Việc nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và các nớc trong khu vực, góp phần tăng cờng quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nớc Đông Nam á là phù hợp
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng Đại học Vinh
Trang 2Vinh 2007
Trang 3bộ giáo dục và đào tạo trờng Đại học Vinh
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Việt Nam và Mianma là hai quốc gia ở khu vực Đông Nam á, cả hai
nớc có nhiều nét tơng đồng về văn hoá, lịch sử và quan hệ truyền thống tốt đẹp Cùng với thời gian, mối quan hệ này đã đợc thử thách và phát triển trên nhiều lĩnh vực Nhân dân hai nớc đã từng giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
1.2 Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập tổ chức Hiệp hội các nớc Đông
Nam á (ASEAN) và sau đó gần 2 năm, cùng với Lào, Mianma cũng gia nhập
tổ chức này Cả Việt Nam và Mianma đều là những quốc gia Đông Nam á lục
địa Cả hai sau khi giành đợc độc lập đều mong muốn phát triển hoà bình tự do Cùng với sự gia nhập của Cămpuchia 1999 thì mơ ớc về một ASEAN 10 đã thành hiện thực Vì vậy, hiện nay cả Việt Nam và Mianma đang cùng với các n-
ớc trong tổ chức ASEAN, phấn đấu xây dựng một Đông Nam á hoà bình, hợp tác và phát triển Việt Nam và Mianma đang xích lại gần nhau hơn để tăng cờng hiểu biết và hợp tác trên nhiều lĩnh vực
1.3 Trong xu thế chung ngày nay khi hội nhập khu vực và quốc tế đối
với tất cả các nớc là tất yếu, thì việc tăng cờng tìm hiểu các nớc là cần thiết Việc nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và các nớc trong khu vực, góp phần tăng cờng quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nớc Đông Nam á là phù hợp với chủ trơng: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc" mà Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra.
1.4 Trong những năm gần đây, Việt Nam và Mianma luôn quan hệ tốt
đẹp và thờng xuyên có các hoạt động thăm viếng lẫn nhau Mianma xem Việt
Trang 5Nam là đối tác tin cậy và có mối quan hệ tốt đẹp Tuy nhiên, bên cạnh mối quan
hệ chính trị- ngoại giao tốt đẹp, thì quan hệ kinh tế thơng mại còn cha tơng xứng, đây là thách thức lớn đặt ra cho cả hai nớc Việt Nam và Mianma
Với lý do trên việc tìm hiểu Việt Nam và Mianma là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nó không những giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử Việt Nam - Mianma, mà còn giúp chúng ta rút ra đợc kinh nghiệm trong quan hệ với các nớc khác ở trong khu vực và trên thế giới Là những ngời học tập và nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Mianma là cần thiết, bên cạnh nghiên cứu quan hệ Việt Nam với các nớc trong Đông Nam á khác
Bởi vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề: Quan hệ Việt Nam - Mianma giai“
đoạn 1975 - 2005” làm đề tài luận văn Thạc sĩ lịch sử với hy vọng đóng góp
phần nhỏ vào việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam với từng thành viên của
tổ chức ASEAN và tăng thêm sự hiểu biết cho bản thân và phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Quan hệ Việt Nam và Mianma là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn sâu sắc Do vậy từ trớc tới nay đã có không ít tác giả trong và ngoài
n-ớc nghiên cứu vấn đề dới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên trong điều kiện cho phép, chúng tôi mới chủ yếu tiếp cận đợc bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nớc Nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc gồm nhiều dạng: sách tham khảo, sách chuyên khảo, luận án, các bài viết đăng trên báo và tạp chí (Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam á, Nghiên cứu Quốc tế, Những vấn đề kinh tế thế giới, Báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, t…liệu của Thông tấn xã Việt Nam) , các tài liệu lu hành nội bộ (Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao)
2.2 Dới đây là một số tài liệu nghiên cứu về Việt Nam - Mianma mà
chúng tôi tiếp cận đợc
Trang 6Trong tác phẩm “Việt Nam - ASEAN quan hệ đa ph ơng, song phơng” là
chuyên đề tập hợp của các tác giả do giáo s Vũ Dơng Ninh chủ biên có bài viết
Mianma và vấn đề hội nhập khu vực
Bài viết đã điểm qua quan hệ Việt Nam - Mianma từ sau khi hai nớc giành đợc
độc lập đến năm 2003
Trong luận án Tiến sĩ Lịch sử “Hoạt động đối ngoại của n ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà thời kỳ 1945-1950” của tác giả Nguyễn Trọng Hậu, trong đó
điểm qua quan hệ Việt Nam và Mianma những năm 1947 đến 1949
Khi trình bày về chính sách đối ngoại của Mianma trong tác phẩm
Quan hệ đối ngoại của các n
“ ớc ASEAN”, tác giả Nguyễn Xuân Sơn và Thái
Văn Long (đồng chủ biên) đã trình bày quan hệ Mianma và một số nớc khác trong khu vực
Cũng trình bày về chính sách đối ngoại của Mianma trong tác phẩm
“Lịch sử phát triển Mianma sau khi giành đợc độc lập” của tác giả Vũ Quang
Thiện đã trình bày chính sách đối ngoại của Mianma trong khu vực
Vấn đề quan hệ Việt Nam - Mianma cũng đợc đề cập đến trong một số bài báo viết đăng trên các tạp chí, dới những lĩnh vực và góc độ khác nhau, cụ thể là:
Trong bài viết “Mê Công - sông mẹ - dòng sông khoan dung” đợc đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 6 năm 2004, tác giả nêu lên sự hợp tác giữa 6 quốc gia có sông Mê Công chảy qua, trong đó có Việt Nam và Mianma
Trên tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn số 5 có bài “Hợp tác giữa các nớc tiểu vùng sông Mê Công: cơ hội và thách thức” trong đó đặt ra yêu cầu về
quan hệ hợp tác giữa các nớc tiểu vùng sông Mê Công
Tác giả Hoàng Nguyên đề cập đến quan hệ ngoại giao Việt Nam và Mianma trong thời kỳ 1948 - 1949 qua bài viết “Quan hệ Việt Nam - Thái Lan
- Mianma 1948 - 1949” đợc đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á.
Trang 7Tác giả Hồng Sơn có bài viết “47 năm tr ớc có một đoàn tàu cắm cờ đỏ sao vàng chạy trên đất Mianma” đăng trên tạp chí Sự kiện và Nhân chứng,
trong đó đề cập về việc chính phủ Mianma giúp chúng ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
2.3 Qua khảo sát nguồn t liệu, chúng tôi xin đợc rút ra một số nhận xét
sau đây:
- Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Mianma từ 1975 đến nay
đã thu hút đợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc Tuy nhiên, có thể nói rằng do mục đích và góc độ nghiên cứu, nên quan hệ Việt Nam - Mianma cho đến nay vẫn cha có công trình nào thật hoàn chỉnh và có hệ thống dới góc độ sử học
- Các công trình mà chúng tôi dẫn ra ở trên đã ít nhiều đề cập đến quan
hệ Việt Nam - Mianma Tuy nhiên, đa số các công trình cũng chỉ mới phản ánh
đợc một lĩnh vực hoặc một giai đoạn cụ thể của mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Mianma
- Một số tài liệu đề cập đợc mối quan hệ Việt Nam - Mianma từ sau khi hai nớc giành đợc độc lập Tuy nhiên, cha đầy đủ và chi tiết nhất là ở những năm gần đây
- Đa số các công trình đều kết luận quan hệ Việt Nam - Mianma là mối quan hệ hợp tác tốt đẹp diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử Mối quan hệ này có vai trò trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam á
Từ những kết quả nghiên cứu nói trên, chúng tôi tham khảo, tiếp thu chọn lọc và từ góc độ lịch sử tác giả luận văn tập trung trình bày một cách có hệ thống mối quan hệ hợp tác quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 - 2005, một giai đoạn với những dấu mốc quan trọng trong quan hệ của hai nớc
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hớng tới làm sáng tỏ một số vấn đề sau đây:
Trang 83.1.1 Tác giả luận văn tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản
về mối quan hệ Việt Nam - Mianma trong tiến trình xây dựng và phát triển của cả hai nớc trong thời kỳ 1975 - 2005 Đây là thời kỳ quan hệ giữa hai nớc đã không chỉ kế tiếp mối quan hệ sẵn có mà còn có bớc phát triển vợt bậc Thực tế cho thấy mối quan hệ này đã trở thành nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển của mỗi nớc
3.1.2 Quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam và Mianma giai đoạn 1975 -
2005 là mối quan hệ tơng đối toàn diện, từ năm 1975 - 2005 là giai đoạn mà cả Việt Nam và Mianma có những bớc phát triển mạnh mẽ đặc biệt sau khi cả hai gia nhập vào tổ chức ASEAN
3.1.3 Quan hệ Việt Nam và Mianma giai đoạn 1975 - 2005 là mối quan
hệ đợc kế thừa từ truyền thống Nó thể hiện sự hợp tác, đoàn kết vì mục tiêu xây dựng Đông Nam á ổn định, hoà bình và phồn vinh Do vậy qua luận văn này giúp chúng ta thấy đợc những đóng góp thiết thực với quan hệ Việt Nam - Mianma trong sự phát triển chung của toàn Đông Nam á
3.1.4 Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 - 2005 đã
cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nớc trong lịch sử phát triển một cách liên tục, không gián đoạn Từ đó, chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn Đồng thời nó cũng giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm trong quan hệ Việt Nam với các nớc khác ở Đông Nam á
Mục đích của luận văn không nằm ngoài việc làm sáng tỏ các vấn đề nói trên
3.2 Nhiệm vụ
Quan hệ Việt Nam - Mianma là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam cũng nh Mianma, do vậy việc nghiên
Trang 9cứu nội dung quan hệ Việt Nam - Mianma, trong giai đoạn 1975 - 2005 là nhiệm vụ khoa học cần thiết góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết về hai nớc
Đồng thời, thông qua mối quan hệ này giúp chúng ta nhận thức đợc cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ Việt Nam - Mianma trong giai đoạn tiếp theo Trên cơ sở đó tác giả luận văn cố gắng giải quyết những vấn đề sau đây:
3.2.1 Tác giả hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ hữu nghị
hợp tác Việt Nam - Mianma trên một số lĩnh vực chính trị - ngoại giao, hợp tác kinh tế, thể thao, văn hoá…
3.2.2 Tác giả cố gắng trình bày một số nhân tố tác động đến quan hệ
Việt Nam - Mianma và rút ra những đặc điểm của mối quan hệ này
3.2.3 Trên cơ sở những thành tựu của quan hệ Việt Nam và Mianma, tác
giả luận văn cố gắng làm rõ vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của Mianma cũng nh Việt Nam, đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay
3.2.4 Từ thực tế quan hệ Việt Nam - Mianma, tác giả cố gắng rút ra
những bài học trong quan hệ hai nớc, bớc đầu phác thảo một số giải pháp góp phần tăng cờng mối quan hệ hai nớc Việt Nam - Mianma, cũng nh mối quan hệ của hai nớc với các nớc trong tổ chức ASEAN
Trên đây là một số nhiệm vụ mà tác giả đặt ra, hy vọng khi thực hiện luận văn này, các nhiệm vụ đó đợc giải quyết
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài Quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 - 2005“ ” đợc chúng tôi giới hạn bởi những mặt sau:
4.1 Để có tên gọi thống nhất trong quá trình nghiên cứu, vì vậy trong
toàn bộ luận văn chúng tôi lấy tên chung là Mianma (thay cho tên trớc năm
1989 là Miến Điện)
Trang 104.2 Về mặt thời gian: Thời gian nghiên cứu đợc giới hạn bởi mốc mở đầu
là năm 1975 và mốc kết thúc là năm 2005 Tuy nhiên là một đề tài sử học, luận văn không thể không đề cập đến một số nội dung liên quan ở thời kỳ trớc năm
1975, nhằm làm sáng tỏ truyền thống tốt đẹp và sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Mianma
Chúng tôi lấy mốc mở đầu của đề tài là năm 1975 với lý do sau đây: Ngày 28 - 5- 1975, Mianma thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Việt Nam
Chúng tôi lấy mốc kết thúc đề tài là năm 2005 với lý do chính sau đây:Năm 2005 là năm diễn ra hàng loạt các hoạt động ngoại giao của hai nớc,
là năm kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mianma
Cũng trong năm này, trong các ngày 7 - 8/4/2005, Thủ tớng Mianma, Ngài Xô Uyn đã thăm chính thức Việt Nam
4.3 Về mặt nội dung:
Tác giả luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Mianma trong giai đoạn 1975 - 2005, trên tất cả các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, hợp tác kinh tế và hợp tác trên một số lĩnh vực khác nh thể thao, phòng chống tội phạm…
Ngoài ra, tác giả cố gắng trình bày những nhân tố ảnh hởng tới mối quan
hệ Việt Nam - Mianma qua từng thời kỳ: trớc năm 1975, thời kỳ 1975 - 2005
Đồng thời tác giả rút ra đặc điểm và nêu lên triển vọng của mối quan hệ này
Trang 11- Các tài liệu về quan hệ Việt Nam - Mianma lu trữ ở Bộ Ngoại giao, Học viện quan hệ quốc tế, Đại sứ quán Mianma tại Hà Nội, một số tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công an…
- Các tài liệu về lịch sử Mianma, lịch sử Đông Nam á, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ hoặc tài liệu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Mianma lu trữ ở
th viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, Viện nghiên cứu Đông Nam á, Th viện Quốc gia Việt Nam, Th viện Quân
đội…
- Các bài viết đăng trên báo và tạp chí: Báo Nhân Dân, Nghiên cứu Đông Nam á, Nghiên cứu Quốc tế, Những vấn đề kinh tế thế giới…
Trên đây là một số nguồn tài liệu mà tác giả luận văn tiếp cận đợc, song
điều băn khoăn là chúng tôi cha tiếp cận đợc nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nớc ngoài viết về quan hệ Việt Nam - Mianma Đó chính là khó khăn làm ảnh hởng đến chất lợng của đề tài
5.2 Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 -“
2005” chúng tôi không coi đó là mối quan hệ hoàn toàn mới, mà nó thực sự có
tiền đề trong lịch sử và đợc phát triển qua từng giai đoạn lịch sử nhất định Do vậy, chúng tôi đã sử dụng phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phơng pháp nghiên cứu lịch sử và phơng pháp logic Đề tài còn sử dụng thích hợp một
số phơng pháp khác nh: phơng pháp định lợng, thống kê, đối chiếu so sánh để giải quyết những vấn đề mà luận văn đa ra
Từ các nguồn t liệu tiếp cận đợc, với những phơng pháp nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn cố gắng khai thác và xử lý các thông tin một cách khách quan và trung thực
6 Đóng góp của luận văn
Trang 126.1 Luận văn là công trình tổng hợp, hệ thống hoá nguồn t liệu và những
kết quả nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Mianma từ năm 1975 đến năm 2005 trên tất cả các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hoá giáo dục, thể thao Với nguồn t… liệu này, luận văn phần nào giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và hiểu biết thêm về lịch sử quan hệ Việt Nam - Mianma
6.2 Trên cơ sở nguồn t liệu cho phép tác giả luận văn đã xác định đợc
những nhân tố tác động đến mối quan hệ Việt Nam - Mianma qua từng giai
đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời chúng tôi cũng đa ra nội dung chính của mối quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 - 2005, rút ra đặc điểm và nêu lên một số dự báo về mối quan hệ này trong tơng lai
6.3 Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hớng chuyên đề, luận văn trớc hết
phục vụ cho giảng dạy, biên soạn bài giảng, sau nữa là nguồn t liệu quan trọng
về lịch sử quan hệ Việt Nam - Mianma
7 Bố cục của luận văn
Luận văn với tiêu đề Quan hệ Việt Nam - Mianma giai đoạn 1975 -“
2005” gồm 108 trang, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội
dung chính gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Mianma
(1975 - 2005)
Chơng 2: Quan hệ Việt Nam - Mianma 1975 - 2005
Chơng 3: Nhận xét về quan hệ Việt Nam - Mianma 30 năm qua.
Trang 13Chơng 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ
Việt Nam - Mianma (1975-2005)
1.1 Sự tơng đồng về văn hoá - lịch sử
Cùng sinh tụ trên một khu vực địa lý, c dân Đông Nam á đã sáng tạo nên một nền văn hoá bản địa có nguồn gốc chung từ thời tiền sử và sơ sử trớc khi tiếp xúc với nền văn hoá Trung Hoa và ấn Độ Xét về cội nguồn, Đông Nam á
có những đặc điểm văn hoá chung, tạo nên tính thống nhất của c dân toàn vùng
Theo một số nhà nghiên cứu thì c dân Đông Nam á có những nét chung, thống nhất về mặt văn hoá, vì c dân ở đây có chung một nền tảng văn hoá, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nớc làm phơng thức hoạt động kinh tế chính Nền nông nghiệp lúa nớc Đông Nam á không những bao hàm những nét tơng đồng trong canh tác, mà còn có nét tơng đồng về đời sống văn hoá tinh thần Vì thế từ những chuyện thần thoại đến lễ hội; từ phong tục tập quán đến âm nhạc nghệ thuật, kể cả múa hát đều ít nhiều chịu ảnh h… ởng và phản ánh đời sống của c dân nông nghiệp lúa nớc
Là hai quốc gia Đông Nam á lục địa, có nền nông nghiệp trồng lúa nớc phát triển từ rất sớm và là những nớc xuất khẩu gạo lớn của thế giới, cả Việt Nam và Mianma có sự tơng đồng trên nền tảng văn hoá đó Sự gần gũi về văn hoá của hai nớc không chỉ có trong những nét chung, mà hầu nh trong các lễ hội và các đồ vật sử dụng trong lễ hội đều mang những nét tơng đồng nh nhau,
“có nhiều dân tộc vẫn sử dụng trống đồng trong các nghi lễ truyền thống, hoặc khi muốn biểu lộ uy quyền của các vị tù trởng nh: ngời Mờng (ở Việt Nam) ng-
ời Karen (ở Mianma)” [49; 32]
Từ những thế kỷ đầu công nguyên những tôn giáo lớn của ấn Độ bắt đầu
du nhập và phát huy ảnh hởng tới đời sống văn hoá tinh thần của các c dân
Trang 14Đông Nam á Từ đây, văn hóa Việt Nam và Mianma thấm đợm t tởng Phật giáo ở Mianma, Phật giáo đợc xem là quốc giáo với hàng nghìn công trình chùa tháp đợc xây dựng khắp đất nớc này và ngời ta thờng gọi Mianma là “đất nớc chùa Vàng” Việt Nam tuy Phật giáo không đợc xem là quốc giáo, nhng đó
là tôn giáo có số tín đồ đông nhất và là tôn giáo bám rễ sâu vào đời sống tâm linh của ngời dân
Sau khi Phật giáo đợc du nhập vào Mianma và Việt Nam, thì nó không dừng lại ở tôn giáo đơn thuần nữa mà đã tạo nên đợc bản sắc văn hoá riêng cho từng dân tộc, là sợi dây đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân Từ sự tiếp thu Phật giáo cộng với nền văn hoá bản địa, mà cả hai nớc xây dựng nên đợc một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Không chỉ có tơng đồng về văn hoá, Việt Nam và Mianma cũng có sự
t-ơng đồng về lịch sử Để có đợc hoà bình ấm no nh hiện nay, cả hai dân tộc Việt Nam và Mianma đều phải trải qua quá trình đấu tranh để chống lại các thế lực ngoại xâm Từ xa xa, các thế lực phong kiến phơng Bắc luôn luôn đe doạ xâm l-
ợc các dân tộc yếu, trong thời kỳ bành trớng của đế quốc Nguyên - Mông, hầu
nh tất cả các nớc đều là đối tợng bị thôn tính và xâm chiếm
Năm 1284, quân Nguyên - Mông đánh vào Mianma, quốc vơng Narasihapati đã chiến đấu lại rất anh dũng nhng rốt cuộc phải bỏ trốn khỏi kinh thành rồi chết Sau khi ông chết, các con của ông tranh giành ngôi báu làm cho sức mạnh đoàn kết không còn Lợi dụng tình hình đó, quân Nguyên - Mông đã tấn công và Mianma phải chịu sự thần phục triều đình nhà Nguyên [50; 30]
Đối với Đại Việt, cũng giống nh Mianma, là đối tợng nằm trong kế hoạch xâm chiếm của quân Nguyên - Mông Tuy nhiên, đến đây quân giặc đã phải chống lại sức mạnh đoàn kết của quân và dân nhà Trần, vì vậy cả 3 lần xâm lợc thì quân Nguyên - Mông đều bị đánh cho tan tác
Trang 15Cuộc kháng chiến chống xâm lợc quân Nguyên - Mông vào thế kỷ XIII
là một trong những mốc son lịch sử, không những của tổ quốc Việt Nam, mà còn là một điểm son rực rỡ của lịch sử Đông Nam á và thế giới
Trong thời kỳ chống chủ nghĩa thực dân, cả Việt Nam và Mianma là đối tợng chịu sự xâm lợc của chủ nghĩa t bản phơng Tây Đây không chỉ là đặc
điểm riêng cho cả hai dân tộc, mà ngoài Thái Lan và Nhật Bản thì hầu nh tất cả các nớc ở châu á đều chịu sự thống trị của chủ nghĩa t bản phơng Tây
Tháng 1 - 1824, thực dân Anh bắt đầu xâm lợc Mianma và sau 3 lần gây chiến (1824, 1825 và 1885), Mianma rơi vào cảnh thuộc địa Cũng đồng thời với thời gian này, năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu xâm lợc Việt Nam và đến năm 1884 thì thực dân Pháp đã đặt ách thống trị lên toàn đất nớc ta
Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, trong khi phát xít Đức đang thắng thế
ở mặt trận phía Tây, thì ở châu á, phát xít Nhật tăng cờng chuẩn bị thay chân các nớc phơng Tây thống trị Đông Nam á Với khẩu hiệu "châu á của ngời châu á" hay "trao trả độc lập cho các dân tộc Đông Nam á", phát xít Nhật đã
nhanh chóng thế chân các nớc đế quốc để đặt ách nô dịch ở khu vực này Cả hai dân tộc Việt Nam và Mianma đều phải chung số phận bị phát xít Nhật xâm chiếm
Trong những năm tháng bị phát xít Nhật chiếm đóng, nhân dân hai nớc
đều cùng chịu cảnh áp bức bóc lột nặng nề
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam giành đợc độc lập, tuy nhiên sau đó lại bớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, còn Mianma phải
đấu tranh đòi độc lập từ tay thực dân Anh
Nh vậy, tuy Việt Nam và Mianma không phải là những nớc láng giềng Nhng cả hai đều có sự tơng đồng về văn hóa và lịch sử
1.2 Mối quan hệ truyền thống sau khi giành đợc độc lập (1945 - 1975)
Trang 16Trong lịch sử, ngời Việt và ngời Miến đã có những cuộc tiếp xúc ngay từ khoảng thế kỷ đầu tiên sau công nguyên Sử sách ghi lại rằng "ngời Miến từ nớc Thiện và nớc Phiên trên lãnh thổ Mianma ngày nay đã sang buôn bán với ngời Việt từ không thế kỷ XII đến thế kỷ XIII [32; 103].
Tuy nhiên, thời gian này việc bang giao Việt Nam và Mianma mới chỉ
b-ớc đầu, vì vị trí của hai quốc gia cách trở và không thuận tiện giao lu buôn bán Quan hệ của hai nớc cũng mới chỉ sử ghi đến thời nhà Nguyễn "vào năm 1824 thời Minh Mạng sứ bộ Mianma tới thành Gia Định, xin thần phục Việt Nam và
có phẩm vật triều cống" [38; 74]
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới thay đổi
về cơ bản Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, lực lợng đế quốc suy yếu, không còn giữ vị trí u thế nh trớc CNXH từ một nớc nay đã trở thành một hệ thống thế giới Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở nhiều nớc thuộc địa và phụ thuộc "Sự thay đổi tình hình thế giới sau chiến tranh đã đa lại cho phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào cách mạng các nớc thuộc địa và phụ thuộc, những thuận lợi căn bản" [18; 219]
Nhân dân Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dơng, đã tận dụng điều kiện khách quan thuận lợi đó để giành độc lập dân tộc Với Mianma, ngày 12 - 8 -1945, quân Nhật đầu hàng và ngày 16 - 10 đã khôi phục chế độ của Ba Maw Nhng thực dân Anh đã thay mặt quân đồng minh nhanh chóng trở lại cai trị Mianma
Do phong trào đấu tranh của nhân dân Mianma, ngày 4/1/1948, Anh buộc phải trao trả độc lập hoàn toàn cho nớc này Từ đây mối quan hệ Việt Nam
và Mianma bớc sang một trang mới
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Việt Nam bị bao vây tứ phía cho nên cần phải tìm một cửa ngõ để liên lạc với bên ngoài, để ngời nớc ngoài và ngay cả những Việt kiều khi đó đang sống chủ yếu tại Pháp, hiểu về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Cửa ngõ mà ta định thiết lập
Trang 17khi đó là thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) Chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ đã cho Việt Nam thiết lập một cơ quan đại diện do ông Nguyễn Đức Quỳ, sau này là Thứ trởng Bộ Văn hóa đứng đầu Đó là cơ quan đối ngoại đầu tiên của Việt Nam ở nớc ngoài, sau cơ quan đại diện tại Paris thiết lập sau Hội nghị Phôngtennôblơ Đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Băng Cốc giao thiệp với
đại sứ các nớc, kể cả các nớc phơng Tây, trong khi đó thì cơ quan thông tin đa
ra hai bản tin: một bản tin tiếng Anh giới thiệu tin tức kháng chiến Đông Dơng với nhân dân Thái Lan và thế giới, một bản tin tiếng Việt dành cho ngời Việt Nam tại Thái Lan và các nớc khác Chính phòng Thông tin này đã xuất bản đợc một số cuốn sách, nhằm tuyên truyền cho công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Nhng khi đế quốc Mỹ thấy đợc tầm quan trọng của Đông Nam á, chúng tìm cách len chân vào khu vực này Mợn danh nghĩa là giúp đỡ các nớc phơng Tây suy yếu vì chiến tranh (Anh, Pháp, Hà Lan), mà thực chất là thay các nớc
đó thống trị Đông Nam á Nớc Đông Nam á đầu tiên mà Mỹ nhằm vào là Thái Lan Vì vậy, chính phủ Luong Pradit bị lật đổ và thay vào đó là Chính phủ do Phibul Song Kram, một ngời thân Mỹ cầm đầu
Chính vì thế mà Chính phủ ta đã kịp thời chuyển "Cửa sổ của Việt Nam"
từ Băng Cốc - Thái Lan sang Yangon thủ đô của Mianma Chính phủ Mianma
đã bày tỏ cảm tình đối với cuộc kháng chiến của ba nớc Đông Dơng, "Một cơ quan đại diện của chính phủ Việt Nam đã đợc thành lập tại Yangon" [31; 21] trong một ngôi nhà khiêm tốn nhng đã dùng cho cả cơ quan đại diện lẫn phòng thông tin Ngời đại diện đầu tiên của Việt Nam là bác sĩ Trần Văn Luân và ngời trởng phòng Thông tin đầu tiên là Mai Thế Châu tức Châu Lợng Cả bộ máy ngoại giao lẫn bộ máy thông tin của Việt Nam đợc chuyển từ Băng Cốc sang Yangon
Đầu những năm 1948, sau chiến thắng có tính chất chiến lợc đánh bại cuộc chiến tranh quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc, cuộc kháng chiến
Trang 18của nhân dân Việt Nam bớc vào giai đoạn quyết liệt Trong thời điểm đó các
n-ớc XHCN cha công nhận Việt Nam, vùng Hoa Nam của Trung Quốc cha đợc giải phóng Lúc ấy, Mianma vừa giành độc lập từ tay thực dân Anh, vì vậy Chính phủ và nhân dân Mianma đã sớm thông cảm với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Trong khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đang trên đà thắng lợi, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, đặc phái viên của Hồ Chủ tịch đợc
cử đi các nớc Đông Nam á để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam Nhân chuyến đi này, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cùng
đoàn đại biểu đã dự Quốc khánh Mianma tại Yangon Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch
đã trình bày với phía Mianma về cuộc chiến tranh nhân dân và hành động xâm lợc của thực dân Pháp tại Việt Nam Sau cuộc hội kiến với Thủ tớng Mianma, phía Mianma đã đồng ý cho Việt Nam đặt phái viên Chính phủ Việt Nam DCCH ở nớc này Đồng thời còn giúp đỡ một số lợng vũ khí đủ trang bị cho một tiểu đoàn [33; 36] Ngay sau đó, Chính phủ và các tổ chức chính trị Mianma đã cử một đoàn gồm 4 trí thức trẻ do nhà văn Kochit Hai Liang dẫn
đầu, đã bí mật qua Thái Lan, vợt sông Mê Công và dãy Trờng Sơn sang vùng giải phóng khu 4 Tại đây, đoàn đã đợc cụ Hồ Tùng Mậu do Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy nhiệm, cùng một số chuyên viên cao cấp Việt Nam đón và hớng dẫn
đoàn Mianma đi thăm một số nơi Cụ Hồ Tùng Mậu đã trao đổi với đoàn Mianma về cuộc kháng chiến gian khổ nhng nhất định thắng lợi của Việt Nam Phía Mianma rất cảm phục tinh thần kháng chiến và của quân và dân Việt Nam
Đồng thời đoàn Mianma còn bày tỏ quan điểm về cuộc kháng chiến của Việt Nam và Lào là chính nghĩa, còn Pháp là một nớc đế quốc, Mianma có nghĩa vụ phải ủng hộ
Vào thời điểm đó, cán bộ đối ngoại của Tổng hội Việt Kiều cứu quốc ở Thái Lan tới bang Shan - một bang của Liên bang Mianma có chung đờng biên giới với Trung Quốc, Lào, Thái Lan để xin lập một căn cứ ở Tha - Khiléc (vùng
Trang 19tam giác vàng) giúp cho việc mở mặt trận Tây Thợng Lào theo Chỉ thị của Bộ Tổng T lệnh Quân đội Việt Nam.
Sau khi đợc chấp thuận của Vua Shan, Tổng hội Việt Kiều cứu quốc điều
động một tiểu đoàn gồm bộ đội và thanh niên lên đó để luyện tập và nhận số súng mà Chính phủ Mianma giúp đỡ Để nhận đợc số súng nói trên, phái viên của Chính phủ ta Nguyễn Đức Quỳ ở Thái Lan phải đến tận Yangon để bàn cụ thể vì chở một số lợng súng đạn từ Yangon qua Mađalay về tới bang Shan là việc hết sức mạo hiểm
Theo lời khuyên của phía các bạn Mianma, chúng ta đã cắm cờ của Việt Nam lên tàu chở vũ khí Vì vậy, khi qua vùng quân Karen chống chính phủ, con tàu chở vũ khí an toàn Tuy nhiên, nếu không có sự phá hoại của các thế lực phản động thì khối lợng vũ khí sẽ rất lớn
Đặc biệt, tháng 8 - 1948, chính phủ Mianma đã đứng ra điều đình giúp chính phủ Việt Nam vay ngoại tệ để mua hàng ngoại quốc, chủ yếu là vũ khí thuốc và dụng cụ y tế Đây là một nghĩa cử thể hiện sự ủng hộ và lòng tin tởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Cuối năm 1949, khi hoạt động tuyên truyền của phòng Thông tin ở Băng Cốc gặp khó khăn, bản tin tiếng Anh "Vietnam News" đã chuyển sang thủ đô Yangon (Mianma) để phát hành rộng rãi hơn [20; 164]
Chính quyền Mianma đã tạo mọi điều kiện cho cán bộ ta qua lại lu trú và hoạt động trên đất Mianma D luận báo chí, nhiều đoàn thể nhân dân kể cả các
s sãi Mianma đã tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, lên
án chính sách xâm lợc của thực dân Pháp
Từ sau năm 1950, sau khi Việt Nam thiết lập ngoại giao với các nớc XHCN, thì chính quyền Mianma với chính sách trung lập đứng ở giữa, đã lạnh nhạt dần với ta và không tạo điều kiện thuận lợi cho đại diện Chính phủ Việt Nam hoạt động nh trớc kia Quan hệ giữa Việt Nam và Mianma tạm lắng xuống, nhng chính quyền Mianma không có hành động gì công khai phù hoạ
Trang 20với Mỹ chống lại cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình hình đó là do chính sách đối nội chống cộng và chính sách đối ngoại tiêu cực của giới cầm quyền ở Mianma Sau Hội nghị Giơnevơ 1954, Việt Nam chia thành hai miền thì chính quyền Mianma đặt quan hệ với cả hai miền Việt Nam, chấp nhận cho cả Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hòa đặt tổng lãnh sự ở Yangon
Tuy nhiên, vào cuối năm 1954 giữa Việt Nam và Mianma đã có những hoạt động qua lại nhằm tăng cờng quan hệ "Tháng 11 năm 1954 Thủ tớng Mianma - Ngài Unu đã sang thăm Việt Nam và ký với Hồ Chủ tịch một thông cáo chung trong đó Mianma ủng hộ việc thi hành Hiệp định Giơnevơ" [53] Tuyên bố chung thừa nhận 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, đó là:
+ Tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau
Nhằm tranh thủ hơn nữa sự ủng hộ của nhân dân thế giới và để nhân dân thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Cuối năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm một loạt nớc dân chủ Tháng 2 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm Mianma Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị báo chí ở thủ đô Yangon (Mianma) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Hai nớc Việt Nam và Mianma đều là những nớc ở châu á
có nhiều điểm giống nhau, gần nhau về văn hoá, phong tục tập quán, cũng nh về
địa lý khí hậu, tài nguyên Hai nớc chúng ta đã trải qua các cuộc đấu tranh gian
Trang 21khổ chống thực dân, giành độc lập dân tộc Chính phủ và nhân dân Mianma đã ủng hộ tích cực nhân dân nớc chúng tôi trong lúc kháng chiến và đã cùng với
ấn Độ và nhân dân các nớc á phi khác đóng góp một phần quan trọng vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam" [27; 75 - 76]
Cũng trong dịp này, báo ngời Miến Điện đã ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không những là một trong những vĩ nhân lỗi lạc nhất của châu á sau chiến tranh (thế giới thứ hai) mà còn là một nhân vật lịch sử của châu á" [32; 173]
Nhân dịp Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 3 năm 1960 và kỉ niệm 30 năm thành lập Đảng, phía chính phủ Mianma gửi điện mừng đến Đại hội Đến khi Đảng Lao động Việt Nam Đại hội lần thứ 4, một lần nữa Việt Nam mời Mianma tham dự Đại hội và lần này vì lí do khách quan trong nớc mà phía Mianma không sang đợc, nhng phía bạn đã có điện mừng
Từ sau năm 1965, trớc việc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lợc Việt Nam, chính quyền Mianma sợ bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh nên thực hiện đờng lối
đối ngoại trung lập Vì vậy, không tán thành Mỹ ném bom miền Bắc cũng nh Bắc Việt đánh mạnh vào miền Nam Việt Nam, mong Việt Nam và Mỹ sớm th-
ơng lợng để chấm dứt chiến tranh Đồng thời Mianma cũng không dám tỏ thái
độ lên án Mỹ hoặc lên tiếng ủng hộ Việt Nam
Sau Hiệp định Pari 1973, Mianma có ý định nâng cả hai cơ quan tổng lãnh sự của Việt Nam DCCH và Việt Nam CH (ngụy Sài Gòn) ở Yangon lên thành Đại sứ quán và cùng đồng thời tỏ ý không công nhận chính quyền cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam Tuy nhiên phía Việt Nam đã kịch liệt phản
đối ý đồ của Mianma Vì vậy mà chính phủ Mianma giữ thái độ im lặng cho tận
đến khi Việt Nam thống nhất đất nớc [53]
Nh vậy, quan hệ Việt Nam DCCH và Mianma trong những năm 60 và nửa đầu những năm 70 bị lắng xuống do chính phủ Mianma theo đuổi đờng lối
đối ngoại tự cô lập
Trang 22Tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam đợc hoàn toàn giải phóng Nhiều nớc và các tổ chức quốc tế đã gửi điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân Việt Nam "Chính phủ Mianma đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ngày 23/5/1975 và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam DCCH ở cấp đại sứ ngày 28/5/1975" [32; 172] Hoạt động ngoại giao này rất có ý nghĩa trong hoàn cảnh Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện chính sách bao vây cấm vận Việt Nam, đồng thời thể hiện tính độc lập và trung lập trong đờng lối
đối ngoại của chính phủ Newin: Thiết lập quan hệ với tất cả các nớc, không phân biệt ý thức hệ chính trị, nh chính phủ Mianma đã từng tuyên bố
1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Mianma
1.3.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam
Việt Nam là một nớc lớn ở khu vực Đông Nam á Nằm trên bán đảo
Đông Dơng, Việt Nam tiếp giáp với các nớc Cămpuchia, Lào ở phía Tây, giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Nam và phía Đông tiếp giáp với biển Đông Lịch sử của Việt Nam là lịch sử của các cuộc đấu tranh liên tục chống ngoại xâm kéo dài hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là chống ngoại xâm phơng Bắc Bên cạnh nớc Trung Quốc phong kiến khổng lồ, Việt Nam luôn ở vị thế lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều cho nên nguyện vọng ngàn đời của ngời Việt Nam là hoà bình để phát triển đất nớc Từ một Việt Nam phong kiến nhỏ bé tr-
ớc đây đến nớc CHXHCN Việt Nam ngày nay tuy khác nhau cơ bản về chế độ chính trị, nhng đất nớc Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại trong một dòng chảy liên tục của lịch sử hào hùng chống lại các thế lực ngoại bang
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nớc Việt Nam DCCH Ngay trong văn kiện quan trọng này, Việt Nam đã khẳng định một quan điểm hết sức quan trọng trớc cộng đồng thế giới: "Nớc Việt Nam có quyền hởng tự do, độc lập và thực sự trở thành một nớc tự do độc lập" Cùng với quá trình phát triển của một quốc gia độc lập, ngoại giao Việt Nam đã trởng thành hết sức nhanh chóng Chính phủ Việt Nam
Trang 23DCCH đã tích cực xây dựng mối quan hệ với các nớc nhằm chống đế quốc thực dân, bảo vệ độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Trong bức th gửi các vị lãnh tụ và nhân dân các nớc châu á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: Việt Nam chỉ mong muốn có đợc hoà bình độc lập, đã cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới, mà trớc hết là các dân tộc anh em ở á Đông Việt Nam là một bộ phận trong đại gia đình châu á và vận mệnh của các dân tộc châu á gắn
bó mật thiết với nhau Vì vậy, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn mong muốn đợc tất cả các dân tộc thân thiện, giúp đỡ về tinh thần và vật chất Việt Nam luôn mong ớc tất cả các ngời dân chủ trên thế giới đoàn kết với nhau để bảo vệ cho nền dân chủ trong các nớc nhỏ cũng nh trong các nớc lớn làm cho…quyền tự quyết của các dân tộc - là quyền do các Hiến chơng Đại Tây Dơng và cựu Kim Sơn đảm bảo, đợc tôn trọng [20; 163]
Suốt giai đoạn 1945 - 1975, đất nớc Việt Nam phải tiến hành kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975) Trong mỗi thời kỳ ngắn của giai đoạn này, đất nớc ở trong những bối cảnh quốc
tế khác nhau, các nhiệm vụ đặt ra cho công tác đối ngoại cũng khác nhau Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, nhiệm vụ đối ngoại là phải làm cho thế giới hiểu biết về nớc Việt Nam đã độc lập, hiểu về cuộc đấu tranh trờng kỳ chống thực dân Pháp, phá thế bao vây, mở đờng quan hệ với thế giới bên ngoài, nhất là các nớc XHCN
Tháng 1 - 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố "Lời tuyên bố của Chính phủ nớc Việt Nam DCCH cùng chính phủ các nớc trên thế giới" rằng:
"Chính phủ Việt Nam DCCH là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam DCCH sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nớc nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nớc Việt Nam, để cùng nhau bảo
vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới" [27; 7 - 8]
Trang 24Ngay sau khi tuyên bố, đã có 10 nớc XHCN trên thế giới công nhận và
đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam DCCH Đây là một thắng lợi ngoại giao to lớn, tạo cho nớc ta có một hậu phơng hết sức rộng lớn Vấn đề chiến tranh đã vợt qua khuôn khổ giữa Việt Nam và Pháp mà trở thành một
điểm nóng đối đầu của hai hệ thống thế giới Chúng ta chấm dứt tình trạng chiến đấu trong vòng vây Với vùng biên giới Việt - Trung đợc giải phóng đã tạo điều kiện để Việt Nam nhận sự giúp đỡ của các nớc anh em, đa cuộc kháng chiến đến thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Trên tinh thần đó, sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, Việt Nam đã công
bố chính sách bốn điểm bày tỏ quan điểm hợp tác với các nớc Đông Nam á nói chung và các nớc ASEAN nói riêng Bốn chính sách đó đợc cụ thể:
1 Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lợc lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng ,cùng
có lợi, cùng tồn tại hoà bình
2 Không để lãnh thổ của nớc mình cho nớc nào làm căn cứ xâm lợc hoặc can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nớc kia và các nớc khác trong khu vực
3 Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp, hợp tác kinh tế và trao
đổi văn hoá trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi Giải quyết những vấn đề tranh chấp giữa các nớc trong khu vực thông qua thơng lợng theo tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau
4 Phát triển sự hợp tác giữa các nớc trong khu vực vì sự nghiệp xây dựng
đất nớc phồn vinh theo điều kiện riêng của mỗi nớc vì lợi ích của độc lập, hoà bình, trung lập thực sự ở Đông Nam á, góp phần vào sự nghiệp hoà bình trên thế giới [24; 62]
Chính sách bốn điểm này rất phù hợp với nội dung của hiệp ớc Bali (1976) nên đã đợc hầu hết các nớc Đông Nam á hoan nghênh Điều này rất có
ý nghĩa đối với sự bình thờng hoá của các nớc trong khu vực
Trang 25Xuất phát từ bối cảnh trong nớc và quốc tế, Đảng và Nhà nớc Việt Nam
đã điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại cho hợp lý, nhằm thực hiện ba mục tiêu an ninh, phát triển và ảnh hởng Với t tởng “thêm bạn bớt thù” và ph-
ơng châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra
Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã đề ra phơng châm đa dạng hóa, đa phơng hóa quan hệ quốc tế, lấy lợi ích quốc gia làm trọng, đồng thời đóng góp vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới đối với nhiều hình thức thích hợp
Đại hội VI (12/1986) chủ trơng ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, thúc đẩy quá trình bình thờng hóa quan hệ với Trung Quốc và cải thiện quan hệ với các nớc Đông Nam á Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI (5/1988) diễn ra với chủ đề “giữ vững hòa bình, phát triển kinh tế” và chủ trơng “thêm bạn bớt thù”, đa dạng hóa quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi Đại hội lần thứ VII (6/1991) nêu lên khẩu hiệu “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [16; 147] Và Đại hội lần thứ
IX (4/2001) hoàn chỉnh phơng châm đối ngoại “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là
đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [17; 42]
Nh vậy là từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với
đờng lối ngoại giao mới, Việt Nam đã ngày càng chú trọng hơn đến quan hệ hợp tác với các nớc trong khu vực Đờng lối ngoại giao mới này của Việt Nam
là yếu tố tác động thuận lợi đến sự phát triển quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung, quan hệ Việt Nam - Mianma nói riêng
Ngoài quan hệ hợp tác với các nớc trong khu vực, Việt Nam còn mở rộng quan hệ với các nớc khác trên thế giới
Đối với các nớc đang phát triển, đặc biệt là các nớc trong phong trào không liên kết, Việt Nam đã cố gắng phát huy vai trò của mình, góp phần làm
Trang 26cho phong trào không liên kết ngày càng củng cố và phát triển Trên diễn đàn Liên Hợp Quốc, Việt Nam và các nớc đang phát triển cùng hợp tác để bảo vệ sự nghiệp hoà bình, ủng hộ xu hớng hoà bình, hợp tác Trong các tổ chức kinh tế toàn cầu (WTO, IMF, WB ) Việt Nam và các n… ớc đang phát triển hợp tác đấu tranh đòi các u đãi cần thiết trong các quan hệ thơng mại, tín dụng, đầu t quốc
tế, chống lại sự bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế quốc tế, hạn chế những mặt trái của quá trình toàn cầu hoá
Đối với các nớc ở khu vực Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh, Việt Nam ngày càng tăng cờng và củng cố quan hệ với các nớc ở khu vực này
Đối với các nớc lớn nh Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp Việt Nam…không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác nhằm tăng cờng buôn bán và đầu t
Riêng đối với Mỹ, Việt Nam tìm cách xoá bỏ mặc cảm, bình thờng hoá quan hệ Đối với Mỹ cũng tiến hành xoá bỏ chính sách cấm vận chống Việt Nam Năm 1994, hai nớc đã bình thờng hoá quan hệ với nhau, thiết lập ngoại giao bình đẳng từ đó tăng cờng quan hệ kinh tế trên cơ sở hai bên cùng có lợi
Điều này, cũng đã tạo ra cơ hội tốt để Việt Nam trao đổi, tiếp xúc, hợp tác với nhiều quốc gia khác trên thế giới
Còn với Trung Quốc, là nớc láng giềng cùng chung đờng biên giới lại giống nhau về chế độ xã hội nên Việt Nam luôn tăng cờng quan hệ hợp tác hữu nghị với các nớc này
Đối với Nga và các nớc khu vực Đông Âu, Việt Nam cũng đã và đang tích cực khôi phục lại quan hệ truyền thống Trong những năm 70, sự giúp đỡ của Liên Xô và các nớc Đông Âu đã góp phần đa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi Đến cuối những năm 80, đầu những năm 90 khi CNXH ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam vẫn tiếp tục đề ra chủ trơng: "Duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác vốn có với Liên bang Nga, các nớc thuộc Liên Xô trớc đây và các nớc Đông Âu" [25; 67], nhằm khôi phục quan hệ truyền thống với Nga và các nớc Đông Âu sau một thời gian dừng lại Với chính sách ngoại giao này,
Trang 27không chỉ là một biểu hiện của đờng lối ngoại giao đa phơng, đa dạng hoá của nớc ta, luôn luôn mong muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển mà còn thể hiện tấm lòng thuỷ chung trớc sau nh một của nhân dân Việt Nam đối với bạn bè đã từng ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc mình.
Qua đây chúng ta thấy trong khi thực hiện đờng lối đối ngoại, Việt Nam hớng trọng tâm vào hai vấn đề:
Một là, tăng cờng quan hệ hợp tác với các nớc láng giềng trong khu vực Hai là, tạo những chuyển biến cơ bản trong quan hệ với các nớc công
nghiệp phát triển Điều quan trọng hơn cả là Việt Nam nhận thức đợc vai trò quan trọng của Đông Nam á đối với sự phát triển của Việt Nam nên Chính phủ Việt Nam chủ trơng tăng cờng hội nhập vào khu vực
1.3.2 Chính sách đối ngoại của Mianma
Từ thế kỷ XIX, thực dân Anh đã ba lần xâm lợc Mianma: 1824 - 1826;
1852 - 1853 và 1885; biến Mianma thành thuộc địa Đầu năm 1941, Nhật Bản
đến thay chân thực dân Anh, đặt ách thống trị Mianma Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thực dân Anh tìm cách quay trở lại nô dịch Mianma Nhng
do tinh thần đấu tranh kiên cờng của nhân dân Mianma, ngày 4 tháng 1 năm
1948, Mianma đã giành đợc độc lập Nh vậy, lịch sử của Liên bang Mianma là lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển đất nớc Lịch sử đó gắn liền với chính sách đối ngoại của Mianma trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và hiện nay
Chính sách đối ngoại truyền thống của Liên bang Mianma là trung lập Chính sách này đợc Mianma lựa chọn một cách tự nguyện nh một phơng pháp
để giữ gìn nền độc lập dân tộc, đồng thời cũng là cách thức để Mianma ứng xử trớc những xung đột trong nớc cũng nh quốc tế [34; 63]
Chính quyền Mianma thực hiện đờng lối không liên kết, thi hành chính sách đối ngoại trung lập triệt để, cân bằng giữa hai phe, thực chất là trung lập
Trang 28tiêu cực: tránh đụng chạm bên này hoặc bên kia, tiêu cực đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Do địa lý, Mianma là nớc đệm giữa các lực lợng đối địch mạnh với nhau: một bên là Trung Quốc giúp Đảng Cộng sản Mianma chống lại chính quyền Newin, một bên là Mỹ lấy Thái Lan làm căn cứ giúp các lực lợng chống đối của các dân tộc thiểu số chống lại chính quyền Newin Vì vậy, chính sách trung lập của Mianma xuất phát từ chỗ bị sức ép của hai bên Nhng vì tính chất giai cấp t sản cầm quyền chống Cộng và cơ sở kinh tế của Mianma dựa vào phơng Tây nhiều nên tính chất trung lập của họ yếu ớt, tiêu cực
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Mianma là tranh thủ sự ủng hộ của bên ngoài về kinh tế, kỹ thuật và vũ khí, để xây dựng kinh tế, đàn áp các lực l-ợng chống đối trong nớc, nâng cao uy tín chính quyền, hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài giúp đỡ lực lợng chống đối trong nớc
Mianma không tham gia các khối có tính chất chính trị - quân sự do các nớc đế quốc lập ra, không tham gia ASEAN, chỉ tham gia Liên Hợp Quốc, các
tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết, nhng không muốn các nớc không liên kết thành lập một khối thứ ba, Mianma không
có tham vọng đóng góp vai trò lớn trong khu vực và thế giới, nói chung họ lẩn tránh các tranh chấp quốc tế và khu vực, tránh tỏ thái độ hoặc tỏ thái độ chung chung
Trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, Chính phủ Mianma dới sự lãnh đạo của các Thủ tớng Newin Samaung vẫn tiếp tục chính sách đối ngoại trung lập của Chính phủ Unu Trớc con mắt quốc tế, dờng nh Liên bang Mianma thực hiện chính sách đối ngoại "khép kín" [34; 64] Cùng với nhiều sai lầm khác trong chính sách đối nội, Liên bang Mianma đã tụt xuống thành một trong những nớc kém phát triển trong số các nớc Đông Nam á, kinh tế chậm phát triển, lạm phát luôn ở mức 20% Để khắc phục tình trạng khủng hoảng của
đất nớc, từ năm 1992, Chính phủ Liên bang Mianma đã có chính sách đối ngoại
Trang 29rộng mở với các nớc trên thế giới Mặt khác, từ cuối năm 1991, đầu năm 1992, tình hình thế giới có nhiều thay đổi Những đặc điểm và xu thế mới của của thế giới xuất hiện đã làm nảy sinh tính đa phơng, đa dạng hoá trong quan hệ quốc
tế và trong chính sách đối ngoại của các nớc, trong đó có Liên bang Mianma
Những năm gần đây, Chính phủ Liên bang Mianma nêu ra chính sách đối ngoại "Độc lập tích cực" là hoà bình, độc lập, không liên kết, quan hệ hữu nghị với các nớc trên thế giới, đặc biệt là các nớc láng giềng, trên nguyên tắc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lợc nhau Từ đó, Chính phủ Mianma đặt quan hệ ngoại giao rộng mở với nhiều quốc gia trên thế giới
Với khu vực Đông Nam á, Chính phủ Mianma mong muốn các nớc cùng xây dựng Đông Nam á trở thành khu vực hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác
và phát triển Để thực hiện ý tởng đó, cuối năm 1996, Thủ tớng Chính phủ Mianma Than Swe đã cùng nguyên thủ các nớc Xingapo, Brunây, Malaixia, Inđônêxia, Lào, Thái Lan, Phillipin, Cămpuchia và Việt Nam ký một hiệp ớc quan trọng - Hiệp ớc "khu vực Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân" Đây là lần đầu tiên Thủ tớng Mianma Than Swe cùng các nhà lãnh đạo các nớc Đông Nam á nhất trí cao về việc thiết lập một khu vực Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân Đó là một nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở khu vực đang có tốc độ phát triển cao bậc nhất của thế giới Đó cũng là một hành động đầy trách nhiệm
và dũng cảm đối phó với những thách thức bên ngoài Đồng thời, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân trong khu vực, ớc mong đa Đông Nam á bớc vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên không có vũ khí hạt nhân, góp phần quan trọng củng cố hoà bình, ổn định trong toàn khu vực
Trong những nớc Đông Nam á, Chính phủ Mianma chủ động phối hợp hoạt động với chính phủ các nớc thuộc tổ chức "Hợp tác phát triển lu vực sông
Mê Công" đó là Thái Lan, Việt Nam, Cămpuchia và Lào
Trang 30Đoàn đại biểu cấp cao Liên bang Mianma do Thủ tớng Than Swe, Chủ tịch hội đồng khôi phục luật pháp và trật tự Nhà nớc (SLORC) dẫn đầu đã nhiều lần đi thăm và làm việc với chính phủ các nớc trong tổ chức "Hợp tác phát triển
lu vực sông Mê Công"
Ngay từ năm 1996, Chính phủ Mianma đã tham gia hoạt động trong diễn
đàn đa phơng do các nớc ASEAN tổ chức - Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN Khi Chính phủ Liên bang Mianma tham gia hội nghị lần thứ ba, ngày 23 tháng
7 năm 1996 của Diễn đàn ARF tại Giacácta, cũng là khi Hội nghị quyết định chấp nhận ba nớc ấn Độ, Liên bang Nga và Trung Quốc là thành viên đối thoại của các nớc ASEAN Ba quốc gia lớn trên là những cờng quốc chính trị và kinh
tế quan trọng cùng với các quốc gia và các khối đối thoại hiện có của ASEAN
nh Nhật Bản, Canađa, EU, Ôxtrâylia Đến nay Diễn đàn an ninh khu vực…ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia lớn nhất ở khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng và trên thế giới, với 21 thành viên tham gia Nh vậy, việc Chính phủ Mianma tham gia hoạt động trong Diễn đàn ARF mang một ý nghĩa đặc biệt Bởi vì chính Diễn đàn ARF đang là hạt nhân liên kết những cố gắng để xây dựng một cơ chế an ninh chung ở Đông - Nam á và khu vực châu á - Thái Bình Dơng Hơn nữa, Diễn đàn ARF thể hiện sự khôn khéo của các nớc ASEAN khi
họ mời đợc nhiều nớc cùng đối thoại, tạo ra sự hiểu biết và cùng nhau góp phần giữ gìn an ninh trong khu vực và thế giới
Để phát triển quan hệ với ASEAN, từ những năm 1996, Chính phủ Mianma mong muốn trở thành thành viên của ASEAN Ngày 29 tháng 7 năm
1996, báo ánh sáng mới của Mianma, tờ báo chính thức của Nhà nớc Mianma
cho biết, Chính phủ Mianma cam kết trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN Ngay sau đó ít ngày, Bộ trởng Bộ ngoại giao của Mianma, Uôn Chiô tuyên bố tại thủ đô Yangon rằng, những thay đổi ở trong nớc và thế giới đã thúc đẩy Mianma gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á Giữa tháng 8 năm 1996,
Trang 31Thủ tớng Mianma Than Swe đã chính thức đệ đơn xin gia nhập ASEAN nhân chuyến thăm Malaixia từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 8 năm 1996 Từ Tổng th
ký ông Ajit - Singh đến nguyên thủ các nớc ASEAN đều tuyên bố ủng hộ nguyện vọng của Chính phủ Mianma Ngày 23 tháng 7 năm 1997, Mianma đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
Với các nớc láng giềng, trớc hết là quan hệ với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Chính phủ Mianma mong muốn có quan hệ hữu nghị và thân thiện Mianma có đờng biên giới chung với Trung Quốc dài hơn 2000km là một thuận lợi để Mianma phát triển quan hệ về nhiều mặt với Trung Quốc Trớc đây, Mianma quan hệ với Trung Quốc chủ yếu thông qua tỉnh Vân Nam, từ năm
1994 đến nay đã nâng mối quan hệ hai nớc lên cấp Nhà nớc Bớc tiến quan trọng này đợc ghi nhận bằng chuyến thăm của Thủ tớng Trung Quốc đến Mianma năm 1994 Nhiều hiệp định quan trọng đợc ký kết trong chuyến thăm Trong đó có những hiệp định về vận chuyển hàng hoá trên sông Mê Công, thành lập Uỷ ban cao cấp Hoa - Miến và Hiệp định về việc Liên bang Mianma bán gạo cho Trung Quốc Mặc dù Mỹ và một số nớc phơng Tây thực hiện chính sách bao vây, cô lập nhng Mianma vẫn tranh thủ đợc sự ủng hộ của Trung Quốc
và nhiều nớc khác Chính phủ Trung Quốc cho rằng, việc Mỹ bao vây kinh tế, chống lại Mianma thông qua biện pháp không đầu t, trao đổi thơng mại với Mianma là hành động can thiệp vào công việc nội bộ nớc khác và sẽ không mang lại lợi ích cho phía nào Trung Quốc còn cho rằng, điều này cũng tơng tự với việc gây sự đối đầu thù địch giữa các bên liên quan, là hành vi lỗi thời, không nên xảy ra đối với Mỹ Đến nay, Trung Quốc đang giúp Mianma đào tạo
sỹ quan quân đội thuộc nhiều binh chủng và cung cấp vũ khí trị giá hàng tỷ USD Đồng thời, Trung Quốc còn nhận đầu t xây dựng toàn bộ hệ thống thông tin liên lạc, các cơ sở hạ tầng trong cả nớc nh các tuyến đờng hàng không, đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ nối liền các thành phố và tuyến đờng của Liên bang
Trang 32Mianma đi xuống phía Nam với Lào, Thái Lan đi đến ấn Độ Dơng Trong khi…quan hệ với Trung Quốc, Chính phủ Liên bang Mianma vẫn thờng xuyên quan
hệ thân thiện với các nớc láng giềng Thái Lan, ấn Độ và Lào Đến nay, Thái
Lan đang là bạn hàng lớn của Mianma, là nớc đầu t lớn thứ ba vào Mianma sau Anh và Xingapo với 1 tỷ USD (tính đến cuối tháng 3-1997) Ngày 16 tháng 5 năm 1997, Thủ tớng Mianma Than Swe đã có cuộc gặp với Thủ tớng Thái Lan Chavalit Yong Chaiyudh Hai Thủ tớng dự định sẽ ký hiệp định về đi lại qua biên giới hai nớc
Với chính sách đối ngoại của Mianma là quan hệ hữu nghị với tất cả các nớc trên thế giới, nên ngoài các nớc láng giềng, Mianma còn quan hệ với một
số đối tác quan trọng nh Mỹ và các nớc phơng Tây
Từ năm 1988 về trớc, quan hệ giữa Mianma với Mỹ và phơng Tây nói
chung là tốt vì họ thấy Mianma có nhiều tiềm năng về kinh tế cha đợc khai thác Nhng sau cuộc khủng hoảng chính trị ngày 18 tháng 9 năm 1988, nhiều n-
ớc phơng Tây, nhất là Mỹ, Anh, Cộng hoà Liên bang Đức, Ôxtrâylia lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để ép Mianma phải thay đổi chế độ chính trị Ngày
22 tháng 4 năm 1997, Tổng thống Mỹ Bill Clintơn đã tuyên bố cấm các khoản
đầu t mới của Mỹ vào Mianma Trên thực tế, Mỹ, Anh và Cộng hoà Liên bang
Đức đã chấm dứt mọi viện trợ đối với Mianma Nhật Bản, Ôxtrâylia, Canađa và Thụy Sĩ chỉ tiếp tục viện trợ cho các công trình đã cam kết trớc năm 1988 Trong khi đó, Pháp và Phần Lan vẫn tiếp tục nghiên cứu về các hình thức viện trợ mới Riêng Pháp đã xoá nợ cho Mianma gần 90 triệu USD
Mặc dù vậy, Chính phủ Mianma vẫn kiên trì chính sách ngoại giao hữu nghị với các quốc gia trên thế giới với các tổ chức của quốc tế Nhờ vậy, mấy năm gần đây Mianma đẩy mạnh cải cách kinh tế theo hớng mở cửa tập trung
đầu t cho nông nghiệp nên sản lợng lơng thực mỗi năm một tăng Nông nghiệp của Mianma là lĩnh vực đang có những thành quả đáng khích lệ Năm 1995 đạt 19,5 triệu tấn thóc, xuất khẩu 1 triệu tấn Năm 1996, đạt 19,8 triệu tấn là mức
Trang 33cao nhất từ nhiều năm nay, xuất khẩu 1,5 triệu tấn và dự kiến những năm tới sẽ xuất khẩu 3 triệu tấn Tốc độ tăng trởng kinh tế trung bình từ 5 đến 6%/năm, năm 1996 đạt 7,7% Tuy Mỹ và một số nớc phơng Tây gây sức ép, trừng phạt kinh tế nhng nhiều nớc vẫn tăng cờng đầu t vào Mianma Theo báo ánh sáng mới của Mianma, ông Tun Shin, một quan chức của Uỷ ban đầu t Mianma cho
biết, nguồn lao động giá rẻ, các nhà đầu t đợc miễn thuế thời gian đầu, các thủ tục xét duyệt dự án, thủ tục hải quan đợc đơn giản hoá, giá thuế đất hạ là…những u thế để Mianma thu hút vốn đầu t nớc ngoài Do vậy, đầu t của nớc ngoài đã tăng khoảng 311% từ tài khoá 1995 - 1996 đến tài khoá 1996 - 1997 Tính đến ngày 30 tháng 4 năm 1997 Mianma đã nhận đợc đầu t của 22 nớc trong 224 dự án với tổng số vốn khoảng 6,06 tỷ USD Riêng các nớc Đông Nam
á nh Malaixia đầu t trực tiếp vào Mianma năm 1996 tăng 103%; Thái Lan tăng 144%; Xingapo tăng 101% Trong tổng số 244 dự án có tới 34 dự án về dầu khí của những nớc có nhiều kinh nghiệm nh Anh, Ôxtrâylia, Pháp, Inđônêxia, Nhật Bản, Malaixia và Thái Lan Theo các nhà quan sát quốc tế, các dự án đầu t sẽ tiếp tục tăng lên sau khi Liên bang Mianma là thành viên của ASEAN vì nhiều nớc nh Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ nhân cơ hội Hoa Kỳ rút các dự án đầu
t khỏi Mianma để vào thay thế
Mianma và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao không chính thức từ khi có cơ quan thờng trú ở Yangon năm 1947, năm 1948 nâng thành cơ quan
đại diện và năng lên cấp Đại sứ ngày 28/05/1975 Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân Việt Nam, Liên bang Mianma đã tích cực ủng
hộ Việt Nam chống xâm lợc
Quan hệ giữa Mianma và Việt Nam trong năm 1994 có bớc phát triển tốt
đẹp Chuyến thăm chính thức Mianma của Thủ tớng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt tháng 5 năm 1994 đã mở ra một thời kỳ mới trong quan
hệ giữa hai nớc trên nhiều lĩnh vực Hai bên đã ký: Hiệp định thơng mại; Hiệp
định hợp tác du lịch; lập Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - Mianma và đã đi đến một
Trang 34số thoả thuận nhằm tăng cờng sự hợp tác giữa các ngành của hai nớc Tháng 8 năm 1994, Việt Nam và Mianma đã ký biên bản ghi nhớ (MOU) về Chơng trình hợp tác 6 năm 1994 - 2000 Phát huy kết quả chuyến thăm của Thủ tớng Võ Văn Kiệt, hai bên đã cử nhiều đoàn thăm viếng, trao đổi kinh nghiệm, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông, sản xuất đá quý Trong 3 năm 1995, Thủ tớng Than Swe đã sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam Trong dịp này, hai bên đã họp ủy ban hỗn hợp hợp tác kinh tế kỹ thuật lần thứ nhất Đến tháng 1 năm 1997, Bộ trởng ngoại giao Mianma thăm Việt Nam và họp ủy ban hỗn hợp lần thứ hai Mối quan hệ này đợc phát triển thêm một bớc sau khi Mianma gia nhập tổ chức ASEAN Từ đây, hàng loạt các cuộc thăm viếng lẫn nhau của các nhà lãnh đạo hai nớc, đã thắt chặt thêm mối quan hệ truyền thống tốt đẹp.
1.4 Sự phát triển kinh tế của Việt Nam và Mianma
1.4.1 Sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Cho đến năm 1975 , Việt Nam vẫn đang trong tình trạng một nớc nông nghiệp lạc hậu Sau đại thắng mùa xuân 1975, mặc dù đất nớc đã giành đợc hoà bình, nhng Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đờng lối kinh tế chủ yếu "hớng nội"
Sang thời kì 1976 - 1985, tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng năm chỉ đạt 2% trong khi tốc độ tăng dân số bình quân là 2,4%, mức thu nhập bình quân đầu ngời rất thấp Nền kinh tế Việt Nam thời kì này hầu nh không phát triển, làm không đủ ăn và phải dựa vào nguồn viện trợ từ bên ngoài
Với một nền kinh tế bao cấp nên công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nặng nề, kéo dài suốt trong thời gian dài
Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xớng công cuộc đổi mới Sau 5 năm đổi mới (từ 1986 - 1990), thu nhập quốc dân tăng 21%, bình quân mỗi năm tăng 3,9% mặc dù dân số vẫn tăng cao (2,2%) nhng
Trang 35thu nhập bình quân đầu ngời đã tăng lên với nhịp độ 1,65% Đặc biệt là tốc độ tăng trởng GDP trong thời kì từ 1991 - 1995 trung bình là 8,2%/năm, nhịp độ tăng thu nhập đầu ngời đã đạt 6,0% Cho đến năm 2003, tốc độ tăng trởng GDP của Việt Nam vẫn đạt 7,5%, đạt mức độ tăng trởng cao ở châu á và trên thế giới [36; 41].
Với tốc độ tăng trởng kinh tế cao, Việt Nam đã dần ổn định và nâng cao
đời sống nhân dân, mức thâm hụt và lạm phát ngân sách Nhà nớc từng bớc đẩy lùi
Tuy nhiên, mức độ cải thiện đời sống vật chất không đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng Mức sống của dân c ở nông thôn luôn thấp hơn nhiều so với khu vực thành thị Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về GDP bình quân đầu ngời ngày càng tăng Bên cạnh đó, ở Việt Nam còn một số tồn tại cần quan tâm nh: chất lợng phục vụ y tế, giáo dục, đào tạo ở một số nơi
nh vùng đồng bào dân tộc, nông thôn, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp,…
tệ nạn xã hội phát triển, nạn tham nhũng buôn lậu, lãng phí của công có chiều hớng phát triển Chính tình trạng trên đã làm tăng thêm sự bất công xã hội
Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong xã hội nhng Việt Nam vẫn kiên định sự lựa chọn con đờng CNXH, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, thực hiện công bằng xã hội để Việt Nam luôn "vững bớc đi tới tơng lai", và phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nớc công nghiệp Để thực hiện đợc mục tiêu này từ năm 1990 Việt Nam
đã đề ra phơng hớng phát triển chủ yếu về kinh tế - xã hội nh sau:
1 ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trờng thúc đẩy tăng trởng nhanh và bền vững, trong đó khẩn trơng cải cách hệ thống tài chính tiền tệ, hình thành
đồng bộ cơ chế kinh tế thị trờng, ổn định thị trờng giá cả, giảm mức lạm phát, giảm thâm hụt ngân sách, xây dựng thị trờng vốn, thị trờng chứng khoán …
2 Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế:
Trang 36Để đạt nhịp độ tăng trởng cao hơn của nền kinh tế, cần phát triển mạnh nền kinh tế nhiều thành phần Bên cạnh việc cải tổ khu vực quốc doanh để phát huy và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc ở những ngành quan trọng, những vị trí then chốt đồng thời khuyến khích đầu t và kinh doanh của t nhân và các hình thức hợp tác, hỗn hợp sở hữu của các thành phần kinh tế khác theo luật khuyến khích đầu t trong nớc đã ban hành
3 Tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới để phát triển kinh tế đối ngoại Tập trung đẩy mạnh xuất khẩu với tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 20%, tăng tốc độ thực hiện những công trình đầu t đã kí kết với bên ngoài, đa nhanh vào sử dụng những nguồn tài trợ phát triển đã đợc thoả thuận, mở rộng tham gia vào các tổ chức kinh tế và khu vực, đẩy mạnh công tác tiếp thị để tìm thêm thị trờng mới và tranh thủ thêm đối tợng hợp tác mới
4 Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ giảm tỉ trọng nông nghiệp trong GDP
5 Đẩy mạnh đầu t xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, tăng năng lực sản xuất
Để đạt đợc nhịp độ tăng trởng cao, Việt Nam cần có nguồn vốn đầu t trong nớc và ngoài nớc Đối với nguồn trong nớc: Tích luỹ trong nớc hiện nay mới ở mức 2 tỷ USD mỗi năm, chiếm 15% GDP Chính phủ Việt Nam đang tìm các biện pháp nâng cao tích luỹ và đầu t trong nớc Quốc hội cũng đã ban hành luật khuyến khích đầu t trong nớc Đối với nguồn ngoài nớc: Trong nguồn vốn ngoài nớc thì 2/3 là nguồn vốn đầu t trực tiếp của công ty t nhân Chính phủ
đang tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm tạo lập môi trờng thu hút vốn đầu
t trực tiếp (FDI) nh sửa đổi luật đầu t nớc ngoài cho thuận lợi hơn, đơn giản hoá các thủ tục đầu t…
Trang 37Trên cơ sở những thành tựu đạt đợc trong giai đoạn tiếp sau của thời kỳ
đổi mới, Việt Nam chủ trơng đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, tăng cờng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
1.4.2 Sự phát triển kinh tế của Mianma
Mianma là đất nớc có nhiều tiềm năng thiên nhiên đa dạng và phong phú nh: dầu lửa với sản lợng xếp thứ 14 trên thế giới trớc Chiến tranh thế giới thứ hai; vonlfram và tungxten từng có thời chiếm vị trí nhất nhì trên thế giới; gỗ Tếch chiếm ba phần t trữ lợng thế giới; Mianma đã từng có thời nổi danh là "bát gạo châu á", "nớc xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới" Ngời Mianma giàu tình yêu lao động và sáng tạo , có quyền mơ ớc một sự thay đổi Niềm mơ ớc đó củng cố thêm khi các thế hệ lãnh đạo Mianma kiên trì tìm kiếm con đờng đi thích hợp với những điều kiện trong nớc và quốc tế So với những con đờng các dân tộc
Đông Nam á đi theo, "con đờng Mianma mang đặc trng khác biệt, độc đáo Nó kết hợp những di sản văn hoá truyền thống và những tinh hoa của thời đại
Xuất phát từ lòng yêu nớc, từ mong muốn đa dân tộc nhanh chóng thoát khỏi những bất công của chế độ thực dân, các nhà lãnh đạo Mianma đã tuyên
bố xây dựng CNXH Thủ tớng Unu nói: "Nền kinh tế thực dân phải đợc thay thế bằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa" và "mục tiêu tối hậu của Chính phủ là tạo ra một nớc dân chủ XHCN" [41; 29 - 30]
Chủ tịch Đảng xã hội UBa Xuê nói cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Mianma dựa trên năm nền tảng: Dân chủ của nhân dân; Kinh tế của nhân dân; Giáo dục của nhân dân; Y tế của nhân dân và An ninh xã hội nhân dân
Trên cơ sở đó kinh tế Mianma có những bớc đi cụ thể sau:
- Tạo lập cơ cấu sở hữu kinh tế dân tộc, đây là giải pháp thực tế đầu tiên, nằm trong kế hoạch tổng thể khôi phục kinh tế hai năm cho nội các Aung Xan soạn thảo, đợc công bố vào năm 1948 và theo đuổi đến đầu những năm 1950, nhằm vào:
Trang 38- Quốc hữu hoá ruộng đất, xóa bỏ giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân, xây dựng các hợp tác xã và nông trờng quốc doanh; khôi phục địa vị xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
- Quốc hữu hoá cơ sở công nghiệp, giao thông vận tải, các mỏ, xuất khẩu
gỗ tếch Các mục tiêu này thể hiện mong muốn loại trừ quan hệ kinh tế xã hội thuộc địa và phong kiến
Biện pháp đầu tiên tác động đến quan hệ kinh tế xã hội nông thôn khởi
đầu vào tháng 11 năm 1948 với việc Quốc hội thông qua luật quốc hữu hoá đất
đai, tuyên bố xoá bỏ giai cấp địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân, cấm những ngời không sống bằng nghề nông đợc quyền sở hữu ruộng đất
Điều quy định sau cùng đánh vào quyền lợi của các Sétti Đây là tầng lớp kinh doanh ngân hàng ngời ấn Trong thời kỳ thực dân, các Sétti lợi dụng tình trạng thiếu vốn của nông dân đã cho nông dân vay tiền với lãi suất cao, rồi tớc
đoạt đất thế nợ, qua đó chiếm đoạt gần một nửa diện tích canh tác ở Mianma
Họ sống ở thành thị, kinh doanh công - thơng nghiệp, chờ đến vụ thu hoạch mới
về nông thôn thu tô trên các phần đất sở hữu Vì vậy, họ còn đợc gọi là "địa chủ vắng mặt" Sau khi Mianma giành đợc độc lập, thì nông dân đã lấy lại số ruộng
đất này
Quốc hữu hoá cũng nhằm thu hẹp thế lực của các công ty, nhất là công ty
do ngời Anh sở hữu Thông qua bồi thờng, Nhà nớc đã quốc hữu hoá các cơ sở xay xát gạo, cùng một loạt cơ sở nh công ty xi măng, mỏ Vonphram, nhà máy
đờng, các cơ sở thuộc ngành dầu, khai quặng, toàn bộ hệ thống vận tải hàng không, đờng sắt, công ty tàu thuỷ Iramet, công ty xe điện Yangon, Ngân hàng Trung ơng
Đối với doanh nghiệp t nhân ngời Mianma, nhà nớc dự định lập các hợp doanh trong thơng nghiệp, vận tải xe buýt, vận tải bằng thuyền máy, trong ngành ngân hàng và xây dựng các hợp tác xã
Trang 39Tuy nhiên, một mặt do nội chiến gây mất ổn định, tiêu phí hàng năm 40% ngân sách của chính phủ và mặt khác do thiếu kinh nghiệm quản lý, làm cho hoạt động của các cơ sở quốc doanh kém hiệu quả nên kế hoạch không đợc thực hiện đầy đủ Mùa thu 1951, Chính phủ điều chỉnh chính sách, mở cho kinh doanh t nhân nhiều lĩnh vực mà nhà nớc độc quyền nh khai thác dầu, quặng, vận tải, dợc liệu, khai thác than dới các hình thức kinh doanh độc lập hoặc liên doanh với nhà nớc.
- Đờng lối công nghiệp hoá với kế hoạch Piđôta
Đờng lối này đợc xây dựng dựa trên tính toán cha hoàn chỉnh của các chuyên gia Mỹ
Vào thời kỳ 1951 - 1952, khi quan hệ Mỹ - Mianma còn gần gũi, các chuyên gia Mỹ thuộc công ty Kap - pen - Tippetts Albest Enginesing ở New York tiến hành khảo sát về các nguồn lợi của Mianma Tháng 5/ 1952, họ trình bày báo cáo sơ bộ Đến tháng 8 dựa trên cơ sở báo cáo này, Chính phủ Mianma thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mang tên Piđôta
Đây là kế hoạch tổng thể bao hàm việc xây dựng nền dân chủ mới, nền kinh tế mới; Một chơng trình văn hóa - xã hội rộng lớn; nhằm thay đổi căn bản tình hình kinh tế - xã hội của đất nớc Kế hoạch kéo dài 8 năm, đợc phân thành hai chặng 4 năm, phấn đấu đến năm 1960 nâng tổng sản lợng nông nghiệp lên cao hơn 30% so với trớc chiến tranh, tức là hơn 70% so với kế hoạch GDP đạt 7
tỷ Kyat vợt 60% so với 4,3 tỷ Kiat của năm 1952 - 1953, GDP/ đầu ngời cao hơn trớc chiến tranh 40% [41; 34]
Để thực hiện mục tiêu này, các nhà lãnh đạo Mianma chủ trơng công nghiệp hoá nhanh chóng, đa ra một loạt dự án nhằm phát triển công nghiệp toàn diện, hoàn chỉnh, trong đó đáng kể nhất là xây dựng ba trung tâm công nghiệp liên hợp lớn ở thủ đô Yangon - trung tâm miền Nam, Mađalay - trung tâm của miền Bắc và ở Akyab - thuộc Arakan ở miền Tây đất nớc Mỗi trung tâm sẽ là một quần thể hoàn chỉnh các cơ sở luyện kim, hoá chất, cơ khí, xi măng, dệt…
Trang 40Hoạt động của các trung tâm đợc đảm bảo bằng nguồn điện năng của các nhà máy điện Piđôta chú ý đến phát triển công nghiệp nông thôn Một kế hoạch phát triển nông nghiệp 5 năm: 1952 - 1957 đợc đề ra nhằm phục hồi 2,5 triệu acre đất hoang, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và phân bón, giống vào canh tác Chính phủ đã tạo ra đợc một cuộc cách mạng trong quan hệ sản xuất Tại Đại hội của
tổ chức nông dân toàn Mianma, tiến hành vào năm 1953, Bộ trởng Nông nghiệp Kiôtin đã công bố một chơng trình tổng thể
Đến năm 1956, tuy đã đạt đợc một số thành tựu nhng thiếu sót là rất lớn Chính vì vậy, chính phủ phải bỏ kế hoạch phát triển tầm cỡ này Sở dĩ nh vậy là
do những nguyên nhân sau:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật kém trong khi mục tiêu đa ra lại quá cao
- ý thức và trình độ quản lý tồi, trình độ kỹ thuật kém
- Những khó khăn khách quan về lịch sử
- Thất bại trong chính sách cải tạo và phát triển nông nghiệp
Trớc tình hình đó, Chính phủ quyết định từ bỏ kế hoạch Piđôta với 195 mục tiêu và thay thế bằng kế hoạch 4 năm: 1957 - 1961, chỉ với 85 mục tiêu,
đồng thời đa áp dụng một số chính sách điều chỉnh
- Theo cơng lĩnh đi lên chủ nghĩa xã hội (1962 - 1988)
Hai văn kiện nền tảng của chế độ là:"Cơng lĩnh con đờng Mianma đi lên chủ nghĩa xã hội" công bố ngày 30 tháng 4 năm 1962, và "Hệ thống tơng quan giữa con ngời và môi trờng" công bố ngày 7 tháng 1 năm 1963 Nó bao hàm hệ thống các quan điểm triết học, chính trị, kinh tế - xã hội và chỉ ra sự đoạn tuyệt với con đờng cũ
Trong "Cơng lĩnh con đờng Mianma đi lên chủ nghĩa xã hội", các nhà lãnh đạo đa ra lý thuyết về sự giải thoát Cơng lĩnh cho rằng những hệ thống
độc hại - trong đó có chế độ t bản, sẽ cho phép những kẻ tham lam, vô lơng tâm, lãnh đạm, khai thác những mặt yếu đuối của con ngời Vì vậy, muốn đợc