1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nho sĩ thanh chương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước từ năm 1802 đến năm 1919

63 968 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nho sĩ thanh chương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước từ năm 1802 đến năm 1919
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Thể loại khóa luận
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua khoá luận tác giả giới thiệu với bạn đọc những tấm gơng cụ thể: Trần Tấn, Đặng Nh Mai, Đinh Nhật Thận, Đặng Nguyên Cẩn, ĐặngThúc Hứa…Hay khi phong trào Cần V Nhằm làm bật lên m

Trang 1

Chơng 1: Khái quát điều kiện hình thành truyền thống yêu

n-ớc và khoa bảng của nhân dân Thanh Chơng. 8

Chơng 2: Đóng góp của nho sĩ Thanh Chơng, trong sự nghiệp

xây dựng quê hơng, Đất nớc từ năm 1802 đến năm 1919. 16

2.1 Nho sĩ Thanh Chơng tiếp bớc truyền thống khoa cử của cha anh 162.2 Nho sĩ Thanh Chơng trong sự nghiệp chính trị, văn hoá, t tởng 23

3.4 Nho sĩ Thanh Chơng trong phong trào dân tộc đầu thế kỷ XX 60 3.4.1 Nho sĩ Thanh Chơng với phong trào Đông Du 60 3.4.2 Nho sĩ Thanh Chơng với phong trào xuất dơng trong

Trang 3

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Thanh Chơng là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam tỉnh Nghệ

An Đây là vùng đất mang trong mình truyền thống văn hoá lâu đời của dântộc Việt Nam Truyền thống ấy đã và đang đợc nhân dân Thanh Chơng gìngiữ từ đời này sang đời khác Trong suốt tiến trình phát triển của dân tộc,nhân dân Thanh Chơng đã đem hết sức mình góp phần xây dựng và bảo vệquê hơng đất nớc, trong đó có tầng lớp trí thức nho sĩ luôn là lực lợng đi

đầu

Nho sĩ Thanh Chơng không chỉ nổi tiếng về thông minh mà còn nổi

tiếng về tinh thần hiếu học ,“hiếu học”, ”, khổ học ,“hiếu học”, ”, nơi đây đã cống hiến cho đất nớcnhiều nhân tài Không những vậy, nho sĩ Thanh Chơng còn mang trongmình tình yêu quê hơng đất nớc tha thiết, nồng nàn, sẵn sàng xông pha trậnmạc đánh đuổi quân thù xâm lợc, giữ yên bờ cõi Khi thực dân Pháp xâm l-

ợc nớc ta, sĩ tử Thanh Chơng đã sát cánh cùng với sĩ phu và nhân dân cả

n-ớc đánh đuổi thực dân xâm lợc, bảo vệ nền độc lập dân tộc, tiêu biểu làcuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) dới ngọn cờ của các sĩ phu nh Trần Tấn,

Đặng Quang Vinh, Trần Hớng, …Hay khi phong trào Cần VHay khi phong trào Cần Vơng bùng nổthì nhân dân Thanh Chơng dới sự lãnh đạo của các sĩ phu đã đứng lên hởngứng mạnh mẽ

Tìm hiểu những hoạt động của tầng lớp nho sĩ Thanh Chơng

1802-1919 Nhằm thấy rõ hơn về những đóng góp của họ trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ quê hơng đất nớc, thấy đợc vai trò tổ chức và lãnh đạokháng chiến, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của họ là việc làmhết sức có ý nghĩa và đúng đắn

Thông qua khoá luận tác giả giới thiệu với bạn đọc những tấm gơng

cụ thể: Trần Tấn, Đặng Nh Mai, Đinh Nhật Thận, Đặng Nguyên Cẩn, ĐặngThúc Hứa…Hay khi phong trào Cần V Nhằm làm bật lên một Thanh Chơng - vùng đất Địa linh“hiếu học”,

gan góc với những nho sĩ tiêu biểu hết lòng vì dân vì nớc, luôn đứng về phíanhân dân chống lại sự xâm lợc của thực dân Bên cạnh đó, đây còn là t liệugiúp ích cho việc giáo dục truyền thống yêu nớc của địa phơng, của dân tộc

Trang 4

1.2 Từ những mục đích trên cùng với niềm tự hào về quê hơng Thanh

Chơng, tôi mạnh dạn chon đề tài Nho sĩ Thanh Ch“hiếu học”, ơng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc từ năm 1802 đến năm 1919”, làm đề

tài khoá luận tốt nghiệp đại học

Viết về truyền thống hiếu học, khoa bảng có tác phẩm : Những Ông“hiếu học”,

Nghè, Ông Cống Triều Nguyễn”,(1995) của các tác giả Bùi Hạnh Cẩn,

Nguyễn Loan, Lan Phơng; Ngô Đức Thọ trong cuốn Khoa Bảng Việt“hiếu học”,

Nam”,(1991), hay Khoa Bảng Nghệ An“hiếu học”, ”,(1998) của Đào Tam Tĩnh, đặcbiệt là khóa luận tốt nghiệp của Phan Thị Hằng

Viết về truyền thống chống giặc ngoại xâm có: Ban chấp hành Đảng

bộ huyện Thanh Chơng Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Ch“hiếu học”, ơng”, NXB

Chính Trị Quốc Gia (2005), Thanh Ch“hiếu học”, ơng Đất Và Ngời”, NXB Nghệ An

(2005) .Đã phác hoạ vị trí của xứ Nghệ xa (Nghệ An _Hà Tĩnh) , luôn có

truyền thống hiếu học với các địa danh Ngọn Bút , Cồn Nghiên ,“hiếu học”, ”, “hiếu học”, ”, trong

đó đã ít nhiều đề cập đến mảnh đất Thanh Chơng nghèo khó mà cần cù,hiếu học và giàu lòng yêu nớc

Ngoài ra còn có nhiều cuốn sách viết về tiểu sử, giai thoại của cácnhà khoa bảng Việt Nam, những khoá luận tốt nghiệp của sinh viên ngành

sử, sách báo, tạp chí chuyên ngành Bên cạnh những đóng góp của cáccông trình này thì vẫn còn những hạn chế nh hầu hết các công trình cònmang tính đánh giá chung chung, tổng quan, cha có một công trình cụ thểnghiên cứu một cách có hệ thống về những đóng góp của riêng tầng lớp tríthức Nho sĩ Thanh Chơng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hơng,

đất nớc Từ đó đặt ra vấn đề cần hệ thống hoá và nghiên cứu một cách đầy

đủ về những đóng góp của tầng lớp nho sĩ Thanh Chơng trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc từ năm 1802 - 1919

Trang 5

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:

Địa giới hành chính của huyện Thanh Chơng qua các thời kì kịch sử

có nhiều thay đổi ( xem mục1.1) Tuy nhiên, khoá luận này chỉ đi vào tìmhiểu Thanh Chơng trong địa giới hiện nay, địa giới đó đã đợc ổn định từnăm 1907

Là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, Thanh Chơng là vùng đất

có bề dày truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nớc và cách mạng rất

đáng tự hào, nhng nổi bật hơn cả là truyền thống yêu nớc cách mạng Khoáluận này tập trung đi sâu tìm hiểu hai truyền thống quý báu đó, qua đó làm

rõ và khẳng định những đóng góp quan trọng của tầng lớp nho sĩ Thanh

Ch-ơng đối với quê hCh-ơng đất nớc

Giới hạn phạm vi đề tài đợc tính từ khi triều Nguyễn đợc thiết lập(1802) cho đến khi kết thúc chế độ khoa cử Nho học (1919) Nhng trongkhoá luận này có những chỗ vợt ra khỏi phạm vi giới hạn đó Bởi vì có một

số nhân vật và sự kiện mang ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình lịch sửcủa dân tộc nên tác giả thấy cần có sự mở rộng thêm để tiện đối chiếu, sosánh

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng những nguồn t liệu nh : Nghệ An ký“hiếu học”, ”, của Bùi Dơng

Lịch, Thanh Ch“hiếu học”, ơng đất và ngời”,của nhiều tác giả; Những ông nghè, ông“hiếu học”,

Ph-ơng; Khoa bảng Nghệ An“hiếu học”, ”, của Đào Tam Tĩnh; Lịch sử Đảng bộ huyện“hiếu học”,

Thanh Chơng”, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Chơng

Các tác phẩm có liên quan ở th viện tỉnh, th viện đại học Vinh …Hay khi phong trào Cần V vàqua tìm hiểu thực tế

Từ những nguồn t liệu đó, tôi đã sử dụng các phơng pháp chuyênngành là phơng pháp lịch sử nhằm khôi phục lại bức tranh quá khứ phơngpháp thống kê, so sánh, phơng pháp lô gíc để đối chiếu xử lí thông tin

5 Đóng góp của khoá luận:

Khoá luận trình bày một cách có hệ thống hoạt động và vai trò củatầng lớp nho sĩ Thanh Chơng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng

đất nớc, qua đó giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về đóng góp của nhândân Thanh Chơng đối với sự nghiệp chung của đất nớc, vừa rút ra đợcnhững đóng góp chủ yếu của các nho sĩ đối với quê hơng đất nớc mà các

Trang 6

công trình trớc đây cha có điều kiện làm sáng tỏ một cách đầy đủ Bên cạnh

đó những ngời con của quê hơng Thanh Chơng có thể tìm thấy ở khoá luậnnày tên tuổi của những nhà nho yêu nớc, từng lãnh đạo nhân dân đấu tranhbảo vệ độc lập dân tộc

Khoá luận này còn góp phần làm phong phú hơn lịch sử huyện ThanhChơng từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX Đây sẽ là nguồn tài liệu quantrọng giúp cho giáo viên các trờng PTTH và THCS biên soạn và giảng dạycác tiết học lịch sử địa phơng cho học sinh

6 Bố cục của khoá luận:

Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục, nội dung của khoá luận đợctrình bày trong ba chơng:

Chơng 1: Khái quát điều kiện hình thành truyền thống yêu nớc và khoa

Trang 7

Nội dung

Chơng 1: khái quát điều kiện hình thành

truyền thống yêu nớc và khoa bảng

của nhân dân Thanh Chơng.

1.1: Điều kiện địa lý-tự nhiên.

Huyện Thanh Chơng nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có diệntích 1.127,63km2, xếp thứ 5 trong 19 huyện, thành, thị trong tỉnh, ThanhChơng có vị trí địa lý từ 18034/ đến 18o55/ vĩ độ bắc, và từ104055/ đến

105o30/ kinh độ Đông; phía Bắc giáp huyện Đô Lơng và huyện Anh Sơn;phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Đông giáp huyện Nam Đàn; phía Tây vàTây Nam giáp huyện Anh Sơn và tỉnh Bôlykhămxay(nớc cộng hoà dân chủnhân dân Lào) với đờng biên giới quốc gia dài 53km [2,11]

Địa hình Thanh Chơng rất đa dạng Tính đa dạng này là kết quả củamột quá trình kiến tạo lâu dài và phức tạp Núi đồi trung du là địa hìnhchiếm phần lớn đất đai của huyện Núi non hùng vĩ nhất là dãy Giăng Màn

có đỉnh cao 1.026m, tạo thành giới tự nhiên với tỉnh Bôlykhămxay(Lào),tiếp đến là đỉnh Nác La cao 838m, đỉnh Vũ Trụ cao 987m, đỉnh Bè Noi cao509m, đỉnh Đại Can cao 528m, đỉnh Thác Muối cao 328m Núi đồi tầngtầng lớp lớp, tạo thành những cánh rừng trùng điệp Phía hữu ngạn SôngLam đồi núi xen kẽ, có dãy chạy dọc, có dãy chạy ngang, có dãy chạy ven

bờ sông, cắt xẻ địa bàn Thanh Chơng ra nhiều mảng, tạo nên những cánh

đồng nhỏ hẹp Chỉ có vùng Thanh Xuân, Võ Liệt, Thanh Liên là có nhữngcánh đồng tơng đối rộng Phía tả ngạn Sông Lam, suốt một dãi từ núi Cuồikéo xuống đến rú Dung, núi đồi liên tiếp nh bát úp, nổi lên có đỉnh CônVinh cao 188m, Rú Nguộc (Ngọc Sơn) cao 109m [1,11-12]

Cũng nh các miền núi khác trong tỉnh, vùng đất Thanh Chơng do khai thác lâu đời, bồi trúc kém nên đất đai trở nên cằn cỗi và ong hoánhanh, trừ vùng đất phù xa màu mỡ ven Sông Lam và Sông Giăng

Sông Lam (Tức Sông Cả) bắt nguồn từ Thợng Lào, chạy theo hớngTây Bắc- Đông Nam, qua các huyện Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông, Anh

Trang 8

Sơn, Đô Lơng, chảy dọc huyện Thanh Chơng, chia huyện ra hai vùng: hữungạn và tả ngạn Sông lam là một đờng giao thông thuỷ quan trọng Nó bồi

đắp phù xa màu mỡ ven sông, nhng về mùa ma nó trở nên hung dữ, thờnggây ngập úng ở vùng thấp Sông Lam còn có các phụ lu trong địa bànThanh Chơng nh: Sông Giăng, Sông Trai, Sông Rộ, Sông Nậy,Sông Triều vàSông Đa Cơng (Rào Gang)

Với hệ thống sông ngòi chằng chịt khắp huyện, ngoài tuyến đò dọc,

từ lâu đời, nhân dân còn mở hàng chục bến đò ngang, tạo điều kiện giaothông vận tải, giao lu giữa các vùng trong huyện

Do địa thế sông núi hiểm trở nên Thanh Chơng là một vị trí chiến lợcquan trọng về mặt quân sự Ngời đời xa đã đánh giá địa thế Thanh Chơng là

tứ tắc

“hiếu học”, ”,( tức ngăn lấp cả bốn mặt)

Núi non trùng điệp, sông nớc lợn quanh tạo cho Thanh Chơng dáng

vẻ thơ mộng, Sơn thuỷ hữu tình“hiếu học”, ”, đẹp nh một bức tranh thuỷ mặc Một

trong những cảnh đẹp tiêu biểu là Ngọc Sơn Sách “hiếu học”,ốc lậu thoại”, của Bùi

Dơng Lịch có bài thơ vịnh Ngọc Sơn (Núi Nguộc) nh sau:

(Đỗ Ngọc Toại dịch)

Trang 9

[29, 147-148]

Thanh Chơng nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ (nhiệt đớigió mùa) một năm có đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa Hè có giótây nam (gió Lào) rất nóng nực Mùa Thu thờng ma nhiều, kéo theo bão lụt.Mùa Đông và mùa Xuân có gió đông bắc rét buốt, gây khó khăn cho sảnxuất và sinh hoạt Mặc dù thời tiết khí hậu khắc nghiệt nh vậy, nhng vớitính cần cù, nhẫn nại, nhân dân Thanh Chơng đã tạo ra đợc những sản vật

đặc trng của từng vùng [1, 13-14]

Ngợc dòng lịch sử, từ trớc Công Nguyên cho tới nay, vùng đất ThanhChơng đã trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính với nhiều tên gọikhác nhau

Năm 111 trớc công nguyên (thời Thuộc Hán) vùng đất này nằm tronghuyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân Từ năm 602 (thời Thuộc Tuỳ), nằmtrong huyện Cửu Đức, quận Nhật Nam Thời Tiền Lê (980-1009) nằm trongChâu Hoan Thời Lý (thế kỷ XII) nằm trong Châu Nghệ An Thời Trần (thế

kỷ XIII) nằm trong Châu, rồi Trại Nghệ An

Theo sách Minh Quảng D“hiếu học”, Ký”, thì Nghệ An bấy giờ có 13 huyện

phủ mà Thổ Du là một huyện Xem trong sử ký Tiền Lê thì Thái Tổ ( LêLợi) từ Khả Lu thuộc Nam Đờng- nay thuộc Lơng Sơn (tức Anh Sơn ngày

nay) đa quân qua tổng Thổ Hào, thuộc huyện Thổ Du Lại xét sách Nghệ“hiếu học”,

An Ký”, của Đốc học Nghệ An Bùi Dơng Lịch (1758-1827) thì thời Minh đã

có huyện Thổ Du tức là Thanh Chơng Nhng từ đầu đời Lê đã có ThanhGiang, còn nh tên huyện Thanh Chơng có từ bao giờ thì cha từng nghe nóitới Tra cứu một số ghi chép vào thời Hồng Đức (1470-1497), nhất là cácsắc chỉ thì thấy rằng địa danh Thanh Chơng cũng nh Thanh Giang đều córải rác trong các văn tự chẳng thấy giống nhau Khi xem xét sắc chỉ chéptrong sử ký Tiền Lê vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460) thấy có chỗ ghirằng: Viên Trung th tỉnh thị lang nhập thị kinh diên quảng cận thị kỳ hầucác cục Thợng kỵ đô uý Nguyễn Bá Ký (? -1465) và Hoàng môn thị langkiêm Quốc sử viện đồng tu quốc sử Hoàng Sằn Phu (1414-?) khi so sánhgiám định miếu huý (tên huý vua) thi thấy trong tháng Giêng, mùa xuânnăm thứ hai (1429) ban bố miếu huý đại khái rằng: Hiển Tổ đời thứ chín là

Giang Đến năm thứ bảy (?) lại ban bố là kiêng huý chữ Giang “hiếu học”, ”, Nay tên là

Trang 10

Thanh Chơng nếu nói rằng bắt đầu có từ đó không biết đã đúng cha? Muốn

đợc tỏ tờng có lẽ phải đợi khảo cứu thêm

Lại xét về huyện Thanh Chơng, nguyên cùng với các huyện La Sơn(nay là Đức Thọ, Hà Tĩnh), Nghi Xuân, Thiền Lộc (nay là Can Lộc, HàTĩnh) Chân Lộc (nay là Nghi Lộc và thành phố Vinh, Nghệ An) đều thuộcphủ Đức Thọ (trớc gọi là Đức Quang) Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), theolệnh đã tách hai huyện Thanh Chơng và Chân Lộc nhập vào phủ Anh Sơn.Huyện Thanh Chơng trực thuộc phủ Anh Sơn kể từ đó [20, 36-37]

Thời nhà Nguyễn từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831) Thanh Chơng làmột trong 5 huỵên thuộc phủ Anh Sơn

Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) cắt bốn tổng của huyện Nam Đờng

và một tổng của huyện Thanh Chơng đặt làm huyện Lơng Sơn do phủ AnhSơn kiêm lý (huyện Lơng Sơn là đất của huyện Đô Lơng và huyện Anh Sơnngày nay)

Đến năm Duy Tân thứ 1(1907), tổng Nam Kim ở phía Đông Namhuyện Thanh Chơng đợc cắt sang huyện Nam Đàn, đồng thời một dải đất từThanh Khai lên Thanh Hng (ngày nay) đợc cắt từ Nam Đàn nhập sangThanh Chơng, và hai tổng Xuân Lâm, Đại Đồng bên này sông khi đó thuộcNam Đờng tức Nam Đàn bây giờ thuộc về Thanh Chơng Nh vậy, trớc cáchmạng Tháng Tám 1945, Thanh Chơng có năm tổng (cấp trung gian giữahuyện và xã) là: Cát Ngạn, Võ Liệt, Bích Hào, Xuân Lâm và Đại Đồng [1,15-16]

1.2 Điều kiện lịch sử – văn hoá. văn hoá.

1.2.1 Điều kiện lịch sử:

Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử của mấy nghìn nămdựng nớc và giữ nớc, lịch sử đó đã hun đúc, bồi đắp nên những truyền thốngtốt đẹp của dân tộc, đó là truyền thống yêu quê hơng đất nớc, truyền thốngchống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, truyền thống tự lực, tự cờng, tinhthần đoàn kết gắn bó, tơng thân tơng ái, trọng nhân nghĩa, chuộng công lý,giúp đỡ lẫn nhau, khi xông pha trận mạc thì anh dũng hiên ngang, kiên c-ờng bất khuất, lúc chịu đựng đau thơng mất mát thì gan góc lầm lì Truyềnthống đó đã trở thành đặc điểm chung nhất không chỉ ở mỗi địa phơng, mỗivùng mà của cả dân tộc Việt Nam

Trang 11

Trong cái nền chung ấy, Thanh Chơng là quê hơng của biết bao vịanh hùng hào kiệt, biết bao văn thân sĩ phu lỗi lạc, đã có những cống hiến

to lớn cho sự nghiệp xây dựng và giữ vững nền độc lập của nớc nhà Nhữngkhi tổ quốc lâm nguy, Thanh Chơng lại cùng nhân dân cả nớc đứng lên xảthân vì nền độc lập tự do của dân tộc, đi đầu trong phong trào đó không aikhác là tầng lớp trí thức Trí thức nho sĩ Thanh Chơng không chỉ nổi tiếng

về truyền thống hiếu học, khổ học, mà ở họ còn có một tấm lòng yêu quê

h-ơng đất nớc tha thiết, sẵn sàng xả thân vì nghiệp lớn Trong suốt chiều dàilịch sử, thấm nhuần tình yêu quê hơng đất nớc, sĩ phu Thanh Chơng luôn đi

đầu trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ bình yên cho đất

n-ớc, chống cờng quyền, áp bức của giai cấp thống trị Lịch sử quê hơng đấtnớc vẫn đời đời ghi nhớ công ơn của họ Với những tấm gơng sáng ngời nhPhan Đà trong cuộc kháng chiến chống quân Minh; Trần Tấn, Đặng NhMai - Ngời lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874); hay nói đến nhữngcon ngời cơng trực nổi lên với tinh thần trung quân ái quốc nh Đinh NhậtThận, Phan Sỹ Thục, Nguyễn Hữu Điển .Họ là những ngời có một nếp

sống đói sạch, rách thơm ,“hiếu học”, ”, họ là những ngời con u tú của dân tộc trongcông cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Chính vì vậy, mà nơi đây

đã xây dựng nên truyền thống văn hoá riêng của mình

1.2.2 Điều kiện văn hoá.

Thanh Chơng không đợc thiên nhiên u đãi nhiều nhng không phảikhông có các thứ ngon, vật lạ D âm của bao dân ca, ca dao cổ vẫn còn vangvọng trong ta cả một miền trù mật với niềm tự hào, với một tình yêu quê h-

ơng đằm thắm về các sản vật đặc biệt của quê hơng mình Nhiều câu ca đãgiới thiệu các đặc sản đó:

Ai về Cẩm Thái mà coiLắm ngô, lắm sắn, lắm khoai, lắm bù

Ai hay nớc chát măng chua,

Đi qua chợ Chùa thì tới Minh Sơn

Ai hay mít ngọt, mui bùi,

Có về Cát Ngạn với tôi cùng về

Ai hay tơng ngọt, nhút chua,Mời về ó, Nại mà mua ít nhiều

Thanh Chơng ngon cá sông Giăng

Trang 12

Ngon khoai La Mạc, ngon măng Chợ Chùa .

Là một huyện vùng núi thấp, đa số c dân Thanh Chơng làm nghềnông, cấy lúa nớc và trồng tỉa các loại hoa màu nh ngô, khoai, sắn Ngoài racòn có nghề chăn nuôi, nghề khai thác lâm, thổ sản và nhiều nghề thủ côngkhác nh trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông dệt vải (nh ở Nguyệt Bổng,Thờng Lang, Rộ, Xuân Lâm, Cẩm Văn), nghề mộc (Ngọc Sơn), nghề đánhcá, chài lới (Phúc Yên, Xuân Bảng), nghề đan lát, làm tơi nón, chặt củi, đốtthan Từ xa, Thanh Chơng đã có những sản vật nổi tiếng nh Chè Giăng,

và Cơm ba lá, cá sông Giăng, măng chợ Chùa “hiếu học”, ”,

Tuy lao động vất vả, nhng sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của tầng lớpdân c ở Thanh Chơng vẫn duy trì đợc ở nhiều thế kỷ qua Văn học dân gian

có các loại truyện cổ tích, truyện trạng thiếu lâm, ca dao, tục ngữ, câu đố,câu đối, vè Thanh Chơng có nhiều làng truyền thống sáng tác văn học dângian nh Võ Liệt, Hoà Quân, Lơng Điền, Cát Ngạn Đặc biệt là dân ca vớicác điệu hò, hát ru, ví dặm

Mê hát dân ca là một bản sắc văn hoá nổi bật của ngời dân xứ Nghệnói chung và Thanh Chơng nói riêng:

“hiếu học”,Hát cho đổ quán xiêu đình,Cho long lanh nớc, cho rung rinh trời”, Nói nh vậy để ta thấy đợc tinh thần lạc quan của con ngời Thanh Ch-

ơng

Bên cạnh đó thì hiếu học, khổ học đã trở thành truyền thống tốt đẹpcủa ngời Thanh Chơng nói riêng, của xứ Nghệ nói chung Ngay cả tênlàng, tên xã cũng gắn liền với việc học hành thi cử: Nho Lâm, Bút Trận, Bút

Điền (Diễn Châu); Khoa Trờng, Khoa Cử (Nam Đàn); Văn Giai, KimBảng, Khoa Bảng (Thanh Chơng)

Có thể nói tinh thần hiếu học, truyền thống khoa bảng của Thanh

Ch-ơng không thua kém bất cứ vùng nào trong tỉnh Trong các sách Đăng“hiếu học”,

Khoa Lục ; Liệt Truyện Đăng Khoa Bị Khảo ; Quốc Triều Đăng Khoa”, “hiếu học”, ”, “hiếu học”,

những vị đậu đại khoa quê ở Thanh Chơng nh: Nguyễn Sĩ Giáo, Nguyễn

Đình Cổn, Phạm Kinh Vĩ, Nguyễn Tiến Tài, Đinh Nhật Thận, NguyễnPhùng Thời, Nguyễn Bá Quýnh, Nguyễn Lâm Thái, Phan Đình Thực Cónhững vị tuy đậu Đại Khoa, làm quan to nhng vẫn sống thanh liêm trong

Trang 13

cảnh nghèo, đợc ngời đời ca tụng nh Tiến sĩ Phan sĩ Thục (1822-1891) quê

Võ Liệt, năm Tự Đức thứ 32 (1878) đợc thăng là Trung Phụng đại phu,Tham Tri Bộ Binh, kiêm phó đô ngự sử viện Đô Sát, Tuần vũ các tỉnhQuảng Bình, Quảng Trị nhng vẫn sống bần bách Sách Đại Nam Liệt

Truyện có ghi: Sĩ Thục làm quan hơn 40 năm trong cái nhà tranh vách“hiếu học”,

đất, hũ gạo luôn bị rỗng không mà vẫn thản nhiên”,[8,179] Ngoài ra còn

có không ít ngời học rộng tài cao song lại không chịu đi thi, hoặc đi thi

nh-ng khônh-ng đỗ đạt vì trờnh-ng quy nh-ngặt nh-nghèo Sonh-ng tài trí của họ vẫn khiếnngời đời phải nể phục

Sau khi triều Nguyễn đợc thiết lập, các Vua Nguyễn lấy nho học làm

đạo trị nớc, an dân, là phơng tiện giáo hoá con ngời, với chủ trơng độc tônnho học, chiêu hiền đãi sĩ nên việc giáo dục, khoa cử đặc biệt đựơc coitrọng nhằm đào tạo đội ngũ nhân tài cho đất nớc

Chơng 2: Đóng góp của nho sĩ Thanh Chơng trong sự nghiệp xây dựng quê hơng đất nớc từ 1802-1919

Năm 1802, Nguyễn ánh đánh bại vơng triều Tây Sơn lên ngôi hoàng

đế đặt niên hiệu là Gia Long Nhà Nguyễn chủ trơng độc tôn nho giáo,chiêu hiền đãi sĩ nên việc giáo dục, khoa cử đợc các vua Nguyễn đặc biệtcoi trọng nhằm đào tạo đội ngũ nhân tài cho đất nớc

Cũng nh sĩ tử cả nớc, sĩ tử Thanh Chơng ngày đêm nung nấu kinh sửchờ ngày ứng thí Phát huy truyền thống cha anh, sĩ tử Thanh Chơng giai

đoạn 1802-1919 liên tiếp dành đợc nhiều thành tựu, cống hiến cho quê

h-ơng đất nớc nhiều nhân tài trong các lĩnh vực khoa cử, chính trị, văn hoá - ttởng …Hay khi phong trào Cần V

Trang 14

2.1 Nho sĩ Thanh Chơng tiếp bớc truyền thống khoa cử cha anh.

Đã bao đời nay vùng đất Thanh Chơng không chỉ nổi tiếng về cảnh

quan cẩm tú Sơn thuỷ hữu tình“hiếu học”, ”, mà còn đợc mệnh danh là xứ sở của truyềnthống hiếu học Con em Thanh Chơng đến tận bây giờ không chỉ ham học

mà phải luôn luôn vợt lên nghèo đói với đủ bề thiếu thốn để dốc trí học tập

Với cuộc sống thuần nông giữa một vùng bán sơn địa Nằm kẹp giữa một“hiếu học”,

bên núi, một bên sông nên đất đai Thanh Chơng đã ít lại cằn cỗi … ở nơi ở nơi cao thì thờng khô hạn, nơi trũng thấp thì thờng lũ lụt thất thờng Sản vật lại chẳng có gì đáng kể”, [20,61]- nên lam lũ, đói nghèo đối với ngời dân Thanh

Chơng chẳng lấy gì làm lạ Mặc dù vậy nhng ngay cả đến các triều đạiphong kiến xa cũng coi đây là vùng đất học, là nơi sản sinh ra các bậc anhtài cho đất nớc:

“hiếu học”,Tháp Bút, Giăng Màn muôn thủa lẫy lừng, khoa bảng

Dòng Lam Hồ Nại một vùng toả sáng nhân văn”, Khi nho học bắt đầu phát triển, năm 1075 nhà Lý mở khoa thi đầutiên đặt nền móng cho nền khoa cử của nớc nhà, thì Nghệ An lúc bấy giờ

còn là một vùng đất trại “hiếu học”, ”, Nhng khoa bảng Nghệ An không vì thế mà kémcỏi Ngời mở đầu cho nền khoa bảng xứ Nghệ là Trại Trạng nguyên BạchLiêu, ngời Nguyên Xá - Diễn Châu, đỗ khoa Bính Dần(1266), năm ThiệuLong thứ chín Và từ đó sĩ tử xứ Nghệ nối tiếp nhau ghi tên bia đá ngànnăm Hoà cùng dòng chảy đó sĩ tử Thanh Chơng cũng nỗ lực khai hoa

Trên mảnh đất Thanh Chơng nghèo khó, khí hậu lại khắc nghiệt, cáinghèo cái khổ lại đè nặng lên cuộc sống của con ngời nơi đây Nhng cũngchính những khó khăn đó đã hun đúc cho họ ý chí học tập để vơn lên thoátkhỏi cái nghèo, cái khổ Do vậy, mà các gia đình dù khó khăn đến mấy đềumuốn cho con đợc học lấy cái chữ thánh hiền, lo đèn sách chờ ngày ứng thírạng đờng công danh:

“hiếu học”,Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoaMai sau nối nghiệp nớc nhàTrớc là đẹp mặt sau là ấm thân”,Hơn nữa làng xã cũng có những quy định nhằm khuyến khích việc

học hành của con em nh giành một phần ruộng công để làm học điền ,“hiếu học”, ”,

biếu điền ,

“hiếu học”, ”, miễn lao dịch cho các sĩ tử đang chăm lo đèn sách; quy địnhviệc đón rớc khi có ngời đỗ đạt…Hay khi phong trào Cần V những điều đó đợc quy định trong hơng -

Trang 15

ớc của một số làng xã [21,52] Học điền dùng để đài thọ cho những ngời

đang đi học Còn biếu điền là phần thởng cho những ai đã đỗ đạt ở Võ LiệtThanh Chơng , đem biếu chín sào cho ngời đỗ phó bảng…Hay khi phong trào Cần V tầng lớp nho sĩ -khoa bảng ở làng xã rất đợc trọng vọng Họ đợc ngời dân coi trọng hơn cả

những vị làm quan có chức tớc mà học vị thấp trọng quan hơn trọng“hiếu học”,

hoạn”,[11,33-34] Vì vậy mà số ngời đỗ đạt của Thanh Chơng rất nhiều,

điều này đợc thể hiện trong bảng tổng hợp về thành tựu khoa bảng Nghệ An

- Thanh Chơng thời Nguyễn sau:

ng Thanh Chơng lại có số lợng Cử nhân nhiều hơn Trong đó có 3 vị làmHuấn đạo, 6 vị làm Đốc học, 5 vị làm Giáo thụ…Hay khi phong trào Cần V nh vậy có thể nói, ThanhChơng không chỉ là vùng đất khoa bảng của cả tỉnh mà còn là nơi phát khoacủa cả nớc

Sau đây là tiểu sử 10 vị đỗ đại khoa của Thanh Chơng trong triềuNguyễn (tóm tắt):

1 Bùi Sĩ Tuyển hay Đình Tuyển (1798-1864): Ngời xã Hà Xá, nay làxã Thanh Hà- Thanh Chơng , 40 tuổi đậu Tú tài, đợc bổ chức Hồng Lô Saukhi dự kỳ thi sát hạch đủ điểm dự thi hội, đậu Phó bảng, ân khoa Mậu

Trang 16

Thân- Tự Đức 1(1848) Làm quan: Hàn lâm viên tu soạn, tập hiền viện,Kinh diên khởi c trú, đốc học Hải Dơng, Lang trung bộ binh, Đốc họcQuảng Nam, Hàn lâm viện thị độc học sĩ, Hồng lô tự khanh, sung sử quántoản tu, thọ 66 tuổi.

2 Đặng Nguyên Cẩn (1866-1923) hiệu: Thai Sơn, ngời làng Lơng Điền,tổng Bích Hào, nay là xã Thanh Xuân huyện Thanh Chơng Lúc đi thi hơnglấy tên là Đặng Thai Nhẫn, đậu cử nhân khoa Mậu Tí - Đồng Khánh thứ3(1888), đỗ phó bảng khoa ất Mùi, niên hiệu Thành Thái thứ bảy(1895),lúc này mang tên Đặng Nguyên Cẩn Từng làm giáo thụ phủ Hng Nguyên,

Đốc học Nghệ An, Đốc học Bình Thuận, từng tham giao phong trào chốngthuế ở Trung Kì 1908 bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo, bị tù 13 năm,

đến 1921 đợc trả tự do Thọ 57 tuổi

3 Đinh Nhật Thận(1814-1866) ngời xóm Xuân Vinh Làng ThanhLiêu, tổng Cát Ngạn, nay là xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chơng, đỗ Cửnhân khoa Đinh Dậu, Minh Mạng thứ 18(1837), đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất,năm Minh Mạng thứ 19(1838), làm quan tới chức tri phủ, từng đi sứ Thọ

52 tuổi

4 Lê Đình Thức (1818- ?) ngời xã Thanh La, nay là xã Thanh Lĩnh,Thanh Chơng , 26 tuổi đậu Cử nhân(1834), 31 tuổi đậu Phó bảng, khoaMậu thân - Tự Đức 1 (1848) Làm quan Lang Trung, Lang Biện, TháiNguyên, mất vì công việc

5 Nguyễn Hữu Điển(1825 - ?) ngời xã Đại Đồng nay là xã Thanh Văn,Thanh Chơng, 24 tuổi đậu Cử nhân(1846) 29 tuổi đậu Đệ Tam Giáp tiến sĩ,khoa Quý Sửu - Tự Đức 6(1853) Ông là con trai duy nhất của Cử nhânNguyễn Hữu Bích - Tri huyện Thân Thi (Hng Yên), và là hậu duệ Đích tr-ởng đời thứ 9 của quận công Nguyễn Hữu Trác từng làm quan trải đến Th-ợng th Bộ Binh thời hậu Lê Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của sử

quán triều Nguyễn đã viết về ông, có đoạn: Hữu Điển lúc trẻ chăm học,“hiếu học”,

thờ mẹ có hiếu”, Tự Đức năm thứ 6 (1853) đỗ tiến sĩ Bổ Hàn Lâm viện biên

tu rồi thăng chủ sự Năm thứ 9 (1856) thự tri phủ Bình Giang, nhận chức 2năm, dân rất yên vui Gặp khi thổ phỉ ở Hng Yên đến cớp bóc trong hạt,Hữu Điển mang quân đi đánh bắt Có ngời thấy thế giặc đang mạnh thì

ngăn lại, Hữu Điển nói rằng: Tôi tạm đ“hiếu học”, ợc coi giữ đất này, dẹp giặc, yên dân là phận sự của tôi Nay giặc hại dân, có thể ngồi nhìn cho giặc thêm

Trang 17

đắc chíí ?”, Bèn tiến tới, giặc nhiều không địch nổi bị chúng giết, Ông đợc

truy thụ Hàn Lâm thị độc

6 Nguyễn Sĩ ấn (1816-?) ngời xã Xuân Lâm, nay là xã Thanh Lơng,Thanh Chơng, đậu Cử nhân năm 1843, 28 tuổi đậu Phó bảng, khoa GiápThìn-Thiệu Trị thứ 4(1844), làm quan Thị Giảng học sĩ

7 Nguyễn Tài Tuyển (1837-1884): ngời xã Đại Đồng nay là xã ThanhVăn, Thanh Chơng, 31 tuổi đậu Cử nhân (1867), 41 tuổi đậu Đệ tam giápTiến sĩ, khoa Đinh Sửu- Tự Đức 30 (1877) Làm quan: Tri phủ Tơng Dơng,Sơn phòng sứ Nghệ An, Tham Biện, ốm mất, đợc truy tặng Hàn Lâm Việnthị độc

8 Phan Đình Thực (? - ?) Ngời xã Vũ Liệt, nay là xã Võ Liệt- ThanhChơng, con của cụ Cử nhân Phan Xuân Đệ, Cử nhân khoa Nhâm Dần(1842), Phó bảng khoa Tân Hợi, niên hiệu Tự Đức 4 (1851) Làm quanHình bộ biện lý, bị miễn Sau khi thi đỗ đợc bổ Hàn lâm viện kiểm thảo,tham gia soạn sách Văn Uyển, sung nội các hành tẩu, sau đợc điều bổ chức

Đồng Tri huyện, hai huyện Thanh Sơn-Thanh Thuỷ, lại đợc điều về kinhlàm thị giảng ở viện tập hiền, sung kinh diên khởi c trú Sau đó lần lợt nhậnchức Thơng biện Nghệ An, án sát Nam Định, lại đợc triệu về kinh giữ chứcbiện lý Hình bộ sự vụ, thăng hàm Hồng Lô thiếu tự khanh, can tội bị sung

đi hiệu lực ở Tam Tuyên quân thứ Bị ốm về quê rồi mất, thọ 52 tuổi

Các tác phẩm của ông là: Văn Uyển (văn); Tam Thanh thi văn tập(văn); Ký trai thi văn tập (văn)

9 Phan Sĩ Bàng (1889- ? ) Ngời xã Vũ Liệt, nay là xã Võ Liệt, ThanhChơng, 24 tuổi đậu Cử nhân (1912), 25 tuổi đậu Phó bảng, khoa Quý Sửu-Duy Tân 7 (1913), làm quan Giáo thụ

10 Phan Sĩ Thục (1822- 1891) Ngời xã Vũ Liệt, nay là xã Võ Liệt,Thanh Chơng, cha của Phan Tĩnh Kham, Phan Sĩ Ngạc, Phan sĩ Kiều Ôngsinh năm Nhâm Ngọ, đậu Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846), 28 tuổi đỗ Đệtam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Dậu, niên hiệu Tự Đức 2(1848),

đợc bổ chức Tri huyện huyện Kiến Thuỵ Thọ 70 tuổi

Ngời ta biết đến Thanh Chơng không chỉ với những di tích, danhthắng mà ngời ta còn biết đến bởi nơi đây là một trong những cái nôi của

xứ Nghệ đào tạo không ít nhân tài cho đất nớc Truyền thống hiếu học ,“hiếu học”, ”,

khổ học

“hiếu học”, ”, đã đợc truyền từ đời này sang đời khác trong mỗi gia đình, mỗi

Trang 18

dòng họ Bởi dòng họ nào cũng có nhiều khoa bảng, thì đó là dòng họmạnh và rất đợc coi trọng Vì vậy mà nhiều dòng họ đã biết phát huy thếmạnh của mình, đề cao ý thức tự tôn, biết đoàn kết giúp đỡ nhau trong họctập, trong lao động sản xuất, xứng đáng trở thành những dòng họ có nhiềukhoa bảng, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm Nh dòng họ

Đặng ở Lơng Điền (Thanh Xuân) Thanh Chơng Dòng họ Tôn ở xã Võ Liệt

đây là dòng họ nổi tiếng và có truyền thống khoa bảng lại vừa có truyềnthống chống giặc ngoại xâm một dòng họ cha, con, anh, em đều đỗ đạt, mộtdòng họ cha, con, anh, em đều làm cách mạng Ngoài ra còn có một sốdòng họ tiêu biểu: Nguyễn Viết, Nguyễn Nh, Phan Sĩ (Võ Liệt), Hồ Sĩ(Thái Nhã)…Hay khi phong trào Cần VNh vậy, truyền thống hiếu học, tôn s trọng đạo của mỗi gia

đình, mỗi dòng họ ở Thanh Chơng đã đợc lu truyền từ bao đời nay, đợc bổsung và ngày càng phong phú, để cống hiến cho xã hội, làm rạng danh chohuyện khoa bảng

Truyền thống hiếu học của nhân dân Thanh Chơng luôn luôn đợc

nuôi dỡng và phát huy, qua những lời ca điệu hát, của mẹ khi mà các Sĩ tử“hiếu học”,

tơng lai ”, vừa mới chào đời, còn bú ẳm, nằm nôi:

“hiếu học”,Con ơi mẹ dạy con nàyChăm lo đèn sách cho tày áo cơmLàm cho ngời đói sạch rách thơmCông danh là nợ nớc non phải đền”, Dẫu còn nghèo đói nhng nhiều gia đình vẫn chắt chiu từng hạt gạo củkhoai để nuôi con ăn học nên ngời Hình ảnh ông Nghè vinh quy bái tổ

Võng anh đi tr

“hiếu học”, ớc, võng nàng theo sau”, là ớc mơ cháy bỏng của mọi sĩ tử,

của cha mẹ và vợ con họ Họ sẽ đi làm quan không những gia đình đợc ấm

no, mà còn đợc cả làng xóm đón rớc long trọng, làm lễ chúc mừng, thêm

phần kính nể, mà cả họ còn đợc nhờ bởi Một ng“hiếu học”, ời làm quan cả họ đợc nhờ ”, Hình ảnh võng, lọng, cân, đai, giấy, bút, nghiên, mực“hiếu học”, ”, rồi bảng hổ“hiếu học”,

đề danh”, (Bảng yết tên ngời đỗ Cử nhân), Bảng vàng“hiếu học”, ”, (Bảng yết tên ngời

đậu Tiến sĩ) dành cho tầng lớp nho sĩ đã in đậm vào tiềm thức của ngờidân Chúng đợc tái hiện lại, nhập hồn vào núi, ao, ruộng, vùng đất củaquê hơng xứ sở

Hơn nữa, những làng, xã nổi tiếng về khoa bảng đều có xây nhà văn

từ để tôn thờ đạo nho và khắc tên lên bia những ngời thi đậu ở Tổng Võ

Trang 19

Liệt có bia khắc tên, năm của các vị đậu đại khoa Ngoài việc xây nhà VănThánh, dựng bia ghi danh, ở nhiều làng, tổng còn có tổ chức các lễ cầukhoa rất lớn để khuyến khích việc học của các Nho sinh và tởng nhớ, noi g-

ơng các nhà khoa bảng lớp trớc Nhiều ông Nghè, ông Cống khai hoa cholàng, xã còn đợc nhân dân lập miếu tôn thờ làm Thành Hoàng, hoặc đợc coi

là phúc thần nh Phạm Kinh Vĩ ở Thanh Giang, Bùi Hữu Nhẫm ở Thanh

Thuỷ Có thể nói, truyền thống hiếu học“hiếu học”, ”, hay có thể gọi là khổ học“hiếu học”, ”, vàquyết tâm thi đậu đã thấm vào máu thịt của các sĩ tử, gia đình và của dòng

họ Nho sĩ Thanh Chơng nổi tiếng học giỏi, thông minh, trọng khí tiết và làniềm tự hào của ngời dân xứ Nghệ

2.2 Nho sĩ Thanh Chơng trong sự nghiệp chính trị, văn hoá, t tởng.

Từ thế kỷ XV, Thanh Chơng đã có những nhà khoa bảng nổi danh

nh Thợng Th Đinh Bộ Cơng, đợc ngời đời ca ngợi là Quang Thận chiếu“hiếu học”,

đầu bút bảng”,, đã từng là giám thị khoa thi đình đời Cảnh Thống(1497

ời anh cả là Nguyễn Khắc Nhợng đậu Tú tài, ngời em thứ hai là NguyễnThành Hiến đậu Cử nhân và ngời em út là Nguyễn Huy Phiên cũng đậu Cửnhân

Thầy dạy chữ ở Thanh Chơng cũng xuất thân từ tầng lớp nho sĩnghèo mà nên, cũng nổi tiếng chịu khó, chịu khổ, mở trờng dạy học khôngphải để làm giàu, mà cốt để lại tiếng thơm cho đời Mỗi trờng học xa đều cósách ghi tên những học trò thi đậu, làm tiếng thơm cho trờng Trờng càngnhiều học trò đậu thì thầy càng đợc trọng vọng Có thầy học trò đông,không có nhà để mở lớp, phải đa trò lên núi học ngay ở ngoài trời, dùng cácviên đá làm giấy viết chữ lên để học, thế mà thầy nổi tiếng dạy giỏi, trò nổitiếng đậu cao Nhiều làng Thanh Chơng tuy nghèo nhng vẫn cố gắng mờithầy mở lớp dạy chữ nho Năm 1904, nhân dân làng Võ Liệt đã xuống làngKim Liên, Nam Đàn mời ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc về dạy học chocon em trong làng, lúc bấy giờ, cả hai anh em Tất Đạt, Tất Thành cũng theocha tới Thanh Chơng ở Võ Liệt một xã có 400 đinh, có tới 44 viên mục,

Trang 20

trong đó 30 Sinh đồ (Tú tài) Thì số ngời có chữ tới mức dự tuyển qua tamtrờng, ít cũng tới trên 100 thí sinh và số ngời đi học phải chiếm nửa số dânsinh, chỉ tiếc cha có đại khoa Trong dân gian truyền tụng câu chuyện: Xa,các cụ Võ Liệt thấy khoa hoạn các xã miền hạ huyện phát đạt hơn xã mình,lên mời thầy phong thuỷ về chỉ cho việc san đắp tạo địa thế thành nhữngngọn bút, nghiên son, đĩa mực, tô điểm cảnh sắc thiên nhiên, tạo nên những

hồ sen tuyệt đẹp, nhằm qui tụ và giữ gìn sinh khí, mong mở đờng khoahoạn tới quê hơng H thực cha rõ, nhng đó là khát vọng khả kính của mộtlàng hiếu học

Cảnh sắc thiên nhiên, khí thiêng sông núi hun đúc chí khí cho vùngquê vốn đã tôn sùng đạo học - Sự tôn sùng ấy đợc thể hiện trong thể chếhoá trong cả luật lệ dân đinh Dới chế độ hà khắc 5 đinh 1 lính, em về thìanh thay, trong xã ngời này trốn ngời khác phải thay mà vẫn giữ chế độ utiên cho Sinh đồ (Tú tài) Họ đợc miễn đăng lính và phu sai tạp dịch Sự tônsùng ấy đã đợc đền đáp, tạo nên bớc phát triển mới trên đờng khoa cử củaxã Võ Liệt, mở đầu từ Phan Sỹ Thục, khai khoa đậu Tiến sĩ năm Tự Đức thứ2-1849, từ đấy tới 1919, trong 8 Đại khoa của huyện Thanh Chơng thì VõLiệt 3, Đại Đồng 1, Bích Hào 1, Cát Ngạn 1, Xuân Lâm 1 Và trong 85 Cửnhân triều Nguyễn của Thanh Chơng thì Võ Liệt 33, Đại Đồng 27, BíchHào 11, Cát Ngạn 9, Xuân Lâm 4 [11,101]

Trên lĩnh vực văn hoá - t tởng nho sĩ Thanh Chơng cũng rất nổi danh

với một số tác giả tác phẩm tiêu biểu: Đinh Nhật Thận có tác phẩm Thu“hiếu học”,

Dạ Lữ Hoài”, viết bằng chữ Hán đợc xem nh một chinh phụ ngâm thứ hai,

hay Đặng Nguyễn Cẩn với các tác phẩm của ông đợc su tập trong Đặng“hiếu học”,

Thai Sơn Tiên Sinh Duy Tác”,, một phần đã đợc Huỳnh Thúc Kháng ghi và

dịch trong Thi từ tùng thoại“hiếu học”, ”, và Thi tùng thảo“hiếu học”, ”, Một số đợc công bố trong

thơ văn yêu nớc đầu thế kỉ XX: Cảm tác , Tiến Phan sào Nam Nam“hiếu học”, ”, “hiếu học”,

Du , Khấp Ng”, “hiếu học”, Hải Đặng Thái Thân , Cổ động tân học , Đặng Lam”, ”, ”, ”,

trị khác

Ngày nay khi lật giở từng trang về khoa cử nho học triều Nguyễn,con em Thanh Chơng không khỏi tự hào về truyền thống hiếu học, tôn strọng đạo với tinh thần chịu khó học tập của những ngời đi trớc

Trang 21

Sau đây là danh sách các vị Cử nhân Thanh Chơng trong đó có nhữngngời từng làm quan triều Nguyễn.

Giáo Thụ TriPhủ

Trang 22

Hµnh tÈu bélÔ

Phã sö s¬nphßng

Trang 23

Më Trêngd¹y häc

Trang 25

(Thanh Giang)

Tân Mão(1891)

Làm Quanhậu bổ

Ghi chú: rút từ“hiếu học”, ”, Những ông nghè, ông cống Triều Nguyễn [9]

Nhìn chung với đội ngũ Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, nho sĩ ThanhChơng đã góp sức mình trong việc xây dựng quê hơng dất nớc Chính sách

Chiêu hiền đãi sĩ

“hiếu học”, ”, của nhà Nguyễn đã phát huy tác dụng, nhiều nho sĩ đãtạo dựng đợc sự nghiệp vẻ vang cho bản thân, gia đình, dòng họ và quê h-

ơng Họ trở thành ngời đợc xã hội tôn vinh, là tấm gơng sáng cho con cháumuôn đời, trong đó nổi lên một số nhân vật sáng chói

2.3 Một số nho sĩ tiêu biểu.

2.3.1 Đinh Nhật Thận (1814- 1866)

Đinh Nhật Thận (gia phả chép là Đinh Viết Thận) sinh năm ất Hợi,

là ngời xóm Xuân Vinh, làng Thanh Liêu, tổng Cát Ngạn nay là xã ThanhTiên, huyện Thanh Chơng, tỉnh Nghệ An

Đinh Nhật Thận sinh ra trong một gia đình nghèo khó Ông nội là

Đinh Trọng Mu hồi trẻ phải đi làm thuê trên làng Cao Điền rồi lập gia đìnhrồi sinh ra thân phụ Đinh Nhật Thận là Đinh Trọng Miễn Cụ Mu vì làm ănquá lao lực nên mất sớm Lúc đó Đinh Trọng Miễn còn nhỏ, ở với anh trai.Vì có tớng mạo khôi ngô nên Miễn đợc một ông thầy học yêu mến và cholàm tiểu đồng, ngày ngày mang tráp sách theo thầy và đợc thầy kèm cặpdạy bảo học hành Nhng chỉ đợc vài năm, ngời thầy học nhân hậu ấy cũng

Trang 26

qua đời, Đinh Trọng Miễn lo chôn cất thầy học và thơng cảm nh khi chamình mất.

Lại lúc đang bơ vơ, thì Đinh Trọng Miễn đợc ông Huyện Thừng chongời gọi đến, Ông Thừng theo đạo Thiên chúa, làm Tri huyện tại gia, ở làngLơng Khố (sau đổi là Lơng Khế) nay thuộc xã Thanh Hòa Ông Huyện cóhai ngời con gái, đều vừa có nhan sắc lại vừa đảm đang thi lễ Một hôm,

ông Huyện gọi cậu Miễn đến gần và hỏi, ng ai thì cứ nói ông sẽ gả cho.Thật là khó tìm ra câu trả lời cho chàng trai nghèo ở vào địa vị vừa là kẻhầu hạ, vừa là ngời học trò Cuối cùng để thuận chiều cho gia đình ôngHuyện, Đinh Trọng Miễn tỏ tình với ngời con gái lớn Thế rồi làng trên,

xóm dới biết bao nhiêu là lời thóc mách, bàn tán, nào là từ ng“hiếu học”, ời hầu mà hóa thành con rể , ”, nào là con gái giáo mà lấy con trai bên l“hiếu học”, ơng thế là mất

đạo”, Đó là câu hỏi mà cuộc tình duyên này phải giải đáp Thế rồi Đinh

Trọng Miễn thực sự trở thành con rể của gia đình ông Huyện Trớc lúc làm

lễ vu quy, đôi tân hôn hứa với nhau: Nếu đẻ con trai thì sẽ là l“hiếu học”, ơng theo

vợ nhỡ ra mình đẻ toàn con trai thì tôi biến thành con gái của mình vậy!“hiếu học”, ”,.Cả hai cùng cời và họ càng yêu nhau thêm Nhng rồi vợ chồng Đinh TrọngMiễn sinh đợc sáu con trai và một con gái

Tuy là con rể của nhà quan, nhng cuộc sống của gia đình Đinh TrọngMiễn không chỉ thanh bạch mà còn rất nghèo Một buổi sáng đang cuốc bờ,phát góc làm nơng thì Miễn nghe từ trong bụi rậm phát ra lời nói của một

ngời đàn bà, tiếng hiền nh mẹ: Con ơi ! Một nghề mà biết trau còn hơn“hiếu học”,

cày sâu ruộng mấy mẫu”, Từ đó, Đinh Trọng Miễn chăm lo đọc sách để

làm thuốc, rồi đem các con về c trú ở quê cũ là làng Thanh Liêu Đinh NhậtThận là con thứ hai trong gia đình

Từ bé Đinh Nhật Thận đã có dáng khôi vĩ và sớm tỏ ra là ngời hiếu

đễ Nhà đông con,ruộng nơng ít Trớc mặt là sông, sau lng là núi Hà hảisơn lâm là giang sơn của trời, của vua Vào rừng, ngời dân nghèo chỉ đợchốt lá rụng, bẻ cành khô, cao nữa là chặt mấy bó nứa, tỉa vài ngọn mây Mà

ông bố của Thận lại tay chân học trò, chặt vác, gánh gồng cũng không saonuôi đợc con cái của mình Đợc một điều, về cuộc sống vật chất, Thận dễtính, sẵn sàng chịu đói để các em no thêm một chút Và không ngại mặc

Trang 27

đơn, mặc rách để đỡ phần lo lắng cho cha mẹ Thận cũng nhịn các em và lũtrẻ trong những trò chơi, không khi nào cậu tỏ ra là ngời ích kỷ ,hiếu thắng.

Thận là cậu bé dễ nổi bật giữa đám đông trẻ nhỏ, dáng ngời cậu chắckhỏe, đôi mắt sáng, khuông trán rộng, hơi gô, miệng có khi mỉm cời, dấumột chút tinh nghịch, kín đáo, và tỏ ra coi thờng những gì là vụn vặt, nhỏnhoi trong cuộc sống Tất cả tạo nên ở ngời thiếu niên này một gơng mặttrầm tĩnh, biết chịu đựng nhng không dễ gì khuất phục Điều thấy rõ nhất ở

Đinh Nhật Thận là cậu sớm để tâm đến việc học Ông Đinh Trọng Miễncũng không không quên đợc câu nói của ngời đàn bà trong bụi rậm bên bờ

nơng ngày nào Ông hớng cho mỗi ngời con “hiếu học”,trau”, vào một nghề Với cậu

con thứ hai là Đinh Nhật Thận, ông hớng cậu vào việc học Bà Miễn, ngoàicông việc ruộng nơng còn tảo tần buôn bán để thêm vào nuôi các con Ông

bà ngày một mừng vì con trai mình sáng dạ và có trí nhớ tốt, cộng với kinh

sử, chuyện, Đinh Nhật Thận còn ham học các sách y học, dợc tính Sau này

Đăng khoa lục

“hiếu học”, ”, chép về Đinh Nhật Thận : Ông nổi tiếng có tài nhớ sách,“hiếu học”,

ông, đa cho ông một cuốn từ điển Ông nhận sách đọc, ngày hôm sau trả lại mặc cho ngời kia muốn hỏi gì thì hỏi, ông đều nhớ hết và nói rất rành mạch”,

Đinh Nhật Thận học ở nhà và trong tổng Khi sức học đã cao hơn,Thận đợc cha cho lên học với cụ Nguyễn Cảnh Thiềm ở trên Lờng( tức ĐôLơng) nên gọi là thầy Thiềm Lờng Trờng học của cụ có lúc đông tới 300môn sinh Đến hạn, Thận đợc cụ Thiềm Lờng đa đi sát hạch ở Phủ Sau khi

chấm xong bài, cụ Thiềm hỏi chủ khảo: Trong số thí sinh ở đây, ai là ng“hiếu học”,

-ời có triển vọng nhất”, Và câu trả l-ời: Đinh Nhật Thận“hiếu học”, ”, Quả vậy ĐinhNhật Thận đã đỗ cao trong kì thi ấy, đó là khi Thận cũng đã nổi tiếng về tàivăn thơ

Có thời gian, khi chờ đến khoa thi Thận đã xuống học thêm về y học

ở núi Thành ( Hng Nguyên)

Đất Cát Ngạn chăm nghề nuôi tằm, dệt lụa và trồng bông dệt vải, tựtúc lấy cái ăn và còn bán đi các nơi Đã nổi lên một nóc nhà là ở đó có nghềnuôi tằm dệt cửi Cứ sau một ngày nặng nhọc ngoài đồng áng, đêm về, đàn

ông thờng chụm nhau uống nớc chè xanh (tiếng địa phơng gọi là chè chát),

Trang 28

nói chuyện trạng, đàn bà, con gái thì từng xóm tập trung xe kéo sợi, ngồihát phờng vải Các nho sĩ tới đây để giúp câu hát, đua tài.

Hôm đó, Đinh Nhật Thận (vì đã đỗ kì thi ở huyện nên đợc gọi là anhKhóa) đến hát ở nhà ông tổng Vấn Lại buổi trời ma mới tạnh Lòng anhKhóa đang hăm hở mà đất lại trơn và chân bấm không chặt nên anh bị trợtnằm sấp ngay xuống giữa sân Tức thì các cô gái trong nhà dồn mắt nhìn ra

và cùng ré lên cời Tiếng cời cứ kéo dài một lúc một to, nh ngời khác thì đãchết thẹn đi đợc, nhng anh Khóa Thận thì cứ tảng lờ nằm im Đợi đến khitiếng cời đã ngớt, anh mới thủng thẳng đứng lên và đọc:

“hiếu học”,Đất sao đất khéo lạ lùngBấm thì chẳng chịu nằm cùng lại cho”,

Đến lúc này.thì các cô trong nhà lại nguây nguẩy và thẹn thùng Có

cô, đã mắng yêu: “hiếu học”, ý ì cái anh Khóa ranh con !”,

Đinh Nhật Thận có “hiếu học”, ranh”, đấy nhng nào có nhỏ “hiếu học”,con”, nữa Tuổi

anh lúc đó đã ngoài hai mơi Nhiều cô khi gặp anh, má lại càng thêm đỏ.Cái tài xuất khẩu thành chơng của Đinh Nhật Thuận là thế Không may,một lần ở bến sông quê nhà có vụ đắm đò Mọi ngời đều thoát nạn, duy chỉ

có một ngời con gái nhan sắc nhất trên chuyến đò ấy lại chết đuối Ngời ta

nghi vì cái tội nghiêng n“hiếu học”, ớc nghiêng thành”, của ngời đàn bà xấu số này mới

dẫn đến thảm cảnh nghiêng đò và nhờ anh Khóa Thận viết cho vài câu giảioan Anh đọc ngay dù cha biết hết nỗi bùi ngùi:

“hiếu học”, Lênh đênh mặt nớc, một con thuyềnGặp gỡ vì ai đến đảo điên

Má phấn lấp vùi bờ kể khổLòng trần gột sạch nớc Lam tuyền

Đau lòng nhân thế cơn ma gióNổi mặt Hà thần lúc bén duyênTinh vệ vô tình đâu vắng vẻNổi chìm nỡ để mặc thuyền quyên”, Sức học, tài văn chơng và chí can đảm của Đinh Nhật Thận là nh vậy

Sau này, trang sách Trang 99 chóp núi ,“hiếu học”, ”, NXB Tân Việt-HN 1942-Trang

16, Nguyễn Văn Để đã viết về ông: Thật trời đã khéo tây vị mà “hiếu học”, dành riêng cho cụ một khối óc thông minh, một lá gan hào hùng, có lẽ chung đúc lại bởi khí thiêng của Sông Lam, Núi Hồng là nơi cụ sinh trởng, lấy văn chơng

Trang 29

và phẩm hạnh, cụ đã làm thái sơn, bắc đẩu cho cả một vùng Hoan-ái là

đất tài ba văn vật có tiếng xa nay ”,

Thế nhng Đinh Nhật Thận lại không suôn sẻ trong thi cử Khoa thi

h-ơng năm Đinh Dậu(1837) ông mới đỗ Cử nhân mà lại liệt vào loại lấy thêm.Khoa thi này những ngời đỗ hơng thí lại phải qua thi hội, xét có trúng cách(tức hồ sơ, bài vở làm có trúng cách thức) mới thành mệnh Cử nhân Nhngviệc đó Đinh Nhật Thận đã vợt qua ở khoa thi hội Mậu Tuất niên hiệu MinhMệnh thứ 19(1838), khoa thi hội này không ai đỗ Bảng nhãn, Thám hoa (lệTriều Nguyễn không chọn Trạng nguyên), chỉ có hai ngời đỗ Hoàng Giáp làNguyễn Cửu Trờng(Thanh Hóa) và Nguyễn Văn Nghị (Nam Định) rồi đến

Đinh Nhật Thận đứng đầu số Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, tức thứ

ba Nhng cũng bắt đầu từ khoa thi đình này những ngời đỗ Tiến sĩ đợc cờingựa đi dạo xem phong cảnh trong hoàng thành

Đinh Nhật Thận kết duyên cùng bà Nguyễn con gái ông huyện KinhAnh, ngời bên tổng Đại Đồng Bà Nguyễn về nhà chồng với món của hồimôn đủ để trang trải nợ th đăng cho chồng và sắm sanh đợc một gánh đồhàng xén để tiếp tục nuôi chồng theo đuổi khoa cử Đến lúc này thì bà cũngtoại nguyện với công tần tảo của mình

Đỗ đại khoa Đinh Nhật Thận đợc bổ làm Tri phủ, sách Đăng Khoa“hiếu học”,

Lục”,cũng chép ông đợc Bổ Tri phủ vì can tội, sau đ“hiếu học”, ợc tha phải đi hiệu lực”, Thực ra, hiện nay ta vẫn cha rõ Đinh Nhật Thận đợc bổ làm quan vào

năm nào, ở đâu, thời gian nhận chức là bao lâu Khi làm quan ông can tộigì, hình phạt nh thế nào mà sau đợc tha song có điều ai cũng biết là ĐinhNhật Thận không thích làm quan (ngời địa phơng truyền tụng là cụ Nghè

Đinh đợc bổ Tri phủ nhng cụ không nhận) Công việc cụ say mê nhất làgiao du đây đó, làm thuốc và làm thơ, còn việc cụ bị can tội thì nh ta đã biếttrớc tiên là vì cụ là bạn chí thân của Nguyễn Hàm Ninh (1807-1867) và cụCao Bá Quát (1800-1855)

Sau khi đỗ đại khoa Đinh Nhật Thận đợc làng cấp cho 5 mẫu học

điền ở cánh đồng gia hội ở đó phần lớn ruộng của mình cho bà con cày màkhông thu một phần nào về hoa lại Ông còn tổ chức khai khẩn thêm vàchiêu mộ ngời đến lập thành làng Gia Hội Ông vui thú điền viên ở đó vàlấy việc giao kết với bạn hữu gần xa làm trọng

Trang 30

Một lần Đinh Nhật Thận bị tội “hiếu học”,yêu thơ yêu ngôn”, phải đa đến bộhình xét sử Thợng th bộ Hình vốn có ác cảm với ông Nhng rồi khi họ Đinhvừa bị giải vào kinh hạ ngục thì mẹ của ông Thợng Th bị ngã bệnh, là mộttật chứng nan y Thuốc nào uống cũng không khỏi Thầy nào đến rồi cũngkhoanh tay, cáo lui Chẳng hiểu nhờ đâu mà bà cụ lại biết ông Nghè Đinhvừa bị nhốt vào ngục là ngời giỏi chữa bệnh có một không hai Bà bèn bảocon trai phải cho ông Nghè tạm ra khỏi ngục để đến chữa bệnh cho mình.Quan lớn tìm cách từ chối nhng bà cụ không nghe mà bệnh ngày càng lúccàng nguy kịch…Hay khi phong trào Cần V ớc tình cảnh ngời mẹ vật vã thập tử nhất sinhTr “hiếu học”, ”,, nênquan nghĩ, chẳng lẽ vì một chút tiểu khí cá nhân mà để cho mẹ mình thiệtmạng Miễn cỡng ông phải cho lính đến cửa ngục mà gọi Nhng quan phải

đích thân đi mời và cho lính đi cáng ông Nghè mới nhận lời Quả là bệnhcủa cụ bà giảm ngay từ nớc đầu của thang đầu Tiếng là thang, chứ thuốccủa ông Nghè chỉ có một vị độc nhất không quá ba lần uống là bệnh bà cụlành Đợc cải tử hoàn sinh, bà cụ bảo con trai vào tâu với vua xin tha bổngcho vị danh y là ân nhân của mình Sau lúc nhờ tài của họ Đinh mà mẹmình từ chỗ tởng chết đi nay đợc sống lại, quan lớn cũng dần nhận ra cái vô

lý trong dự định trả thù của mình

Vua Tự Đức biết thả hẳn cho Đinh Nhật Thận lúc này thì chẳng khácthả hổ về rừng nên giữ ông lại trong cung, nhờ dạy cho mấy cậu hoàng tôn,thực ra là cốt giam chân ông lại để dễ theo dõi Đinh Nhật Thận đợc bố trí ởtrong một ngôi nhà ngoảnh ra mặt đờng lớn Ông cho treo ra ngõ tấm biển

mang ba chữ Thông nh“hiếu học”, cù”, Ba chữ đó lấy trong câu Tọa mật thất nh“hiếu học”,

thông cù ”, nghĩa là ngồi trong nhà kín mà rõ nh ban ngày.

Tiếng là dạy học nhng chẳng khác gì bị giam lỏng Nhân buổi đêmthanh vắng, ngồi một mình, ông bèn lấy rợu ra uống rồi ngồi viết một mạch

khúc ngâm Thu dạ lữ hoài“hiếu học”, ”, bằng chữ Hán, thể song thất lục bát Đây là

tr-ờng hợp lạ thứ hai sau khúc Chinh phụ ngâm“hiếu học”, ”, của Đặng Trần Côn Lại ởchỗ thi phẩm của Đặng là viết theo lối tập cổ và có xen thể bốn, năm chữ,

còn Thu dạ lữ hoài“hiếu học”, ”, của họ Đinh thì đúng là lục bát gián thất từ đầu đếncuối, suốt trong mọi khổ thơ có những đoạn đọc lên ta nghe nh sống lại cái

không khí của cung oán“hiếu học”, ”, của Kiều “hiếu học”, ”,

“hiếu học”, Tích ngã vãng thanh thanh liễu nhứLỡng tam thanh sơ ngữ hoàng anh

Trang 31

Nh kim cúc dĩ hàm anhLiễu ân đình ngoại hàn minh lu thiềnTích ngã khứ phiên phiên đào kiểmLỡng tam chi sơ chiếm đông phongNhi kim lan sỉ thành từng

Đào yêu hiên ngoại lạc tòng hàn sơng…Hay khi phong trào Cần V ”,Tác giả tự dịch ra quốc âm:

“hiếu học”, Xa ta đi liễu đang thanh tếChim hoàng anh mới kể vài câu Rằng nay cúc đã chồi hoa Liễu kia nghĩ cũng âu sầu vì ve

Xa ta đi đào kia phun điểm Gió đàng phong mới chiếm vài hàng Bằng nay lan đã chối sơng

Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu…Hay khi phong trào Cần V”,

Và cũng hết sức cảm thông với nỗi phẩn chí của tác giả khi phải tiêuphí thời gian một cách vô vị mà ở lại trong vòng tù hãm:

“hiếu học”, Bất thị tố hà lang đầu bút Tơng trung cam vị quốc tòng quân

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Ban chấp hành đảng bộ huyện Thanh Chơng (2005), “ Lịch sử đảng bộ huyện Thanh Chơng”, tập 1, Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộhuyện Thanh Chơng
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ huyện Thanh Chơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia
Năm: 2005
2) Ban chấp hành đảng bộ huyện Thanh Chơng (1985), “Lịch sử đảng bộ Đảng cộng sản việt Nam huyện Thanh Chơng , ” tập 3, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ "Đảng cộng sản việt Nam huyện Thanh Chơng
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ huyện Thanh Chơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1985
3) Ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh (1984), “ Lịch sử Nghệ Tĩnh , ” tập 1 Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1984
4) Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh (1998), “ Danh nhân Nghệ Tĩnh , ” tập 3, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1998
5) Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh (1978), “ Những ng ời cộng sản trên quê hơng Nghệ Tĩnh”, tập 1, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh÷ng ngêi cộng sản trên quê hơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1978
6) Biện Thị Hoàng Ngọc, (2001), “ Phong trào yêu n ớc chống Pháp ở Nghệ An nửa sau thế kỷ XIX”. Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử. Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào yêu nớc chống Pháp ở Nghệ An nửa sau thế kỷ XIX
Tác giả: Biện Thị Hoàng Ngọc
Năm: 2001
7) Bùi Dơng Lịch, (2008), “ Thanh Ch ơng huyện chí”, Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chơng huyện chí
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2008
8) Bùi Dơng Lịch, (1993), “ Nghệ An kí , ” Nhà xuất bản Khoa học- Xã hội Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An kí
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học- Xã hội Hà Néi
Năm: 1993
9) Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng,(1995), “ Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn”, Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội(26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông nghè, ôngcống triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội(26)
Năm: 1995
10) Cao Xuân Dục, “ Đăng khoa lục Nghệ An , ” (1976) Tài liệu th viện tỉnh Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đăng khoa lục Nghệ An
11) Đào Tam Tĩnh, (2000), “ Khoa bảng Nghệ An (1075-1919) ” Sở văn hoá thông tin Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa bảng Nghệ An (1075-1919)
Tác giả: Đào Tam Tĩnh
Năm: 2000
12) Đặng Nh Thờng, (2002), “ Nho sĩ Nghệ An trong phong trào yêu n ớc chống Pháp từ 1802 đến 1920 , ” luận văn tốt nghiệp khoa học lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho sĩ Nghệ An trong phong trào yêu níc chống Pháp từ 1802 đến 1920
Tác giả: Đặng Nh Thờng
Năm: 2002
15) Ngô Đức Thọ, (cb), “ H ơng khoa lục Nghệ Tĩnh”, Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơng khoa lục Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
16) Ngô Đức Thọ, (1993), “ Các nhà khoa bảng Việt Nam ” (1075-1919), Nhà xuất bản văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản văn học
Năm: 1993
17) Nguyễn Đăng Tiến (cb),(1996), “ Lịch sử cách mạng Viện Nam tr ớc cách mạng tháng 8 /1945”, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng Viện Nam tríc cách mạng tháng 8 /1945
Tác giả: Nguyễn Đăng Tiến (cb)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
18) Nguyễn Q Thắng,(1994), “ Khoa cử và giáo dục Việt Nam , ” Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa cử và giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Q Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 1994
19) Nguyễn Tiến Cờng (1998), “ Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử Việt Nanm thời phong kiến”, Nhà xuất bản giáo dục – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ViệtNanm thời phong kiến
Tác giả: Nguyễn Tiến Cờng
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục – Hà Nội
Năm: 1998
20) Nhiều tác giả(2005), “ Thanh Ch ơng đất và ngời” , Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Chơng đất và ngời
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2005
21) Ninh Viết Giao, (cb),(1998), “ H ơng ớc Nghệ An , ” Nhà xuất bản chính trị Quèc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơng ớc Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao, (cb)
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quèc Gia
Năm: 1998
22) Ninh Viết Giao, (2008): “ Từ điển nhân vật xứ Nghệ , ” Nhà xuất bản tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tiến sĩ Tổng số - Nho sĩ thanh chương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước từ năm 1802 đến năm 1919
ng Tiến sĩ Tổng số (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w