hội
8. Nguyễn Văn Dân (2006), “Khía cạnh văn hoá của phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá”, Thông tin Khoa học và xã hội, (283) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh văn hoá của phát triển bền vữngtrong bối cảnh toàn cầu hoá”, "Thông tin Khoa học và xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2006
9. Dự án VIE/01/021 (2004), Phát triển bền vững, Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững
Tác giả: Dự án VIE/01/021
Năm: 2004
10. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2003
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Đại hội đồng UNESCO lần thứ 34 họp tại Paris (2007), Tạp chí Chân trời UNESCO, (số 56) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Chântrời UNESCO
Tác giả: Đại hội đồng UNESCO lần thứ 34 họp tại Paris
Năm: 2007
14. Đài tiếng nói Việt Nam (2005), Tầm nhìn UNESCO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nhìn UNESCO
Tác giả: Đài tiếng nói Việt Nam
Năm: 2005
15. Phạm Xuân Nam (2004), “UNESCO và việc bảo vệ các di sản văn hoá phi vật thể”, Chân trời UNESCO , (số 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNESCO và việc bảo vệ các di sản văn hoáphi vật thể”," Chân trời UNESCO
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Năm: 2004
16. Phạm Minh Hạc (2007), “Học được rất nhiều ở UNESO”, Chân trời UNESCO, (số 50), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học được rất nhiều ở UNESO”, "Chân trờiUNESCO
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Hàm (2004), “Bảo tồn các di sản văn hoá thế giới ở Quảng Nam”, Chân trời UNESCO, (số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn các di sản văn hoá thế giới ởQuảng Nam”," Chân trời UNESCO
Tác giả: Nguyễn Văn Hàm
Năm: 2004
18. Nguyễn Quốc Hùng (2006), “Về việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản”, Chân trời UNESCO, (số 38) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc bảo tồn và phát huy giá trị disản”, "Chân trời UNESCO
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2006
19. Nguyễn Quốc Hùng (2006), “Bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới tại Việt Nam”, Di sản văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thếgiới tại Việt Nam”, "Di sản văn hoá
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2006
20. Nguyễn Thế Hùng (2010), “Bảo vệ và phát huy những giá trị di sản văn hoá tại Việt Nam 2010 - thách thức và nhiệm vụ”, Di sản Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát huy những giá trị di sảnvăn hoá tại Việt Nam 2010 - thách thức và nhiệm vụ”
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Năm: 2010
21. Phạm Gia Khiêm (2001), Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 với vấn đề đa dạng văn hoá và lòng khoan dung, Tạp chí Cộng sản, (số 24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng sản
Tác giả: Phạm Gia Khiêm
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w