Với việc dỡ bỏ tất cả các rào cản thương mại, thị trường Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn, đón chào các nhà bảo hiểm trên toàn thế giới.Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như vậy, việc làm
Trang 1SINH VIÊN: VŨ THỊ HỒNG NHUNG
LỚP: CQ54/03.04
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TẠI CÔNG TY TNHH BHNT MB AGEAS”
Chuyên ngành: Tài chính Bảo Hiểm GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS.TRỊNH HỮU HẠNH
HÀ NỘI - 2020
Trang 2SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Sinh viên
Vũ Thị Hồng Nhung
Trang 3SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 4
1.1 Lý luận cơ bản về Bảo hiểm nhân thọ 4
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ 4
1.1.2 Sự cần thiết của BHNT 4
1.1.3 Sự ra đời và phát triển của BHNT 7
1.1.4 Đặc trưng của Bảo hiểm Nhân thọ 9
1.1.5 Vai trò của Bảo hiểm nhân thọ 11
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 16
1.2.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 16
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 19
1.2.3 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh 24
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 26
1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 26
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ MB AGEAS 30
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH BHNT MB Ageas 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của MB Ageas Life 30
2.1.2 Vị thế của MB Ageas Life trên thị trường bảo hiểm nhân thọ 32
Trang 4SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
2.1.3 Mô hình cơ cấu tổ chức của MB Ageas Life 34
2.1.4 Các nhóm nghiệp vụ 35
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty MB Ageas Life 36
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty MB Ageas Life 39
2.2.1Đánh giá thị phần của công ty MB Ageas Life 39
2.2.2 Năng lực tài chính của công ty MB Ageas Life 41
2.2.3 Nguồn nhân lực của công ty MB Ageas Life 42
2.2.4 Chế độ quản lý và đãi ngộ của công ty MB Ageas Life 45
2.2.5 Hệ thống sản phẩm 47
2.2.6 Giá sản phẩm của công ty MB Ageas Life 47
2.2.7 Chất lượng dịch vụ 48
2.2.8 Thương hiệu của công ty 49
2.2.9 Mạng lưới chi nhánh 50
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty MB Ageas Life 51
2.3.1 Nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ BHNT 51
2.3.2 Đối thủ cạnh tranh 51
2.3.3 Chính sách kinh tế pháp luật của Nhà nước 52
2.4 Kết quả và hạn chế về năng lực cạnh tranh của công ty TNHH BHNT MB Ageas 52
2.4.1 Thành tựu đạt được 52
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ MB AGEAS 57
3.1 Phương hướng hoạt động MB Ageas Life 57 3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty BHNT MB Ageas 60
Trang 5SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
3.2.1 Tăng cường các hoạt động marketing 60
3.2.2 Xây dựng bộ máy cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực công ty 63
3.2.3 Phát hiện và phân tích đối thủ cạnh tranh kịp thời, chính xác 64
Phí bảo hiểm thấp 65
3.2.4 Nâng cao thương hiệu và hình ảnh công ty 65
3.2.5 Nâng cao năng lực sáng tạo trong công ty 66
3.2.6 Tăng cường chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban chủ chốt công ty 66
3.3 Kiến nghị 66
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 66
3.3.2 Kiến nghị với công ty BHNT MB Ageas 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 68
KẾT KUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của MB Ageas Life 34
Bảng 1: Một số kết quả hoạt động kinh doanh tại MB Ageas Life từ năm 2017 đến năm 2019 38
Bảng 2 Doanh thu thuần tại công ty MB Ageas Life từ năm 2017 đến năm 2019 39
Hình 1: Thị phần doanh thu phí BH khai thác mới năm 2019 40
Bảng 3.Bảng cân đối kế toán tại công ty MB Ageas Life từ năm 2017 đến năm 2019 41
Bảng 4 Số lượng nhân viên bảo hiểm MB Ageas Life từ năm 2018 đến năm 2019 43
Bảng 5: Trình độ nhân viên MB Ageas Life từ năm 2018 đến năm 2019 44
Bảng 6: So sánh mạng lưới chi nhánh tại các công ty BHNT 50
Bảng 7: Điểm mạnh, điểm yếu cơ bản của các công ty BHNT 65
Trang 7SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BH : Bảo hiểm BHNT : Bảo hiểm nhân thọ TNHH : Trách nhiệm hữu hạn STBH : Số tiền bảo hiểm CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 8SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bảo hiểm là một ngành kinh doanh dịch vụ có từ rất lâu trong lịch sử văn minh của nhân loại Cho tới nay, chưa có ai biết chính xác bảo hiểm ra đời khi nào và bắt nguồn từ đâu nhưng chỉ biết rằng sự xuất hiện của các hợp đồng bảo hiểm đã trở thành tấm lá chắn hữu hiệu, bảo vệ mỗi người trước tất
cả các rủi ro xảy ra bất ngờ trong cuộc sống Hay nói cách khác, bảo hiểm đã, đang và sẽ là tay vịn giúp mỗi người có thể bước từng bước vững chắc trên những bậc thang dẫn tới hạnh phúc, thành công Xã hội ngày một phát triển, đời sống cao khiến nhu cầu được bảo vệ trước mọi rủi ro đặc biệt là rủi ro về tính mạng, sức khỏe của con người ngày càng tăng Do đó, bảo hiểm nhân thọ
là trở thành vấn đề thiết yếu với mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội
Ở Việt Nam, bảo hiểm ra đời khá muộn, thuật ngữ bảo hiểm chỉ được biết tới sau sự ra đời của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam- Bảo Việt (1965) Trong suốt một thời gian dài, Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta Sau nghị định 100/CP/1993 của Chính phủ được ban hành, thế độc quyền của Bảo Việt bị
dỡ bỏ Hàng loạt các công ty bảo hiểm ra đời ngay sau đó, thị trường bảo hiểm mới thực sự xuất hiện theo đúng nghĩa Cùng với đó, áp lực cạnh tranh trên thị trường ngày một gia tăng và cạnh tranh khốc liệt hơn sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO Với việc dỡ bỏ tất cả các rào cản thương mại, thị trường Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn, đón chào các nhà bảo hiểm trên toàn thế giới.Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như vậy, việc làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các Doanh nghiệp
đã trở thành một vấn đề mang tính sống còn đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm và công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ MB Ageas cũng không nằm ngoài
số đó Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ MB Ageas là một trong những công
Trang 9SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
ty bảo hiểm mới tham gia vào thị trường bảo hiểm của Việt Nam Với hơn 3 năm sau khi gia nhập vào thị trường Việt Nam, MB Ageas Life đang là một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ đứng đầu trên thị trường đặc biệt là kênh bancassurance Tuy nhiên, hiện nay năng lực cạnh tranh của công ty còn khá hạn chế Nhận thức được vấn đề trên, em quyết định lựa chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Bảo Hiểm nhân thọ MB Ageas” để hoàn thành chuyên đề thực tập của mình
1.2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Năng lực cạnh tranh của công ty TNHH BHNT MB Ageas
- Mục đích nghiên cứu: Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu tình hình cạnh tranh của công ty đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ khác, từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty MB Ageas Life
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Công ty TNHH BHNT MB Ageas
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nhằm phân tích năng lực cạnh tranh của công ty MB Ageas Life Qua đó giúp các nhà quản trị công ty đưa ra các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách hiệu quả
Hơn nữa, đề tài phân tích này có thể làm tài liệu tham khảo cho những công ty đã sắp và đang tham gia vào lĩnh vực BHNT
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài viết này là:
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp quan sát: Tiến hành ghi chép mọi yếu tố có thông quan đến để nghiên cứu sau khi quan sát sao cho phù hợp với mục đích và đề tài
Trang 10SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Thông qua tài liệu của đơn vị thực tập: sổ sách chứng từ có sẵn, báo cáo tài chính… các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoàn thiện bản luận văn tại các phòng ban như: Phòng Kế toán, Phòng khách hàng doanh nghiệp, phòng marketing …và qua các kênh thông tin khác
Đồng thời dựa vào các quan điểm, lý luận kinh tế tài chính của Đảng, Nhà nước và các văn bản luật để làm sang tỏ các lý luận đưa ra
1.6 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Nội dung chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về bảo hiểm nhân thọ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ MB Ageas
Trang 11SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Lý luận cơ bản về Bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ
Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm nhân thọ Thực tế bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa Công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm nhân thọ (người được bảo hiểm) trong đó Công ty bảo hiểm nhân thọ có trách nhiệm trả cho người tham gia bảo hiểm nhân thọ (người được bảo hiểm) một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng) Còn người tham gia bảo hiểm nhân thọ có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm nhân thọ đầy đủ và đúng hạn
Tuy nhiên đứng trên góc độ pháp lý, xã hội-kỹ thuật, có những khái niệm về bảo hiểm nhân thọ khác Đó là:
Về mặt pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là bản hợp đồng trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm nhân thọ (người ký kết hợp đồng) thì người bảo hiểm nhân thọ cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (đó là số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp người được bảo hiểm nhân thọ bị tử vong hay người được bảo hiểm sống đến một thời điểm ghi rõ trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Về mặt kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này thuộc vào tuổi thọ của con người
1.1.2 Sự cần thiết của BHNT
Bảo hiểm là sự chia sẻ rủi ro giữa một số đông với một số ít trong số họ phải gánh chịu những rủi ro Có thể nói nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi vào
Trang 12SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
lịch sử là năm 1583, ở thị trường Luân đôn một nhóm người đã thoả thuận góp tiền và số tiền này sẽ được trả cho người nào trong số họ bị chết trong 1 năm Đây cũng là mầm mống của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ (BHNT)
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Các rủi ro do nhiều nguyên nhân, ví dụ như:
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, hạn hán
Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản5 xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ôtô, hàng không, tai nạn lao động
Các rủi ro do môi trường xã hội Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho con người, khi xã hội càng phát triển thì con người càng có nguy cơ gặp nhiều rủi ro như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, lạm phát
Bất kể là do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như nguy hại đến bản thân, hao tổn tài chính gia đình làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội Để đối phó với những rủi ro con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục những hậu quả do rủi ro gây ra Đó là nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro
+ Nhóm biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro Tuy nhiên là biện pháp này đã giúp chúng ta ngăn chặn và giảm thiểu rất nhiều rủi ro trong cuộc sống nhưng khi rủi ro xảy ra chúng ta không ngăn ngừa hết được hậu quả
+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận
Trang 13SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có Khi chấp nhận rủi ro thì con người phải đối phó với những khó khăn không những cho bản thân mà còn về mặt tài chính của gia đình nữa cho nên bảo hiểm là phương pháp tốt hơn để đối phó với rủi ro Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên
cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xã hội bảo hiểm không chỉ chuyển giao rủi
ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép
có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc sống con người
Sự ra đời và phát triển của BHNT đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển cuả nền kinh tế trên thế giới Ngày nay tham gia BHNT trở thành một nhu cầu tất yếu của người dân các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Ở châu Á, những năm gần đây BHNT phát triển hết sức mạnh mẽ, thực hiện chức năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo nguồn đầu tư dài hạn cho sự phát triển kinh tế- xã hội, giảm bớt tình trạng vay vốn nước ngoài với lãi suất cao Theo số liệu của Thời báo kinh tế thì trong năm 2001 doanh thu phí BHNT đạt 2500 tỷ đồng, chiếm 0,55% GDP BHNT giúp tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết một số vấn đề
xã hội như vấn đề thất nghiệp, vấn đề giáo dục Hiện nay hầu hết các công ty lớn trên thế giới đều tham gia BHNT nhằm duy trì hoạt động của công ty, bù đắp phần thiệt hại do rủi ro trong trường hợp người chủ công ty phải ngừng làm việc do tử vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn
Trong điều kiện kinh tế Việt nam, trải qua hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành
Trang 14SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
tựu đáng phấn khởi và có ý nghĩa rất quan trọng Đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, tạo ra được những cơ sở vật chất thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất nước, cho phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội văn minh"
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 8 đến 9% và tốc độ tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì tiết kiệm trong dân sẽ không ngừng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP Đa số với người dân, ngoài khả năng gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng thì thường rất ít khả năng để đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi Như vậy cùng với việc tăng nhanh số lượng
và tỷ lệ tiết kiệm trong dân, nhà nước cần phải có giải pháp, chính sách và công cụ để huy động mạnh nguồn vốn trong dân cho đầu tư phát triển
BHNT từ khi ra đời và triển khai các nghiệp vụ BHNT hỗn hợp mang tính chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm đã và đang huy động được một lượng vốn không nhỏ trong dân Tuy bước đầu, lượng người tham gia bảo hiểm chưa lớn, số hợp đồng tham gia ở mức trách nhiệm cao cũng chưa nhiều, nhưng đã mở ra thêm cho người dân một cách thức tiết kiệm mới đồng thời góp phần vào phát triển nguồn vốn, tăng đầu tư cho đất nước
1.1.3 Sự ra đời và phát triển của BHNT
Năm 1762, ở Anh thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable Đây
là công ty đầu tiên bán các hợp đồng bảo hiểm rộng rãi cho nhân dân và áp
Trang 15SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
dụng nguyên tắc phí bảo hiểm không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm
Năm 1812, một công ty bảo hiểm nhân thọ nữa được thành lập ở Bắc Mỹ Năm 1860 bắt đầu xuất hiện hệ thống mạng lưới đại lý bán bảo hiểm nhân thọ
Ở Châu Á, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản Năm 1868 công
ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác
là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến nay
Cho đến nay bảo hiểm nhân thọ đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng
Từ những loại hình nhân thọ cơ bản là Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn (Bảo hiểm tử kỳ), Bảo hiểm trọn đời, Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, Bảo hiểm trợ cấp hưu trí, mỗi công ty bảo hiểm đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù hợp với chính sách kinh tế, xã hội của từng quốc gia
Người ta cũng thường có những điều khoản bổ sung trong đó phạm vi bảo hiểm là tai nạn hoặc bệnh tật, ốm đau, các bệnh hiểm nghèo xảy ra trong thời hạn bảo hiểm của hợp đồng chính (là một trong bốn dạng trên)
Trong đó, cho đến năm 1993, ở Đông Nam Á tổng doanh thu phí bảo hiểm là 61,1 tỷ USD, doanh số của bảo hiểm nhân thọ là 45,1 tỷ USD chiếm 73,8% , doanh số của bảo hiểm phi nhân thọ là 16 tỷ USD chiếm 26,2% 1.1.3.2 Tại Việt Nam
Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người làm việc cho Pháp đã được bảo hiểm và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ này Các hợp đồng bảo hiểm này đều do các công ty bảo hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện
Trong những năm 1970 - 1971 ở miền Nam công ty Bảo hiểm Hưng Việt đã triển khai một số loại hình bảo hiểm như “An sinh giáo dục”, “Bảo hiểm trường sinh” (Bảo hiểm nhân thọ trọn đời), “Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5 -
10 - 20 năm”, nhưng công ty này chỉ hoạt động từ một đến hai năm nên các
Trang 16SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
nghiệp vụ bảo hiểm không được biết đến rộng rãi
Năm 1987, Bảo Việt đã có đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng vào Việt Nam”, nhưng vào lúc đó điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn
đã không cho phép công ty Bảo Việt phát triển nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Thay cho bảo hiểm nhân thọ, năm 1990, Bộ Tài chính cho phép công ty Bảo Việt triển khai “Bảo hiểm sinh mạng con người thời hạn 1 năm”
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu triển khai nghiệp bảo hiểm nhân thọ với hai loại hình mang tính chất tiết kiệm từ cuối năm 1993 Đến tháng 1 năm 1994, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam mới chính thức trình Bộ Tài chính dự án thành lập công ty Bảo hiểm nhân thọ
Với những yêu cầu về quản lý quỹ bảo hiểm nhân thọ, Bộ Tài chính đã
ký quyết định số 568/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996 thành lập công ty bảo hiểm nhân thọ trực thuộc Bảo Việt Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam
1.1.4 Đặc trưng của Bảo hiểm Nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn Bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho người được bảo hiểm sống hoặc chết Chính vì vậy mà bảo hiểm nhân thọ mang những đặc điểm cơ bản sau:
- BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm
Khác với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp rủi
ro, BHNT do vừa mang tính bảo vệ vừa mang tính tiết kiệm đã đáp ứng được
Trang 17SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
nhiều mục đích khác nhau của con người, mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng sản phẩm bảo hiểm.Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau mà BHNT đang có thị trường ngày càng rộng rãi và được nhiều người quan tâm
- Các hợp đồng trong BHNT rất đa dạng
Tính đa dạng của các hợp đồng BHNT xuất phát từ mục đích của người tham gia và từ các sản phẩm bảo hiểm của công ty bảo hiểm Mỗi sản phẩm của công ty thiết kế ra là để phù hợp với từng đối tượng tham gia khác nhau, cho nên bất cứ ai cũng có thể tham gia bảo hiểm và có được sản phẩm phù hợp với mục đích của bản thân khi tham gia bảo hiểm
- Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp
Để đưa được sản phẩm BHNT đến với người tiêu dùng, người BH đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo ra sản phẩm bao gồm: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… Tuy nhiên những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên phí BHNT, còn phần chủ yếu là phụ thuộc vào:
Độ tuổi của người tham gia bảo hiểm
Tuổi thọ bình quân của con người
Số tiền bảo hiểm
Thời hạn tham gia bảo hiểm
Phương thức thanh toán
Lãi suất đầu tư
……
Để định giá phí BHNT thì phải dựa trên từng vùng địa lý, từng quốc gia, từng chế độ xã hội, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước khác nhau Hơn nữa còn phải nắm vững đặc trưng cơ bản của từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích chiều hướng phát triển chung của mỗi loại sản
Trang 18SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
phẩm trên thị trường…
1.1.5 Vai trò của Bảo hiểm nhân thọ
1.1.5.1 Vai trò của Bảo hiểm nhân thọ trong đời sống con người
Bảo hiểm nhân thọ đảm bảo an toàn về tài chính cho những người phụ thuộc Người trụ cột là chỗ dựa về tài chính cũng như tinh thần cho những người thân, người phụ thuộc trong gia đình Tham gia bảo hiểm nhân thọ là cách để người trụ cột thể hiện trách nhiệm với người thân bởi lẽ: giúp đảm bảo khoản chi phí tài chính để khắc phục tổn thất khi người trụ cột gặp rủi ro; giúp duy trì mức sống ổn định cho gia đình khi những rủi ro bất ngờ ập đến
Bảo hiểm nhân thọ còn là quỹ tiết kiệm cho tương lai học vấn của con
em Chăm lo cho tương lai học vấn của con trẻ là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ Để thực hiện được mục tiêu đó các bậc cha mẹ phải chuẩn bị trước một khoản tài chính nhất định Với bảo hiểm nhân thọ các bậc cha mẹ
sẽ được tham gia một chương trình tài chính mà theo đó sẽ giúp tích lũy có kỷ luật để có một khoản tiền lớn chăm lo cho tương lai học vấn của con cái
Tham gia Bảo hiểm nhân thọ còn là xây dựng quỹ tiết kiệm dài hạn cho những kế hoạch của cá nhân và gia đình Bảo hiểm nhân thọ giúp mỗi cá nhân
và gia đình thực hiện những chương trình tiết kiệm dài hạn thuận tiện và có
kỷ luật Chỉ cần để dành những khoản tiền nhỏ đều đặn, bạn có thể thực hiện những kế hoạch cho tương lai như: lập gia đình; mua nhà; mua xe; hay những mong muốn khác
Bảo hiểm nhân thọ mang lại những hỗ trợ về chi phí hậu sự hay để lại
di sản thừa kế Bảo hiểm nhân thọ đảm bảo rằng khi đã có tuổi, khách hàng sẽ luôn có một khoản tiền để trang trải những chi phí thuốc men, lo hậu sự, hay
để lại một di sản thừa kế cho con cháu
Bảo hiểm nhân thọ giúp đảm bảo vững chắc hơn nguồn tài chính khi về hưu, thanh thản an hưởng tuổi già bên con cháu Với nguồn tài chính độc lập,
Trang 19SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
khách hàng là những người đã đến tuổi hưu trí có thể thực hiện công việc kinh doanh nhỏ để có thêm thu nhập; trang trải thuốc men, viện phí; thực hiện những chuyến đi tham quan, du lịch
Bảo hiểm nhân thọ là kênh đầu tư sinh lời Bên cạnh những sản phẩm bảo hiểm truyền thống, bảo hiểm nhân thọ còn có loại hình bảo hiểm liên kết đầu tư Loại hình bảo hiểm này cho phép người tham gia bảo hiểm: đáp ứng nhu cầu đầu tư; tiếp cận với các danh mục đầu tư được đa dạng hóa; tiếp cận với các dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp
1.1.5.2 Vai trò của Bảo hiểm nhân thọ trong đời sống kinh tế xã hội
Bản chất của Bảo Hiểm nói chung và BHNT nói riêng như chúng ta đã biết, không chỉ nhằm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, gây tổn thất về người và tài sản của xã hội, mà còn nhằm tạo ra dự phòng tài chính cần và đủ
để bồi thường tổn thất ấy, góp phần ổn định sản xuất, đời sống kinh tế-xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy BHNT phát triển rất nhanh, doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng Vai trò của BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn vể tài chính khi gặp phải rủi ro, mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội Trên phạm vi xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư, kìm hãm lạm phát…từ đó góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển Những vai trò to lớn của BHNT được biểu hiện cụ thể dưới những hình thức sau:
Thứ nhất, đối với người dân, BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm Mặc
dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao, nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều cá nhân và gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc
Trang 20SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn Khi
đó, gia đình phải chi phí mai táng, chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù đắp những khoản thu thường xuyên bị mất đi Khó khăn hơn là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người chết chưa kịp hoàn thành như: trả nợ, phụng dưỡng bố mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học…Dù rằng
hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thời trước mắt, chưa đảm bảo được lâu dài về mặt tài chính Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn đó
Thứ hai, thông qua dịch vụ BHNT, một dịch vụ có đối tượng tham gia rất đông đảo, các nhà bảo hiểm thu được phí để hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường, chi trả và dự phòng Khi nhàn rỗi, nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, những tiến bộ khoa học đã góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất, nâng cao đời sống kinh tế xã hội, kéo dài tuổi thọ của dân cư Tuổi thọ tăng thể hiện đời sống vật chất tinh thần cao Đây là điều đáng mừng, song nó cũng đặt ra cho xã hội, trước hết là nguồn ngân sách Nhà nước một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết Đó
là việc phải dành một khoản kinh phí ngân sách ngày càng tăng tương ứng với mức tăng dân số và tuổi thọ để giải quyết các chế độ đảm bảo xã hội, nhất là đối với những người già yếu, không nơi nương tựa Do vậy, phần vốn ngân sách đầu tư cho phát triển ít nhiều nhất định sẽ bị ảnh hưởng Nhằm khắc phục ảnh hưởng ấy, nhiều nước trên thế giới đã dùng biện pháp khác để bổ sung vốn đầu tư phát triển Đó là mở rộng thị trường BHNT, huy động mọi tầng lớp dân cư tham gia mua BHNT dài hạn Đây được coi là biện pháp hỗ
Trang 21SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
trợ ngân sách Nhà nước trong việc đảm bảo sinh hoạt bình thường cho những người già yếu, những người mất sức bên cạnh các khoản phúc lợi xã hội của Nhà nước và là nguồn vốn bổ sung cho ngân sách Nhà nước trong việc đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giữ gìn trật tự và ổn định xã hội Chẳng hạn, ở Mỹ, trong tổng số vốn đầu tư phát triển sản xuất hiện nay thì 30% là vốn huy động được từ các quỹ BHNT Ở Đức ngày nay, người hưu trí còn có khoản thu thêm từ quỹ BHNT bổ sung cho thu nhập tuổi già của mình
và khoản này chiếm 20% thu nhập hàng tháng của họ
Hơn nữa hoạt động đầu tư cũng chi phối chiến lược thiết kế sản phẩm
và tính phí bảo hiểm của công ty và đóng một vai trò nhất định trong quan hệ với khách hàng Lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư sẽ quyết định đến các sản phẩm bảo hiểm của công ty Nếu thu nhập của hoạt động đầu tư cao
sẽ giúp sản phẩm đưa ra hấp dẫn hơn đối với khách hàng về phí, về lãi đầu tư…trong khi tỷ lệ lãi đầu tư thấp có thể làm cho các sản phẩm kém cạnh tranh và có thể dẫn đến mất khách hàng
Thứ ba, BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát Xét về mặt sản phẩm, tất cả sản phẩm của BHNT đều
có khả năng chống lại ảnh hưởng của lạm phát vì khi tính phí bảo hiểm, công
ty bảo hiểm đã áp dụng một tỷ lệ chiết khấu phí (lãi kỹ thuật), phần lãi này sẽ
bù đắp lại phần trượt giá Khi tham gia BHNT, khách hàng có thể yên tâm về giá trị đồng tiền vì khi tham gia bảo hiểm, số tiền nộp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (NTGBH) không phải là tiền “chết” mà là tiền “đẻ” ra tiền
Số phí bảo hiểm mà NTGBH đóng được công ty bảo hiểm đem đầu tư và lãi đầu tư được trả lại cho NTGBH dưới hình thức chiết khấu phí (tính lãi cho phí bảo hiểm đóng), ngoài ra còn dưói hình thức lãi chia (bảo tức) Thông thường,
do thực hiện đa dạng hoá đầu tư nên lãi suất đầu tư của các Cty BHNT thường
Trang 22SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
cao hơn lãi suất tiết kiệm tiền gửi Ngân Hàng (và cao hơn tỷ lệ lạm phát), như vậy NTGBH được hưởng lãi suất dương từ số phí đóng, tức là bảo toàn và tăng được giá trị của khoản tiền đóng phí bảo hiểm Một điều cũng cần lưu ý
là, khi tham gia bảo hiểm và đóng phí định kỳ, không phải toàn bộ số phí đóng phải chịu ảnh hưởng của lạm phát tương ứng với thời hạn bảo hiểm mà từng phần phí đóng sẽ chịu ảnh hưởng trong những thời hạn khác nhau Qua
đó, chúng ta thấy vai trò to lớn của BHNT trong việc kìm hãm lạm phát
Thứ tư, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm có kế hoạch….Trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, các công ty BHNT muốn phát triển sản phẩm và
mở rộng thị trường của mình thì phải cần đến một hệ thống đại lý có quy mô lớn để giúp tuyên truyền, tư vấn và phân phối các sản phẩm BHNT của doanh nghiệp đến khách hàng Nhờ đó mà những người không có việc làm, gồm nhiều thành phần: các bạn thanh niên rất trẻ, những người đang tạm nghỉ việc, những người chưa tìm được việc làm, những người chưa hài lòng với công việc của mình …đến với công ty BHNT đã tìm cho mình được một công việc thích hợp với mức lương xứng đáng và họ cũng bị cuốn hút cùng với sự phát triển của BHNT
Khi tổ chức các dịch vụ BHNT, các công ty BHNT còn cần một số lượng lớn các nhân viên sử dụng máy vi tính, nhân viên thống kê, kế toán…vì đối tượng và phạm vi rộng, thời gian dài, cho nên phát triển dịch vụ này sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Thực tế số lượng trong thời gian vừa qua tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm ở các nước khác cho thấy, lực lượng đại lý BHNT sẽ phát triển rất nhanh trong thời gian tới Cán bộ làm việc trong hệ thống Bảo Việt tại thời điểm đầu năm 1998 khoảng 2000 người, trong khi đó đến tháng 6 năm 1998, tức là chỉ hơn một năm sau khi bắt đầu
Trang 23SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
tuyển những đại lý đầu tiên và bảy tháng sau khi có những chính sách hỗ trợ công tác phát triển mạng lưới đại lý, Trung tâm Đào tạo đã cấp chứng chỉ tủ tiêu chuẩn cho 1300 người Còn ở Mỹ, có gần 2 triệu lao động làm việc trong ngành bảo hiểm, ở Hồng Kông với số dân 6 triệu người, có tới 20.000 người làm ở các công ty bảo hiểm Những số liệu nêu trên cho thấy việc xây dựng
và phát triển lực lượng đại lý, nhân viên của các doanh nghiệp BHNT đã tạo được việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần ổn định anh ninh, trật tự cho
xã hội và tăng trưởng kinh tế cho đất nước
Như vậy có thể nói BHNT vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển, vừa là công cụ kìm hãm lạm phát hữu hiệu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt khó khăn cho cá nhân và gia đình người gặp rủi ro, nhằm góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm và ổn định đời sống kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia Do vậy, đối với những quốc gia vai trò đảm bảo xã hội của Nhà nước còn chưa mạnh thì cần đẩy mạnh dịch vụ BHNT dài hạn vì nó góp phần hỗ trợ cho ngân sách Nhà nước giải quyết được một số khó khăn vể kinh phí đảm bảo xã hội và đầu tư phát triển
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch"
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường” Họ còn đồng nhất cạnh tranh với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)
Trang 24Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc thì cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian” Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vượt qua đối thủ của mình để đạt được một hay một số mục tiêu nhất định
Từ đây ta thấy rằng, cạnh tranh trong doanh nghiệp Bảo hiểm rất cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp Bảo Hiểm Cạnh tranh trong doanh nghiệp bảo hiểm là sự cạnh tranh về thị phần, công nghệ, nguồn nhân lực, sản phẩm… Từ đó các doanh nghiệp đưa ra các chiến lược tốt nhất, sản phẩm phù hợp với người dân mang lại giá trị tốt hơn cho khách hàng để tăng thị phần cho doanh nghiệp
1.2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980 Theo Aldington Report (1985):
“Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ
Trang 25SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” Năm 1994, định nghĩa này được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994) Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập:
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm “Thị trường, chiến lược, cơ cấu” thì năng lực cạnh tranh là việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp Tóm lại, một khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh
tế cao và bền vững Quan trọng là, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ dựa trên việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản
Trang 26SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
phẩm, dịch vụ hấp dẫn phù hợp với nhu cầu người tham gia bảo hiểm, mở rộng mạng lưới, thị trường để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.2.2.1 Thị phần
Thị phần là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thị phần là thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của mình một cách thường xuyên và có xu hướng phát triển
Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị sản phẩm của doanh nghiệp bán ra so với giá trị toàn ngành Trong bảo hiểm nhân thọ, thị phần doanh thu phí bảo hiểm được là tỷ lệ phần trăm doanh thu phí của doanh nghiệp so với giá trị toàn ngành
Thị phần càng lớn càng chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, năng lực cạnh tranh cao nên doanh nghiệp hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị trường
Thông qua sự biến động của thị phần, doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào Chỉ tiêu này nói lên mức độ lớn của thị trường và vai trò vị trí của doanh nghiệp Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không hay không hiệu quả thông qua
sự biến động của chỉ tiêu này: khi tiềm lực của thị trường đang lên và thị phần của doanh nghiệp không thay đổi tức là thị trường đã ngoài vòng kiểm soát của doanh nghiệp hay một phần của thị trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh cho nên doanh nghiệp cần phải xem xét lại chiến lược kinh doanh của mình
để mở rộng thị trường của doanh nghiệp
Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả, doanh nghiệp còn phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp sản phẩm kịp thời, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp Như vậy, ta thấy
Trang 27SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
rằng thị phần là một tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2.2 Giá của sản phẩm
Trong kinh tế, giá cả là giá trị dưới dạng bằng tiền của hàng hoá, dịch
vụ Theo ý nghĩa thực tế, giá cả là số tiền trả cho một số lượng hàng hoá, dịch
vụ nào đó
Vì nguồn lực là hữu hạn nên một sản phẩm có giá thấp luôn có sức cạnh tranh cao hơn những sản phẩm có giá cao và khả năng chiếm lĩnh thị trường của các loại sản phẩm này cũng lớn hơn vì giá luôn là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng
Một trong những chiến lược hiệu quả trong kinh doanh là chiến lược chi phí thấp và giá cả luôn là một công cụ cạnh tranh rất hiệu quả Trong môi trường cạnh tranh và thị trường Việt Nam hiện nay thì giá cả là một yếu tố mà doanh nghiệp nào cũng cần quan tâm Tuy nhiên, chúng ta không thể hạ giá bằng mọi cách Giá chỉ có thể hạ trên cơ sở là lợi thế chi phí chứ không trên
cơ sở hạ chất lượng sản phẩm Tức là phải đảm bảo mức khác biệt cao nhất (công năng, màu sắc, hương vị,…) trên mức giá cho trước nếu không chúng ta
sẽ không được thị trường chấp nhận và thất bại là điều không thể tránh khỏi
Trong bảo hiểm nhân thọ, một doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt về giá chính là tạo ra thị phần cho doanh nghiệp của mình Nhưng tạo ra giá thế nào
để đó là sự khác biệt và thu hút được khách hàng thì không phải doanh nghiệp nào cũng làm được Giá cả hợp lý nhưng quyền lợi của khách hàng vẫn phải được đảm bảo Giá cả hạ thấp nhưng quyền lợi phải cao Đây chính là mấu chốt quan trọng để thu hút khách hàng Doanh nghiệp bảo hiểm làm được điều này là đã nắm chắc được 1 phần thành công trong việc tìm kiếm thị phần 1.2.2.3 Thương hiệu
Thương hiệu là một yếu tố cũng vô cùng quan trọng việc quảng bá hình ảnh
Trang 28SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
của doanh nghiệp, sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Thương hiệu là một cam kết tuyệt đối về chất lượng, dịch vụ và giá trị
trong một thời gian dài và đã được kiểm chứng qua hiệu quả sử dụng và sự
thỏa mãn của khách hàng (Theo giáo trình Quản trị Thương hiệu)
Vì vậy, một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh lớn thì khẳng định nó đã tạo
dựng được một thương hiệu vững mạnh trong thị trường
1.2.2.4 Tiềm lực tài chính
Trong nền kinh tế thị trường sản xuất kinh doanh hàng hóa, doanh
nghiệp phải có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện được
hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là nguồn lực quan trọng nhất và chi phối
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp đều là những đầu tư mang tính chất sinh lời
Khả năng tài chính của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu hay vốn tự
có và các nguồn vốn khác có thể huy động được Tài chính không chỉ gồm
các tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp, mà gồm cả các
khoản vay, khoản nhập sẽ có trong tương lai và cả giá trị uy tín của doanh
nghiệp đó trên thị trường Vốn tự có có thể do các thành viên sáng lập đóng
góp hoặc do một phần lợi nhuận được để lại từ đầu tư, hoặc vốn góp thêm của
các cổ đông sau này Vốn vay có thể được huy động từ ngân hàng các tổ chức
tài chính các đơn vị quen biết Thiếu nguồn tài chính cần thiết, doanh nghiệp
có thể bị phá sản, sụp đổ bất cứ lúc nào Tài chính được coi là phương tiện
chủ yếu vũ khí sắc bén để tấn công, đánh thắng các đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp nào không đủ khả năng tài chính sẽ bị thôn tính bới các
đối thủ hùng mạnh hơn hoặc tự rút lui khỏi thị trường
Năng lực tài chính đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng chiến
lược cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ
có điều kiện để đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị đảm bảo nâng cao
Trang 29Trí lực chính là nguồn lực tiềm tàng trong mỗi người bao gồm trí thức, tài năng, năng khiếu của mỗi con
Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển thành công của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp
Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể làm đựợc tốt tất cả những gì như mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồn lực khác cho doanh nghiệp khác lên một cách nhanh chóng Trí tuệ chất xám là những thứ vô cùng quý giá Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu viêt hơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh
Trang 30SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh Một đội ngũ lãnh đạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình độ cao, năng động, linh hoạt và hiểu biết sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước mắt như tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp Họ sẽ đưa ra nhiều ý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của doanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của một doanh nghiệp phải đồng bộ Sự đồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ công nhân của doanh nghiệp là từ những nhóm người khác nhau mà còn xuất phát từ năng lực tổng hợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn nhân lực về mặt vật chất, tổ chức trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật, lòng hăng say lao động sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, nguồn nhân lực càng dồi dào đồng nghĩa với cơ hội tiếp cận với nguồn khách hàng tiềm năng càng lớn Các đại lý được đào tạo bài bản sẽ đem về doanh thu trực tiếp cho doanh nghiệp bảo hiểm Bên cạnh sự dẫn dắt của quản lý, giúp nhân sự của mình có những định hướng , đường đi chính xác, phát triển đội ngũ lớn mạnh Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ khẳng định được vị trí của mình trên thị trường bảo hiểm nhân thọ
Nguồn nhân lực có lớn mạnh thì doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường
1.2.2.6 Mạng lưới chi nhánh
Một doanh nghiệp càng lớn mạnh thì phân bố mạng lưới càng lớn để
mở rộng quan hệ sản xuất kinh doanh sản phẩm, dịch vụ
Trong bảo hiểm nhân thọ, phát triển được mạng lưới chi nhánh, đại lý phân phối rộng khắp sẽ tạo cơ hội tốt cho doanh nghiệp bảo hiểm khai thác được thị trường, doanh thu mới ổn định, đem lại thị phần cho công ty Hơn nữa hệ thống chi nhánh, đại lý nhiều sẽ góp phần quảng bá tên tuổi và thương
Trang 31SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
hiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm, giúp hình ảnh của doanh nghiệp đến gần với khách hàng hơn Do đó, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ mạnh hơn khi xây dựng được hệ thống tại nhiều nơi, nhiều vùng miền khác nhau trên toàn quốc, toàn cầu
1.2.2.7 Hệ thống sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm
Một doanh nghiệp càng lớn mạnh thì hệ thống sản phẩm của doanh nghiệp càng phải nhiều và đa dạng Đặc biệt đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hệ thống sản phẩm càng đa dạng càng dễ thu hút khách hàng Việc thiết kế đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp góp phần tạo nên cơ hội tốt hơn cho doanh nghiệp để đưa đến cho khách hàng sự lựa chọn tối ưu nhất giúp doanh củng cố sự tin tưởng của khách hàng Hệ thống sản phẩm đa dạng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ thống sản phẩm đa dạng sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với khách hàng mới Như vậy, doanh nghiệp sẽ duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường
1.2.3 Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh
Ở nước ta trước đây với cơ chế tập trung bao cấp, nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong tất cả mọi vấn đề, từ cấp vốn, nguyên vật liệu cho tới phân phối
và tiêu thụ Như vậy các doanh nghiệp Nhà nước không phải lo cạnh tranh với một đối thủ nào bởi khi đó các thành phần kinh tế khác chưa được phát triển rộng raĩ Vì các nguyên nhân trên mà trong thời kỳ bao cấp cạnh tranh hầu như không có, các doanh nghiệp Nhà nước thì rất thụ động Chuyển sang nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trước pháp luật thì phần lớn các doanh nghiệp này đều không thích nghi nổi với môi trường mới, không cạnh tranh nổi với các thành phần kinh tế, làm ăn thua lỗ và đi vào phá sản Điều này cho thấy khi bước sang một cơ chế mới: cơ chế thị trường thì các doanh nghiệp ở mọi
Trang 32SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
thành phần kinh tế đều phải tìm mọi cách để cạnh tranh nhằm tồn tại Có thể nói cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường, là áp lực buộc các doanh nghiệp phải tìm giải pháp để nâng cao năng suất lao động, đưa ra thị trường những sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý Do đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt hơn
Như ta đã biết trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh tranh cho dù đôi khi cạnh tranh cũng trở thành con dao hai lưỡi Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có chi phí cao, chất lượng sản phẩm tồi, tổ chức tiêu thụ kém, mặt khác nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá bán sản phẩm, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ sản phẩm
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển, kinh tế phát triển trên nhu cầu tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều, để đáp ứng kịp thời nhu cầu này các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố trực tiếp như giá cả, chất lượng, uy tín Hay các yếu tố gián tiếp như hoạt động quảng cáo, hội chợ, các dịch vụ sau bán Hơn nữa trong một nền kinh tế mở như hiện nay các đối thủ cạnh tranh không chỉ là các doanh nghiệp trong nước mà còn là các doanh nghiệp, công
ty nước ngoài có vốn đầu tư cũng như trình độ công nghệ cao hơn hẳn thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là một tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển
Nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thị trường, cạnh tranh
sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 33SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
mình là tốt nhất, phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào có sức cạnh tranh tốt, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại
Nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp bảo hiểm giúp cho các doanh bảo hiểm đứng vững trên thị trường, tìm được thế mạnh riêng, xác định rõ và trau dồi thêm những yếu tố còn hạn chế Mang sản phẩm của doanh nghiệp phủ sóng toàn quốc, xây dựng tiềm lực vững mạnh giúp công ty đứng vững trên thị trường bảo hiểm nhân thọ
Nâng cao năng lực cạnh tranh còn góp phần vầo sự tăng trưởng của ngành và của cả quốc gia Cạnh tranh đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.3.1.1 Trình độ và năng lực quản lý của doanh nghiệp
Trình độ và năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở: áp dụng phù hợp phương pháp quản lý hiện đại; trình độ chuyên môn cũng như những kiến thức của đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp; trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp, thể hiện ở việc phân công nhiệm vụ, sắp xếp bố trí nhân sự cho phù hợp với công việc
1.3.1.2 Trình độ thiết bị, công nghệ
Nếu doanh nghiệp ứng dụng thiết bị, công nghệ phù hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành nhưng vẫn nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ mới và phù hợp còn giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp 1.3.1.3 Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Lao động là lực lượng sử dụng công nghệ, điều khiển các thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa Thêm vào đó, lao động còn là lực lượng tham gia
Trang 34SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
vào việc cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và đôi khi còn là lực lượng tạo ra cái mới…
1.3.1.4 Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động… Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sử dụng vốn Ngoài ra, năng lực tài chính thể hiện ở “vốn” của doanh nghiệp còn thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, thể hiện chỗ đứng của doanh nghiệp trên thương trường
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
1.3.2.1 Thể chế- chính sách
Thể chế- chính sách là nền tảng cho sự chấp hành chính sách pháp luật của doanh nghiệp Nội dung của thể chế- chính sách bao gồm từ các quy định
về pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính, đất đai, công nghệ, thị trường…, đến các hàng hóa, dịch vụ, địa bàn… được khuyến khích hay bị hạn chế đầu
tư kinh doanh Tóm lại, đó là tất cả các biện pháp điều tiết cả đầu vào lẫn đầu
ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp
1.3.2.2 Nhu cầu khách hàng
Câu nói “ khách hàng là thượng đế” luôn luôn đúng với tất cả các doanh nghiệp dù kinh doanh loại hình nào, nhất là trong điều kiện nền kinh tế phát triển, có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ thì sự hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp càng trở nên quan trọng vì khi
đó khách hàng có quyền quyết định họ sẽ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp nào dựa trên tiêu chí chất lượng và giá cả sản phẩm Mà theo hiệu ứng dây truyển, khi một khách hàng hài lòng sẽ kéo theo nhiều khách hàng hài lòng, từ đó sẽ nâng thị phần của doanh nghiệp được khách hàng tín nhiệm 1.3.2.3 Đối thủ cạnh tranh
“ Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng”,trong kinh doanh cũng như
Trang 35SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
vậy, việc có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp một loại sản phẩm, dịch vụ sẽ dẫn đến vấn đề tất yếu, là các doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược nhằm thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần
Vì vậy, doanh nghiệp phải nắm rõ về đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra được các chiến lược cạnh tranh hiệu quả
Trang 36SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về bảo hiểm nhân thọ, năng lực cạnh tranh; tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Đó cũng là cơ sở lý thuyết cho việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH BHNT MB Ageas ở chương 2
Trang 37SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ MB AGEAS
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH BHNT MB Ageas
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của MB Ageas Life
Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas (MB Ageas Life Insurance company limited) được thành lập trên cơ sở hợp tác liên doanh giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MB) , tập đoàn Ageas Insurance International NV và Công ty Bảo hiểm Nhân Thọ Muang Thai life Public company Limited Công ty được thành lập năm 2016 Hiện MB Ageas Life
có vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng, Ngân hàng Quân đội MB sở hữu 61% Năm
2018, công ty đã triển khai mạnh mẽ nhiều hoạt động kinh doanh, đưa tên tuổi
MB Ageas từng bước lớn mạnh trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Đặc biệt , MB Ageas đã phối hợp chặt chẽ với ngân hàng Quân Đội MB triển khai hoạt động kinh doanh Bảo hiểm qua kênh Bancassurance đột phá và gặt hái được nhiều thành công, đưa MB Ageas nằm trong top 3 các công ty Bảo hiểm nhân thọ về doanh thu khai thác mới qua kênh Bancassurance Công ty không ngừng thiết lập mạng lưới phân phối chất lượng để phục vụ chuyên nghiệp, chu đáo cho khách hàng của mình, Với hơn 217 chi nhánh của Ngân hàng quân đội, kênh đại lý truyền thông, kênh Kỹ thuật rộng lớn nâng cao khả năng phục vụ lớn nhất
Hoạt động với tầm nhìn “Trở thành doanh nghiệp Bảo hiểm Nhân thọ hàng đầu được tin yêu nhất”, Sứ mệnh “đồng hành cùng bạn dựng xây hạnh phúc”, giá trị cốt lõi “Minh bạch, Tin cậy, Đoàn kết, Đam mê, Năng động” ,Tính cách thương hiệu “ Chuyên nghiệp, Đồng cảm, Nhiệt tình, Tự tin, Tận Tâm” Công ty ngày càng đáp ứng và thu hút khách hàng tiêu dùng.
Trang 38SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Tên viết tắt: MB Ageas Life
Tên tiếng Anh: MB Ageas Life Insurance Company limited
Trụ sở chính: Tòa nhà Vinaconex, số 34 Láng Hạ, phường Láng Hạ,
quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: +842422298888
Email: dvk@mbageas.life
Website: https://mbageas.life/
Loại hình doanh nghiệp: Trách nhiệm hữu hạn
Kinh doanh: Bảo hiểm cá nhân, Bảo hiểm theo nhu cầu tài chính
Triết lý kinh doanh: MB Ageas Life luôn hoạt động dựa trên nền tảng:
“Đặt khách hàng làm trung tâm” và sẽ tiếp tục áp dụng triết lý kinh doanh này vào mọi hoạt động của công ty để đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất mang lại lợi ích phù hợp nhất cho khách hàng, MB Ageas Life sẽ tiếp tục chinh phục khách hang bằng dịch vụ tận tâm
Chỉ sau hơn 3 năm đi vào hoạt động, MB Ageas Life đã tạo ra sự khác biệt ở 2 yếu tố:
- Thứ nhất, kết quả kinh doanh ấn tượng MB Ageas Life đạt được kết quả kinh doanh rất khả quan Riêng năm 2017, khi mới đi vào hoạt động tổng doanh thu của công ty đạt 305 tỷ đồng, trong đó doanh thu khai thác mới từ hoạt động bảo hiểm là 245 tỷ đồng Trong 6 tháng đầu năm 2018, kết quả được duy trì rất ấn tượng với doanh thu khai thác mới đạt trên 400 tỷ đồng, trong đó có gần 90% đến từ kênh Bancassurance
- Thứ hai, chiến lược và lợi thế kinh doanh khác biệt Sự khác biệt của công ty được thể hiện trong hoạt động quản trị cũng như giá trị và trải nghiệm mang lại cho khách hàng
Bên cạnh hoạt động kinh doanh, MB Ageas Life đã đa dạng hóa danh
Trang 39SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
mục sản phẩm, đáp ứng những nhu cầu của thị trường, Với mục tiêu đem lại những giá trị và trải nghiệm khác biệt cho khách hàng, MB Ageas Life nhanh chóng đầu tư nghiên cứu và đa dạng hóa các sản phẩm từ cơ bản đến nâng cao, từ sản phẩm bảo hiểm tích lũy đến sản phẩm bảo hiểm có yếu tố đầu tư, Chỉ trong thời gian ngắn, MB Ageas Life đã phát triển trên 10 sản phẩm, trong đó “Kiến tạo ước mơ” là sản phẩm chủ lực nhờ nhiều tính ưu việt, đáp ứng nhu cầu của thị trường
MB Ageas Life tạo niềm tin cho khách hàng bằng nguyên tắc làm việc minh bạch, tin cậy Chúng tôi chọn cách tiếp cận đơn giản nhất để khách hàng
có thể hiểu rõ về sản phẩm và quyền lợi của mình, cam kết đồng hành cùng khách hàng giải quyết quyền lợi khi khách hàng xảy ra rủi ro như tai nạn, tử vong, bệnh tật,…
2.1.2 Vị thế của MB Ageas Life trên thị trường bảo hiểm nhân thọ
Qua 3 năm hoạt động, Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Life đã vinh dự nhận Giải thưởng quốc tế Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam do Tạp chí International Finance bình chọn và trao tặng
Ðây là giải thưởng đặc biệt thể hiện sự ghi nhận của tổ chức quốc tế dành cho MB Ageas Life - doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trẻ bứt phá tăng trưởng trong thời gian vừa qua
MB Ageas Life là một trong số rất hiếm hoi các công ty bảo hiểm nhân thọ đạt được hoạt động kinh doanh hiệu quả và có lãi lần đầu chỉ sau 3 năm hoạt động, bởi thông thường các công ty bảo hiểm nhân thọ phải mất 5 năm đến 7 năm mới chạm điểm hòa vốn và có lãi
Từ vị trí thứ 18 thị trường trong năm 2016 và thời điểm đầu năm 2017, bằng nỗ lực và chiến lược kinh doanh hiệu quả MB Ageas Life đã tạo ra những dấu ấn đột phá trên thị trường bảo hiểm khi liên tục duy trì vị trí top 5 doanh nghiệp đứng đầu thị trường về kênh Bancassurance (Bảo hiểm Liên kết
Trang 40SV: VŨ THỊ HỒNG NHUNG LỚP: CQ54/03.04
Ngân hàng) kể từ thời điểm cuối năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2019
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của từ bancassurance đã góp phần lớn tạo ra mức lợi nhuận dương trong kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2019 của MB Ageas Life và đạt mức doanh thu tăng trưởng gấp đôi so với cùng kỳ 2018
Liên doanh bảo hiểm nhân thọ MB Ageas Life cũng chính thức lọt vào Top 6 công ty có doanh thu phí bảo hiểm lớn nhất thị trường với tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm quy năm (APE) hàng tháng (so với cùng tháng năm trước) đều trên 70% Đây là kết quả ấn tượng và nỗ lực không ngừng của một doanh nghiệp bảo hiểm mới hoạt động so với thông lệ ngành, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ nói chung đang gặp nhiều yếu tố không thuận lợi
Cùng với nỗ lực tăng trưởng lợi nhuận dương trong thời gian ngắn, việc duy trì và phát triển số lượng của đội ngũ tư vấn viên không ngừng tăng lên theo thời gian (trung bình hàng tháng tăng 10%), đạt số lượng gần 1.700 tư vấn viên tính đến hết 06 tháng đầu năm 2019 trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ ngày càng khó tuyển dụng cũng là kết quả rất đáng ghi nhận
Theo báo cáo gần nhất của Bộ Tài chính, thị trường BH Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng ổn định trong năm 2019 Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhân thọ đã vượt qua khó khăn, thách thức, nắm bắt cơ hội để phát triển sản phẩm, mạng lưới…,
Báo cáo số liệu từ Cục QLGSBH cho biết, tính tới thời điểm cuối năm
2019, tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 52,387 tỷ đồng.Trong
đó, MB Ageas đạt thành tích ấn tượng