Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận văn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long trên các khía cạnh: thị phần, năng lực tài chính, đặc điểm
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH -
BÙI THỊ THU NGA
Lớp: CQ54/31.02
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
THĂNG LONG
Chuyên ngành : Quản trị doanh nghiệp
Mã số : 31 Giáo viên hướng dẫn : TS Võ Thị Vân Khánh
Hà Nội - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập là Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
Sinh viên
Bùi Thị Thu Nga
Trang 3MỤC LỤC
TRANG BÌA i
LỜI CAM ĐOAN……… ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… vi
DANH MỤC CÁC BẢNG……… vii
DANH MỤC CÁC HÌNH……….… …… viii
MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP……… … 4
1.1 Cạnh tranh………
.4 1.1.1 Khái niệm cạnh……….………
4 1.1.2 Vai trò cạnh tranh……….………… 5
1.1.3 Phân loại cạnh tranh……….………… 7
1.1.4 Các công cụ cạnh tranh……….……… 9
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp……… ……… 11
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh……… 11
1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh………
12
Trang 41.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…14
1.3.1 Nhân tố bên ngoài……… 14 1.3.2 Nhân tố bên trong……… 18 1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…………
21
1.4.1 Thị phần…… ……….……… 21 1.4.2 Năng lực tài chính……… ………
21
1.4.3 Nguồn nhân lực……….……… 22
1.4.4 Giá bán sản phẩm, dịch vụ……… 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THĂNG LONG…… 25
2.1 Tổng quan về công ty……… ……… 25 2.1.1 Giới thiệu chung……… 25 2.1.2 Quá trình hoạt động và phát triển của công ty……… 25
Trang 52.1.3 Lĩnh vực hoạt động của công ty………
Trang 63.2.2 Chú trọng tới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực…… 56
3.2.3 Nâng cao chất lượng máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ……….57
3.2.4 Tăng cường chiến dịch marketing quảng bá thương hiệu…………58
3.2.5 Các giải pháp khác……… 58
KẾT
LUẬN……… 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 62
Trang 8Bảng Cơ cấu lực lượng lao động của CTCP Xây dựng và Phát triển công
2.6 nghệ Thăng Long so với đối thủ cạnh tranh năm 2019
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là xu hướng tất yếu hiện nay của các quốc gia Một mặt, nó tạo ra cơ hội để các quốc gia có thể học hỏi, phát huy những lợi thế, hợp tác cùng phát triển Mặt khác, quá trình toàn cầu hóa hội nhập cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với các công ty trong nước nói chung và công ty xây dựng nói riêng đó là mức độ cạnh tranh giữa các công ty ngày càng cao Các công ty xây dựng hiện nay không chỉ cạnh tranh với các công ty xây dựng khác ở trong nước mà còn phải cạnh tranh với các công ty xây dựng nước ngoài có năng lực, kinh nghiệm khác Hơn nữa, theo các quy định hiện nay phạm vi các gói thầu, công trình phải đấu thầu ngày càng rộng hơn
CTCP Xây dựng và Phát triển Công nghệ Thăng Long cũng không nằm ngoài quy luật đó Bản thân là công ty xây dựng thường xuyên phải đấu thầu
và thi công xây lắp chủ yếu các công trình kỹ thuật dân dụng nên việc phải cạnh tranh với các nhà thầu xây dựng khác là điều tất yếu
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, CTCP Xây dựng và Phát triển Công nghệ Thăng Long đã có những bước tiến đáng kể trong hoạt động đấu thầu và thi công xây lắp, luôn tạo ra những công trình chất lượng cho chủ đầu
tư Tuy nhiên, bên cạnh đó Công ty cũng bộc lộ những điểm yếu, những mặt hạn chế đối với các Công ty xây dựng khác trong và ngoài nước trong ngành
Do đó việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty là thực sự cần thiết
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, em quyết định chọn đề tài luận văn
là “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long Trên cơ sở đó rút ra những điểm mạnh và điểm
yếu trong năng lực cạnh tranh của Công ty
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP
Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực cạnh tranh và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long trên các khía cạnh: thị phần, năng lực tài chính, đặc điểm nguồn nhân lực, giá bán sản phẩm - dịch vụ, chất lượng sản phẩm - dịch vụ, trình độ kỹ thuật công nghệ, thương hiệu và uy tín, doanh thu và lợi nhuận
Về không gian nghiên cứu: CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ 2017 - 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính, hồ sơ năng lực của CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long, các bài báo, tạp chí, nghiên cứu đến các vấn đề cạnh tranh nói chung
Trang 13Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn sâu nhân viên Công ty
5 Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty
Cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Trong nền kinh tế mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh nghiệp Nhưng “cạnh tranh là gì” thì vẫn đang là một khái niệm chưa thống nhất, được đưa ra ở nhiều góc độ khác nhau Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin và K Marx đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau:
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhận siêu ngạch” Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương (2002), Cạnh tranh
có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệptrong việc giành một
số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể
Trang 15Theo tác giả Nguyễn Thu Phương (2015), Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu, các chủ thể kinh tế ganh đua nhau và tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu mục tiêu trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài đã được đề ra
Theo tác giả Lê Văn Thành (2015), Cạnh tranh hiểu theo một nghĩa chung nhất là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng
Như vậy, có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, qua các khái niệm trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất, cạnh tranh là để chỉ sự ganh đua giữu một (hoặc một nhóm người) nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại
Thư hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể mà các bên đều muốn giành giật (như cơ hội, sản phẩm dịch vụ, thị trường, khách hàng, v.v ) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh, v.v…
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể
sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh nhờ dịch
vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán…
Và để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, bài viết sẽ sử dụng khái niệm
cạnh tranh của tác giả Nguyễn Thu Phương (2015): “Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu, các chủ thể kinh tế ganh đua nhau và tìm mọi biện pháp để
Trang 16đạt được mục tiêu mục tiêu trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài đã được đề ra”
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò tích cực, cụ thể:
Đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh: Cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Qua đó nâng cao trình độ của công nhân và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp Mặt khác, cạnh tranh sàng lọc khách quan đội ngũ những người thực sự không có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá
cả, buộc các doanh nghiệp phải hạ giá bán để nhanh chóng bán được sản phẩm, qua đó người tiêu dùng được hưởng các lợi ích từ việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ Mặt khác, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải mở rộng sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại, mẫu mã vì thế người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình
Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, qua đó góp phần tiết kiệm các nguồn lực chung của nền kinh tế Mặt khác, cạnh tranh cũng tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệpphải đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, sử dụng lao động có hiệu quả, tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Quốc dân
Đối với quan hệ đối ngoại: Cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệpmở rộng thị trường ra khu vực và thế giới, tìm kiếm thị trường mới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệpnước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và
Trang 17hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, KHCN với các nước trên thế giới
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu thế tất yếu khách quan và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm chất lượng kém Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệpphải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, dịch vụ đồng thời tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường Do vậy, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệpphải tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, đồng thời thay đổi mối tương quan về thế và lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh
1.1.3 Phân loại cạnh tranh
Các tiêu thức phân loại cạnh tranh: Số lượng người tham gia thị trường, phạm vi kinh tế, chi phí bình quân của doanh nghiệp, phạm vi địa lý, cấp độ cạnh tranh
Căn cứ vào số lượng người tham gia trên thị trường:
Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh theo “luật mua rẻ bán đắt” Người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, còn người mua lại muốn mua sản phẩm, dịch vụ với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá thống nhất giữa những người bán và người mua sau quá trình “mặc cả” với nhau
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh trên thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
Trang 18Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: là cuộc cạnh tranh giữa những người mua nhằm mua được những hàng hóa mà họ cần
Căn cứ vào phạm vi kinh tế
Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệptrong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân
và giá trị hàng hóa thành giá trị sản xuất
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệpcùng sản xuất một loại hàng hóa trong cùng một ngành nhằm tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu được lợi nhuận cao hơn
Căn cứ vào chi phí bình quân của các doanh nghiệp
Cạnh tranh dọc: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệpcó mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau cùng tham gia vào thị trường Khi đó, mỗi doanh nghiệp điều chỉnh mức giá và lượng hàng hóa bán ra của mình sao cho có thể đạt lợi nhuận cao nhất trên cơ sở quan sát giá bán của các doanh nghiệp khác Qui luật cạnh tranh dọc chỉ ra rằng sự thay đổi về giá bán hoặc lượng bán của doanh nghiệp sẽ có điểm dừng, tức là chỉ sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một mức giá thống nhất trên thị trường buộc các doanh nghiệp phải hiện đại hóa sản xuất để giảm chi phí mới có thể tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh
Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệpcó mức chi phí bình quân thấp nhất ngang nhau Khác với cạnh tranh dọc, cạnh tranh ngang dẫn tới kết quả là không có doanh nghiệpnào bị loại ra khỏi thị trường do có mức chi phí bình quân thấp nhất ngang nhau
Căn cứ vào phạm vi địa lý
Có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế Trong đó cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trường nội địa đó là cạnh tranh giữa hàng
Trang 19nhập khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu Trong hình thức cạnh tranh này, các yếu tố như chất lượng sản phẩm tốt, giá bán thấp, thời gian đưa hàng hóa
ra thị trường đúng thời điểm và điều kiện dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa là mối quan tâm hàng đầu
Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh
Cạnh tranh cấp quốc gia: thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của Chính phủ Theo
Ủy ban Cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia
là mức độ mà ở đó dưới điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó Cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp: là các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực duy trì lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước cạnh tranh để tồn tại, giữ vững ổn định trong sản xuất kinh doanh
Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm, dịch vụ: đó là việc các doanh nghiệpđưa
ra các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao, giá cả hợp lý, các dịch vụ hậu mãi
và sau bán hàng hấp dẫn, đặc biệt là các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để thu hút các khách hàng sử dụng và tiêu thụ nhiều sản phẩm của mình
1.1.4 Các công cụ cạnh tranh
Cạnh tranh thông qua giá cả
Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hóa mà người bán hay doanh nghiệp dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi hàng hóa đó trên thị trường Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu Giá cả của sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, quan hệ cung cầu, cường độ cạnh tranh trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước, v.v…
Trang 20Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường, một doanh nghiệp có thể có các chính sách định giá như: chính sách giá cao, chính sách giá thấp, chính sách giá phân biệt, chính sách giá ngang bằng, chính sách bán phá giá, v.v…Tùy trong từng giai đoạn, từng trường hợp mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn chính sách giá cho phù hợp
Cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau tính cơ lý hóa đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dạng, màu sắc với mỗi loại sản phẩm khác nhau Tuy nhiên, vấn đề đặt
ra là doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh, nói một cách khác chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh thông qua hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối là cách thức mà doanh nghiệp cung ứng sản phầm tới khách hàng Vì vậy, doanh nghiệp nào có cách thức tổ chức hệ thống phân phối sản phầm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra sự thuận tiện nhanh chóng cho người tiêu dùng thì việc đó sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường lên khá nhiều Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian và địa điểm giữa người sản xuất và người tiêu dùng Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khách nhau để phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có ba loại kênh phân phối cơ bản là:
Trang 21Kênh phân phối trực tiếp: Là loại kênh phân phối mà qua đó người sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không qua bất kỳ một trung gian
nào
Kênh phân phối gián tiếp: Là loại kênh giữa người sản xuất và người tiêu dùng xuất hiện nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hóa từ
người sản xuất đến người tiêu dùng
Kênh phân phối hỗn hợp: Thực chất đây là loại kênh được tạo nên khi doanh nghiệp sử dụng cùng một lúc để phân phối một hay nhiều sản phẩm
trên một khu vực thị trường hoặc nhiều khu vực thị trường khác nhau
Các công cụ cạnh tranh khác
Bên cạnh việc cung cấp cho khách hàng các sản phẩm có chất lượng thì nhiều doanh nghiệp hiện này còn bổ sung thêm các dịch vụ như bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, vận chuyển, lắp đặt, v.v Những dịch vụ này sẽ tạo ra sự tin tưởng cho khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm, tạo sự khác biệt so với các đối thủ khác từ đó sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh Ngoài ra các công cụ xúc tiến thương mại như quảng cáo, khuyến mại, tham gia hội chợ, v.v… sẽ thu
hút và lôi kéo được nhiều khách hàng
1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng Anh đều được sử dụng là “competitiveness”, cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau Một định nghĩa chính xác cho khái niệm này đến nay là vấn đề gây nhiều tranh luận Dưới đây là một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh:
Trang 22Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) định nghĩa rằng
“Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế” Theo tác giả Vũ Trọng Lâm (2005), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Dima & cộng sự (2014), năng lực cạnh tranh được định nghĩa là khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo cùng một cách, hoặc một cách hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ
Như vậy, những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp Và
để phù hợp với đề tài nghiên cứu, bài viết sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Vũ
Trọng Lâm (2005), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”
1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân biệt năng lực cạnh tranh theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì
Trang 23mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Ngược lại, sự dịch chuyển cơ cấu ngành theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng, sự phồn thịnh kinh tế lại phụ thuộc vào sự phát triển năng động của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn Năng lực cạnh tranh của ngành phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố:
Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tư nghiên cứu công nghệ và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng
Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động R&D, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường
Nhóm các yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế
Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường
tự nhiên, quy luật kinh tế
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị
trường Đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để đánh giá năng
Trang 24lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta dựa vào nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tỷ lệ công nhân lành nghề, tỷ
lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo, v.v… Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chính như: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần Các chỉ tiêu này là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân làm 2 loại bao gồm các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong
1.3.1 Nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp
Trang 25Trong bối cảnh đất nước hội nhập, toàn cầu hóa, các nhân này thuộc cả môi trường vĩ mô và nhân tố môi trường ngành
Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh Ảnh hưởng của nó có thể đem lại lợi ích cho ngành này nhưng đem lại những thách thức, rào cản cho ngành khác Việc phân tích các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô sẽ giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi: “Doanh nghiệp đang trực diện với những gì?” Qua đó, giúp doanh nghiệp có những quyết định phù hợp Các nhân tố môi trường vĩ mô gồm có:
Các yếu tố môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế bao gồm các vấn đề như tốc độ tăng trưởng kinh tế,
tỷ giá hối đoái, thu nhập quốc, lạm phát, thất nghiệp, v.v… có ảnh hưởng một cách gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm cho thu nhập của dân cư tăng lên, mức sống của họ dần được nâng cao thì nhu cầu của họ cũng tăng lên đối với chất lượng sản phẩm hay dịch vụ, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt sự thay đổi đó Môi trường kinh tế ổn định hay bất ổn có ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng tỷ, suất lợi nhuận cao thì nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường đó cho nên cường
độ cạnh tranh càng cao
Các yếu tố văn hóa xã hội – nhân khẩu:
Các giá trị văn hóa xã hội tạo nên nền tảng của mỗi Quốc gia, mỗi khu vực, ảnh hưởng đến sở thích, việc mua sắm của khách hàng khu vực đó Sự thay đổi của các giá trị văn hóa xã hội kéo theo sự thay đổi của sở thích, nhu cầu mua sắm của khách hàng, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả chiến lực kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 26Nhân khẩu học bao gồm các yếu tố như: dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, phân bố địa lý, phân phối thu nhập, v.v… tạo nên quy mô thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Chính vì vậy, doanh nghiệp cần phải phân tích chúng để tận dụng các cơ hội, đồng thời giảm các rủi ro cho doanh nghiệp của mình
Các yếu tố môi trường chính trị - luật pháp:
Các yếu tố môi trường chính trị - pháp luật có tác động lớn đến mức độ của các cơ hội và đe dọa từ môi trường tới doanh nghiệp Bao gồm các quy chế, chính sách, điều lệ, định chế, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mức độ ổn định chính trị tại Quốc gia, v.v… Môi trường chính trị và pháp luật
ổn định, rõ ràng là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp Nó tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, tâm lý tin tưởng để các doanh nghiệp phát triển đầu tư sản xuất, cải tiến trang thiết bị từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời hạn chế được các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh từ các doanh nghiệp xấu
Các yếu tố KHCN:
Sự tiến bộ của KHCN tạo ra những nguyên vật liệu mới, thiết bị máy móc hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tăng thêm chất lượng hàng hóa, dịch vụ, từ đó góp phần tăng thêm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Ngày nay, KHCN đang thay đổi nhanh chóng, các doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt, đổi mới KHCN để tăng khả năng cạnh tranh của mình so với các đối thủ
Các yếu tố môi trường địa lý, tự nhiên:
Các yếu tố môi trường tự nhiên như: Đất đai, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, thiên tai, v.v… ảnh hưởng đến quyết định sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việc khai thác tài nguyên không đúng cách làm ảnh hưởng xấu tới môi trường tự nhiên, cạn kiệt nguồn tài nguyên, việc khai thác không hợp
Trang 27lý - nó có thể mang lại lợi ích kinh tế về mặt ngắn hạn cho doanh nghiệp, tuy nhiên, khi xét dài hạn thì nó có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên một cách hợp lý, không làm
ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái
Môi trường ngành
Các yếu tố môi trường ngành tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích các yếu
tố môi trường này giúp doanh nghiệp xác định được vị thế cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động Từ đó, đưa ra những chiến lược hợp
lý nâng cao sức cạnh tranh cho chính bản thân doanh nghiệp Các yếu tổ môi trường ngành bao gồm:
Thứ nhất khách hàng:
Khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua Khách hàng là đối tượng doanh nghiệp phục vụ, là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp và là bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp, sự tín nhiệm đó là do thỏa mãn được nhu cầu và thị hiếu của khách về sản phẩm một cách tối đa Vì vậy, doanh nghiệp luôn phải tìm những biện pháp đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Thứ hai nhà cung ứng:
Nhà cung ứng có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp,
vì họ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra theo hướng đã định sẵn Bất kì sự biến đổi nào từ phía nhà cung ứng cũng sẽ ảnh
Trang 28hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh đó từ đó ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ ba đối thủ hiện tại:
Doanh nghiệp cần xác định đối thủ cạnh tranh hiện tại của mình là ai cũng như khả năng cạnh tranh và vị thế hiện tại của họ trên thị trường thông qua nghiên cứu, tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu của họ trên thị trường Từ đó
đề ra những chiến lược cạnh tranh hiệu quả để không những giữ vững được thị phần mà còn thu hút thêm được nhiều khách hàng Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện tại trong ngành thể hiện ở: các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành, mức độ tập trung của ngành, chi phí cố định/giá trị gia tăng, tình trạng tăng trưởng của ngành, khác biệt giữa các sản phẩm, các chi phí chuyển đổi, tình trạng sàng lọc trong ngành
Thứ tư đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ mới tiềm ẩn là nguy cơ cho sự cạnh tranh trong tương lai Nó là nguy cơ có thể tạo ra sức ép cạnh tranh trong kinh doanh vì thế doanh nghiệp cũng cần phải chú ý tới tác nhân này
Thứ năm các sản phẩm thay thế:
Trong mô hình của Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác Theo các nhà kinh tế, nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá
cả của một hàng hóa thay thế Độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2 Nhân tố bên trong
Trang 29Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất nguồn lực tài chính:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất và là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn lực tài chính ở đây bao gồm: quy mô tài chính của doanh nghiệp, tình hình nguồn vốn, đầu tư, v.v…Tình hình tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới máy móc, trang thiết bị, đầu tư vào các chương trình PR, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, v.v… từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nguồn vốn lớn sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ về tài chính, giảm bớt được các khoản nợ vay, giảm bớt được các rủi ro xảy ra tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hơn từ đó
có nhiều cơ hiệu kinh doanh hơn
Thứ hai nguồn lực nhân sự:
Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm thành công Nguồn lực con người là yếu tố quyết định ưu thế cạnh tranh đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại để cung ứng các dịch vụ cho khách hàng hiệu quả nhất.Nguồn lực về con người được thể hiện qua số lượng
và chất lượng lao động của doanh nghiệp như trình độ học vấn, trình độ tay nghề, sức khỏe, văn hóa lao động, v.v Doanh nghiệp có được tiềm lực về con người như có được đội ngũ lao động trung thành, trình độ chuyên môn cao, v.v… từ đó năng suất lao động cao, cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường
Thứ ba thương hiệu, nhãn hiêu:
Thương hiệu, nhãn hiệu được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp
Nó có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Một doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh đã có nhãn hiệu sản phẩm
Trang 30của mình nhưng để có được thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp
là việc làm lâu dài và liên tục không thể một sớm một chiều Một thương hiệu được người tiêu dùng chấp nhận và yêu mến là cả một thành công rực rỡ của doanh nghiệp Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn mà các đối thủ khác khó lòng
có được Một khách hàng đã quen dùng một loại thương hiệu nào đó thì rất khó làm cho họ rời bỏ nó Thương hiệu doanh nghiệp được tạo nên bởi nhiều yếu tố như uy tín doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, hình ảnh nhà lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp, v.v… Vì vậy mà có rất ít doanh nghiệp trên thương trường có được lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu sản phẩm hay thương hiệu doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có được lợi thế này đã giành được năng lực cạnh tranh cao vượt trội hơn các đối thủ khác
Thứ tư trình độ tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Trình độ tổ chức quản lý là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên tính cạnh tranh cao của sản phẩm Muốn tổ chức và quản lý tốt thì trước hết doanh nghiệp phải có ban lãnh đạo giỏi vừa có tâm, có tầm và có tài Ban lãnh đạo của một tổ chức có vai trò rất quan trọng, là bộ phận điều hành, nắm toàn bộ nguồn lực của tổ chức, vạch ra đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động của các phòng, ban để đưa hoạt động của tổ chức do mình quản lý đạt hiệu quả cao nhất Ban lãnh đạo có vai trò rất quan trọng như vậy, nên phải chọn lựa người lãnh đạo, người đứng đầu ban lãnh đạo đảm bảo đủ các tiêu chuẩn để
có thể điều hành quản lý doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao
Thứ năm hoạt động nghiên cứu thị trường Marketing:
Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng Để kinh doanh thành công, doanh nghiệp phải thực hiện nghiên cứu thị trường để lựa chọn thị trường mục tiêu Marketing tốt là thoả mãn các nhu cầu và mong
Trang 31muốn của khách hàng, đảm bảo được cung cấp sản phẩm dịch vụ ổng định với chất lượng theo yêu cầu, giá cả phù hợp giúp doanh nghiệp dành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Marketing giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được khách hàng, xác định được đối thủ cạnh tranh của mình là ai, khuyếch trương được hình ảnh uy tín của doanh nghiệp mình trên thị trường Hoạt động Marketing của doanh nghiệp càng có chất lượng và
ở phạm vi rộng bao nhiêu doanh nghiệp càng có thể tạo ra các lợi thế chiến thắng đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu
Thứ sáu cở sở vật chất kỹ thuật và công nghệ:
Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là công thức tạo sản phẩm Để sử dụng công nghệ có hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ thích hợp
để tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường; phải đào tạo người lao động để họ có đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ, nếu không sẽ dẫn tới công nghệ hiện đại nhưng sử dụng không hiệu quả
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1 Thị phần
Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh mà doanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Để so sánh về mặt qui mô kinh doanh và vị thế trên thị trường, thì việc so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích, đánh giá
Trong cùng một môi trường, doanh nghiệp có thị phần lớn là biểu hiện
cụ thể về năng lực cạnh tranh cũng như ưu thế vượt trội về khả năng giành thắng lợi trong cạnh tranh Trong một thị trường đang tăng trưởng, việc duy trì tăng thị phần sẽ làm tăng doanh thu cùng nhịp với tốc độ tăng trưởng thị trường Trong một thị trường trì trệ hoặc xuống dốc, việc tăng doanh thu đòi hỏi phải tăng thị phần
Trang 321.4.2 Năng lực tài chính
Vốn là nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên vì không có vốn không thể thành lập được doanh nghiệp và không thể tiến hành hoạt động được Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào luôn đảm bảo huy động được vốn trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp đó phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả và hạch toán chi phí một cách rõ ràng Như vậy doanh nghiệp cần đa dạng nguồn cung vốn bởi nếu thiếu vốn thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, hạn chế đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công nhân, nghiên cứu thị trường, v.v…
1.4.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp Kinh doanh là hoạt động của con người, kết quả kinh doanh sẽ phục vụ lại lợi ích của con người Vì vậy, con người vừa là công cụ vừa là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế nào để có hiệu quả luôn là cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động quản trị có hiệu quả Từ đó doanh nghiệp luôn phải xác định được điểm mạnh điểm yếu của nguồn nhân lực để có những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Như vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì những người trong doanh nghiệp phải có ý thức và trách nhiệm, nghĩa vụ về công việc của mình Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.4.4 Giá bán sản phẩm, dịch vụ
Giá bán sản phẩm, dịch vụ cũng là một chỉ tiêu dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp biết hoạt động, biết tổ chức sản xuất kinh doanh tốt, giảm
Trang 33thiểu chi phí, do vậy giá bán sản phẩm, dịch vụ hạ mà vẫn có lãi Ngược lại, cũng trong điều kiện như vậy nếu doanh nghiệp tổ chức hoạt động không tốt, giá bán sản phẩm, dịch vụ cao sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.5 Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện ở 2 khía cạnh: chất lượng về mặt vật lý, kỹ thuật của sản phẩm và chất lượng trong khâu phục vụ (ở các dịch vụ đi kèm: bán hàng và sau bán hàng) Để có thể tồn tại
và đứng vững trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường, chất lượng sản phẩm, dịch vụ là vấn đề luôn luôn được coi trọng Các doanh nghiệp không những phải sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng mà còn phải có những dịch vụ và tiện ích kèm theo nhằm tạo ra sự nổi bật, ưu thế riêng và phong cách riêng so với các đối thủ khác nhằm thu hút khách hàng
1.4.6 Đổi mới công nghệ và đổi mới sản phẩm, dịch vụ
Mục tiêu của cạnh tranh là khẳng định mình và giành chỗ đứng vững chắc trên thị trường Đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ và luôn đổi mới sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo điều kiện cho việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, một doanh nghiệp biết ứng dụng công nghệ mới, kỹ thuật mới, thường xuyên cho ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới, những tiện ích mới ngày càng có lợi hơn cho khách hàng sẽ là những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt và ngược lại
1.4.7 Thương hiệu và uy tín
Thương hiệu và uy tín sản phẩm chính là sự tổng hợp các thuộc tính của sản phẩm như chất lượng sản phẩm, lợi ích, mẫu mã và dịch vụ của sản phẩm Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó còn là tài sản
Trang 34rất có giá trị của doanh nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có uy tín cao và uy tín thương hiệu càng cao thì niềm tin và sự trung thành của người tiêu dùng đối với sản phẩm càng lớn Điều đó có nghĩa là nếu một sản phẩm nào đó có được uy tín và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng thì sản phẩm đó
có một lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
1.4.8 Doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh thu để đảm bảo cho việc trang trải các chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh thu càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hóa và vốn càng nhanh, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời nó phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng hay thu hẹp lại
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định hay là phần vượt trội giữa giá bán của sản phẩm so với chi phí tạo ra và thực hiện sản phẩm đó Lợi nhuận được sử dụng
để chia cho các chủ sở hữu và được trích để lập quỹ đầu tư và phát triển Đồng thời giúp cho việc phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế hiệu quả hơn
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nó không chỉ phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn thể hiện trình độ năng lực cán bộ quản trị cũng như chất lượng lao động của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp đã biết quản lý kinh doanh tốt cũng như chất lượng nhân sự trong doanh nghiệp Điều đó cũng giúp doanh nghiệp có thể giảm chi phí tới mức thấp nhất và có lợi nhuận cao nhất
Trang 35Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp = Lợi nhuận của doanh nghiệp
Doanh thu của doanh nghiệp× 100
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THĂNG LONG
2.1 Tổng quan về Công ty
2.1.1 Giới thiệu chung
Tên Công ty: CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long
Tên quốc tế: Thang Long Development Technology and Construction Joint Stock Company
Tên giao dịch: THANG LONG DC , JSC
Địa chỉ: Số 121 tổ 8, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 0466741571 - Fax: 0466741571
Vốn điều lệ: 28.200.000.000 VNĐ
Đại diện pháp luật: Phan Trung Dũng
Trang 36 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpsố 0101530807 do Sở kế hoạch Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 13 tháng 09 năm 2004 (hoạt động ngày 15/09)
CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long hoạt động chính trong lĩnh vực: Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng Với kinh nghiệm hơn
16 năm trong ngành xây dựng, với đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân viên kỹ thuật viên và công nhân lành nghề giàu kinh nghiệm, Công ty đã và đang tham gia xây dựng trên tất cả các lĩnh vực xây dựng dân dụng, như nhà ở, các công trình văn hóa, công nghiệp, công trình công cộng, v.v đều đạt hiệu quả
và chất lượng cao
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long tiền thân là Công
ty Xây dựng và Phát triển công nghệ DHT, do nhu cầu phát triển và sự tăng trưởng của Công ty nên đến năm 2004 đã cổ phần hóa lấy tên là CTCP Xây dựng và Phát triển công nghệ Thăng Long Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể xét qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Xác định vị trí của Công ty trên thị trường (2004 – 2007)
Giai đoạn 2: Nắm bắt cơ hội, thúc đẩy sự phát triển của Công ty (2007 – 2016)
Giai đoạn 3: Tập trung vào lĩnh vực hoạt động chính của Công ty – Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng
Từ năm 2004 – 2007: Xác định vị trí của Công ty trên thị trường
Trong giai đoạn này, Công ty mới được thành lập, nguồn vốn còn hạn chế, cơ sở vật chất hạn hẹp, máy móc thiết lạc hậu so với thị trường, thiếu đồng bộ, lại phải nhanh chóng tập trung xây dựng một đơn vị đủ sức xây