1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biến đổi địa giới hành chính ở nghệ an từ năm 1945 đến năm 2000

98 528 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000
Tác giả Trịnh Thị Hải
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khoá luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 312,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, việc thay đổi tên gọi, địa giới giữa các trấn, lộ, đạo, phủ, huyện, làng, xã,...ở một địa phơng cụ thể nào đó lại gắn với nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã

Trang 1

trờng đại học vinh khoa lịch sử

- -trịnh thị hải

khoá luận tốt nghiệp đại học

những biến đổi địa giới hành chính ở

Trang 2

Vinh- 2009

Lời cảm ơn

Để hoàn thành đợc khoá luận này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô hớng dẫn chỉ bảo những kiến thức cần thiết, những tài liệu tham khảo phục vụ cho khoá luận Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với sự giúp đỡ quý báu của giáo viên hớng dẫn TS.Nguyễn Quang Hồng Cũng qua đây tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo đã nhiệt tình góp ý và đa ra những lời khuyên quý giá để tôi kịp thời sữa chữa bổ sung, hoàn thành khoá luận

Tôi cũng xin cảm ơn tới các cán bộ, công nhân viên thuộc các cơ quan đã cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành khoá luận này

Bên cạnh sự giúp đỡ của các thầy cô là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và những ngời thân đã góp phần giúp tôi trong quá trình thực hiện khoá luận cũng nh suốt quá trình học tập, tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhận sự giúp đỡ đó

Quá trình thực hiện khoá luận tuy đã cố gắng hết sức, song không thể tránh khỏi những thiếu sót do cha có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ, tôi mong nhận

đợc sự góp ý chân thành của các thầy cô và bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Về mặt khoa học

Chọn đề tài “Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945

đến năm 2000” làm đề tài nghiên cứu là nhằm giải quyết những nội dung về mặt khoa học nh sau:

Từ trớc tới nay, việc nghiên cứu về sự thay đổi tên gọi, địa danh ở nớc ta nói chung và Nghệ An nói riêng cha đợc quan tâm đúng mức Trong khi đó, việc thay đổi tên gọi, địa giới giữa các trấn, lộ, đạo, phủ, huyện, làng, xã, ở một địa phơng cụ thể nào đó lại gắn với nhiều biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của cả cộng đồng dân c trong suốt thời kỳ lâu dài Do đó, chọn đề tài "Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm

1945 đến năm 2000" là để góp phần vào việc nghiên cứu một vấn đề còn nhiều khoảng trống trong lịch sử dân tộc nói chung và Nghệ An nói riêng

Từ thời các Vua Hùng dựng nớc cho tới ngày nay, vùng đất ở lu vực sông Lam (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), đã đợc gọi với những tên gọi khác nhau Theo dòng lịch sử, quốc gia hng vong nhiều phen biến đổi, các triều

đại thay thế lẫn nhau, Nghệ An cũng nhiều lần thay đổi tên gọi, duyên cách địa

lý Tên gọi Nghệ An ra đời năm 1036, khi Lý Nhật Quang đổi châu Hoan thành châu Nghệ An Từ đó đến nay, địa giới hành chính Nghệ An liên tục có những biến động Nhng việc nghiên cứu về những thay đổi tên gọi, địa giới hành chính trên mảnh đất xứ Nghệ lại cha đợc quan tâm đúng mức Do đó, đề tài có ý nghĩa khoa học sâu sắc

Trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 2000, lịch sử quốc gia dân tộc cũng có nhiều thay đổi, biến động Quá trình thay đổi tên gọi, duyên cách

địa lý, địa giới hành chính giữa các tỉnh, thành, huyện, làng, xã, diễn ra vì nhiều lý do khác nhau Nghệ An cũng nằm trong bối cảnh chung đó Và trên

Trang 4

thực tế đã qua nhiều lần cắt nhập địa giới hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; thành lập thêm nhiều huyện, xã mới; cắt nhập địa giới hành chính các huyện, thị, xã, phờng Nhng những thay đổi đó cha đợc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Đề tài hy vọng sẽ giải quyết đợc yêu cầu đó trong nghiên cứu lịch sử Nghệ An và góp phần vào việc nghiên cứu thay đổi địa giới hành chính trên phạm vi cả nớc Cũng thông qua việc tìm hiểu những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000, đề tài hy vọng việc gợi mở nghiên cứu, đánh giá về vùng đất địa linh nhân kiệt đầy nắng gió nhng hết sức anh hùng Đây là một trong những vấn đề mà các nhà sử học hiện đang rất quan tâm.

1.2 Về mặt thực tiễn

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để biên soạn quyển lịch sử Nghệ An

và lịch sử Đảng bộ tất cả các huyện từ miền núi, đồng bằng, miền biển của tỉnh Nghệ An…

- Đề tài có thể cho học sinh THPT, sinh viên chuyên ngành lịch sử làm tài liệu tham khảo khi làm bài tập lớn, tiểu luận, khoá luận về lịch sử địa phơng có nội dung liên quan

- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đa ra một số tác động của sự thay đổi địa giới hành chính để các địa phơng có thể xem xét, rút ra kinh nghiệm trong quá trình biến đổi, tách nhập các đơn vị của mình nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý hành chính

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khi tìm hiểu về Nghệ An một số nhà nghiên cứu có đề cập ít nhiều đến duyên cách địa lý của tỉnh, các huyện qua các thời kỳ lịch sử Song cho đến hiện tại vẫn cha có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu đề tài “Những biến

đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000” Tuy nhiên, ờng trong phần mở đầu, phần giới thiệu về điều kiện tự nhiên, xã hội của quyển Lịch sử Đảng bộ các huyện, xã đã có đề cập đến hoặc nêu ra khá sơ lợc, đó là:

Trang 5

th-Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng (1930-1975)” của Ban chấp hành Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2005 có chơng mở đầu nói về địa chí huyện.

Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong (1963-2002)” của Ban chấp hành Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong, NXB Nghệ An, năm 2003

có nói về lãnh thổ, địa giới hành chính huyện trớc năm 1945 và việc nhập, tách, thành lập một số xã mới trong huyện

Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ (1963-2005)”, của Ban chấp hành Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ, NXB Nghệ An, năm 2008 đã trình bày vắn tắt những dấu ấn của địa phơng từ 1963 đến nay

Cuốn sách “Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển 1945)”, của Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng, NXB Nghệ An, năm 2003 đã nghiên cứu chi tiết, cụ thể về những chuyển biến trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quá trình hình thành thành phố Vinh từ năm 1804-1945

(1804-Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu (1930-1945)” của Ban chấp hành Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu, NXB Lao động xã hội, năm

2005 trong phần phụ lục đã thống kê các đơn vị hành chính huyện Diễn Châu qua các thời kỳ

Trong cuốn “Nghệ An ký” của Bùi Dơng Lịch, do Viện Hán Nôm dịch, NXB KHXH, năm 2004 đã chép về cơng vực Nghệ An dới đời các vua Nguyễn

Đây là t liệu quan trọng về duyên cách địa lý Nghệ An trớc năm 1945

Cuốn sách “Địa lý các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An của tác giả Trần Kim Đôn, NXB Nghệ An năm 2004 đã nêu về vị trí địa lý, địa giới, tên gọi các đơn vị hành chính các xã trong từng huyện

Cuốn sách “Về văn hoá xứ Nghệ” của tác giả Ninh Viết Giao, NXB Nghệ

An, năm 2007 viết về văn hóa, văn học của các tộc ngời Nghệ An Đặc biệt có hai bài viết “1380 năm Diễn Châu” và “Thành phố Vinh bớc đờng hình thành

và phát triển” nói về duyên cách địa lý hành chính Diễn Châu trớc Cách mạng

Trang 6

tháng Tám 1945 và sự hình thành các đơn vị hành chính phờng xã của thành phố Vinh trong thế kỷ XX.

Cuốn sách “Địa chí huyện Tơng Dơng” và cuốn “Địa chí huyện Quỳ Hợp” của tác giả Ninh Viết Giao, NXB KHXH, năm 2003 viết về địa chí, con ngời, phong tục tập quán huyện Tơng Dơng và huyện Quỳ Hợp

Cuốn sách “Khâm định Việt sử thông giám cơng mục” chính biên quyển thứ XXI chép về duyên cách và tên gọi Nghệ An qua các đời đến năm 1831 khi Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính địa phơng

Gần đây, thực hiện chủ trơng của BCH TƯ Đảng và Nghị quyết của BTV Tỉnh ủy Nghệ An, các địa phơng trong tỉnh đang tích cực viết lịch sử Đảng bộ, lịch sử xã, phờng Ví dụ Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nam Nghĩa (Nam

Đàn), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân phờng Trờng Thi (Thành phố Vinh),

Các tài liệu chép tay, đánh máy, các quyết định đ… ợc lu tại phòng lu trữ Tỉnh uỷ, phòng lu trữ UBND tỉnh Nghệ An và Sở nội vụ

Các tài liệu liên quan đến những thay đổi địa giới hành chính Nghệ An đơc liệt kê trong phần tài liệu tham khảo

Tóm lại, tất cả những cuốn sách, bài báo, bài viết, tài liệu trên đã ít nhiều

đề cập đến những biến đổi tên gọi, địa giới tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, vẫn còn mang tính sơ lợc, riêng lẻ, cha đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể, toàn diện, chi tiết về “Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm

1945 đến năm 2000”, để góp phần giải quyết những nội dung khoa học và thực tiễn mà chúng tôi đã trình bày ở trên

3 Đối tợng, phạm vi, giới hạn nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài

Trang 7

Đối tợng nghiên cứu chính của đề tài đợc xác định là “Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000”.

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian tỉnh Nghệ An

Do đây chỉ là một đề tài khóa luận tốt nghiệp Đại học nên chúng tôi không mở rộng phạm vi nghiên cứu những biến đổi địa giới hành chính các huyện, xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh, dù Nghệ An và Hà Tĩnh đã nhiều lần tách nhập Đề tài nghiên cứu tất cả các huyện của tỉnh Nghệ An từ miền núi, đồng bằng cho đến miền biển

3.3 Giới hạn của đề tài

- Về mặt nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự biến đổi tên gọi, địa giới hành chính, tác động của những biến đổi đó với tình hình kinh tế – xã hội

địa phơng

- Về mặt thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000 Còn thời gian từ trớc năm 1945 chỉ nghiên cứu sơ lợc

Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.4 Nhiệm vụ khoa học của đề tài

Đề tài “ Những biến đổi địa giới hành chính ở Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000” nhằm giải quyết nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Tìm hiểu duyên cách địa lý Nghệ An trớc năm 1945

- Đề tài đi sâu tìm hiểu những biến đổi địa giới hành chính các xã, huyện của tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 2000

- Đề tài cũng tìm hiểu một số tác động của những biến đổi đó đối với cộng

đồng c dân xứ Nghệ và quá trình phát triển của địa phơng trong nửa sau thế kỷ XX

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Trang 8

- Nguồn tài liệu gốc: Khoá luận đã sử dụng t liệu từ bộ sử phong kiến trong nớc, “Khâm định Việt sử thông giám cơng mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn Đây là bộ sử viết đơng thời nên về mặt t liệu đáng tin cậy “Nghệ An ký” của Bùi Dơng Lịch, bản dịch, NXB KHXH 1998 Các quyển “Lịch sử Đảng

bộ tỉnh Nghệ Tĩnh”, “Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn”, “Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng” và rất nhiều quyển Lịch sử Đảng bộ các huyện khác…trong tỉnh

Các quyết định tách, nhập tỉnh, huyện, xã; các báo cáo tổng kết, báo cáo tình hình địa giới hành chính các địa phơng trong tỉnh lu tại Sở nội vụ Nghệ An, phòng lu trữ UBND tỉnh Nghệ An, văn phòng tỉnh uỷ Nghệ An Đây là nguồn tài liệu chính xác, độ tin cậy rất cao

- Tài liệu nghiên cứu: Các tài liệu nghiên cứu lịch sử, văn hoá Cụ thể nh cuốn “Về văn hoá xứ Nghệ” của Ninh Viết Giao, NXB Nghệ An, 2003 Hay cuốn “An Tĩnh cổ lục” của H.Bleton Cuốn “Địa chí huyện Tơng Dơng” của Ninh Viết Giao, NXB KHXH, 2003 Cuốn “Thành phố Vinh quá trình hình thành và phát triển" của Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng, NXB Nghệ An, 2003 và các tài liệu khác đợc đề cập đến trong phần trích dẫn là những sách mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu

- Tài liệu luận văn: Tôi có tham khảo một số luận văn về Lịch sử Việt Nam

nh “Lỵ sở Nghệ An từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII”

- Các quyển lịch sử Đảng bộ và nhân dân một số xã, phờng mà chúng tôi

có điều kiện tiếp cận

- Tài liệu khác: + Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Nghệ An

+ Bản đồ địa lý hành chính của 19 huyện, thị trong tỉnh

Trang 9

4.2.2 Xử lý t liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phơng pháp lịch sử và logic để trình bày một cách có hệ thống về quá trình biến đổi địa giới hành chính tỉnh Nghệ An theo thời gian Ngoài ra còn sử dụng các phơng pháp:

So sánh đối chiếu giữa các nguồn t liệu đã đợc su tầm để từ đó phân tích nhằm rút ra những đánh giá tổng hợp nguyên nhân và những tác động của biến đổi địa giới hành chính đối với sự phát triển kinh tế, xã hội địa phơng

5 Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của khoá luận

- Là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống, chi tiết những biến đổi địa giới hành chính tỉnh Nghệ An từ năm 1945 đến năm 2000

- Hoàn thành đề tài này góp phần làm phong phú thêm bộ sử địa phơng, phục vụ nguồn t liệu để nghiên cứu lịch sử văn hoá các huyện, xã tỉnh Nghệ An

- Đây là tài liệu tham khảo để biên soạn lịch sử Nghệ An

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho HS, SV khi làm bài tập lớn, tiểu luận, khoá luận, luận văn có nội dung liên quan

- Đánh giá một số tác động của những thay đổi địa giới hành chính, từ đó rút ra kinh nghiệm trong quản lý hành chính Nhà nớc

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài

đợc thể hiện trong 3 chơng:

Chơng 1: Khái quát địa giới hành chính Nghệ An trớc năm 1945

Chơng 2: Hơn nửa thế kỷ với những đổi thay địa giới hành chính ở Nghệ

An (1945 - 2000)

Chơng 3: Một số tác động của những biến đổi địa giới hành chính đối với

đời sống kinh tế – xã hội ở Nghệ An

Nội Dung

Chơng 1:

Khái quát địa giới hành chính Nghệ An trớc năm 1945

Trang 10

1.1 Sơ lợc về điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Nghệ An

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Nghệ An ngày nay là vùng đất thân yêu của Tổ quốc Việt Nam đã có hàng ngàn năm văn hiến Xa kia đã có lúc là một châu, một trấn Đến năm 1831, dới triều vua Minh Mạng mới đặt vùng lãnh thổ từ nam Thanh Hóa đến Đèo Ngang này thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh “Tuy đã phân chia ranh giới song trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thù trong giặc ngoài, nhân dân hai tỉnh vẫn nơng tựa vào nhau, luôn luôn đoàn kết, đấu tranh kiên cờng để bảo vệ và xây dựng đất nớc” [13,9]

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh, năm 1976, Quốc hội đã ra quyết định hợp nhất hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh Đến năm 1991, theo yêu cầu của tình hình mới, Quốc hội lại quyết định tách Nghệ Tĩnh thành Nghệ

An và Hà Tĩnh

Chính vì thế, vị trí địa lý của Nghệ An mà chúng tôi trình bày ở đây là của riêng Nghệ An không bao gồm cả Hà Tĩnh

Nghệ An nằm ở miền Bắc Trung Bộ nớc ta Toạ độ địa lý 18035’ – 20000’

vĩ độ Bắc; 103050’ - 105040’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên 16487km2

Phía Bắc Nghệ An giáp với tỉnh Thanh Hoá

Phía Nam tiếp giáp với Hà Tĩnh, ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh là dòng sông Lam hiền hoà, thơ mộng

Phía Đông tiếp giáp với biển Đông, bờ biển chạy dài khúc khuỷu từ Quỳnh

Lu đến Thị xã Cửa Lò

Phía Tây Bắc và Tây Nam có dãy Trờng Sơn trùng điệp ngăn cách Nghệ

An với nớc Lào Dới chân dãy Trờng Sơn là địa bàn c trú của các dân tộc ít ời

ng-Trong khoảng không gian địa lý đó, điều kiện địa hình của Nghệ An chia thành ba miền rõ rệt:

Trang 11

- Miền núi chạy dài từ huyện Kỳ Sơn, Quế Phong, Tơng Dơng, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, với nét đặc trng là núi rừng trùng điệp chạy theo nhiều h-ớng khác nhau, điều kiện địa hình phức tạp, hiểm trở Do đó, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn.

- Miền trung du bao gồm các huyện từ Đô Lơng, Yên Thành, Thanh

Ch-ơng, Nam Đàn Đây là vùng chuyển tiếp giữa miền núi với đồng bằng Địa…hình đặc trng là đồi núi thấp xen lẫn giữa các cánh đồng nhỏ hẹp, có độ cao khá lớn so với mực nớc biển Đây là địa bàn c trú của c dân ngời Việt từ xa xa tới tận ngày nay

- Vùng đồng bằng ven biển và hải đảo gồm các huyện Quỳnh Lu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò, thành phố Vinh, Hng Nguyên và các đảo Ng,

đảo Mắt Địa hình đặc trng của vùng là đồng bằng chạy dọc theo ven biển, có nhiều cửa sông, cảng biển, thỉnh thoảng có một số đồi núi thấp Đây là vùng đất

mà con ngời c trú từ thời tối cổ Thông qua các kết quả khảo cổ học ở Quỳnh Lu cho ta thấy điều đó

Trong quyển Nghệ An ký, Bùi Dơng Lịch khẳng định trấn Nghệ An: "Nam Bắc và Tây Đông đều cách nhau hơn 500 dặm” [22,33]

Địa hình Nghệ An gần 85% diện tích là núi cao và trung du Có tới hàng nghìn ngọn núi cao đứng trùng trùng bên nhau Nổi tiếng nhất là dãy Đại Hoạch, Đại Huệ, Thiên Nhẫn Phía Tây Nam có nhiều dãy núi kéo theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, gần nh song song với sông Cả, có độ cao từ 600-700m Miền núi và trung du là vùng thiếu cân xứng, dốc nhiều, suối ngắn, hiện tợng xâm thực và chia cắt mạnh Sách Nghệ An ký có chép về núi ở Nghệ An nh sau:

“Phía Tây sừng sững những núi lớn, phía Đông sát biển cả, phía Đông thì dãy núi Quỳnh Lâm của mạch Bắc kéo dài đến tận đảo Biện Thứ đến, trong đó núi Trụ Hải xuống đồng bằng đi về Nam làm các núi Lân Sơn, Phợng Sơn, Quy Sơn, Ngu Sơn ở Cửa Quèn Lại thứ nữa, trong đó núi Đại Hoạch kéo dài đến phía Nam thì núi Hoành Sơn của mạch nam kéo dài đến đảo én Thứ đến, trong

Trang 12

đó núi Vọng Liệu chạy xuống đồng bằng vòng về phía Bắc, thành núi An Tâm ở Cửa Nhợng Lại thứ nữa, trong đó là núi Kình Thốc chạy xuống đồng bằng vòng về Bắc là núi Nam Giới ở Cửa Sót.” [22,64].

Với vị trí và điều kiện địa hình phức tạp nh vậy thì việc phân chia ranh giới hành chính giữa các huyện, xã gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, trong quá trình phân chia đó phải tính đến yếu tố phù hợp về mặt địa hình để có thể tạo điều kiện thuận lợi nhất trong công tác quản lý hành chính, trong quá trình giao thông đi lại giữa các vùng với nhau Bên cạnh địa hình thì Nghệ An cũng là nơi

c trú của nhiều dân tộc ít ngời Các dân tộc này sống tập trung theo vùng nên trong quá trình thay đổi địa giới hành chính cũng phải tính đến yếu tố này

Vùng đất Nghệ An lắm núi nên cũng nhiều sông suối Suối nhỏ đổ vào suối lớn Suối lớn đổ ra sông Tất cả các con sông đều chảy ra biển Lớn nhất trong số đó là sông Lam bắt nguồn từ nớc Lào, chảy vào phía Tây Bắc rồi xuống hớng Đông Nam đổ ra biển Sông Hiếu bắt nguồn từ miền núi rừng Thanh Hoá đi theo hớng Tây Bắc vào Nghệ An gặp vùng rừng núi Nghĩa Đàn, Con Cuông Ngoài ra, sông Bùng, sông Cấm đều từ miền núi rừng Tây Bắc theo hớng Đông Nam ra biển Bên cạnh đó còn có dòng sông chính là Nậm Nơn, nhánh là Nậm Mộ, hợp lu ở cửa Rào thành sông Lam Từ ngã ba Cây Chanh sông Lam chảy qua các huyện, nhận nớc từ các sông suối rồi đổ ra biển

Do điều kiện địa hình từ Tây sang Đông có độ chênh quá lớn, nên dòng sông Lam mùa ma lũ nớc chảy xiết cuốn trôi cả đất đá cây rừng, nhà cửa Có nhiều sông suối nh vậy, song đồng ruộng cũng chẳng màu mỡ là bao, đặc biệt ở vùng miền núi Tuy có đờng bộ nhng nhân dân đi lại chủ yếu bằng các con thuyền trên dòng sông Suối ở miền núi có dòng chảy dốc, nớc sạch là các điểm thuận lợi cho du lịch sinh thái Tuy nhiên cũng đặt ra vấn đề trị thuỷ cho c dân các vùng ven sông suối

Về khí hậu: Theo Đào Đăng Hy trong địa lý Nghệ An, “khí hậu Nghệ An giống hệt nh khí hậu ở Bắc Kỳ ở Nghệ An có hai mùa khác hẳn nhau, mùa

Trang 13

nóng và ẩm ớt từ tháng 5 đến tháng 11 Tây; mùa rét và ráo từ tháng chạp đến tháng 4 Tây” [21,10].

Khí hậu có hai mùa nóng ẩm và rét ráo, điều này tạo cho vùng đất Nghệ

An có sự khác biệt so với khí hậu các vùng phía Nam Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 giữa trời mùa hè lúc nào cũng oi bức, khó chịu Trong hai tháng từ tháng 5 đến tháng 7 thờng có gió Lào thổi sang, tạo nên các trận nam nồng nực, rát bỏng Cái nóng mùa hè nh thiêu nh đốt, cây cỏ khô héo, sông hồ cạn nớc Gió Lào càng làm cho cái nóng khủng khiếp hơn, độ ẩm không khí xuống thấp,

đồng cỏ khô cháy Đến tháng 11 thì trời chuyển mùa trở rét Mùa này hay có

m-a phùn, mm-a dầm Đặc biệt, hàng năm Nghệ An đón 10 – 12 cơn bão từ biển

Đông thổi vào Vào mùa lạnh, nhiệt độ không khí xuống thấp tạo nên cái rét buốt thấu xơng Điều kiện khí hậu ở đây hoàn toàn không phù hợp với sự c trú của con ngời Chính vì phải thích nghi với kiểu khí hậu đó mà đã tạo cho ngời dân xứ Nghệ đức tính chịu khó, chịu khổ hiếm thấy Ngời dân qua trờng kỳ lịch

sử đã vô cùng vất vả trong việc chế ngự thiên nhiên, thời tiết để sản xuất và sinh sống

Đất đai ở Nghệ An rất đa dạng bởi do có sự kết hợp giữa đồi núi, trung du

và đồng bằng nên đất đai cũng đợc chia thành nhiều nhóm khác nhau: Đất phù

sa, đất mặn, đất nâu vàng, đất đỏ bazan, đất đá vôi, Đất đai Nghệ An chủ yếu…

là đất lâm nghiệp Trong đó chủ đạo là loại feralit đỏ vàng, phân bố từ độ cao 500m trở lên Do quá trình phân giải hữu cơ nhanh nên đất vùng này tầng mùn không dày lắm, tầng thảm mộc cũng mỏng Đất phù sa chủ yếu phân bố ở các vùng đồng bằng ven biển Độ màu mỡ không cao do ít đợc bồi đắp phù sa nhng cũng đợc khai thác và sử dụng triệt để vào sản xuất nông nghiệp

Là vùng đất trọng yếu của Tổ quốc, Nghệ An có đủ loại địa hình, có biển,

có đờng biên giới quốc gia Với vị trí địa lý, địa hình đất đai, khí hậu nh vậy thì việc tổ chức đời sống cho nhân dân sẽ gặp nhiều khó khăn Phân chia địa giới hành chính nh thế nào cho phù hợp, tạo thuận lợi cho sự c trú của cả cộng đồng

Trang 14

mà phải có cả quá trình điều chỉnh thay đổi là điều đơng nhiên Trong quá trình

đó, tên gọi một số vùng đất cũng biến đổi Một số địa danh mất đi, một số địa danh mới ra đời Địa giới các huyện, xã đợc điều chỉnh lại

1.1.2 Điều kiện xã hội

Kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học ngời Pháp, Liên Xô cũ, Nhật Bản và Việt Nam tại di chỉ Thẩm ồm (Quỳ Châu), Quỳnh Văn (Quỳnh Lu), Làng Vạc (Nghĩa Đàn), đã khẳng định Nghệ An là địa bàn c trú của các tộc ng-

ời tối cổ phát triển liên tục và bền vững từ sơ kỳ đá cũ cho đến thời đại đồng thau Các tộc ngời đó đã góp phần tạo nên nền văn hoá văn minh Đông Sơn, tạo dựng nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc

Vùng đất Nghệ An có từ lâu đời, trải qua quá trình lịch sử, do tác động của các yếu tố khác nhau mà thành phần, số lợng dân c thay đổi diễn ra gần nh là liên tục, tạo nên bức tranh về dân c khá đa dạng và phong phú

ở Nghệ An có nhiều tộc ngời cùng sinh sống nh Kinh, Thái, Thổ, Mông, Khơmú Trong bức tranh đa dạng về dân c… đó thì ngời Kinh chiếm số lợng chủ yếu Họ đóng vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Ngày trớc chỉ c trú ở vùng đồng bằng, nay thì ở tất cả các huyện miền núi

đều có ngời Kinh sinh sống Bên cạnh ngời Kinh thì các dân tộc ít ngời cũng chiếm số lợng và vai trò đáng kể Sự đa dạng về tộc ngời ở Nghệ An là do nhiều nguyên nhân khác nhau: Thứ nhất là do đói nghèo và thiếu đất canh tác mà họ

đến đây khai phá làm ăn Thứ hai là những quan chức thời phong kiến đợc bổ

nhiệm đến đây cai trị rồi lấy vợ và sinh con lập nghiệp trên mảnh đất này Thứ

ba là những ngời có tội với nhà nớc phong kiến vì thế họ bị lu đày đến nơi này

Nguồn gốc c dân khá phức tạp, đến định c lập nghiệp trên đất Nghệ An từ những vùng miền khác nhau: Ngời Hmông từ vùng Nam Trung Quốc sang; ngời Thái từ Tây Bắc, Thanh Hóa vào; ngời Mờng, ngời Thổ từ Hòa Bình, Thanh Hóa Riêng ngời Việt cũng có nguồn gốc phong phú: Những ngời trong hoàng tộc, quan lại; một bộ phận là ngời Việt hoá, một bộ phận từ đồng bằng Bắc Bộ

Trang 15

vào, một bộ phận là c dân bản địa và còn có cả tù binh chiến tranh Những tầng lớp này định c lâu dài trở thành chủ nhân của vùng đất Nghệ An.

C dân ở vùng núi lấy nông nghiệp trồng trọt làm nguồn sống chính Việc canh tác lúa nớc đợc coi trọng song với địa bàn rừng núi thì canh tác nơng rẫy lại phổ biến hơn Trong thời gian gần đây, với nhiều chính sách của Đảng và Nhà nớc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng đợc cải tạo, nâng cấp, mạng lới giao thông đợc mở mang thêm nhiều đã phần nào phá vỡ cái thế khép kín và bế tắc của nhiều năm trớc đây Mỗi làng xã không chỉ bó hẹp trong địa giới của mình

mà đã giao lu buôn bán phát triển kinh tế, văn hóa với nhiều vùng xung quanh

C dân ở vùng đồng bằng, ven biển, hải đảo chiếm số lợng đông đảo hơn

Đời sống của họ chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác nguồn lợi biển Bên cạnh đó còn có nhiều làng nghề thủ công truyền thống cũng là một trong những nguồn sống của bà con C dân vùng này có đời sống kinh tế khá đầy đủ so với miền núi Giao thông đi lại thuận lợi, buôn bán phát triển, đời sống tinh thần đa dạng, phong phú Mối quan hệ cộng đồng khăng khít nhiều khi vợt qua ranh giới của một huyện, một xã Họ đề cao lối sống “Lá lành đùm lá rách” Mặt khác, mỗi cộng đồng c dân lại có phong tục tập quán riêng, lệ làng hơng ớc…

Và họ đã chung sống với nhau từ ngàn đời nay Cho nên, trong quá trình phân chia địa giới hành chính cần lu ý tới điểm này

Phân bố trên ba miền địa hình khác biệt, nguồn gốc c dân phức tạp, Nghệ

An không chỉ đa dạng về tự nhiên mà bản sắc văn hoá các vùng miền cũng khác nhau Xác lập địa giới hành chính cho phù hợp với phong tục tập quán từng vùng, tạo điều kiện cho việc giao thông đi lại, buôn bán thuận lợi, đồng thời làm sao để mỗi vùng không khép kín, biệt lập, đảm bảo sự giao lu kinh tế, hoà quyện văn hoá là một khó khăn lớn đối với những ngời làm công tác lãnh đạo

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, ngời dân có quyền làm chủ mảnh đất của mình Nớc nhà độc lập, số phận ngời dân đã thay đổi Đảng và Nhà nớc cần tiến hành biến đổi địa

Trang 16

giới, tên gọi để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý, đồng thời tạo sự phát triển làm bàn đạp để tiến lên phía trớc.

Việc thay đổi duyên cách địa lý, địa giới hành chính trên địa bàn Nghệ An diễn ra một cách thờng xuyên liên tục trong suốt quá trình lịch sử Mỗi lần thay

đổi nó đều ảnh hởng ít nhiều đến sự phát triển kinh tế – xã hội địa phơng Nghiên cứu quá trình thay đổi địa giới hành chính Nghệ An trong thời gian gần

đây sẽ góp phần cung cấp thêm t liệu quý báu cho công tác nghiên cứu lịch sử

địa phơng

Nhân dân Nghệ An đã trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ

“Vừa chinh phục thiên nhiên vừa chống trả lại bọn cớp nớc để tồn tại và phát triển Trong cuộc trờng kỳ vật lộn với thiên nhiên ấy, Nghệ Tĩnh đã thừa hởng

và gìn giữ đợc hệ cân bằng sinh thái vốn có của tự nhiên; kiến lập đợc hệ canh tác phù hợp với đất, trời Nghệ Tĩnh; xây dựng đ… ợc cách sống tơng ứng với

điều kiện tự nhiên, kinh tế của mình và không ngừng vơn lên theo đà phát triển của lịch sử” [13,13] C dân Nghệ An sống thích nghi với điều kiện tự nhiên, chịu khó, chịu khổ, hay lam, hay làm

1.2 Duyên cách địa lý Nghệ An trớc năm 1945

1.2.1 Thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc

Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử dân tộc, cùng với sự thay đổi về tổ chức hành chính của đất nớc, tỉnh Nghệ An ngày nay cũng đã nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi

Đời Hùng Vơng – An Dơng Vơng, Nghệ An là một phần lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam từ ngày nớc ta mang tên Văn Lang - Âu Lạc Lịch sử Nghệ An song hành với lịch sử đất nớc Đất nớc trải qua bao nhiêu thăng trầm và biến

động thì Nghệ An cũng trải qua bấy nhiêu Vùng đất này có khi hng thịnh, có khi suy vong nhng đã tồn tại đến ngày nay Theo các nhà nghiên cứu, nơi đây đ-

Trang 17

ợc xác định là đất Việt Thờng thời cổ Mời tám đời Vua Hùng dựng nớc đã để lại trên đất Nghệ An rất nhiều di chỉ văn hoá khảo cổ học Di chỉ Đồng Mỏm (Diễn Châu) “Có những đồ đá đợc mài nhẵn hết sức tinh xảo, có lỡi cày bằng

đồng và nhiều đồ gốm in dấu đan Đặc biệt là có nhiều đồ sắt và mộ táng Vào thế kỷ II TCN, ở Diễn Châu có dấu vết An Dơng Vơng” [19,36]

Sách “Lịch triều Hiến chơng loại chí” (Phần d địa chí) có chép về đất Nghệ

An cũng khẳng định “Đời cổ là thuộc đất Việt Thờng” [14,62]

Sách “Đại Nam nhất thống chí” (quyển 14, tỉnh Nghệ An) viết về Nghệ An thời Hùng Vơng và An Dơng Vơng nh sau: “Tỉnh này xa là thuộc đất Việt Th-ờng” [15,7]

Sách “Khâm định Việt sử thông giám cơng mục” chính biên quyển thứ XXI, chép: “Nghệ An thuộc đất Việt Thờng Là một trong 2/15 bộ của nớc Văn Lang, có tên: Bộ Hoài Hoan, bộ Cửu Đức” (Bộ Hoài Hoan là tên gọi tơng ứng với vùng đất Diễn Châu khi xa, phía Bắc tỉnh Nghệ An; bộ Cửu Đức là tên gọi của vùng đất tơng đơng với phía Nam của Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh ngày nay)

1.2.2 Thời kỳ Bắc thuộc

Nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc tồn tại đến năm 179 TCN thì xảy ra biến cố lịch sử lớn Năm 179 TCN, Triệu Đà đem quân sang xâm lợc nớc ta, biến nớc ta thành vùng đất để chúng cai trị, bóc lột và vơ vét của cải Để dễ bề cai trị, chúng chia nớc ta thành quận, châu, phủ và xây dựng bộ máy chính quyền từ trung ơng

đến địa phơng

Sách “Lịch triều Hiến chơng loại chí” của Phan Huy Chú chép về đất Nghệ

An nh sau: “Thời Tần thuộc về Tợng quận, Hán là quận Nhật Nam, Ngô đặt là quận Cửu Đức, Lơng đổi là Đức Châu, Tuỳ lại gọi là Nhật Nam, Đờng lại bắt

đầu đặt là Hoan Châu, sau đổi là Diễn Châu” [14,62]

Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cơng mục”, chính biên, quyển

Trang 18

Nhà Tần, Nghệ An thuộc Tợng Quận.

Nhà Hán là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân

Nhà Đông Ngô tách khỏi quận Cửu Chân đặt là quận Cửu Đức

Nhà Tấn, nhà Tống vẫn giữ nh nhà Ngô

Nhà Lơng chia đặt làm Đức Châu, Lỵ Châu và Minh Châu

Nhà Tuỳ, năm Khai Hoàng thứ 8, đổi Đức Châu làm Hoan Châu, Lỵ Châu làm Trí Châu Năm Đại Nghiệp thứ 3 hợp cả Minh Châu, Trí Châu và Hoan Châu đổi lệ thuộc quận Nhật Nam

Nhà Đờng: Niên hiệu Vũ Đức chia quận Nhật Nam đặt làm Đức Châu, Lao Châu, Minh Châu và Hoan Châu Năm Trịnh Quán đổi Đức Châu lại làm Hoan Châu còn Hoan Châu thì đổi làm Diễn Châu Năm thứ 16, bỏ Diễn Châu hợp vào Hoan Châu Đầu năm Thiên Bảo lại đổi Hoan Châu thuộc vào quận Nhật Nam Từ năm Kiền Nguyên trở về sau gọi là Hoan Châu rồi bỏ Tri Châu mà cho

lệ thuộc vào Hoan Châu Năm Quảng Đức thứ 2, chia Hoan Châu đặt quận Long Trì thuộc Diễn Châu gọi là quận Diễn Thuỷ

Nh vậy, ngợc dòng lịch sử từ thời Bắc thuộc vùng đất này đã mang nhiều tên gọi khác nhau “Thời thuộc Hán năm 111 TCN, địa bàn Nghệ An ngày nay nằm trong huyện Hàm Hoan (một trong bảy huyện của quận Cửu Chân) Thời thuộc Tuỳ nằm trong huyện Cửu Đức (1 trong 8 huyện của quận Nhật Nam)” [12,14]

Qua các t liệu đó có thể khẳng định đây là vùng đất rất quan trọng mà chính quyền phong kiến phơng Bắc đang cố gắng xây dựng bộ máy cai trị hoàn chỉnh Dấu vết những năm Bắc thuộc không còn gì nhiều ở Nghệ An, các nguồn tài liệu cũng không đủ để khảo cứu một cách có hệ thống tên gọi vùng đất này Chỉ qua những tài liệu, th tịch cũ để lại thì có thể nhận định sơ bộ nh trên

1.2.3 Thời kỳ Nhà nớc phong kiến độc lập tự chủ

Trải qua hơn 1000 năm dới ách đô hộ của các triều đại phơng Bắc, đất nớc

Âu Lạc của ngời Việt cổ đã có nhiều thay đổi Mặc dù luôn bị kìm hãm, áp bức,

Trang 19

bóc lột nặng nề, ngời dân Việt nói chung và ngời xứ Nghệ nói riêng vẫn cố gắng vơn lên vợt qua mọi khó khăn, thử thách.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ, một hào trởng của đất Hồng Châu đứng lên đánh

đổ bọn đô hộ nhà Đờng, xng Tiết độ sứ dựng nền tự chủ Từ đây đất nớc ta chuyển sang một thời đại mới – thời đại độc lập tự chủ dới chế độ phong kiến Năm 938, Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng đã một lần nữa khẳng định quyền làm chủ của nhân dân ta trên miền đất của tổ tiên thời Văn Lang - Âu Lạc “Nớc ta chấm dứt đêm trờng Bắc thuộc, chấm dứt cả thời kỳ dài lãnh thổ bị chia làm quận huyện và bị sát nhập vào bản đồ phong kiến của phơng Bắc” [17,82]

Sau nhà Ngô, nạn hào trởng cát cứ gây thành loạn 12 sứ quân Rồi Đinh Bộ Lĩnh là ngời chỉ huy 1 trong 12 sứ quân đã dẹp yên đợc các sứ quân khác, xng

đế tức Đinh Tiên Hoàng Nhng chỉ ít lâu sau, nhà Đinh suy vi Năm 980, Lê Hoàn đợc các tớng sĩ tôn lên làm vua Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê đều bỏ hẳn chế

độ quận huyện mà gọi là phủ, châu Nghệ An thời đó vẫn gọi là Hoan Châu và Diễn Châu

Sách “Lịch triều Hiến chơng loại chí” chép: “Buổi đầu nhà Lý đổi Hoan Châu làm trại, đời Thái Tông năm Thiên Thành thứ 3 (1030),2 đổi gọi là Nghệ

An, Diễn Châu tách ra làm châu Nhà Trần buổi đầu cũng theo nh thế gọi là Nghệ An phủ Thời Duệ Tông đổi Diễn Châu là lộ, chia Nghệ An ra 4 lộ: Nhật Nam, Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc và Nghệ An Trung Đến lúc đặt ra Tây Đô

đổi Nghệ An ra làm trấn Lâm An, Diễn Châu làm trấn Vọng Giang Thời nhà

Hồ đổi Diễn Châu làm phủ Linh Nguyên hợp với Thanh Hoá, Cửu Chân, ái Châu gọi là 4 châu hộ vệ cho kinh kỳ Lúc nội thuộc nhà Minh lại gọi là phủ Diễn Châu và Nghệ An Nhà Lê lúc đầu cũng theo nh thế Đến khoảng giữa năm Quang Thuận (1466) đổi là Thừa tuyên Nghệ An, có 9 phủ, 30 huyện, 3 châu” [14, 62]

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng viết: “Đời vua Lý Thái Tông niên hiệu

Trang 20

bắt đầu có từ đây Đời vua Trần Duệ Tôn, niên hiệu Long Khánh năm thứ 2, đổi Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, Hoan Châu làm 3 lộ: Nam, Bắc và Trung đều thuộc Nghệ An Đời vua Thuận Tôn niên hiệu Quang Thái năm thứ 10 lại đổi Nghệ An làm trấn Lâm An, đổi Diễn Châu làm trấn Vọng Giang Đến đời Hồ Hán Thơng lại đổi Diễn Châu thành phủ Linh Nguyên Đến thời thuộc Minh lại

đổi làm phủ Diễn Châu và phủ Nghệ An Năm đầu niên hiệu Thuận Thiên, đời vua Lê Thái Tổ, lại đem các châu, huyện nói trên cho lệ thuộc vào đạo Hải Tây

Đến niên hiệu Quang Thuận thứ 7, đời vua Lê Thánh Tôn lại hợp Châu Hoan, Châu Diễn vào làm tỉnh Nghệ An, đặt ra chức Thừa tuyên, quản trị 9 phủ, 25 huyện, 2 châu Đến triều đại Tây Sơn lại đổi tên gọi là Trung Đô Đến triều Nguyễn năm đầu Gia Long, đổi lại làm trấn Nghệ An”[15, 8]

Sách Khâm định Việt sử thông giám cơng mục thì cho rằng:

Nhà Đinh, Tiền Lê gọi là Hoan Châu

Nhà Lý đổi làm Nghệ An châu, Diễn Châu là một châu đứng riêng

Nhà Trần, năm Nguyên Phong thứ 6, gọi là trại Nghệ An, năm Long Khánh thứ 3 đổi Diễn Châu làm Diễn Châu lộ, chia Hoan Châu làm 4 lộ: Nhật Nam, Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc và Nghệ An Trung Năm Quảng Thái thứ 10

đổi Nghệ An làm Lâm An trấn, Diễn Châu làmVọng An trấn Đời nhà Hồ đổi Diễn Châu làm Linh Nguyên phủ cùng với Thanh Hoá, Cửu Chân, ái Châu gọi

là tứ phụ Thời thuộc Minh lại đổi làm hai phủ Diễn Châu và Nghệ An

Nhà Hậu Lê: Năm Thuận Thiên thuộc đạo Hải Tây Năm Quang Thuận thứ

7 đặt làm Nghệ An thừa tuyên Năm Hồng Đức thứ 21 đổi làm xứ Nghệ

Theo sách “Tên làng xã Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” thì Nghệ An gồm

5 phủ, 16 huyện, 17 tổng, 1125 xã thôn

Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Kỳ Hoa và Thạch Hà

Phủ Đức Quang gồm 6 huyện: Thanh Chơng, Chân Lộc, Thiên Lộc, Hơng Sơn, La Sơn, Nghi Xuân

Phủ Anh Đô gồm 2 huyện: Hng Nguyên và Nam Đờng

Phủ Diễn Châu gồm 2 huyện: Quỳnh Lu và Yên Thành

Trang 21

Phủ Trà Lân gồm 4 huyện: Tơng Dơng, Vĩnh Hoà, Hội Nguyên, Kỳ Sơn.Bớc sang thế kỷ XIX, dới triều Nguyễn, vua Gia Long đặt là Nghệ An trấn Năm 1831 – 1832, vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính địa ph-

ơng Đơn vị hành chính là trấn bị bãi bỏ Nghệ An trấn đợc chia thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh Năm Tự Đức thứ 6, đổi Hà Tĩnh là đạo, hợp vào Nghệ An làm An Tĩnh Năm thứ 29 lại đặt làm tỉnh Hà Tĩnh nh cũ

1.2.4 Thời kỳ Pháp thuộc

Tây sang chiếm nớc ta, phong trào Cần Vơng nổi lên Trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc, trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử, những lúc thịnh, suy, vinh, nhục, nhân dân xứ Nghệ đã ý thức sâu sắc về lẽ sống, ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp của mình với dân tộc Sau khi phong trào Cần Vơng thất bại, nhiều thế hệ ngời Nghệ An nối tiếp nhau ra đi tìm đờng cứu nớc

nh Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành Đây cũng là nơi xuất thân của lớp ng… ời cộng sản đầu tiên nh Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong…

Các phong trào cách mạng, yêu nớc ở Nghệ An lúc âm ỉ bí mật, lúc công khai đối đầu; lúc vừa cung cấp nhân tài vật lực cho các nơi vừa tích luỹ xây dựng hậu phơng vững mạnh Nghệ An không chỉ đóng góp to lớn về ngời và của cho công cuộc chống giặc giữ nớc mà còn đóng góp nhiều mặt trong lĩnh vực văn hoá tinh thần Lúc này Nghệ An là một tỉnh rộng, dân c đông đúc đã tạo nên một bức tranh văn hoá rực rỡ đủ màu sắc

Trong thời Pháp thuộc, từ năm 1896 trở đi, tỉnh Nghệ An có 5 phủ: Anh Sơn, Diễn Châu, Quỳ Châu, Tơng Dơng, Hng Nguyên và 6 huyện: Thanh Ch-

ơng, Nam Đàn, Nghi Lộc, Yên Thành, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lu Đến năm 1927, Toàn quyền Đông Dơng là Môngghigiô đã ký nghị định sát nhập 3 trung tâm đô thị Vinh, Bến Thuỷ và Trờng Thi, thành lập thành phố Vinh - Bến Thuỷ

Nh vậy, tên gọi, duyên cách địa lý và địa giới hành chính thời Pháp thuộc

về cơ bản giữ ổn định cho tới ngày nay Tuy nhiên nó cũng đợc điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945

Trang 22

Trải qua bao biến đổi của thời gian, duyên cách và tên gọi của Nghệ An cũng khác nhau qua từng thời kỳ, giới hạn phân chia lãnh thổ cũng có thay đổi

ít nhiều Nghệ An cũng trải qua nhiều lần chia tỉnh, hợp tỉnh Những thay đổi

đó gắn liền với các biến động lịch sử của dân tộc, sự thay thế lẫn nhau của các vơng triều và nó xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau

Trang 23

Sự thay đổi bộ máy chính quyền nh trên của Chính phủ nớc Việt Nam DCCH đã giảm bớt sự cồng kềnh, tạo điều kiện để quản lý tập trung, thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh Kể từ đây bắt đầu một quá trình điều chỉnh địa giới hành chính, tách nhập, nhập tách tơng đối nhiều mà điển hình nhất là việc thay tên làng cũ xã mới, tách nhập xã huyện trong giai đoạn 1947 – 1954.

Để hiểu rõ hơn về quá trình này, chúng tôi sẽ lần lợt đi tìm hiểu tình hình

cụ thể của từng huyện, thành phố, thị xã

Trong cuộc hành binh thần tốc ra Bắc để tiêu diệt 29 vạn quân Thanh vào cuối năm 1788, Nguyễn Huệ đã dừng chân ở lỵ sở Nghệ An để tuyển thêm quân Khi dừng chân ở đây, thấy huyện Chân Lộc, xã Yên Trờng (tức trung tâm thành phố Vinh ngày nay) hình thế rộng rãi, khí tợng tơi sáng, có thể chọn làm nơi xây dựng kinh đô mới Sau khi quét sạch quân Thanh, giữ yên bờ cõi, cùng với nhiều chính sách nhằm chấn hng kinh tế, văn hóa, bang giao, Hoàng đế Quang Trung xuống chiếu cho La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trờng (thuộc địa phận Vinh ngày nay) để xây dựng kinh đô mới và đặt tên là Trung Kinh Phợng Hoàng Thành Công cuộc tiến hành xây dựng thành Trung Đô đang tiến hành giang dở, hoàng đế Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh lên ngôi vẫn đóng đô ở Phú Xuân Lỵ sở Nghệ An vẫn ở Lam Thành - Phù Thạch Năm 1803, trong chuyến Bắc tuần lần thứ nhất, hoàng đế

Trang 24

Gia Long cho chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên - Yên Trờng Công cuộc chuyển dời lỵ sở Nghệ An đợc thực thi vào tháng

5 năm 1804 Từ đó, Vinh trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự của trấn Nghệ An và tồn tại cho đến mãi sau này

Tiếng “Vinh” đợc bắt nguồn từ tên gọi tắt của làng Vĩnh Yên “Làng này

có tên nôm na là Vang, về sau theo quy luật biến âm đợc gọi là Vinh” [19,47] Khu vực Vinh đợc hình thành nh vậy, nhng mãi đến 20/10/1897, Thành Thái mới ra đạo dụ cho ra đời thị xã Vinh Đạo dụ này đợc toàn quyền Đông Dơng chuẩn y năm 1899 Thị xã Vinh từ đời vua Minh Mạng là lỵ sở của Nghệ An Thị xã Vinh lúc này chỉ vẻn vẹn gồm thành cổ Nghệ An và khu vực dân c ở ngoài Cửa Nam thành Xung quanh vẫn chỉ là đồng ruộng, làng mạc với nhà tranh lơ thơ Trong khi đó, cách thị xã Vinh 5km, một thị trấn nhỏ đợc hình thành Đó là thị trấn Bến Thuỷ, bến nớc nhộn nhịp Rồi cảng Bến Thuỷ đợc mở rộng, khu công nghiệp Bến Thuỷ phát triển nhanh chóng Trớc tình hình đó vua Duy Tân đã ra đạo dụ ngày 11/3/1914 và đợc toàn quyền Đông Dơng chuẩn y nâng thị trấn Bến Thuỷ thành thị xã Bến Thuỷ

Nằm giữa hai thị xã Vinh và Bến Thuỷ là nhà máy xe lửa Trờng Thi Nó ra

đời năm 1908, là 1 trong 3 nhà máy sửa chữa xe lửa lớn nhất Đông Dơng Khu vực này cuốn hút khá nhiều phố xá, cửa hiệu và có tới 4000 công nhân Ngày 27/8/1917, thực dân Pháp giao lại cho Khải Định ban hành Đạo dụ thành lập thị xã Trờng Thi

Trong chiều dài mấy km mà có 3 cái thị xã nằm chen chúc nhau quản lý khoảng 2 vạn dân Mặt khác, tình trạng tồn tại đồng thời 3 trung tâm đô thị nhthế đã ảnh hởng đến việc triển khai công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp Có lẽ nhận thấy bộ máy hành chính cấp thị xã ấy quá cồng kềnh, gây nhiều phiền hà cho viên công sứ Nghệ An nên ngày 10/12/1927, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dơng đã cho ra đời cấp hành chính cao hơn

Đó là thành phố Vinh – Bến Thuỷ bằng cách nhập ba thị xã ấy lại Thế là một thành phố công nghiệp ra đời, đứng đầu là viên đốc lý ngời Pháp “Vinh – Bến

Trang 25

Thuỷ đến tận năm 20, 30 của thế kỷ này chạy dài khoảng 7000m từ Bến Thuỷ

đến Cầu Rầm và từ Bến Nứa đến Ga Vinh hiện nay, hai đầu phình to ra còn khoảng ở giữa hơi co lại Trong khu đất đó, ngoài thành cổ Nghệ An là nhà cửa, phố xá chen lẫn ruộng nơng đã mọc lên hàng chục nhà máy, xởng thợ to nhỏ cùng những cơ quan của thực dân Pháp và chính phủ Nam triều” [19,49]

Đến tháng Tám 1945, Vinh – Bến Thuỷ không có gì khác hơn so với bề mặt của nó mơi lăm năm trớc đó, với diện tích khoảng 20km2 và 2 vạn dân nội thành

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, thành phố Vinh – Bến Thuỷ nhiệt tình ởng ứng, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, lật đổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp và phong kiến Nam triều Đêm ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cả nớc tiêu thổ kháng chiến Thực hiện chủ trơng đó, thành phố

h-bị phá trụi để chống giặc Theo Sắc lệnh số 2 của Chính phủ, ngày 24/1/1946, Vinh – Bến Thuỷ trở thành một thị xã với 5 khu phố 1, 2, 3, 4, 5 Trải qua 8 năm kháng chiến thần thánh, thực dân Pháp bị đánh bại Năm 1954, hoà bình lập lại, ngời dân thành phố đi tản c từ các nẻo đờng chiến thắng trở về xây dựng lại nhà cửa, phố xá, cơ quan Vinh vẫn là một thị xã, thủ phủ của tỉnh Nghệ An

và là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của cả Liên khu IV

Ngày 28/12/1961, Bộ chính trị trung ơng Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết số 32 về quy hoạch xây dựng thành phố Vinh thành thành phố công nghiệp XHCN Sau đó “Hội đồng chính phủ có quyết định xây dựng thành phố Vinh trở thành một trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của tỉnh Nghệ An có quy mô ngày càng lớn với số dân trên 10 vạn” [11,155]

Ngày 10/10/1963, Thủ tớng chính phủ ra Quyết định số 148 CP về việc thành lập thành phố Vinh trực thuộc tỉnh Nghệ An Thành phố Vinh gồm thị xã Vinh cũ và xóm Trung Nghĩa thuộc xã Hng Đông huyện Hng Nguyên Từ ngày

có quyết định nâng cấp từ thị xã lên thành phố, thành phố Vinh ngày càng đợc

mở rộng về diện tích và có sự điều chỉnh địa giới các tiểu khu, phờng, xã

Trang 26

Ngày 26/12/1970, theo quyết định số 80 – BT của Chủ tịch hội đồng Bộ trởng: Sát nhập các xã Hng Hoà, Hng Lộc, Hng Đông, Hng Vĩnh, một phần đất

đai ở bờ bắc sông Cầu Đớc thuộc xã Hng Chính huyện Hng Nguyên và xã Nghi Phú huyện Nghi Lộc vào thành phố Vinh

Ngày 2/3/1970, theo quyết định số 37 - CP của Hội đồng chính phủ:

1 Chuyển các xã Hng Bình, Hng Thuỷ, Vinh Hng thành các tiểu khu lấy tên là Cửa Bắc, Tân Vinh, Hng Bình, Lê Lợi, Cầu Cảng, Bến Thuỷ, Trờng Thi,

Đội Cung và Cửa Nam theo quy hoạch xây dựng thành phố Vinh

2 Hợp nhất xã Hng Vĩnh và Hng Đông thành một xã lấy tên là xã Đông Vĩnh

3 Sát nhập xóm Yên Giang của xã Vinh Hng và xóm Vĩnh Mỹ của xã Hng Vĩnh vào xã Hng Tân

Thành phố Vinh có núi Dũng Quyết, có sông Lam chảy qua là nơi thiên nhiên non nớc hữu tình Từ khi thành lập đến nay, thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Nghệ An

Huyện Hng Nguyên

Là huyện đồng bằng của tỉnh Nghệ An, mảnh đất Hng Nguyên đợc hình thành khá sớm và có lịch sử đầy đặn, tràn đầy sức sống Trong lao động sản xuất xây dựng cuộc sống, nhân dân Hng Nguyên không chỉ siêng năng chịu khó

mà còn thông minh, giàu nghị lực Trong công cuộc chống giặc Mỹ cứu nớc,

H-ng Nguyên là một troH-ng nhữH-ng nơi có vị trí chiến lợc quan trọH-ng Đợc thử thách

và rèn luyện qua những đụng đầu khốc liệt, những phẩm chất cao quý của ngời dân càng đợc củng cố và phát triển

Hng Nguyên nằm ở cửa ngõ phía Tây thành phố Vinh, “đây là quê hơng của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh; nhân dân lơng giáo đoàn kết, cần cù lao

động, sáng tạo, có nhiều điều kiện phát triển kinh tế – xã hội” [16,231]

Huyện Hng Nguyên có từ khi nào? Năm 1469, niên hiệu Quang Thuận thứ

10, vua Lê Thánh Tông cùng với việc hợp nhất Diễn Châu và Hoan Châu thành

Trang 27

Nghệ An thừa tuyên đã đồng thời bỏ tên huyện Nha Nghi mà chia thành 2 huyện Hng Nguyên và Nghi Xuân Tên Hng Nguyên ra đời từ đó Cùng với Nam Đờng (Nam Đàn), Hng Nguyên bấy giờ thuộc phủ Anh Đô (sau đổi là Anh Sơn) Trớc năm 1889, khi cha có tên Nghi Lộc thì vùng đất phía bắc cầu Cấm vẫn thuộc Hng Nguyên Năm 1907, đầu đời vua Duy Tân, tổng Yên Trờng thuộc Nghi Lộc chuyển sang Hng Nguyên (trừ thị xã Vinh) Đổi lại vùng đất phía bắc Cầu Cấm trở ra sát nhập vào Nghi Lộc

Đầu thế kỷ XX, Hng Nguyên có 7 tổng: Phù Long, Thông Lãng, Đô An, Hoa Viên, Hải Đô, Cao Trình, La Hoàng với 86 xã thôn

Nh vậy, kể từ khi có địa danh Hng Nguyên trên bản đồ Nghệ An, địa giới hành chính và diện tích đất tự nhiên của Hng Nguyên đã biến đổi theo chiều h-ớng thu hẹp dần Cách đây vài thế kỷ, đất Hng Nguyên rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay “ở mạn Tây Bắc đến Đông Bắc, đất Hng Nguyên duỗi ra đến vùng xung quanh núi Đại Vạc và Thần Lĩnh, xuôi về vùng giáp Diễn Châu ở phía Nam và giáp biển Xá (nay thuộc Nghi Lộc); ở tả ngạn sông Lam thì một số làng nh Lê Xá, Phơng Xá (phía ngoài chợ Liễu hiện nay) cùng một xóm lớn của Hng Xá, của Phúc Hậu bị xói lở xuống sông; lớn nhất là làng Triều Khẩu, nơi xa kia đặt trờng thi hơng cũng bị lở xuống sông, không còn tên trên bản đồ Đơn vị hành chính từ 7 tổng còn lại 6 tổng” [3,314]

Kể từ năm 1945 đến nay, địa giới Hng Nguyên lại trải qua một số lần biến

đổi nữa Từ việc cắt nhập 10 xã sang Nam Đàn, Nghi Lộc, thành phố Vinh, diện tích đất của Hng Nguyên đã bị thu hẹp dần Cụ thể từ năm 1971 lại nay chỉ còn xấp xỉ 59% so với trớc năm 1945

Từ sau Tổng tuyển cử 6/1/1946, cùng với các phủ, huyện trong tỉnh, Hng Nguyên thực hiện việc sát nhập các làng, xóm, thôn sống gần nhau thành các

đơn vị hành chính mới là “xã” (trớc đây một vài địa danh đã gọi là xã nhng không phải là một đơn vị hành chính, không có bộ máy lãnh đạo và con dấu) Tên mỗi xã do các xã tự đặt theo đặc điểm hoặc ý nguyện riêng từng xã, không

Trang 28

theo quy tắc, quy ớc chung nào Tên các làng, xóm trong mỗi xã đợc thay thế bằng tên xóm hoặc chòm đánh theo thứ tự số đếm.

Từ tháng 7/1947, các xã đợc thành lập lần thứ nhất này lại đợc nhập thành những đơn vị hành chính lớn hơn cũng gọi là “xã” Tên xã lần này phải theo quy ớc chung có từ “Hng” đứng đầu Hng Nguyên từ 30 xã lúc đầu nay nhập thành 8 xã lớn Còn 3 xã giữ nguyên tên gọi thì tách khỏi Hng Nguyên Theo hồ sơ lu tại UBND tỉnh Nghệ An thì Sắc lệnh số 72 SL ngày 21/2/1949 đã quyết

định tách xã Hải Vân (Hng Nguyên) nhập về xã Tam Thái (Nghi Lộc), hợp xã Phúc Thịnh (Hng Nguyên) về Nam Đàn, xã Hải Nguyệt (Hng Nguyên) tách sang Nghi Lộc

8 xã lớn còn lại gồm:

Hng Phong (Đức Lộc, Vân Phong, Thái Hoà)

Hng Long (Phơng Linh, Long Cù, Phù Long, Hng Lam)

Hng Thịnh (Yên Xuân, Nghĩa Hng, Phợng Hoàng)

Hng Quang (Vĩnh Trờng, Vĩnh Khang, Kim Chính)

Hng Yên (Thiều Xuân, Tràng An, Xuân ái)

Hng Thông (Minh Tân, Trung Mậu, Thông Yên)

Hng Thành (Hng Cái, Thợng Xuân)

Hng Khánh (Mỹ Thành, Thành Lam, Hồng Xuân, Xuân Lộc)

Sang năm 1950, thành lập thêm xã Hng Đạo Thời gian này, do vùng đất Tràng Cát thuộc Nam Đàn nằm trọn trong Hng Nguyên nên đã có ý kiến đề xuất cắt về Hng Nguyên nhng không thuận nên thôi

Sau khi hoàn thành đợt phát động giảm tô, giảm tức, năm 1953, các đội công tác đã tiến hành sắp xếp lại tổ chức, chuẩn bị cho việc thực hiện Sắc lệnh cải cách ruộng đất của Đảng Huyện Hng Nguyên từ 9 xã lớn nay chia thành 30 xã nhỏ nh sau:

Xã Hng Long chia thành: Hng Lĩnh, Hng Long, Hng Xá, Hng Xuân, Hng Lam

Trang 29

Xã Hng Phong chia thành: Hng Yên, Hng Trung.

Khoảng đầu những năm 1950, ba xã Hng Thuỷ, Hng Bình, Hng Dũng đợc cắt nhập về thị xã Vinh Diện tích Hng Nguyên lại thu hẹp hơn Trải qua nhiều lần cắt nhập, đến đầu năm 1972, Hng Nguyên còn lại 23 xã Tên làng xã về cơ bản đợc giữ nguyên cho đến ngày nay

Vùng đất Hng Nguyên từ nhiều thế kỷ trớc đã là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của nhiều đời ở đây có lỵ sở Nghệ An Lam Thành – Phù Thạch

mà nh Nghệ An ký của Bùi Dơng Lịch đã chép: “Cây xanh nớc biếc, phố gần xôn xao tạo cho Lam Thành – Phù Thạch một phong cảnh nh vẽ, thật là nơi

đại danh thắng của Nghệ An" [22,130] Vùng đất này trải qua nhiều thay đổi

địa giới hành chính nay chỉ còn là một huyện có diện tích nhỏ nhng khá phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế

từ Đông sang Tây Dãy Thiên Nhẫn chạy dọc địa giới phía Tây từ Bắc đến Nam

Trang 30

Các dãy núi Đụn, núi Thung, núi Đại, Ngũ Liên Châu nằm san sát đầu phía…Tây Bắc cùng với hàng trăm núi con xếp trùng điệp dới chân Đại Huệ và Thiên Nhẫn nh những đàn voi, ngựa rong ruổi khắp bức tờng thành, che chắn, bảo vệ cho vùng đất thân yêu” [5,8-9]

Trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, cùng với sự đổi thay về tổ chức hành chính của đất nớc, huyện Nam Đàn ngày nay đã nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi

Thời vua Hùng, đây là trung tâm của bộ Thờng, nớc Văn Lang Dới thời cai trị của nhà Hán nằm trong đất của Cửu Đức Đời Đờng, vùng Nhạn Tháp (nay thuộc Hồng Long) là trị sở Hoan Châu thuộc An Nam đô hộ phủ của chúng, có lần gọi là Vạn An Đời Tiền Lê lại gọi là Hoan Đờng Đời Trần, đời

Hồ lại gọi là Thạch Đờng Thời thuộc Minh cũng thế, thời Lê mới gọi là Nam

Đờng

Cuối thế kỷ XV, thời vua Lê Thánh Tông, vùng Thịnh Lạc (xã Hùng Tiến)

là trị sở phủ Anh Đô của Thừa tuyên Nghệ An Huyện Nam Đàn là một trong hai huyện của phủ Anh Đô nằm ở tả ngạn sông Lam, có địa giới từ Rạng (giáp

Đô Lơng) đến xã Tràng Cát (giáp Hng Nguyên) Năm 1886, vì tránh tên huý của vua Đồng Khánh, huyện Nam Đờng đổi thành huyện Nam Đàn

Đời vua Duy Tân (năm 1911), hai huyện Nam Đàn và Thanh Chơng có sự thay đổi địa giới Tổng Nam Hoa (sau đổi là Nam Kim) vốn thuộc Thanh Chơng

ở hữu ngạn sông Lam đợc cắt về huyện Nam Đàn Còn hai tổng Xuân Lâm và

Đại Đồng của huyện Nam Đàn ở tả ngạn sông Lam sát nhập vào huyện Thanh Chơng Kể từ đó đến cuối thời Nguyễn, huyện Nam Đàn gồm 4 tổng: Nam Kim, Nam Thịnh, Xuân Liễu, Xuân Khoa Lãnh thổ này của huyện Nam Đàn giữ nguyên cho đến ngày nay

Vào cuối đời Thành Thái và suốt đời Duy Tân, do triều đình có đề cập đến việc xác minh số ruộng đất công ở các địa phơng, vấn đề công điền, công thổ nổ

ra và lây lan nhiều nơi Trớc hết là sự tranh chấp giữa những làng tiếp giáp

Trang 31

nhau, do địa giới có chỗ cha rõ, do sự quyết định thay đổi địa giới từ bên trên hoặc do còn có sự bồi lở bờ sông giữa hai, ba làng.

Thời kỳ Pháp thuộc, chúng đã tổ chức bộ máy chính quyền cai trị nhiều tầng, nhiều lớp, áp dụng các phơng thức, các luật lệ hỗn hợp giữa chế độ cai trị thực dân hiện đại với chế độ cai trị phong kiến lạc hậu để áp bức bóc lột nhân dân “Thông qua bộ máy chính quyền đó, thực dân Pháp đã trói buộc, kìm hãm

và biến nhân dân ta thành nô lệ, phục vụ cho mọi nhu cầu của chúng” [4,31].Sau Cách mạng tháng Tám, Nghệ An bỏ cấp tổng - cấp chính quyền trung gian giữa xã và huyện, hợp nhất một số làng xã nhỏ trớc đây thành các xã mới Thực hiện chủ trơng này, Nam Đàn bỏ cấp tổng, sắp xếp các đơn vị hành chính làng xã thành 18 xã mới: Xuân Lạc, Lạc Hồng, Thanh Thuỷ, Tự Trì, Đồng Xuân, Vân Diên, Hùng Nhẫn, Minh Tân, Vạn Thọ, Khánh Sơn, Nam Kim, Tân Hợp, Nam Cờng, Xuân La, Hữu Biệt, Tràng Cát, Lâm Thịnh, Chung Cự với dân

số 81000 ngời

Để phù hợp với tình hình mới, năm 1947, huyện sắp xếp lại các tổ chức từ huyện đến xã, từ 18 xã sắp xếp lại thành 11 xã mới Trừ 4 xã vẫn giữ nguyên tên

cũ là Đồng Xuân, Hùng Nhẫn, Tràng Cát, Xuân Lạc ra còn 14 xã khác đợc sát nhập thành 7 xã mới là: Thanh Vân (Thanh Thuỷ và Vân Diên); Hùng Tiến (Lạc Hồng và Tự Trì); Vạn Tân (Vạn Thọ và Vinh Tân); Nam Liên (Hữu Biệt và Chung Cự); Nam Hng (Nam Kim và Nam Cờng); Xuân Lâm (Xuân La và Lâm Thịnh); Khánh Sơn (Khánh Sơn và Tân Hợp) Trong lần tổ chức này một số thôn xóm của Nam Đàn bị cắt sang Thanh Chơng và một số thôn xóm của Hng Nguyên lại đợc sát nhập vào huyện Nam Đàn

Tháng 1/1952, Bộ nội vụ cử hai đoàn cán bộ về Nam Đàn và Can Lộc (Hà Tĩnh) chỉ đạo việc củng cố tổ chức, chuẩn bị thực hiện chính sách mới của

Đảng Tháng 3/1952, việc củng cố tổ chức đợc mở rộng ra toàn huyện Từ 11 xã, huyện, Nam Đàn đợc tổ chức lại thành 20 xã Trừ 4 xã Đồng Xuân, Hùng Nhẫn, Tràng Cát, Vạn Tân vẫn giữ nguyên còn 9 xã khác đợc chia thành 16 xã

Trang 32

Xuân Lạc chia thành Xuân Yên và Xuân Sơn.

Thanh Vân chia thành Nam Thanh và Nam Vân

Hùng Tiến chia thành Hùng Thịnh và Đông Tiến

Xuân Lâm chia thành Xuân Tiến và Xuân Lâm

Nam Liên chia thành Nam Liên và Đông Liên

Khánh Sơn chia thành Nam Sơn và Nam Trung

Nam Hng chia thành Nam Thịnh, Nam Phong và Nam Thắng

Thời gian này Nam Đàn thành lập thêm xã mới là Diễn Hồng

Sau khi hoàn thành đợt phát động giảm tô, giảm tức, năm 1953, các đội công tác tiến hành sắp xếp lại tổ chức, chuẩn bị thực hiện cải cách ruộng đất Huyện Nam Đàn từ 20 xã nay lại chia ra thành 34 xã (kể cả thị trấn) đều lấy chữ

đầu tên huyện làm chữ đầu tên xã mới: Nam Thái, Nam Thợng, Nam Thanh, Nam Anh, Nam Vân, Nam Diên, Nam Tân, Nam Lộc, Nam Hoà, Nam Yên, Nam Xuân, Nam Lĩnh, Nam Lạc, Nam Hùng, Nam Tiến, Nam Liên, Nam Chung, Nam Giang, Nam Cát, Nam Lâm, Nam Quang, Nam Mỹ, Nam Long, Nam Hồng, Nam Đông, Nam Hoành, Nam Sơn, Nam Trung, Nam Dơng, Nam Phong, Nam Phúc, Nam Thịnh, Nam Thắng Cách đặt tên này tuy tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý nhng lại làm mất đi một số tên gọi truyền thống cũ

Năm 1969, Nam Đàn sát nhập thành 24 xã: Nam Hng, Nam Thái, Nam Thanh, Vân Diên, Thị trấn, Hùng Tiến, Hồng Long, Xuân Lâm, Nam Cát, Nam Gian, Kim Liên, Xuân Lâm, Nam Lĩnh, Xuân Hoà, Nam Anh, Nam Xuân, Nam Thợng, Nam Tân, Nam Lộc, Khánh Sơn, Nam Trung, Nam Phúc, Nam Kim, Nam Cờng, Nam Nghĩa Địa giới hành chính này đợc giữ nguyên cho tới năm 1975

Nh vậy từ năm 1945 – 1975, tình hình địa giới hành chính Nam Đàn liên tục thay đổi Ngày 21/7/1969, Bác Hồ gửi th cho Đảng bộ và nhân dân Nghệ An

“Biểu dơng khen ngợi thành tích của cán bộ, Đảng viên và nhân dân tỉnh nhà giành đợc trong sản xuất và chiến đấu Bác cũng nêu rõ vị trí, trách nhiệm và h-

Trang 33

ớng đi lên của Nghệ An Nghệ An là một tỉnh lớn có tài nguyên phong phú, có nhân dân cần cù lao động và rất cách mạng Rất mong đồng bào, đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau chóng trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” [5,90] Nh đợc tiếp thêm sức mạnh tinh thần, nhân dân Nghệ An nói chung và nhân dân Nam Đàn nói riêng càng ra sức phấn đấu xây dựng quê hơng ngày một lớn mạnh.

Huyện Nghi Lộc

Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sát phía bắc thành phố Vinh Vùng đất này có sông Lam, sông Cấm, kênh nhà Lê chảy qua

Cũng nh các huyện đồng bằng ven biển khác của tỉnh, từ thuở các vua Hùng dựng nớc, trên địa bàn huyện Nghi Lộc ngày nay đã có c dân ngời Việt sinh sống Thuở ấy, đây là lãnh thổ của bộ Việt Thờng thuộc nhà nớc Văn Lang

- Âu Lạc Theo một số nhà nghiên cứu thì “tơng truyền Thục An Dơng Vơng đã

có qua lại vùng này” [6,8] Qua hàng ngàn năm cai trị của các tập đoàn phong kiến phơng Bắc và các triều đại Việt Nam, cũng nh các địa phơng khác trong cả nớc, địa giới và tên gọi quận, huyện ở vùng đất Nghi Lộc đã nhiều lần thay

đổi

Đời Ngô gồm cả huyện Nghi Xuân gọi là huyện Dơng Thành, đời Tấn đổi làm Dơng Toại, nhà Đờng gọi là Phố Dơng Đời Trần tách phần Hà Tĩnh đặt làm huyện Nha Nghi, phần còn lại đặt là Chân Phúc Đời Tây Sơn đổi gọi là Chân Lộc Mãi tới năm 1889, vua Thành Thái mới đổi tên huyện làm huyện Nghi Lộc 10 năm sau, địa giới giữa phủ Hng Nguyên và huyện Nghi Lộc đợc

điều chỉnh Tổng Vân Trình phía Tây sông Cấm trớc thuộc phủ Hng Nguyên nay cắt sang Nghi Lộc Tổng Yên Trờng phía Bắc Vinh – Bến Thuỷ trớc thuộc huyện Nghi Lộc nay cắt sang phủ Hng Nguyên Tách các làng, xã phía Đông

Trang 34

Bắc sông Cấm lập ra tổng La Vân Địa giới này của huyện đợc giữ nguyên cho

đến trớc ngày Cách mạng tháng Tám thành công

Khi thực dân Pháp cai trị ở đây thì chế độ chính trị tơng đối giống với Nam

Đàn Dới huyện có cấp trung gian là tổng Nghi Lộc thời Pháp thuộc chia làm 5 tổng Mỗi tổng có một chánh tổng và phó tổng phụ trách: La Vân, Thợng Xá,

Đặng Xá, Kim Nguyên, Vân Trình Tên gọi hành chính thời kỳ ấy không thống nhất Nơi gọi xã, nơi gọi làng, nơi gọi thôn Quy mô từng đơn vị không căn cứ vào địa d mà căn cứ vào nhân đinh, tức là nam giới từ 18 tuổi trở lên

Sau Cách mạng tháng Tám, thực hiện Sắc lệnh của Chính phủ và Nghị quyết hội nghị đầu tiên của HĐND tỉnh Nghệ An, huyện uỷ Nghi Lộc đã lãnh

đạo sắp xếp lại tổ chức chính quyền trong huyện Theo đó, cấp tổng bị bãi bỏ

Từ 79 đơn vị hành chính xã, thôn, làng nay sát nhập lại thành 24 xã với dân số

44315 ngời (Hồ sơ lu tại phòng lu trữ UBND tỉnh Nghệ An): La Vân, La Nham,

Đông Hải, Lữ Lĩnh, Nguyên Xá, Long Châu, Hiểu Hạp, Thuận Hợp, Thịnh ờng, Hợp Thái, Ng Phong, Hải Yến, Vạn Xuân, Kim Trờng, Kim Phúc, Phan Xuân, Kim Lộc, Kim Khê, Vọng Nhi, Thần Sơn, Vạn Hoà, Mỹ Thạch, Lam Kiều và Văn Yên

Tr-Tháng 4/1947, giặc Pháp lại nhòm ngó Nghi Lộc Lúc này, bộ máy hành chính đợc sắp xếp gọn nhẹ để phù hợp với yêu cầu kháng chiến Nghi Lộc từ 24 xã lại đợc tổ chức thành 13 xã với tên gọi nh sau:

Yên Sơn gồm La Vân, La Nham

Đông Hải giữ nguyên

Xá Lĩnh gồm Nguyên Xá, Lữ Lĩnh

Hợp Châu gồm Thuận Hợp, Hiếu Hạp, Long Châu

Thịnh Trờng giữ nguyên

Ng Hải gồm Ng Phong, Hợp Thái

Xuân Hải gồm Vạn Xuân, Hải Yến

Trờng Xuân (sau đổi là Xuân Lộc) gồm Kim Trờng, Phan Xuân

Phúc Lộc gồm Kim Phúc, Kim Lộc

Trang 35

Sau chiến thắng lẫy lừng ở Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng bớc vào công cuộc xây dựng CNXH Từ các đơn vị hành chính kháng chiến, nay Nghi Lộc lại tổ chức thành các đơn vị hành chính nh trớc Cả huyện chia thành 38 xã mới, thống nhất lấy chữ đầu tên huyện làm chữ đầu tên xã cho thuận tiện trong quản lý:

Xã Yên Sơn đổi thành Nghi Yên

Đông Hải chia thành 2 xã: Nghi Tiến và Nghi Thiết

Hợp Châu chia thành 6 xã: Nghi Tân, Nghi Thuỷ, Nghi Thu, Nghi Khánh, Nghi Hơng, Nghi Thạch

Xá Lĩnh chia thành 3 xã: Nghi Xá, Nghi Hợp, Nghi Quang

Thịnh Trờng chia thành 2 xã: Nghi Trờng, Nghi Thịnh

Ng Hải chia thành 3 xã: Nghi Hải, Nghi Hoà, Nghi Xuân

Xuân Hải chia thành 3 xã: Nghi Phúc, Nghi Thái, Nghi Thọ

Xuân Lộc chia thành 4 xã: Nghi Ân, Nghi Đức, Nghi Phú, Nghi Kim

Phúc Lộc chia thành 4 xã: Nghi Liên, Nghi Trung, Nghi Vạn, Nghi Diên.Thuận Hoà chia thành 3 xã: Nghi Long, Nghi Thuận, Nghi Hoa

Thần Lĩnh chia thành 2 xã: Nghi Phơng, Nghi Hơng

Phúc Hoà chia thành 3 xã: Nghi Công, Nghi Mỹ, Nghi Kiều

Tam Thái chia thành 2 xã: Nghi Lâm, Nghi Văn

Trang 36

Địa giới hành chính các xã đợc giữ nguyên đến khi tách riêng thành lập thị xã Cửa Lò thì mới có biến động Trong thời gian đó, năm 1969 thì huyện Nghi Lộc

đã quyết định sát nhập 2 xã Nghi Phúc và Nghi Thọ thành xã Phúc Thọ

Sống trên mảnh đất có địa lý, địa hình, khí hậu đa dạng phức tạp, không

đ-ợc thiên nhiên u đãi, lại nằm ở vị trí chiến lđ-ợc quốc phòng trọng yếu, cửa ngõ phía Tây của thành phố Vinh, từ thuở xa xa nhân dân Nghi Lộc đã phải chống chọi ác liệt với hai kẻ thù thiên tai và địch họa để không ngừng phát triển, duy trì sự sống của mình Nhân dân Nghi Lộc cần cù, chịu khó, bám ruộng, bám v-

ờn, bám biển đang ngày càng sung túc và giàu có trên chính mảnh đất cằn cỗi này

Huyện Diễn Châu

Diễn Châu là huyện đồng bằng ven biển phía Đông Bắc tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, ở đây lại có đủ dạng địa hình đồi núi, đồng bằng và ven biển Vùng đồi núi tơng đối dốc, dễ bị rửa trôi xói mòn mạnh, nhiều nơi trở thành đất trơ sỏi đá Vùng đồng bằng địa hình tơng đối bằng phẳng, thấp dần theo hình lòng chảo Vùng ven biển chạy dọc theo chiều dài huyện, là địa bàn dễ chịu tác động của triều cờng khi ma bão ập đến Diễn Châu tuy không có nhiều khoáng sản nhng

đợc thiên nhiên u đãi cho bờ biển tốt, là cơ sở quan trọng để kinh doanh kinh tế biển “Huyện Diễn Châu ngày nay là một trong những vùng đất ngàn năm của

Tổ quốc Việt Nam anh hùng Căn cứ vào các th tịch cổ, tên gọi và địa phận vùng đất này đã có nhiều thay đổi” [1,25]

Theo các nguồn t liệu để lại, thời Văn Lang, Diễn Châu thuộc bộ Việt ờng, bao gồm hầu hết phần đất phía Bắc và Tây Bắc Nghệ An ngày nay Đời Hán là đất của huyện Hàm Hoan, đời Ngô là đất của quận Cửu Đức, đời nhà L-

Th-ơng là Đức Châu quận, đời nhà Tuỳ là quận Nhật Nam, đời Đờng là đất Hoan Châu Năm 679, nhà Đờng lấy huyện Hàm Hoan trong Hoan Châu đặt là Diễn Châu Từ đó, Diễn Châu là 1 trong 12 châu của An Nam đô hộ phủ ngang với Hoan Châu bao gồm huyện Trung Nghĩa, Long Trì, Tứ Nông và Vũ Dung Bấy

Trang 37

giờ, trị sự của Diễn Châu đặt tại Quy Lăng (nay thuộc xã Lăng Thành, huyện Yên Thành) Diễn Châu lúc đó bao gồm cả Diễn, Yên, Quỳnh kéo dài đến hết Quỳ Châu cũ, giáp Lào.

Trong buổi đầu độc lập, dới triều đại Khúc (905-907), Ngô (939-965),

Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009), Lý (1010-1225), Diễn Châu là một đơn vị hành chính riêng biệt Năm Long Khánh thứ 2 (1374), Trần Duệ Tông đổi Diễn Châu là Diễn Châu lộ Đến năm Quang Thái thứ 10 (1397) đổi thành trấn Vọng Giang Đầu thế kỷ XV, Hồ Hán Thơng lại đổi thành phủ Linh Nguyên, gồm huyện Phù Dung, Thiên Đồng (Phù Dung sau đổi là Thổ Thành, thời Minh gọi

là Đông Ngàn, còn Thiên Đồng sau nhập vào Thổ Thành), Phù Lu, Quỳnh Lâm

và Trà Thanh

Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lập nên vơng triều Lê sơ Lê Lợi đã tổ chức lại đất nớc chia cả nớc thành 5 đạo:

Đông, Tây, Nam, Bắc và đạo Hải Tây Đạo Hải Tây gồm phần đất từ Thanh Hoá

đến Thuận Hoá Diễn Châu thuộc đạo này Thời vua Lê Thánh Tông, Hoan Châu và Diễn Châu đợc sát nhập thành Thừa tuyên Nghệ An Diễn Châu lúc này gồm hai huyện Quỳnh Lu và Đông Thành Lỵ sở Diễn Châu từ Quy Lăng chuyển về Đông Lũy (xã Diễn Hồng ngày nay) Huyện Đông Thành gồm Diễn Châu, Yên Thành và một phần đất của huyện Nghĩa Đàn ngày nay

Đến thời Tây Sơn, Diễn Châu thuộc trấn Nghệ An Lỵ sở chuyển về Tiên

Lý (nay là xã Diễn Ngọc) Diễn Châu lúc này vẫn gồm hai huyện Đông Thành

và Quỳnh Lu

Thời nhà Nguyễn, năm 1837, vua Minh Mạng chia Đông Thành theo chiều

Đông Tây thành 2 huyện Đông Thành và Yên Thành Đến năm 1898, năm Thành Thái thứ 10, chính quyền thực dân Pháp và nhà Nguyễn thấy chia nh vậy không tiện, mới lại chia theo chiều Bắc Nam, huyện Đông thành phía Đông, huyện Yên Thành phía Tây, cả hai đều thuộc phủ Diễn Châu Sự phân chia khu vực hành chính này đợc duy trì suốt thời Pháp thuộc Năm 1919, chính quyền

Trang 38

Diễn Châu Gọi là phủ nhng chỉ tơng đơng nh một huyện mà thôi Quy mô phủ Diễn Châu giữ nguyên nh thế cho đến khi cách mạng nổ ra và giành thắng lợi.Sau cách mạng, các ranh giới hành chính trong cả nớc đợc điều chỉnh cho phù hợp Nhà nớc quy định đổi phủ sang huyện Phủ Diễn Châu đợc gọi là huyện Diễn Châu Thời kỳ này, phần đất phía Bắc của tổng Hoàng Trờng (thuộc Diễn Châu) cắt về huyện Quỳnh Lu Phần còn lại của huyện Đông Thành là huyện Diễn Châu.

Từ năm 1947 – 1954, trong cả nớc các cấp chính quyền địa phơng đều tiến hành tách nhập các xã, huyện để phù hợp với yêu cầu thực tiễn Huyện Diễn Châu cũng nh thế Theo hồ sơ lu tại UBND tỉnh thì giai đoạn này Diễn Châu có 30 xã với dân số 65442 ngời Đó là các xã: Chí Minh, Gia Đông, Duy Tân, Dao Hạnh, Dao Viên, Đông Hoa, Mỹ Đức, Đồng Tâm, Giang Đông, Tam Dân, Hạnh Viên, Hồng Linh, Hồng Phong, Huỳnh Đơng, Minh Đức, Song Tân, Yên Mỹ, Nho Lâm, Phú Hoa, Phơng Lịch, Quang Trung, Tân Sơn, Tân Đông, Tân Hoa, Thái Hoa, Trung Hậu, Xuân Long, Xuân Tiến, Hợp Tiến, Vạn Kim

Từ 30 xã năm 1949, đến năm 1952, Diễn Châu lại chia thành 41 xã và cắt một số làng sang huyện Quỳnh Lu 41 xã đó đều lấy chữ đầu tên huyện làm chữ

đầu tên xã: Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Tiến, Diễn Thành, Diễn Tân, Diễn Phúc, Diễn Phú, Diễn Thọ, Diễn Lộc, Diễn Nguyên, Diễn Thái, Diễn Đồng, Diễn Thắng, Diễn Bình, Diễn Minh, Diễn Cát, Diễn Lợi, Diễn Quảng, Diễn Hạnh, Diễn Hoa, Diễn Viên, Diễn Xuân, Diễn Liên, Diễn Tháp, Diễn Kỷ, Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Thuỷ, Diễn Kim, Diễn Vạn, Diễn Hải, Diễn Phong, Diễn Hồng, Diễn Yên, Diễn Mỹ, Diễn Hùng, Diễn Hoàng, Diễn Trờng, Diễn Đoài, Diễn Lâm, Diễn Quỳnh

Có thể thấy Diễn Châu là một huyện rộng so với các huyện đồng bằng khác Có lịch sử lâu đời, qua nhiều lần thay đổi duyên cách địa lý, đến những năm 1950 của thế kỷ XX, địa giới hành chính Diễn Châu đã tơng đối ổn định, sau này chỉ thay đổi ít

Trang 39

Diễn Châu là mảnh đất văn hiến, có danh thắng lèn Hai Vai, có đền Cuông khá nổi tiếng Mảnh đất này là quê hơng của nhiều ngời đỗ khoa bảng nh học giả Cao Xuân Dục Đây cũng là quê hơng của tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, lãnh tụ phong trào Cần Vơng ở Nghệ An Nhân dân Diễn Châu chung lng đấu cật để tranh đoạt với thiên nhiên, chống chọi mọi lực lợng hắc ám trong xã hội làm nên huyện Diễn Châu trù mật, để lại cho Diễn Châu một lịch sử vẻ vang, một gia tài văn hoá phong phú “Ngời Diễn Châu ngẩng đầu thấy Hai Vai, cúi đầu ngó thấy bóng mình trong sông Bùng Nếu nh sông Lam, núi Hồng tợng trng cho tinh thần, khí chất con ngời xứ Nghệ thì Hai Vai, sông Bùng tợng trng cho tinh thần vừa cứng cỏi vừa thơ mộng của ngời Diễn Châu” [1,33].

có vị trí quan trọng về quốc phòng vì nó nằm vào thế nam Thanh bắc Nghệ, có các tuyến giao thông chiến lợc, là bàn đạp ra Bắc, vào Nam, lên miền Tây Đây

là một vùng đất cổ có c dân sinh sống lâu đời Bằng chứng là di chỉ Khảo cổ học Quỳnh Văn Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, nhân dân Quỳnh Lu đã cùng nhân dân cả nớc đứng lên chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng đất nớc và lập nên nhiều chiến công hiển hách

Xa cũng nh Diễn Châu Đời Trần, Hồ là đất thuộc hai huyện Phù Lu và Quỳnh Lâm Thời thuộc Minh là đất của 3 huyện Phù Lu, Quỳnh Lâm và Trà Thanh Đầu đời Lê cũng nh vậy

Năm Quang Thuận thứ 10, vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nớc để thống thuộc các phủ, huyện vào các Thừa tuyên, mới hợp cả Diễn Châu và Nghệ

An làm một gọi là Nghệ An Thừa tuyên Từ năm 1469, Diễn Châu chỉ là một

Trang 40

và Diễn Châu ngày nay), Quỳnh Lu (tức Quỳnh Lu và Nghĩa Đàn ngày nay) Cái tên Quỳnh Lu có từ ngày đó.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), đặt ra 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh độc lập nhau Quỳnh Lu thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An Năm Minh Mạng thứ

21 (1840), trích 7 tổng phía Tây của Quỳnh Lu lập ra huyện Nghĩa Đờng (năm

1886 đổi là Nghĩa Đàn) Bốn tổng còn lại ở phía Đông gồm Phú Hậu, Thanh Viên, Quỳnh Lâm và Hoàng Mai gọi là huyện Quỳnh Lu lệ vào phủ Diễn Châu.Năm 1919, Quỳnh Lu trở thành một huyện độc lập của tỉnh Nghệ An, không còn là huyện cấp dới của Diễn Châu nh trớc đây Thoát khỏi ách xiềng xích của thực dân Pháp thống trị nhân dân ta trở thành những chủ nhân của đất nớc, có quyền quyết định mọi việc trên mảnh đất của mình Chính phủ Việt Nam DCCH đã đổi các phủ sang huyện và bỏ cấp tổng, đồng thời có điều chỉnh

Nhận thấy bộ máy hành chính khá cồng kềnh không phù hợp với thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lợc lần thứ 2 nên Đảng và Chính phủ đã chủ trơng hợp các xã gần nhau, có điều kiện tự nhiên, sinh thái, dân c kinh tế – xã hội tơng đối giống nhau làm một Thực hiện chủ trơng đó, các huyện trong tỉnh ta đều tiến hành việc hợp nhất Quá trình này diễn ra trong hai năm 1948-

1949 Cụ thể nh:

Năm 1949, nhập Sơn Quỳnh và Văn Hoa thành Quỳnh Mai

Ngày 7/6/1949, nhập Ngọc Long và Thuận Hoá thành Quỳnh Tân

Ngày 28/5/1949, nhập Tân An, Quý Hoà, Quỳnh Châu thành xã Quỳnh Chi

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu (2005), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu (1930-2005), Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu (1930-2005)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Diễn Châu
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2005
2. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Đô Lơng (2005), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Đô Lơng (1930-1963), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện "Đô Lơng (1930-1963)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Đô Lơng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
3. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Hng Nguyên (2006), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Hng Nguyên (1945-2005), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Hng Nguyên (1945-2005)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Hng Nguyên
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2006
4. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn (1990), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 1990
5. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn (2000), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn (1945-2000), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn (1945-2000)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nam Đàn
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
6. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghi Lộc (1991), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghi Lộc (từ 1945 về trớc), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghi Lộc (từ 1945 về trớc
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghi Lộc
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1991
7. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong (2003), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong, (1963-2002), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong, (1963-2002)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Quế Phong
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
8. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ (2008), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ (1963-2005), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ (1963-2005)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Tân Kỳ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2008
9. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng (2005), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng (1930-1975), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng (1930-1975)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Thanh Chơng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
10. BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Yên Thành (1990), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Yên Thành, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Yên Thành
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN huyện Yên Thành
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1990
11. BCH Đảng bộ ĐCSVN Thành Phố Vinh (2000), sự kiện lịch sử Đảng bộ ĐCSVN Thành phố Vinh), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: sự kiện lịch sử Đảng bộ "ĐCSVN Thành phố Vinh)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN Thành Phố Vinh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
12. BCH Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghệ An (1930-1945), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN huyện Nghệ An (1930-1945)
Tác giả: BCH Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh (1987), Lịch sử Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Nghệ Tĩnh (1925-1954), Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Đảng bộ "ĐCSVN tỉnh Nghệ Tĩnh (1925-1954)
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NxbNghệ Tĩnh
Năm: 1987
14. Phan Huy Chú (1952), Lịch triều hiến chơng loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1952
15. Cao Xuân Dục, Lu Đức Xứng, Trần Xán (Soạn giả), (1965), Đại Nam nhất thống chí, quyển thứ XIV (Tỉnh Nghệ An), Nxb Văn Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Cao Xuân Dục, Lu Đức Xứng, Trần Xán (Soạn giả)
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 1965
16. Trần Kim Đôn (2004), Địa lý các huyện, thành phố thuộc tỉnh Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các huyện, thành phố thuộc tỉnh Nghệ An
Tác giả: Trần Kim Đôn
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
17. Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Tơng Dơng, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Địa chí huyện Tơng Dơng
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
18. Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Quỳ Hợp, Nxb Nghệ An 19. Ninh Viết Giao (2007), Về văn hoá xứ nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí huyện Quỳ Hợp," Nxb Nghệ An19. Ninh Viết Giao (2007"), Về văn hoá xứ nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Quỳ Hợp, Nxb Nghệ An 19. Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An19. Ninh Viết Giao (2007")
Năm: 2007
20. Nguyễn Quang Hồng (2003), Thành phố Vinh hình thành và phát triển, NXb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Vinh hình thành và phát triển
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Năm: 2003
21. Đào Đăng Hy, Địa lý Nghệ An, tài liệu lu trữ tại th viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý Nghệ An

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w