1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động bancassurance tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đôi phòng giao dịch định công luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính bảo hiểm

65 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người bán hàng trong kênh phân phối này có thể tập trung vào vấn đề chuyên môn hóa, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng loại khách hàng, nâng cao được hiệ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, kết quả nêu trên trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực

tế của đơn vị thực tập

Sinh viên

Nguyễn Hương Ly

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BANCASSURANCE

TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

3

1.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại 9

1.3 Hoạt động bancassurance trong kinh doanh bảo hiểm nhân

thọ

13

1.4 Nội dung hoạt động bancassurance 17

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến bancassurance 20

Trang 5

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Định

Công những năm gần đây

26

2.2 Thực trạng hoạt động bancassurance tại Ngân hàng

thương mại cổ phần Quân Đội – Phòng giao dịch Định Công

28

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động bancassurance tại Ngân

hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Phòng giao dịch Định

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG

BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

PHẦN QUÂN ĐỘI – PHÒNG GIAO DỊCH ĐỊNH CÔNG

45

3.1 Mục tiêu, định hướng hoạt động bancassurance tại phòng

giao dịch Định Công

45

Trang 6

3.2 Một số giải pháp nâng cao khả năng khai thác hoạt động

bancassurance tại phòng giao dịch Định Công

49

3.2.2 Nâng cao chất lượng các chương trình, sự kiện tổ chức hút

khách hàng

49

3.3.4 Tăng cường khả năng tiếp cận nhu cầu bảo hiểm và tư vấn

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

SƠ ĐỒ

BẢNG BIỂU

Bảng 1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ quý IV/2018 đến

quý IV/2019 tại PGD Định Công

27

Bảng 2 Tình hình hoạt động bancassurance tại PGD Định Công từ

quý IV/2018 đến quý IV/2019

30

Bảng 3 Tình hình doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của hoạt động

bancassurance tại PGD Định Công từ quý IV/2018 đến quý IV/2019

32

Bảng 4 Doanh thu bảo hiểm theo sản phẩm tại PGD Định Công từ

quý IV/2018 đến quý IV/2019

37

Bảng 5 Năng suất khai thác bảo hiểm tại PGD Định Công từ quý IV/

2018 đến quý IV/2019

38

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự phát triển của lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, đã làm xuất hiện các kênh phân phối mới bên cạnh các kênh phân phối truyền thông Trong đó, Bancassurance nổi lên như một kênh phân phối đặc biệt hiệu quả bằng cách phân phối qua mạng lưới Ngân hàng

Qua khảo sát ở thị trường Việt Nam nói chung, Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công nói riêng, mô hình hoạt động liên kết giữa các doanh nghiệp Bảo hiểm và các NHTM đã có những bước hình thành và phát triển hết sức mạnh mẽ ở Việt Nam Đây là một giải pháp của công tác nâng cao khả năng khai thác bảo hiểm Hoạt động này không chỉ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bảo hiểm, nguồn thu của các NHTM mà còn cho lợi ích bảo vệ và tích lũy của cả khách hàng

Sau khi tìm hiểu về những vấn đề chung trên, em nhận thấy số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm thông qua các hệ thống NHTM ngày càng phát triển, chiếm tỉ lệ lớn so với các kênh truyền thống Trên thế giới, kênh phân phối này đang được phát triển tại rất nhiều quốc gia, tuy nhiên tại Việt Nam đây là kênh phân phối chưa được quá thực sự phát triển và đang là dạng rất tiềm năng Vì vậy, Ngân hàng TMCP Quân Đội dù là ngân hàng tiếp xúc với thị trường bancassurance rất muộn, nhưng do nắm bắt được xu thế của thị trường bancassurance, bán chéo các sản phẩm BHNT ngay từ ngày đầu tiên đi

vào hoạt động Vì vậy, sinh viên xin chọn đề tài “Hoạt động bancassurance

tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công” nhằm nghiên cứu kết

quả hoạt động của các sản phẩm bancassurance trong thời gian qua và tìm ra các giải pháp để phát triển thêm kênh bancassurance trong thời gian tới

Trang 10

2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động bancassurance tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công

về dung lượng, luận văn tập trung chỉ nghiên cứu hoạt động bancassurace đối với lĩnh vực BHNT Số liệu được thu thấp và lấy từ quý IV năm 2018 đến hết quý IV năm 2019 tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biên chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, … Nhằm phân tích

và làm rõ vấn đề nghiên cứu

6 Kết cấu đề tài nghiên cứu

Chương 1: Lý luận chung về bancassurance trong kinh doanh bảo

hiểm nhân thọ

Chương 2: Thực trạng hoạt động hoạt động bancassurance tại Ngân

hàng TMCP Quân Đội- PGD Định Công

Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động bancassurance tại Ngân

hàng TMCP Quân Đội- PGD Định Công

Trang 11

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BANCASSURANCE

TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ

BHNT là thuật ngữ chỉ chỉ sự cam kết của công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm rằng công ty bảo hiểm sẽ có trách nhiệm trả lại khoản tiền nhất định khi người tham gia bảo hiểm có một sự kiện định trước như chết, thương tật vĩnh viễn, hết hạn hợp đồng, sống đến một khoản thời gian nhất định, cùng lúc đó người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm hoàn thành các khoản phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn Do sự tương đồng về tính chất sản phẩm nhiều người hiểu BHNT như một sản phẩm tiết kiệm mang tính chất tương hỗ Mỗi người khi tham gia một hợp đồng BHNT sẽ đóng một khoản nhỏ định kỳ (phí Bảo Hiểm) trong một khoản thời gian định trước (thời gian Bảo Hiểm) và khi đạt đến một sự kiện đã định trước, công ty bảo hiểm sẽ hoàn trả một khoản tiền lớn (số tiền bảo hiểm) cho người tham gia bảo hiểm hoặc cho thân nhân của người tham gia bảo hiểm nếu như không may người này chết sớm

Đối với thân nhân người tham gia hợp đồng bảo hiểm khi không may người này chết sớm, họ sẽ nhận ra khi người thân của họ tiết kiệm một khoản tiền nhỏ có thể giúp cho họ một khoản chi tiêu lớn như: tiền ma chay, tiền thuốc men, chi phí giáo dục con cái họ nên người,… Đây chính là sự sẻ chia rủi ro của số đông cho một số ít phải gánh chịu rủi ro

Đối với xã hội, Bảo hiểm như một hình thức xóa đói, giảm nghèo với một số hộ gia đình khi người trụ cột gia đình họ bất ngờ mất đi

Trang 12

Việc triển khai các BHNT chính là một cách huy động nguồn vốn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, tạo nên nguồn vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế hiện nay

1.1.2 Các loại bảo hiểm nhân thọ

Dưới nhiều góc độ, BHNT được chia thành nhiều loại khác nhau Theo phạm vi, có 7 loại BHNT cơ bản như sau: bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm

tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư, bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm sinh kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống cho trường hợp người tham gia bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, nếu người tham gia bảo hiểm vẫn sống qua mốc đó, công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả tiền cho người thụ hưởng hợp đồng bảo hiểm Hiện nay, theo khảo sát tình hình kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, rất ít công ty bảo hiểm khai thác và triển khai sản phẩm này

Bảo hiểm tử kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống cho trường hợp người tham gia bảo hiểm sẽ chết trong một thời hạn nhất định, nếu như người tham gia bảo hiểm chết trong khoảng thời gian đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hợp đồng bảo hiểm Đây là sản phẩm được khai thác tại các công

ty bảo hiểm tại Việt Nam hiện nay với những đặc điểm như: phí đóng ngắn hạn (3-10 năm), quyền lợi bảo hiểm tử vong do tai nạn, do ung thư,…

Bảo hiểm trọn đời: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người tham gia bảo hiểm cho trường hợp người tham gia bảo hiểm chết trong bất kỳ trong cuộc đời của họ Thường các công ty BHNT không khai thác sâu vào sản phẩm này vì phí cao, ít người có nhu cầu và rủi ro cao

Bảo hiểm hỗn hợp: đây là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ Đây là sản phẩm được các công ty bảo hiểm ở Việt Nam khai thác và phát triển chủ yếu

Trang 13

Bảo hiểm trả tiền định kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người tham gia bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, từ đó trở về sau, công ty bảo hiểm phải thực hiện trả số tiền bảo hiểm thành các kỳ nhỏ đều đặn như khi cam kết trong hợp đồng bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm

Bảo hiểm liên kết đầu tư: là nghiệp vụ bảo hiểm mà phí và quyền lợi bảo hiểm tách riêng thành hai phần là phần bảo hiểm và phần đầu tư Đây là sản phẩm mà tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công được nhiều khách hàng ưa chuộng và được thiết kế thành nhiều sản phẩm để phù hợp với mục tiêu kinh doanh của Ngân hàng

Bảo hiểm hưu trí: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người tham gia bảo hiểm sống đến một độ tuổi xác định, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm theo như đã cam kết trong hợp đồng bảo hiểm

1.1.3 Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Kinh doanh BHNT là hoạt động của công ty BHNT nhằm mục đích sinh lời, theo đó công ty BHNT chấp nhận rủi ro liên quan đến tuổi thọ của người tham gia bảo hiểm, trên cơ sở người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để các công ty bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bản thân các người tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Không thể phủ nhận những lợi ích mà BHNT đem lại cho cuộc sống, tuy nhiên rất nhiều khách hàng cũng như bản thân chúng ta lại nghĩ rằng BHNT rất phức tạp do cách tư vấn của các chuyên viên bảo hiểm hoặc do bản thân các khách hàng không muốn nhắc tới rủi ro của bản thân Nếu nắm được các đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm, bản thân những chuyên viên có thể tư vấn đầy đủ và nhanh chóng giúp khách hàng của mình đưa ra những lựa chọn

và quyết định đứng đắn cho bản thân

BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa bảo vệ cho các khách hàng Đây là điểm khác biệt rất lớn của BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ Theo định kỳ người tham gia bảo hiểm sẽ đóng phí đều đặn định kỳ nhỏ và sẽ được các

Trang 14

công ty BHNT trả một khoản tiền lớn khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Đây không phải là số tiền để bù đắp về mặt tình cảm nhưng ít nhất sẽ giúp những người tham gia bảo hiểm có thể bù đắp được về mặt tài chính Việc tiết kiệm này được thể hiện trong từng kỳ đóng phí, một cách thường xuyên, có kế hoạch Không nhưng tiết kiệm được tài chính cho bản thân, người tham gia BHNT còn được bảo vệ về mặt tài chính khi có bất cứ một sự kiện bảo hiểm nào xảy

ra, đây là điểm đặc trưng mà không có một loại hình nào có được

BHNT đáp ứng được rất nhiều các mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm Không giống Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bù đắp các rủi ro khi

sự kiện bảo hiểm xảy ra mà BHNT còn tích lũy thêm tính tiệt kiệm, đó là biểu hiện của việc gói sản phẩm đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của con người Ngoài việc có tính tiết kiệm, hiện nay do có sự liên kết của kênh Bancassurance, các hợp đồng BHNT được tính như các giấy tờ có giá hoặc quyền đòi nợ có thể đem thế chấp để phục vụ việc vay vốn ngân hàng của các

cá nhân cũng như nhiều tổ chức Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích nên BHNT ngày càng được quan tâm đến nhiều hơn

Các hợp đồng BHNT rất đa dạng Cùng với sự phát triển của kênh phân phối bancassurance nên các nên các sản phẩm của BHNT vì thế cũng trở nên rất đa dạng Mỗi sản phẩm của công ty BHNT thiết kế ra để phù hợp với từng

cá nhân tham gia bảo hiểm khác nhau

Việc từng cá nhân, tổ chức tham gia BHNT đem đến nhiều điều ý nghĩa cho cuộc sống Việc kinh doanh BHNT giúp huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, nhằm giảm bớt tình trạng vay vốn từ nước ngoài Không những vậy tham gia BHNT là quyền lợi của mọi công dân, việc này làm cho cuộc sống của con người được đảm bảo và phát triển theo kế hoạch đã đặt ra Đứng trên mọi phương diện, BHNT đang góp phần nâng cao phúc lợi xã hội Kinh doanh BHNT còn giúp tạo ra rất nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đây cũng là mục tiêu mà Chính Phủ đề ra và rất được quan tâm

Trang 15

1.1.4 Các kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ

1.1.4.1 Phân phối trực tiếp

Phân phối trực tiếp là loại kênh phân phối các sản phẩm BHNT trực tiếp từ các công ty bảo hiểm đến người tham gia bảo hiểm không qua các trung gian bảo hiểm Tuy nhiên, kênh phân phối này chỉ chiếm một phần trăm rất nhỏ trong thị phần kinh doanh BHNT Theo khảo sát thị trường kinh doanh BHNT hiện nay của Việt Nam, kênh phân phối này chưa chiếm đến 20% Các kênh phân phối trực tiếp mà hầu hết các công ty BHNT sử dụng gồm có: bán hàng trực tuyến (áp dụng công nghệ 4.0 hiện nay), mở các văn phòng đại diện bán hàng, thông qua các lực lượng bán hàng là nhân viên của công ty bảo hiểm đưa dịch vụ đến tận nhà khách hàng

Tuy nhiên kênh phân phối này cũng có rất nhiều ưu điểm lớn như là giúp các công ty bảo hiểm nắm bắt được rõ về nhu cầu của thị trường một cách sát thực, giảm chi phí ký kết hợp đồng của công ty bảo hiểm, dẫn đến có

cơ sở giảm phí bảo hiểm tạo ra khả năng cạnh tranh của các công ty bảo hiểm

Bên cạnh những ưu điểm tạo ra khả năng cạnh tranh lớn nhưng kênh phân phối này vẫn chiếm thị phần nhỏ do một số hạn chế như làm tăng khối lượng công việc của chuyên viên, trình độ chuyên môn hóa giảm đi, đặc điểm của các sản phẩm của BHNT không phù hợp với kênh phân phối này

1.1.4.2 Phân phối qua trung gian

Phân phối qua trung gian là loại kênh phân phối mà các công ty bảo hiểm sử dụng hệ thống trung gian bán hàng như đại lý, môi giới, … hoặc sử dụng hệ thống công nghệ thông tin để bán hàng Đây là kênh phân phối rất rộng mở về thời gian cũng như không gian và được áp dụng hầu hết trong các công ty BHNT trước đây, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kênh phân phối bảo hiểm Các hình thức phân phối kênh phân phối này thường thông qua môi giới bảo hiểm hoặc qua đại lý bảo hiểm

Trang 16

Với kênh phối này, các công ty bảo hiểm có thể khai thác bảo hiểm rộng rãi trên nhiều vùng thị trường khác nhau, gặp nhiều loại khách hàng khác nhau Người bán hàng trong kênh phân phối này có thể tập trung vào vấn đề chuyên môn hóa, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng loại khách hàng, nâng cao được hiệu quả kinh doanh bảo hiểm, tạo

ra nhiều lợi thế và góp phần mở rộng thị phần trên thị trường kinh doanh BHNT Chính nhờ những ưu điểm này khiến có kênh phân phối này nhanh chóng trở thành kênh phân phối đắc lực của các công ty BHNT thời gian trước đây

Tuy là kênh phân phối được rất nhiều công ty BHNT lựa chọn, xong kênh phân phối này vẫn còn vài hạn chế nhỏ như quản lý kênh này khá phức tạp, tạo ra được nhiều khoảng cách giữa các công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, làm tăng chi phí ký kết hợp đồng và quản lý thông tin khách hàng

1.1.4.3 Kênh phân phối bancassurance

Kênh phân phối bancassurance là kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm thông qua ngân hàng Đây là kênh phân phối mới, thể hiện một sự thay đổi tích cực trong lĩnh vực dịch vụ tài chính Việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm qua ngân hàng mang lại nhiều lợi ích cho cả Ngân hàng, công ty bảo hiểm và cả khách hàng của Ngân hàng Các hoạt động bancassurance được thành lập theo mô hình liên doanh hoặc sử hữu đơn nhất thiết lập các kênh phân phối khác nhau: phân phối trực tiếp, phân phối đại lý, các tư vấn viên tài chính, phân phối tại các PGD ngân hàng, …

Kênh phân phối bancassurance có thể được phát triển theo nhiều hướng: Phân phối tại các phòng giao dịch: Các ngân hàng kí hợp đồng đại lý với công ty bảo hiểm (bancassurancer) và các chi nhánh của ngân hàng trở thành các điểm bán hàng trực tiếp Việc phân phối tại phòng giao dịch do các nhân viên ngân hàng tại quầy giao dịch đảm nhận Đây là những người đại

Trang 17

diện cho ngân hàng tiếp xúc với các khách hàng của ngân hàng liên quan đến các sản phẩm tiền gửi, các giải đáp, hỗ trợ, họ có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với khách hàng thuận lợi cho việc giới thiệu sản phẩm bảo hiểm Các nhân viên giao dịch thường bán các sản phẩm bảo hiểm đơn giản Tuy nhiên, thời gian

họ dành cho việc giới thiệu sản phẩm bảo hiểm rất hạn chế do tính chất công việc tại quầy giao dịch

Đây là một kênh phân phối đang rất hot, được nhiều người biết đến trong ngành bảo hiểm và là một trong những kênh phân phối đang được đẩy mạnh trong các năm gần đầy Các công ty bảo hiểm bỏ ra một số tiền rất lớn

để liên hệ với các NHTM để có thể đẩy mạnh thị phần sản phẩm của mình tại khối lượng khách hàng đang giao dịch tại các NHTM Không những vậy đây còn lại một kênh thu phí củ NHTM giúp tăng doanh thu của các NHTM liên kết với các công ty bảo hiểm lên đáng kể trong vài năm vừa qua Sự xuất hiện ngày càng nhiều các thỏa thuận hợp tác mới giữa công ty bảo hiểm và NHTM

đã chứng minh cho sự phát triển nhanh chóng của xu hướng này

1.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật

Theo Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại; PGS TS Nguyễn Thị Mùi, ThS Trần Cảnh Toàn đồng chủ biên – Nhà xuất bản Tài Chính năm

2011, Chương 1 thì “NHTM là một doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính tiền

tệ, hoạt động chính là nhận tiền gửi, cho vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán cũng như những hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi nhuận.”

1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Theo nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM, chức năng của NHTM có thể thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau

Trang 18

Chức năng tạo tiền là việc các NHTM để phục vụ cho việc lưu thông tiền tệ, phát triển ngành kinh tế bằng việc đưa vào lưu thông một lượng tiền nhất định Lượng tiền cung ứng này phải đáp ứng được các nhu cầu của nền kinh tế Thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay tiền của các hệ thống NHTM đã giúp cho dòng tiền lưu thông Đây là một trong những chức năng chủ yếu của NHTM qua đó NH nhà nước với những công cụ của mình như lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc, … có thể đưa ra các chính sách tiền tệ để có thể duy trì một lượng tiền ổn định, tránh gây ra lạm phát

Là một trong những hoạt động của NHTM, NHTM tạo điều kiện thanh toán cho các tổ chức, cá nhân, … được thuận tiện nhất, đặc biệt là tiết kiệm chi phí, thời gian cho họ và tiết kiệm chi phí cho xã hội Cùng với sự phát triển của xã hội, việc thanh toán không sử dụng tiền mặt đang được các NH khuyến khích

Để có được nguồn vốn để thực hiện các hoạt động tín dụng, NHTM đã tiến hành huy động tiền gửi từ các tổ chức và dân cư Việc huy động tiền gửi giúp NHTM có đủ lượng vốn đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế, ngoài ra gửi tiền tạo ra thêm thu nhập cho các tổ chức và dân cư từ nhận lãi tiền gửi

Có một số loại huy động tiền gửi như: có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm, …

Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại chủ yếu cho NHTM, duy trì

sự tồn tại của NHTM Đây là hoạt động cơ bản và lâu dài của NHTM Hầu như mọi doanh nghiệp đều vay vốn NH, hoạt động cho vay này mang lại thu nhập cho NH dưới dạng lãi vay Cho vay được càng nhiều, lãi vay càng lớn, tuy nhiên hoạt động này của NH có rất nhiều rủi ro

Ngày nay, khi mà hoạt động thương mại quốc tế ngày một phát triển, việc xuất nhập khẩu diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi việc thanh toán quốc tế cũng như tài trợ quốc tế ngày càng phát triển Để đảm bảo việc thanh toán quốc tế

Trang 19

của các tổ chức, cá nhân được thuận lợi, NHTM hỗ trợ về vốn, nghiệp vụ cho các doanh nghiệp, cá nhân như: mở L/C, séc chuyển tiền, hối phiếu, …

Một số các doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn đòi hỏi về vốn và

uy tín vượt qua khả năng tài chính của các công ty, như dự án đó có hiệu quả, các NHTM sẽ thực hiện hoạt động bảo lãnh cho các doanh nghiệp này NHTM có thể tư vấn cung cấp tiền tệ, nghiệp vụ quản lý và thực hiện dự án một cách tốt nhất

1.2.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại

Hoạt động của NHTM không phải là bất biến, mà liên tục phát triển theo điều kiện của kinh tế xã hội Ngày nay, hoạt động của NHTM ngày càng phong phú và đa dạng, tùy điều kiện kinh tế và mức độ phát triển của mỗi quốc gia

1.2.3.1 Hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM bao gồm rấy nhiều nguồn vốn như: vốn tự có, vốn huy động, vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác Vốn tự có là giá trị tiền tệ mà bản thân NHTM đó tạo lập được thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi cổ phiếu, nhận vốn cấp phát từ Ngân sách nhà nước, … Vốn huy động là nguồn vốn NH huy động được từ các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế đây là nguồn vốn lớn được huy động từ việc huy động tiền gửi Vốn vay là nguồn vốn được vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác Sau khi sử dụng hết các nguồn vốn trên mà vẫn thiếu nhu cầu vốn vay cho khách hàng hoặc đáp ứng các nhu cầu thanh toán của khách hàng thì các NHTM sẽ đi vay trên thị trường tiền tệ

Trang 20

1.2.3.2 Hoạt động tín dụng

Sau khi huy động được những nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường tiền

tệ, để đem lại hiệu quả cho những nguồn lực đã huy động được thì các NHTM

sẽ thực hiện hoạt động tín dụng chủ yếu được sinh lời từ hoạt động cho vay

Hoạt động ngân quỹ là hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu chi trả của

NH Đây là hoạt động không thể sinh lời của NH Hoạt động ngân quỹ bao gồm việc rút tiền mặt, trả tiền mặt, lưu chuyển tiền mặt, kiểm đếm tiền mặt, Tuy nhiền đây là một hoạt động không thể thiếu để đáp ứng tính thanh khoản

và yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của NH

Hoạt động đầu tư là việc NH sử dụng một phần vốn của mình để mua các chứng khoán hoặc hùn vốn (góp vốn) liên doanh, liên kết Hiện nay các

NH được quyền thực hiện các hoạt động này, tuy nhiên mức độ thực hiện ra

sẽ bị giới hạn theo quy định của pháp luật

Hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tài sản có của NHTM, tuy nhiên đây là một hoạt động có tính rủi ro rất cao Hoạt động này liên quan chặt chẽ đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dung, kinh doanh sản xuất cho đến xây dựng, lắp đặt

Trang 21

các dịch vụ của NH, khách hàng sẽ được tư vấn sử dụng các sản phẩm bảo hiểm vừa có thể trở thành tài sản thế chấp các khoản vay của NH, đảm bảo giảm rủi ro cho hoạt động cho vay, còn bảo vệ sự an toàn cho tài chính của khách hàng Không chỉ tiết kiệm chi phí khai thác, việc cung cấp dịch vụ bancassurance còn giúp NH có thể huy động được rất nhiều các khoản tiền nhàn rỗi từ việc thu phí bảo hiểm mà còn giúp NHTM thu được một khoản phí từ việc thu phí bảo hiểm

1.3 Hoạt động bancassurance trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

1.3.1 Khái niệm bancassurance

Bancassurance là thuật ngữ chỉ mối quan hệ liên kết ngân hàng và bảo hiểm và là hoạt động phát sinh do nhu cầu thực tế của xã hội Bancassurance (banca + assurance) là một thuật ngữ tiếng Pháp, kết hợp giữa “Ngân hàng”

và “bảo hiểm” Bancassurance hay bảo hiểm liên kết ngân hàng là việc các ngân hàng tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng thông qua mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch của mình Nói một cách đơn giản, đó là việc ngân hàng bán sản phẩm bảo hiểm Các khái niệm trên có một số điểm chung:

- Bancassurance là sự kết hợp giữa ngân hàng và bảo hiểm;

- Bancassurance phân phối sản phẩm cho cơ sở khách hàng của ngân hàng;

- Các sản phẩm gắn với đặc thù của hoạt động ngân hàng;

Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển và dưới tác động của các yếu

tố cạnh tranh, nhu cầu thị trường và yêu cầu mở rộng, các bancassurance thường phát triển thành một côngty bảo hiểm thông thường và Ngân hàng trở thành kênh phân phối chủ yếu của bancassurance và được gọi là kênh phân phối bancassurance

Xét trên mối quan hệ ràng buộc, một bancassurance được cấu thành bởi nhiều bên như ngân hàng, bảo hiểm, khách hàng và chịu tác động bởi các

Trang 22

bên liên quan như cơ quan quản lý giám sát, các hiệp hội nghề tuy nhiên bảo hiểm vẫn giữ vai trò chủ đạo Một bancassurance phát triển thể hiện một mô hình hoạt động bao gồm cả quá trình thiết kế sản phẩm, phân phối sản phẩm,

… nhằm cung cấp dịch vụ phù hợp nhất và tối đa hóa quyền lợi của các bên

Ở bất kể mức độ phát triển nào hoạt động này đều phải được thực hiện để đạt được kết quả tốt nhất, vì vậy có thể gọi hoạt động này là “hoạt động bancassurance” Trong công ty bảo hiểm, “hoạt động bancassurance” là: “Nỗ lực của công ty bảo hiểm trong việc phát triển sản phẩm, thiết lập mối quan

hệ hợp tác với ngân hàng phát triển kênh phân phối hiệu quả, và các hoạt động khác nhằm đạt được kết quả cao nhất từ kênh phân phối bancassurance” Bất kể ở mức độ phát triển nào của bancassurance, hoạt động bancassurance vẫn luôn là nhân tố cốt yếu

1.3.2 Vai trò của bancassurance

Đối với NHTM, kênh phân phối bancassurance giúp tăng lợi nhuận và các lợi ích tài chính khác Không những vậy kênh này còn giúp các NHTM tối đa hóa hiệu quả hoạt động, tăng năng suất làm việc của các chuyên viên trong ngân hàng, điều này làm tăng hiệu quả sử dụng của các chi nhánh NHTM Càng ngày khi kênh phân phối này càng phát triển càng làm đa dạng hóa và mở rộng sản phẩm của NHTM, giảm thiểu rủi ro các sản phẩm tín dụng, tăng quảng bá thương hiệu và gia tăng lòng trung thành của các khách hàng tại NHTM

Đối với các công ty bảo hiểm, kênh phân phối bancassurance giúp các công ty bảo hiểm cắt giảm được chi phí phân phối sản phẩm, mở rộng phạm

vi kinh doanh có thêm nhiều khách hàng mới là khách hàng đang là khách hàng hiện hữu của các NHTM Việc mở rộng kênh phân phối này làm đa dạng hóa các kênh phân phối, đa dạng hóa các sản phẩm đang bán, tăng cường hiệu quả và uy tín, tăng hiệu quả kinh doanh của các công ty bảo hiểm

Trang 23

Đối với các khách hàng của kênh phân phối bancassurance, đây là một sản phẩm giúp tiết kiệm chi phí, tăng thụ hưởng tiện ích các sản phẩm Ở các sản phẩm này, khách hàng được bảo hiểm hai lần, một lần được bảo hiểm bới ngân hàng bảo lãnh, một lần được bảo hiểm bảo các sản phẩm của công ty bảo hiểm Các sản phẩm liên kết giữa công ty bảo hiểm và NHTM giúp thỏa mãn các cầu đa chiều của khách hàng

1.3.3 Các mô hình bancassurace

Các công ty bảo hiểm (bancassurer) tổ chức mô hình phân phối theo ba

mô hình cơ bản: mô hình thỏa thuận phân phối, mô hình liên doanh, mô hình tập đoàn dịch vụ tài chính

Mô hình thỏa thuận phân phối: Mô hình này bao gồm có hai loại là

loại đơn giản và phức tạp (đồng minh chiến lược) để phân phối các sản phẩm thông qua các kênh ngân hàng hiện có Mô hình đơn giản là mô hình phổ biến tại Châu Âu, các chi nhánh ngân hàng bán sản phẩm bảo hiểm cho các khách hàng của mình (bán riêng rẻ hoặc bán cùng với các sản phẩm ngân hàng) để lấy hoa hồng Phân phối qua mô hình này sẽ đỡ tốn kém chi phí đầu tư, tuy nhiên ngân hàng và các công ty bảo hiểm sẽ không hoặc ít chia sẻ các thông tin khách hàng Mức độ cao hơn trong việc cung cấp các sản phẩm và quản lý kênh phân phối là mô hình đồng minh chiến lược Tại mô hình phức tạp này,

sẽ có sự chia sẻ cơ sở khách hàng lẫn nhau của NHTM và các công ty bảo hiểm Do đó ở mô hình này, cần sự đòi hỏi về công nghệ thông tin và các nhân sự bán hàng Về lý thuyết, mô hình này được gọi là ngân hàng một cửa

và đòi hỏi đào tạo chuyên sâu về bảo hiểm cho các nhân viên ngân hàng Các nhân viên ngân hàng được hiểu là họ biết chi tiết về tất cả các sản phẩm bảo hiểm mà họ phân phối

Mô hình liên doanh: Phân phối các sản phẩm bảo hiểm phức tạp hoặc

các sản phẩm kết hợp đầu thông qua các chuyên gia về sản phẩm - những người làm công ăn lượng hoặc đại diện cho công ty bảo hiểm Mô hình này

Trang 24

chính là việc các NHTM và các công ty bảo hiểm sở hữu chung cả về sản phẩm lẫn tệp khách hàng Các nhân viên ngân hàng tại quầy giao dịch sẽ xác định các khách hàng triển vọng và việc liên hệ với khách hàng được thực hiện bởi các chuyên gia bảo hiểm Mô hình này không đòi hỏi phải đào tạo chuyên sâu cho nhân viên ngân hàng nhưng đòi hỏi sự hỗ trợ sâu sát của họ cũng như cam kết mạnh mẽ và dài hạn từ việc hợp tác hia phía

Mô hình tập đoàn dịch vụ tài chính: Chỉ là cách tiếp cận “theo đội”

Phương pháp này cung cấp cho khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng của ngân hàng một kế hoạch tài chính toàn diện trọn gói cho tất cả các nhu cầu tài chính, đối phó rủi ro trong suốt cuộc đời Kế hoạch tài chính này bao gồm cả các sản phẩm ngân hàng, tài chính và bảo hiểm kết hợp liên quan đến nhu cầu

và mong muốn về tài chính trong tương lai của khách hàng Mô hình phân phối cần đạt được các mục tiêu sau:

- Phục vụ tới tất cả các phân đoạn thị trường mục tiêu của ngân hàng

- Vận hành như một cửa hàng độc lập đáp ứng tất cả các yêu cầu tài chính cho kháchhàng của ngân hàng

- Tận dụng hiệu quả cơ sở vật chất của chi nhánh ngân hàng

- Sử dụng tối đa các cơ hội có được từ các kênh phân phối khác nhau của ngân hàng

- Cố gắng đạt được sự hòa hợp tương đồng giữa các tính chất của sản phẩm với kênh phân phối

- Một trong những lợi thế kinh tế chính của bancassurance là việc có thể tiết kiệm chi phí thông qua việc sử dụng hiệu quả các kênh phân phối hiện

có của ngân hàng

Trang 25

Sơ đồ 1 Mô hình bancassurance

(liên minh chiến lược)

Sở hữu cả nhà phân phối và nhà sản xuất

Ngân hàng

sở hữu doanh nghiệp chuyên ngành

Công ty mẹ

sở hữu cả ngân hàng và công ty bảo hiểm đa ngành

(Nguồn:“Đi tìm cơ chế quản lý cho hoạt động bancassurance ở Việt Nam”)

1.4 Nội dung hoạt động bancassurance

1.4.1 Lựa chọn mô hình bancassurance

Dựa trên các mối quan hệ hợp tác giữa các NHTM và các công ty bảo hiểm (từ đơn giản đến phức tạp) việc hoạt động bancassurance được thiết kế dưới ba mô hình: mô hình thỏa thuận phân phối, mô hình liên doanh và mô hình tập đoàn dịch vụ tài chính

Khi các NHTM và các công ty BHNT ký thỏa thuận phân phối bán sản phẩm, NH là đại diện bán hàng hoặc môi giới các sản phẩm cho công ty BHNT thì khi ấy họ sẽ lựa chọn mô hình thỏa thuận phân phối Ở mô hình này, cả hai bên không cần chia sẻ cơ sở dữ liệu khách hàng và không cần đầu

tư quá nhiều cho mô hình này

Khi các NHTM và các công ty BHNT góp vốn liên doanh cùng thành lập một công ty BHNT mới, NH và công ty BHNT cùng sở hữu một sản phẩm, khách hàng, họ cùng nhau chia sẻ cơ sở dữ liệu thì họ sẽ lựa chọn sử dụng mô hình liên doanh Ở mô hình này đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ của cả hai phía về chiến lược, sản phẩm, cơ sở vật chất, …

Trang 26

Khi các NHTM mua toàn bộ hoặc một phần của công ty BHNT thành lập một công ty BHNT mới, trong tương lai sẽ hình thành tập đoàn tài chính thì khi đó họ sẽ sử dụng mô hình tập đoàn dịch vụ tài chính Ở mô hình này các hoạt động và hệ thống được liên kết hoàn toàn, có khả năng cao trong việc

sử dụng các cơ sở dữ liệu khách hàng của NHTM để cung cấp các dịch vụ BHNT

Theo kinh nghiệm, cách hình thức mô hình hợp tác không phải là điều quan trọng nhất đem lại sự thành công của hoạt động bancassurance và cũng không có một mô hình duy nhất nào mang lại hiệu quả 100% cho hoạt động bancassurance Tuy nhiên, trước khi xác lập kênh phân phối bancassurance các công ty bảo hiểm cũng như các NHTM nên xác định mô hình nào là phù hợp với các sản phẩm của mình, để có thể lựa chọn được mô hình phù hợp Đối với từng mô hình, các công ty bảo hiểm và các NHTM cần lựa chọn và xây dựng từng phương thức phân phối phù hợp Các sản phẩm càng phức tạp càng cần các cuộc gặp mặt trực tiếp để ký hợp đồng, các sản phẩm đơn giản

có thể bán qua điện thoại (telesale), thư hoặc internet Tuy nhiên, theo khảo sát thị trường bancassurance mô hình thỏa thuận phân phối là mô hình đang được phổ biến nhất hiện nay trong kênh phân phối bancassurance

1.4.2 Thiết kế sản phẩm phù hợp

Sau khi lựa chọn được mô hình phù hợp với từng sự liên kết của các công ty bảo hiểm và các NHTM thì đôi bên thường hợp tác ở các hoạt động như sau: đối với khách hàng doanh nghiệp, đối với khách hàng cá nhân, đối với mô hình kinh doanh ngân hàng – bảo hiểm

Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng có thể tư vấn cho loại khách hàng này việc mua bảo hiểm tổn thất lợi nhuận, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm trách nhiệm của chủ hàng, BHNT, bảo hiểm trách nhiệm công cộng,… Những hợp đồng này sau khi ký kết sẽ trở thành tài sản thế chấp cho các khoản vay tín dụng của ngân hàng

Trang 27

Đối với khách hàng cá nhân, ngân hàng có thể tư vấn các gói BHNT và các điều khoản trong hợp đồng để đảm bảo việc vay vốn các ngân hàng Khi

họ mất khả năng thanh toán các khoản nợ hoặc họ vô tình mất sớm thì các khoản tiền đang nợ ngân hàng sẽ được chi trả bằng tiền bảo hiểm

Đối với mô hình kinh doanh liên kết ngân hàng – bảo hiểm, ngân hàng

có thể chào bán bảo hiểm lữ hành về séc, về thẻ và về ngoại tệ

Như thế để có thể thiết kế các sản phẩm phù hợp cho kênh phân phối bancassurance, các sản phẩm của công ty bảo hiểm thiết kế phù hợp với các sản phẩm và khách hàng của ngân hàng để họ có thể sử dụng rộng rãi như các tài sản thế chấp để giảm thiểu các rủi ro cho ngân hàng

Khác với các sản phẩm bảo hiểm truyền thống, bancassurance phát triển các sản phẩm bảo hiểm đặc biệt để đáp ứng một nhu cầu nào đó bắt nguồn từ giao dịch tích hợp với ngân hàng, hoặc để cải thiện các sản phẩm hiện có nhằm thu hút khách hàng hoặc khiến chúng trở nên hữu ích hơn đối với khách hàng

Có thể phân chia sản phẩm bancassurance ra thành 3 nhóm là:

- Các sản phẩm bảo hiểm tài chính và hoàn trả (Finance and repayment products)

- Các sản phẩm bảo hiểm cho người gửi tiền (Depositors products)

- Các sản phẩm bảo hiểm trọn gói tiêu chuẩn đơn giản (Simple standardized package products)

Trang 28

kiến thức về bảo hiểm và ngân hàng và các kỹ năng cần thiết để giao tiếp, tư vấn và bán bảo hiểm hoặc hỗ trợ bán hàng

Với ngân hàng, yếu tố con người càng quan trọng bởi doanh thu từ bancassurance thường không lớn so với tỷ trọng doanh thu mang lại từ hoạt đông ngân hàng nên việc phân bổ nguồn lực và cán bộ/bộ phận điều phối bancassurance là vô cùng quan trọng Chính họ sẽ là nhân tố mang lại thành công để điều phối, theo dõi giao chỉ tiêu và khắc phục các khó khăn trong triển khai bán bảo hiểm tại ngân hàng Ngoài ra, các cán bộ kinh doanh của Ngân hàng cũng cần được trang bị kỹ năng về sản phẩm bảo hiểm, kỹ năng tư vấn và thuyết phục khách hàng hoặc được cấp chứng chỉ phân phối bảo hiểm Các vị trí và mô hình tổ chức trong bộ phận bancassurance tại ngân hàng và công ty bảo hiểm cần được phân định rõ và lựa chọn “đúng người, đúng việc”

để triển khai bancassurance hiệu quả

Từ đó, công ty bảo hiểm và Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ có năng lực

và kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết “làm đầu mối” và hệ thống tổ chức bộ phận/phòng ban chức năng về bancassurance để điều phối và thúc đẩy việc triển khai bancassurance tại Ngân hàng

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến bancassurance

1.5.1 Nhân tố khách quan

- Điều kiện kinh tế - xã hội:

Bancassurance là một loại hình dịch vụ mới do các NHTM hiện đại và các công ty bảo hiểm phát triển, dịch vụ này chỉ phát triển khi có một nền tảng nhất định Nền tảng đấy trước hết chính là sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng Một thị trường tài chính phát triển

sẽ kéo theo sự cạnh tranh gay gắt và phát triển dịch vụ Một nước có nền kinh

tế - xã hội phát triển có nghĩa là người dân có sự hiểu biết cao đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng đồng thời cũng là những khách hàng có thu nhập cao,

Trang 29

đòi hỏi những dịch vụ tài chính hoàn hảo do đó sẽ thúc đẩy dịch vụ bancassurance đời và phát triển

- Môi trường pháp lý:

Các nước càng có ít rào cản gia nhập đối với các công ty bảo hiểm thì nghiệp vụ bancassurance càng phát triển Một số chính phủ các nước cho phép bảo hiểm nước ngoài tham gia đầu tư khiến cho thị trường bảo hiểm các nước này thêm tính cạnh tranh và ngày một phát triển Có thể nói, mở cửa thương mại, đa phương hoá các mối quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới nhằm hút vốn và công nghệ từ các nước phát triển, có ý nghĩa rất quan trọng đến việc phát triển ngành bảo hiểm nói chung và hoạt động bancassurance nói riêng

- Văn hóa tiêu dùng:

Ở các nước phát triển, người dân có thu nhập cao hiểu rõ về các sản phẩm dịch vụ tài chính và rất ưa chuộng tham gia các sản phẩm bảo hiểm Chính điều này đã góp phần không nhỏ đến sự phát triển của ngành bảo hiểm cũng như Bancassurance của những nước này Như vậy, có thể thấy văn hóa tiêu dùng có tác động lớn đến mức cầu của thị trường và ảnh hưởng đến việc phát triển kênh phân phối bancassurance

- Đối thủ cạnh tranh:

Dân gian Việt Nam thường có câu “Buôn có bạn, bán có phường” và chính các đối thủ cạnh tranh cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy dịch

vụ bancassurance phát triển Bởi trong một thị trường tài chính, khi mà dịch

vụ bancassurance đã trở nên phổ biến thì ngân hàng nào không muốn tụt hậu

so với các đối thủ cạnh tranh cũng đều phải mở rộng và phát triển dịch vụ này theo xu thế chung Do đó đối thủ cạnh tranh cũng chính là một trong những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động bancassurance

Trang 30

1.5.2 Nhân tố chủ quan

- Đối tác:

Khi tìm kiếm đối tác, các bên như ngân hàng và công ty bảo hiểm cần phải xác định rõ khả năng và điểm mạnh yếu của từng bên, sử dụng tốt nguồn lực sẵn có như con người, cơ sở dữ liệu, địa điểm kinh doanh tốt để việc triển khai bán bảo hiểm được diễn ra thuận lợi Tuy nhiên, việc thực hiện kinh doanh bancassurance không tốt sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hình ảnh của các bên tham gia Bancassurance thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào mức độ cam kết và hỗ trợ từ phía ngân hàng Để đáp lại những cam kết nhận được từ phía ngân hàng, các nhà bảo hiểm cũng phải hỗ trợ ngược lại cho ngân hàng

- Thị trường mục tiêu của bancassurance:

Phân đoạn thị trường hợp lý sẽ giúp các công ty bảo hiểm đưa ra các gói sản phẩm phù hợp, thỏa mãn nhu cầu thị trường qua đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận Với việc nghiên cứu và đẩy mạnh kinh doanh vào thị trường mục tiêu, công ty sẽ cắt giảm được chi phí từ những sản phẩm không phát triển được đồng thời tập trung nguồn lực vào một số sản phẩm thế mạnh sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn

Trang 31

- Chất lượng nguồn nhân lực:

Trong lĩnh vực tài chính, cụ thể hơn là bancassurance, sản phẩm có đến tay người tiêu dùng hay không có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ nhân viên kinh doanh Nhân viên ngân hàng chưa được đào tạo bài bản về các sản phẩm bancassurance nên đương nhiên việc giới thiệu và tuyên truyền rộng rãi cho khách hàng biết đến là vô cùng khó khăn Chính vì vậy, công tác đào tạo phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm và là trách nhiệm của cả ngân hàng lẫn công

ty bảo hiểm

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI- PHÒNG GIAO DỊCH ĐỊNH CÔNG

2.1 Vài nét về Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội- Phòng giao dịch Định Công

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội là Ngân hàng thương mại cổ phần trực thuộc Bộ Quốc Phòng được thành lập ngày 04 tháng 11 năm 1994, gồm 04 cổ đông lớn: Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh Doanh vốn Nhà Nước, Tập đoàn công nghiệp Viễn Thông Quân Đội (Viettel) Trong

đó lớn nhất là Viettel với 14,94% vốn điều lệ của Ngân Hàng tương đương với hơn 315 triệu cổ phiếu Thời điểm năm 2019, vốn điều lệ của ngân hàng

là 20,000 nghìn tỷ đồng, tổng tài sản của ngân hàng năm 2019 là hơn 10,000 nghìn tỷ đồng

Hiện nay Ngân Hàng Quân Đội MB đã có mạng lưới khắp nơi trên cả nước với hơn 100 Chi nhánh và trên 190 điểm giao dịch trải rộng khắp 48 tỉnh thành Ngân hàng Quân Đội MB còn có văn phòng đại diện tại Liên Bang Nga, Chi nhánh tại Lào và Campuchia

Ngân hàng TMCP Quân Đội – PGD Định Công là một trong số 100 chi nhánh thuộc Ngân hàng TMCP Quân Đội MB Ngoài dịch vụ Ngân hàng, Ngân hàng Quân Đội còn tham gia vào dịch vụ môi giới chứng khoán, quản

lý quỹ, kinh doanh địa ốc, bảo hiểm, quản lý nợ và khai thác tài sản bằng cách nắm cổ phần chi phối của một số doanh nghiệp trong lĩnh vực này Được

thành lập theo Đăng ký kinh doanh số 0100283873-006-00050 từ năm 2008

PGD Định Công tại số 96 Định Công, Thanh Xuân, Hà Nội với vốn điều lệ lên tới 3.598 tỷ đồng cùng với 3 phòng ban liên quan Với phương châm hoạt động “Tăng trưởng đột phá, hiệu quả - an toàn”, PGD Định Công

Ngày đăng: 22/07/2021, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hướng dẫn thực hiện quy trình tác nghiệp Bảo Hiểm – Hợp tác MB – MBAL - Lưu hành nội bộ MB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện quy trình tác nghiệp Bảo Hiểm
4. Phát triển kênh phân phối bancassurance – Xu thế tất yếu trong lĩnh vực kinh doanh BHNT giai đoạn hội nhập quốc tế - Phan Hồ Trung (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kênh phân phối bancassurance – Xu thế tất yếu trong lĩnh vực kinh doanh BHNT giai đoạn hội nhập quốc tế
5. PGS TS Nguyễn Thị Mùi, ThS Trần Cảnh Toàn (2011) - Giáo trình Quản Trị NHTM – Nhà xuất bản Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản Trị NHTM
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài Chính
6. Thông báo chính sách thúc đẩy bán MBAL cho trục SME – Lưu hành nội bộ MB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo chính sách thúc đẩy bán MBAL cho trục SME
7. ThS. Nguyễn Thùy Trang (2007), “Đi tìm cơ chế quản lý cho hoạt động bancassurance ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm cơ chế quản lý cho hoạt động bancassurance ở Việt Nam”
Tác giả: ThS. Nguyễn Thùy Trang
Năm: 2007
8. TS Đoàn Minh Phụng, TS Hoàng Mạnh Cừ (2011)- Giáo trình BHNT- Nhà xuất bản Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình BHNT
Tác giả: TS Đoàn Minh Phụng, TS Hoàng Mạnh Cừ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài Chính
Năm: 2011
3. Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w